1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Công tác xã hội hỗ trợ phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ khuyết tật trí tuệ tại cơ sở giáo dục hòa nhập ước mơ xanh

75 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG KHOA TÂM LÝ GIÁO DỤC KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ TẠI CƠ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

KHOA TÂM LÝ GIÁO DỤC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI

CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN

KĨ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ TẠI CƠ SỞ GIÁO DỤC HÒA NHẬP ƯỚC

MƠ XANH

Sinh viên thực hiện : Phan Thị Diểm Khương Giáo viên hướng dẫn : Ths Lê Thị Hằng Lớp : 16 CTXH

ĐÀ NẴNG, THÁNG 7 NĂM 2020

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 5

DANH MỤC VIẾT TẮT 6

MỞ ĐẦU 8

1 Lý do chọn đề tài 8

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 9

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 10

4.1 Khách thể nghiên cứu 10

4.2 Đối tượng nghiên cứu 10

5 Giả thuyết nghiên cứu 10

6 Phạm vi nghiên cứu 10

7 Phương pháp nghiên cứu 10

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết 10

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 10

7.3 Phương pháp thống kê toán học 11

8 Bố cục của đề tài 11

NỘI DUNG 12

Chương 1 12

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ 12

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ KTTT 12

1.1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu trên thế giới 12

1.1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam 14

1.2 Các khái niệm 15

1.2.1 Công tác xã hội 15

1.2.2 Công tác xã hội cá nhân 16

1.2.3 Kỹ năng 16

1.2.4 Kỹ năng tự phục vụ 17

1.2.5 Trẻ khuyết tật trí tuệ 17

Trang 3

1.3 Một số vấn đề về quá trình phát triển kĩ năng tự phục vụ của trẻ khuyết tật trí tuệ 18

1.3.1 Đặc điểm của trẻ khuyết tật trí tuệ 18

1.3.2 Nguyên nhân gây khuyết tật trí tuệ 19

1.4 Ảnh hưởng của khuyết tật trí tuệ đối với sự phát triển của trẻ, đặc biệt là kĩ năng tự phục vụ 20

1.5 Các chính sách và văn bản pháp luật hỗ trợ về giáo dục đến TKT 20

1.5.1 Quy định pháp luật hiện hành về giáo dục dành cho TKT 20

1.5.2 Quy định pháp luật hướng đến việc ưu đãi và bảo vệ TKT: 22

1.6 Công tác xã hội hỗ trợ phát triển kĩ năng tự phục vụ cho trẻ khuyết tật trí tuệ 23

1.6.1 Vai trò của CTXH đối với TKT 23

1.6.2 Vai trò của công tác xã hội trong hỗ trợ phát triển kĩ năng tự phục vụ 25

1.7 Tiểu kết chương 1 25

Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ KHẢ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CỦA TRẺ KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ TẠI CƠ SỞ GIÁO DỤC HÒA NHẬP ƯỚC MƠ XANH 26

2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 26

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 27

2.2 Kết quả khảo sát thực trạng kĩ năng tự phục vụ cho trẻ KTTT tại cơ sở giáo dục hòa nhập Ước Mơ Xanh 27

2.2.1 Nhận thức của giáo viên về KNTPV cho TKTTT 27

2.2.2 Sự cần thiết của kĩ năng tự phục vụ trong sinh hoạt và phát triển của TKTTT 28

2.2.3 Nhu cầu của giáo viên đối với hỗ trợ của nhân viên công tác xã hội 28

2.2.4 Nhận thức của giáo viên về các yếu tố giúp trẻ rèn luyện kĩ năng tự phục vụ 29

2.2.5 Nhận thức của giáo viên về nguồn lực hỗ trợ phát triển kĩ năng tự phục vụ cho trẻ 30

2.2.6 Nhận thức của giáo viên về nhu cầu của trẻ khi dạy các kỹ năng tự phục vụ 31

2.2.7 Khó khăn mà giáo viên thường gặp khi dạy kĩ năng tự phục vụ cho TKTTT 32

2.2.8 Đánh giá của giáo viên về mức độ thực hiện các kĩ năng tự phục vụ hàng ngày của TKTTT 33

2.2.9 Đánh giá của giáo viên về những hạn chế ảnh hưởng đến dạy kĩ năng tự phục vụ cho TKTTT 35

2.2.10 Biện pháp hỗ trợ phát triển kĩ năng tự phục vụ cho trẻ KTTT 37

2.3 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình dạy kỹ năng tự phục vụ cho trẻ KTTT ở cơ sở giáo dục hòa nhập Ước Mơ Xanh 39

2.4 Đề xuất 1 số biện pháp hỗ trợ phát triển kĩ năng tự phục vụ cho trẻ KTTT tại cơ sở giáo dục hòa nhập Ước Mơ Xanh 39

2.4.1 Nâng cao nhận thức của gia đình về vai trò của việc trang bị kỹ năng tự phục vụ cho trẻ KTTT 39 2.4.2 Đổi mới phương pháp dạy kỹ năng tự phục vụ cho trẻ KTTT, tăng cường sự tham gia đầy đủ của trẻ KTTT vào các hoạt động xã hội 41

Trang 4

2.4.3 Cải thiện cơ sở vật chất giáo dục dành cho trẻ KTTT, tăng cường công tác biện hộ bảo vệ quyền

công bằng cho trẻ KTTT 42

2.5 Khảo sát mức độ khả thi của các biện pháp cụ thể 43

2.6 Tiểu kết chương 2 44

Chương 3: CÔNG TÁC XÃ HỘI HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ TẠI CƠ SỞ GIÁO DỤC HÒA NHẬP ƯỚC MƠ XANH 46

3.1 Trường hợp điển cứu 46

3.1.3 Tóm tắt vấn đề của thân chủ 46

3.1.2 Thực trạng các kĩ năng tự phục vụ của thân chủ 49

3.3 Hỗ trợ phát triển kĩ năng tự phục vụ cho trẻ khuyết tật trí tuệ tại cơ sở GDHN Ước Mơ Xanh 50

3.3.1 Tiến trình công tác xã hội cá nhân trong hỗ trợ trẻ khuyết tật trí tuệ phát triển kĩ năng tự phục vụ tại trung tâm GDHN Ước Mơ Xanh 50

Tiểu kết chương 3 59

PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 63

1 Kết luận: 63

2 Khuyến nghị: 64

2.1 Đối với giáo viên tại TTGDHNUMX: 64

2.2 Đối với các đơn vị trung tâm giáo dục hòa nhập và trường học: 64

2.3 Đối với các cấp lãnh đạo: 65

PHỤ LỤC 66

DANH MỤC TÀI LIỀU TAM KHẢO 74

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp ngành Công tác xã hội với đề tài "Công tác xã hội

hỗ trợ phát triển kĩ năng tự phục vụ cho trẻ khuyết tật trí tuệ tại cơ sở giáo dục hòa nhập Ước

Mơ Xanh”

Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới ThS Lê Thị Hằng, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ và chỉ bảo để em hoàn thiện bài khóa luận này Em cũng xin chân thành cảm ơn tới nhà trường cùng các Thầy cô giáo trong Tổ bộ môn Công tác xã hội - trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng đã trang bị tri thức khoa học xã hội cho em trong suốt 4 năm qua và tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn thành bài khóa luận của mình

Em cũng xin cảm ơn Ban lãnh đạo, các cán bộ, thầy cô giáo, các em tại cơ sở giáo dục hòa nhập Ước Mơ Xanh và thân chủ đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để em

có thể hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình Trong quá trình thực hiện bài khóa luận, vì thời gian và kinh nghiệm bản thân còn hạn chế nên bài khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô, các bạn và những người quan tâm tới đề tài này

Em xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, ngày tháng năm 2020

Sinh viên

Phan Thị Diểm Khương

Trang 6

DANH MỤC VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.2.4 Nhận thức của giáo viên về các yếu tố giúp trẻ rèn luyện kĩ năng

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Chăm sóc giáo dục trẻ em trở thành con người phát triển toàn diện là mục tiêu trọng tâm của nền giáo dục nước ta Trẻ khuyết tật cũng là một nhóm trẻ trong xã hội, do đó trẻ khuyết tật cần được quan tâm, chăm sóc, được đối xử tế nhị và công bằng Đặc biệt, trẻ khuyết tật còn được tạo mọi cơ hội học tập và phát triển bình thường như bap trẻ em khác Xuất phát từ quan điểm đó, việc chăm sóc giáo dục trẻ khuyết tật đã được khẳng định là một

bộ phận của hệ thông giáo dục quốc Theo các văn bản pháp luật quốc gia cũng như Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền của người khuyết tật mà Việt Nam đã tham gia phê chuẩn, quyền được giáo dục là một trong những quyề cơ bản của trẻ khuyết tật Kĩ năng tự phục vụ

là một yếu tố quan trọng có thể giúp trẻ tăng cường tính độc lập và cảm giác về sự thành công Dạy cho trẻ biết các kĩ năng tự phục vụ, trẻ ý thức được sự cần thiết của việc tự phục

vụ bản thân, biết tự chăm sóc bản thân, tăng cường tính độc lập, trẻ sống có trách nhiệm hơn với chính mình, dạy trẻ biết quan sát và làm theo hướng dẫn của người lớn trong các công việc nhỏ hàng ngày Với những hạn chế do khuyết tật, sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt dộng thể chất và tinh thần Vì vậy, các em có những nhu cầu cấp bách đòi hỏi phải hỗ trợ, kích thích nhu cầu cũng như mong muốn, nỗ lực để được đáp ứng chính bản thân trẻ, giúp các em có thể tham gia hoạt đọng và hòa nhập với xã hội dễ dàng Dạy kĩ năng tự phục vụ cho trẻ khuyết tật trí tuệ tại cơ sở giáo dục hòa nhập Ước Mơ Xanh sẽ mang lại rất nhiều lợi ích về mặt sức khỏe, giáo dục và cả văn hóa xã hội, giúp trẻ sớm có ý thức và khả năng thích nghi với cuộc sống, làm chủ bản thân, sống tích cực và hướng đến những điều lành mạnh cho chính mình cũng như cho cộng đồng Với những trẻ không khuyết tật đã khó, với trẻ khuyết tật lại càng khó hơn Với trẻ khuyết tật trí tuệ, các em bị hạn chế đáng kể trong việc tiếp thu, hạn chế về thuẹc hiện chức năng trí tuệ, khó khăn trong các hành vi thực tế Mặc dù được bố mẹ dạy rất nhiều về các kỹ năng tự phục vụ nhưng các em cũng nhanh chóng quên

ở nhà nhiều trẻ không thể tự phục vụ bản thân mình nhờ người khác giúp đỡ, hỗ trợ Khi con đến trường, không thể có bố mẹ đi cùng các em gặp rất nhiều khó khăn trong vấn đề tự phục

vụ bản thân, ngay cả việc tự xúc cơm ăn đến vệ sinh các nhân các em chưa thể tự làm Khi đến ngôi trường mới, cá nhân có khuyết tật trí tuệ khó khăn trong việc thực hiện các nhu cầu

Trang 9

hằng ngày: ăn, mặc quần áp, dọn đồ chơi sau khi chơi xong, chuẩn bị tới trường Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay các trẻ chậm phát triển trí tuệ, đặc biệt là các trẻ chậm phát triển trí tuêh ở mức độ trung bình và nặng khó có thể theo học ở trường binhg thường Tại các trường học chuyên biệt, giáo viên sẽ lập chương trình riêng cho mỗi em, xác định nhu cầu của trẻ và phối hợp với gia đình để cùng giúp trẻ học tập và phát triển Nhưng không phải nơi nào cũng có đièu kiện để trẻ được học tại các trung tâm chuyên biệt, một số trẻ phải đến trường bình thường như bao trẻ em khác Với các thầy cô khi chưa có kinh nghiệm, chưa được đào tạo kỹ năng cơ bản khi dạy cho học sinh khuyết tật thầy cô còn lúng túng khi nhận trẻ khuyết tật, do vậy dạy kĩ năng tự phục vụ cho trẻ chậm phát triển trí tuệ chưa được quan tâm nhiều Thực tế hiện nay, nhiều trẻ chậm phát triển trí tuệ không được cha mẹ hướng dẫn các kĩ năng phù hợp và mất đi cơ hội phát triển Vậy làm thế bào để trẻ khuyết tật có thể thực hiện được các kĩ năng tự phục vụ hằng ngày, cha mẹ trẻ cần làm gì và đâu là giải pháp tốt, thầy cô, nhà trường và ngành giáo dục

Xuất phát từ lí do trên chúng tôi chọn đề tài “Công tác xã hội hỗ trợ phát triển kĩ năng tự phục vụ cho trẻ khuyết tật trí tuệ tại cơ sở giáo dục hòa nhập Ước Mơ Xanh” với

hi vọng sử dụng những kiến thức, kỹ năng của ngành Công tác xã hội để tìm hiểu khả năng hòa nhập của trẻ khuyết tật, từ đó xây dựng được mô hình hỗ trợ tốt nhất giúp trẻ khuyết tật trí tuệ tại đây

2 Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn về vấn đề tự phục vụ ở trẻ chậm phát triển trí tuệ đề tài nhằm đề xuất một số biện pháp nhằm gióp phần nâng cao chất lượng dạy kĩ năng tự phục vụ cho trẻ chậm phát triển trí tuệ, giúp trẻ tự lập trong các hoạt động tự phục vụ bản thân

Đưa ra trường hợp điển cứu trong đó sử dụng phương pháp CTXH cá nhân và các kỹ năng của ngành CTXH để giúp thân chủ, nhằm chứng minh khả năng tự thực hiện các hành động tự phục vụ bản thân cũng như tiềm năng của nhân viên CTXH trong tương lai đối với nhóm đối tượng là TKT

3 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về công tác xã hội hỗ trợ phát triển kĩ năng tự phục vụ cho trẻ chậm phát triển trí tuệ

Trang 10

- Nghiên cứu thực trạng về công tác xã hội hỗ trợ phát triển kĩ năng tự phục vụ cho trẻ chậm phát triển trí tuệ tại cơ sở giáo dục hòa nhập Ước Mơ Xanh

- Đề xuất biện pháp phát triển kĩ năng tự phục vụ cho trẻ chậm phát triển trí tuệ tại cơ

sở giáo dục hòa nhập Ước Mơ Xanh

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu:

4.1 Khách thể nghiên cứu:

Công tác xã hội hỗ trợ quá trình phát triển kĩ năng tự phục vụ cho trẻ khuyết tật trí tuệ

4.2 Đối tượng nghiên cứu:

Công tác xã hội hỗ trợ phát triển kĩ năng tự phục vụ cho trẻ khuyết tật trí tuệ tại cơ sở giáo dục hòa nhập Ước Mơ Xanh

5 Giả thuyết nghiên cứu:

Trẻ khuyết tật nói chung và trẻ khuyết tật trí tuệ nói riêng đang gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống đặc biệt là kĩ năng tự phục vụ Thiếu kĩ năng tự phục vụ, sẽ ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống tự lập của trẻ sau này Thực trạng này do nhiều nguyên nhân khác nhau: khả năng trẻ khuyết tật còn hạn chế, năng lực đội ngũ giáo viên, trang thiết bị rèn luyện kĩ

năng cho trẻ,…

6 Phạm vi nghiên cứu:

- Nghiên cứu được thực hiện tại cơ sở giáo dục hòa nhập Ước Mơ Xanh

Thời gian: từ tháng 2 năm 2020 đến tháng 7 năm 2020

-Đối tượng khảo sát của đề tài là trẻ khuyết tật dạng khuyết tật trí tuệ tại cơ sở trong

độ tuổi từ 5 đến 8 tuổi Giáo viên dạy trẻ tại cơ sở Ước Mơ Xanh

7 Phương pháp nghiên cứu:

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết:

- Xây dựng cơ sở lý luận của đề tài

- Làm sáng tỏ các khái niệm, thuật ngữ liên quan đến đề tài

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

7.2.1 Phương pháp điều tra bằng ankét:

Điều tra trên giáo viên nhằm tìm hiểu thực trạng về kĩ năng tự phục vụ cho trẻ khuyết tật trí tuệ

Trang 11

7.2.2 Phương pháp quan sát :

Quan sát mối quan hệ tương tác giữa giáo viên và trẻ khuyết tật trí tuệ khi trẻ học các

kĩ năng tự phục vụ tại các cơ sở chăm sóc-giáo dục trẻ

7.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu:

Thu thập thông tin bổ sung cho phương pháp điều tra bằng ankét và phương pháp quan sát

7.2.4 Phương pháp nghiên cứu trường hợp:

Chọn 1 trường hợp trẻ khuyết tật trí tuệ sử dụng kiến thức CTXH hỗ trợ cho trẻ hình thành và phát triển kĩ năng tự phục vụ

7.3 Phương pháp thống kê toán học:

Các phương pháp thống kê toán học được sử dụng để xử lý các kết quả nghiên cứu về định lượng và định tính như: lập bảng phân phối tần số, tần xuất, tính điểm trung bình cộng,

Trang 12

NỘI DUNG

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu phát triển kỹ năng tự phục vụ cho trẻ KTTT:

1.1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu trên thế giới:

Hiện nay, trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều ấn phẩm được đề cập trên các báo, luận án, luận văn thạc sĩ, khóa luận đề cập đến vấn đề hỗ trợ cho TKTTT

Theo thống kê của Tổ chức Y tế giới (WHO), ước tính có khoảng 15% dân số thế giới, tương đương với hơn 1 tỷ người đang sống với ít nhất 1 dạng khuyết tật nhất định (WHO, 2017) Trong số người khuyết tật, gần 200 triệu người tuổi từ 15trowr lên có nhiều khó khăn khi làm một số việc cơ bản Cũng theo tổ chức này, trong các năm tới, tỷ lệ người khuyết tật sẽ gia tăng 1 phần dân số thế giới đang lão hóa vì sự gia tăng của một số bệnh mãn tính Vấn đề khuyết tật, vì vậy, đã trở thành vấn đề toàn cần các nghiên cứu và giải pháp đồng bộ

Social work with disabled people (Thomas, 2012) (công tác xã hội với người khuyết tật) Trong tài liệu này, tác giả đã trình bày những vấn đề tổng quan về TKTT cũng như những mô hình phương pháp can thiệp hiệu quả của CTXH trong việc hỗ trợ TKT Một điểm hay của tài liệu được trình bày rõ ràng kết hợp với những phương pháp CTXH phù hợp từ đó mang lại hiệu quả rõ nét hơn cho từng nhóm khuyết tật trong đó có trẻ khuyết tật trí tuệ

Theo báo cáo UNICEF Social work with Disabled Children - (Công tác xã xã hội với trẻ khuyết tật) (Keyy,2005) Những phát triển mới về khuyết tật và có ý nghĩa về mặt lý lận

và thực tiễn trong lĩnh vực CTXH Những phát triển lý thuyết này đã nhấn mạnh những giả định cá nhân và nghề nghiệp khuyết tật có ý nghĩa quan trọng tới nhà cung cấp dịch vụ CTXH trong việc đưa ra quyết định ảnh hưởng đến cuộc sống của trẻ khuyết tật Nghiên cứu dựa trên kết quả từ một nghiên cứu về các dịch vụ gia đình cho trẻ em khuyết tật ở Bắc Ailen

để minh họa các vấn đề ý nghĩa và quan trọng của CTXH trong việc hỗ trợ trẻ khuyết tật

Theo mô hình công tác xã hội với trẻ khuyết tật ở ÚC Families with Children with Disabilities - Inequalities and social work Model - Gia đình trẻ khuyết tật - Sự bất bình đẳng

và mô hình can thiệp CTXH (Monica, 2010) Nghiên cứu chô thấy rằng cấc gia đình có trẻ

Trang 13

khuyết tật trải qua hàng loạt những bất bình đẳng mà các gia đình có con không bị khuyết tật không bị ảnh hưởng Kết quả nghiên cứu cho thấy cuộc sống của những gia đình này thường

có những khó khăn về tài chính, căng thẳng và lo lắng là rào cản xã hội, thành kiến và cung cấp dịch vụ kém Mô hình CTXH về trẻ khuyết tật thường được rút ra để minh họa cho cách

tổ chức và hỗ trợ các gia đình trẻ khuyết tật một cách toàn diện Bằng cách áp dụng mô hình này, những cách thức mới để tạo ra các thực tiễn của chính sách cho những gia đình này được phát triển, kết hợp quan điểm của họ vào quá trình hoạch định chính sách

Từ những năm đầu của thế kỉ XI, ở các nước Pháp, Đức, Tây Ban Nha và một số nước Châu

Âu đã xuất hiện phương thức giáo dục chuyên biệt mang đậm tư tưởng nhân văn, quan điểm

y tế, phục hồi chức năng chỉnh trị, đây là mô hình xuất hiện sớm nhất trong lịch sử giáo dục TKT Ở phương thức này, trẻ có các dạng khuyết tật khác nhau được đưa vào các cơ sở giáo dục riêng, tách biệt với hệ thống giáo dục quốc dân

Theo báo cáo nghiên cứu về chương trình giảng dạy với trẻ khuyết tật Singapo

(Singaporean Parents’ Curriculum Priorities for Their Children with Disabilities (Phụ huynh

Singapore Ưu tiên chương trình giảng dạy cho trẻ em khuyết tật). Nghiên cứu này đã xem xét các bậc cha mẹ Singapore Quan điểm về mức độ họ đánh giá cao các lĩnh vực kỹ năng chương trình giảng dạy chính cho trẻ em khuyết tật Phụ huynh cũng được yêu cầu cho biết liệu họ mong đợi các mục kỹ năng ưu tiên trong các lĩnh vực chương trình giảng dạy sẽ được thực hiện với sự trợ giúp hoặc độc lập Kết quả cho thấy, cha mẹ của trẻ em khuyết tật vừa

và nặng cho thấy ưu tiên cao nhất cho các kỹ năng sống tự giúp đỡ, tiếp theo là kỹ năng sống dựa trên cộng đồng, kỹ năng quan hệ xã hội và học thuật chức năng Cha mẹ của trẻ khuyết tật nhẹ cho thấy ưu tiên cao nhất cho các kỹ năng sống tự giúp đỡ, tiếp theo là các kỹ năng chức năng dựa vào cộng đồng, các học giả chức năng và các kỹ năng quan hệ xã hội Kết quả cũng cho thấy các bậc cha mẹ xếp hạng tương đối của các lĩnh vực kỹ năng khác bên cạnh các kỹ năng tự giúp đỡ bị ảnh hưởng bởi mức độ khuyết tật của con cái họ Khuyết tật càng nhẹ, xếp hạng tương đối của phụ huynh và kỳ vọng đối với việc thực hiện độc lập các kỹ năng quan hệ xã hội, học thuật chức năng và kỹ năng sống dựa vào cộng đồng Ngược lại, khuyết tật càng nghiêm trọng, xếp hạng tương đối của các kỹ năng này và kỳ vọng về hiệu suất độc lập thấp hơn so với các kỹ năng sống tự giúp đỡ

Báo cáo tình hình trẻ em thế giới hàng năm của UNICEF khuyến cáo: Trẻ khuyết tật

và cộng đồng sẽ cùng được lợi nhiều hơn nếu xã hội quan tâm đến những gì trẻ em khuyết tật

có thể làm được thay vì tập trung vào khiếm khuyết của các em

Trang 14

Báo cáo được công bố ngày hôm nay khẳng định việc quan tâm đến khả năng của trẻ khuyết tật sẽ đem lại toàn lợi ích cho toàn xã hội

Ông Anthony Lake, giám đốc điều hành UNICEF phát biểu “Nhìn vào khuyết tật của trẻ trước khi nhìn nhận chính bản thân các em không chỉ thiếu công bằng đối với trẻ mà tước

đi những gì mà trẻ có thể mang lại cho cộng đồng,” “Tổn thất của các em chính là tổn thất chung của toàn xã hội, lợi ích của các em chính là lợi ích chung của toàn xã hội”

Báo cáo tình hình trẻ em thế giới năm 2013 về trẻ khuyết tật cho biết trẻ có khuyết tật

là đối tượng ít được chăm sóc y tế và đi học nhất Các em nằm trong nhóm trẻ em dễ bị tổn thương nhất bởi bạo hành, xâm hại tình dục, bóc lột và bỏ rơi, đặc biệt khi các em bị giấu giếm hay gửi vào các trung tâm bảo trợ - đây là thực trạng phổ biển xuất phát từ sự kì thị của

xã hội hoặc gia đình không có đủ điều kiện kinh tế để nuôi trẻ

1.1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam

Có thể thấy rằng, công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật trí tuệ là một lĩnh vực đặc thù trong công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật nói chung Trên cơ sở các khái niệm về công tác xã hội, công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật và khái niệm trẻ em khuyết tật trí tuệ, có thể hiểu Công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật trí tuệ là quá trình nhân viên công tác xã hội sử dụng phương pháp công tác xã hội với trẻ em khuyết tật để tác động lên nhóm đối tượng là trẻ em khuyết tật trí tuệ có khó khăn trong cuộc sống do khuyết tật mang lại Thông qua tiến trình trợ giúp đó, nhân viên công tác xã hội sẽ đưa ra nhiều loại chương trình khác nhau để hỗ trợ trẻ em khuyết tật trí tuệ vượt qua những khó khăn mà trẻ đang gặp phải trong cuộc sống, học tập và hòa nhập cộng đồng Nội dung công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật trí tuệ Từ cách hiểu về công tác xã hội với trẻ em khuyết tật, cũng như mục đích của ngành công tác xã hội nói chung Có thể khẳng định mục đích của công tác xã hội với trẻ

em khuyết tật là nhằm hỗ trợ cá nhân và gia đình trẻ em khuyết tật trí tuệ; quản lý ca với trẻ

em khuyết tật trí tuệ; hỗ trợ xây dựng tổ chức của trẻ em khuyết tật trí tuệ; tham gia vào việc xây dựng phản biện chính sách, luật pháp đối với trẻ em khuyết tật trí tuệ; biện hộ cho quyền

và lợi ích của trẻ em khuyết tật trí tuệ

Như vậy, có thể nhìn nhận nội dung của công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật trí tuệ bao gồm các hoạt động sau:

- Một là, trợ giúp khuyến khích thúc đẩy và tăng cường việc thực hiện chức năng xã hội của cá nhân, nhóm, các tổ chức và cộng đồng người khuyết tật trí tuệ bằng cách giúp họ,

Trang 15

phòng ngừa, chữa trị và giảm nhẹ những khó khăn do khuyết tật trí tuệ mang lại và biết cách

sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả

- Hai là, tham gia vào việc hoạch định, xây dựng và thực thi các chính sách xã hội, các nguồn tài nguyên và các chương trình để đáp ứng những nhu cầu của trẻ em khuyết tật trí tuệ và hỗ trợ cho sự phát triển của họ

- Ba là, theo đuổi những chính sách, dịch vụ và chương trình thông qua công tác biện

hộ trong phạm vi cơ sở hay trong phạm vi quản trị cơ sở hoặc hành động chính trị để tăng cường quyền lực cho trẻ em khuyết tật trí tuệ nhằm đảm bảo sự công bằng và sự tham gia

đầy đủ của họ vào các hoạt động xã hội

Công tác xã hội chuyên nghiệp nhằm giúp đỡ con người, đã đưa ra những cách thức

và những cơ hội để xử sự với những người cần được giúp đỡ từ nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc sống, bảo vệ họ thoát khỏi sự phân biệt, kỳ thị và bất công, làm "thức dậy" tiềm năng của chính họ Khi bàn về khái niệm Công tác xã hội, có khá nhiều cách định nghĩa khác nhau, cụ thể: CTXH được nêu trong "Foundation of Social Work Practice" - Cơ sở thực hành CTXH: Công tác xã hội là một khoa học ứng dụng để giúp đỡ mọi người vượt qua những khó khăn của họ và đạt được một vị trí ở độ phù hợp trong xã hội CTXH được coi như là một môn khoa học vì nó dựa trên những luận chứng khoa học và những nghiên cứu đã được chứng minh Nó cung cấp một lượng kiến thức có cơ sở thực tiễn và xây dựng những kỹ năng chuyên môn hóa"

Trong khi đó, theo hiệp hội CTXH thế giới thì họ định nghĩa về CTXH là hoạt động chuyên nghiệp nhằm tạo ra sự phát triển của xã hội thông qua sự tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề xã hội, tăng cường năng lực và giải phóng tiềm năng của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng CTXH giúp con người phát triển đầy đủ, hài hòa và đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người dân

Công tác xã hội còn được định nghĩa trên hai khía cạnh: Một mặt, Công tác xã hội là

sự vận dụng các lý thuyết khoa học về hành vi con người và hệ thống xã hội nhằm xây dựng

Trang 16

và thúc đẩy sự thay đổi liên quan đến vị trí, địa vị, vai trò của cá nhân, nhóm, cộng đồng người yếu thế nhằm tới sự bình đẳng và tiến bộ xã hội

Mặt khác, CTXH còn là một dịch vụ đã chuyên môn hóa, góp phần giải quyết những vấn đề về xã hội, về con người mang tính bức xúc nhằm thỏa mãn các lợi ích căn bản của những cá nhân, nhóm, cộng đồng xã hội; mặt khác, góp phần giúp cá nhân tự nhận thức về vị trí, vai trò xã hội của chính mình

Trong nghiên cứu này, tôi sử dụng khái niệm CTXH nhằm khẳng định vai trò và vị thế của ngành CTXH trong tương lai đối với người khuyết tật Nghề CTXH sẽ đem lại nhiều điều tốt đẹp cho xã hội nói chung và TKT nói riêng

1.2.2 Công tác xã hội cá nhân:

Khái niệm công tác xã hội cá nhân “Là hệ thống giá trị và phương pháp được các nhân viên xã hội chuyên nghiệp sử dụng, ở đó các khái niệm về tâm lý xã hội, hành vi và hệ thống được chuyển thành các kỹ năng giúp đỡ cá nhân và gia đình giải quyết những vấn đề

về nội tâm, quan hệ giữa các cá nhân, kinh tế, xã hội và môi trường thông qua các mối quan hệ” (They Farley et Al – 2000)

“Là một phương pháp giúp đỡ con người giải quyết các vấn đề khó khăn Nó mang tính đặc thù, khoa học và nghệ thuật Nó giúp các cá nhân có những vấn đề riêng cũng như vấn đề bên ngoài và vấn đề môi trường đó là một phương pháp giúp đỡ thông qua mối quan

hệ để khai thác tài nguyên cá nhân và những tài nguyên khác nhằm giải quyết vấn đề Lắng nghe, quan sát, vấn đàm, vãng gia và đánh giá là những công cụ chủ yếu của công tác xã hội

cá nhân Nhờ tính năng động trong công tác xã hội cá nhân mà cá nhân thân chủ thay đổi thái

độ, suy nghĩ và hành vi của mình” Lê Chí An

Trang 17

Theo tác giả Vũ Dũng thì: “Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng” [16, tr.36]

Theo tác giả Thái Duy Tuyên, “Kỹ năng là sự ứng dụng kiến thức trong hoạt động” [17, tr.28] Mỗi kỹ năng bao gồm một hệ thống thao tác trí tuệ và thực hành, thực hiện trọn vẹn hệ thống thao tác này sẽ đảm bảo đạt được mục đích đặt ra cho hoạt động Điều đáng chú ý là sự thực hiện một kỹ năng luôn luôn được kiểm tra bằng ý thức, nghĩa là khi thực hiện bất kỳ một kỹ năng nào đều nhằm vào một mục đích nhất định

Từ sự phân tích trên ta có thể hiểu kỹ năng một cách chung nhất: Kỹ năng là năng lực thực hiện một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, cách thức hành động đúng đắn để đạt được mục đích đề ra [1]

1.2.4 Kỹ năng tự phục vụ:

Kỹ năng tự phục vụ là năng lực hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân về một hoặc nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc tự phục

vụ cho chính mình ví dụ như tự nấu ăn, tự giặt quần áo, ăn phở tự bê bát

Tầm quan trọng của việc dạy kĩ năng tự phục vụ cho trẻ chậm phát triển trí tuệ: Trẻ chậm phát triển trí tuệ tồn tại trong xã hội là một tất yếu khách quan Trẻ chậm phát triển trí tuệ cũng như bao trẻ em khác đều có những nhu cầu, sở thích và khả năng riêng Do đó để quá trình giáo dục hòa nhập cho trẻ chậm phát triển cao cần quan tâm đến việc dạy kỹ năng

tự phục vụ cho trẻ giúp trẻ hòa nhập vào cuộc sống cộng đồng, có cơ hội sống độc lập đến mức cao nhất và có một vị trí phù hợp trong xã hội Kỹ năng tự phục vụ là một trong những

kỹ năng quan trọng giúp trẻ hoàn thiện mình và trưởng thành trong cuộc sống Rèn luyện lỹ năng tự phục vụ là một yêu cầu rất cần thiết và đòi hỏi bậc làm cha mẹ phải bắt tay vào hình thành cho con cái ngay từ khi rất khỏ Kỹ năng tự phục vụ giúp các em biết cách tự phục vụ, chăm sóc cho bản thân Trên cơ sở vận dụng những kiến thức đã được học, kĩ năng tự phục

vụ giúp các em không còn tính ỷ lại, trông chờ vào sự giúp đỡ của người khác, bước đầu rèn luyện cho học sinh khả năng tự lập để sau này các em có thể dễ dàng thích nghi với môi trường sống mới Cha mẹ và giáo viên chủ nhiệm đóng vai trò quan trọng trong việc dạy các

kỹ năng hằng ngày cho các em

1.2.5 Trẻ khuyết tật trí tuệ:

Khuyết tật trí tuệ là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật hiện tượng, giải quyết sự việc

Trang 18

Điển hình của dạng này là trẻ chậm phát triển trí tuệ Trẻ có hoạt động trí tuệ dưới mức trung bình, hạn chế về kĩ năng thích ứng và khuyết tật xuất hiện trước 18 tuổi

Năm 1991 bác sỹ Nguyễn Khắc Viên cho rằng trẻ KTTT (còn gọi là chậm khôn hay thiểu năng trí tuệ) là hiện tượng thấp kém về trí tuệ của mỗi cá nhân, so với các thành viên khác trong xã hội Biểu hiện qua việc cá nhân đó không có khả năng hoàn thành các công việc trí óc cà các hoạt động khác tương ứng với lứa tuổi hoặc gặp nhiều khó khăn, hạn chế trong thích nghi xã hội Về phương diện bệnh lí, cần phân biệt trẻ KTTT với mất trí hay tổn thương trí tuệ

1.3 Một số vấn đề về quá trình phát triển kĩ năng tự phục vụ của trẻ khuyết tật trí tuệ:

1.3.1 Đặc điểm của trẻ khuyết tật trí tuệ:

Để xác định mức độ KTTT của một trẻ cụ thể, phải dựa vào các dấu hiệu tâm vận động, về khả năng tự phục vụ, khả năng thích nghi với cuộc sống của trẻ Tuy nhiên về mặt hành chính, cần có tiêu chí nào đó để thống nhất Đa số các nhà nghiên cứu chấp nhận dựa vào điểm trí tuệ để được thực hiện qua các trắc nghiệm Theo cách này hiện nay có nhiều bảng phân loại (Tổ chức Y tế thế giới, bảng DSM của hiệp hội tâm thần Mỹ, bảng của các học giả Pháp (1993) Thông thường (tính theo trắc nghiệm Stantorrd-Benet và theo Wechsler), những trẻ chỉ có chỉ số IQ< 70 được coi là KTTT Tuy nhiên, cũng có nhiều người đề xuất IQ < 80 Chằng hạn, theo Nguyễn Khắc Viện (1991)

• Chỉ số khôn 70 – 80 chậm khôn nhẹ

• Chỉ số khôn từ 50 – 70 chậm khôn vừa

• Chỉ số khôn từ 30 – 50 chậm khôn nặng

• Chỉ sso khôn dưới 30 rất nặng

Theo bảng phân loại của DSM-VI có 4 mức độ KTTT như sau:

- Khó tiếp thu được chương trình học tập

- Chậm hiểu , mau quên

- Khó thiết lập được mối tương tác giữa các sự vật hiện tượng

Trang 19

❖ Về ngôn ngữ:

- Ngôn ngữ kém phát triển: vốn từ nghèo nàn, phát âm thường sai, nắm các quy tắc ngôn ngữ kém

- Khó nhớ những từ mà trẻ đã nghe dẫn đến nhiều trẻ không có khả năng nói

❖ Về các mối quan hệ xã hội:

- Khó thiết lập mối quan hệ với người khác

- Khó chơi, hợp tác với bạn bè

- Nhiều trẻ có biểu hiện, hành vi bất thường

❖ Về kỹ năng tự phục vụ:

Thiếu hoặc yếu một số kĩ năng đơn giản: ăn, uống, vệ sinh cá nhân , mặc quần áo

1.3.2 Nguyên nhân gây khuyết tật trí tuệ:

1.3.2.1 Nguyên nhân trước khi sinh:

Một là, do di truyền: (1) Lỗi nhiễm sắc thể gây hội chứng Down, Turner, chat đây là nguyên nhân phổ biến nhất gây KTTT ở trẻ (2) Lỗi gen: Gây bệnh PKU, u xơ dạng củ, gẫy NST X, hội chứng Rett, hội chứng Williams Beuren, hội chứng Angelman và Prader Willy, nứt đốt sống, thiếu một phần não, tràn dịch màng não, đầu nhỏ, rối loạn chức năng tuyến giáp Hai là, Do các yếu tố ngoại sinh: Do lây nhiễm: mẹ bị rubella (sởi Đức) nhất là trong ba tháng đầu thai kỳ, nhiễm vi rút, bệnh giang mai hay HIV Do nhiễm độc: Mẹ tiếp xúc với hóa chất, thuốc trừ sâu, nhiễm độc chì nặng, nhiễm độc thủy ngân, chất rượu cồn; do chụp tia X, chất độc màu da cam (thế hệ thứ hai), kháng thể Rhesus Do suy dinh dưỡng ở người mẹ hoặc thiếu i ốt trong thức ăn hay nước uống

Cri-du-1.3.2.2 Nguyên nhân trong khi sinh:

Đẻ non dưới 37 tuần, cân nặng khi sinh thấp hơn 2500g, ngạt khi sinh, can thiệp sản khoa (kẹp, hút thai, đẻ chỉ huy), vàng da nhân não…

1.3.2.3 Nguyên nhân sau khi sinh:

Viêm nhiễm (viêm màng não, chảy máu não), tổn thương (tổn thương não do chấn thương đầu nghiêm trọng hoặc do động kinh, sốt cao co giật), u não (tổn thương do khối u, hoặc do các liệu pháp y học như phẫu thuật, sử dụng tia X, dùng hóa chất hay chích máu) Nguyên nhân từ môi trường xã hội: Không được chăm sóc đầy đủ về y tế và thể chất (thiếu dinh dưỡng, không được tiêm phòng đầy đủ) Thiếu thốn về tâm lý – xã hội (thiếu sự chăm sóc nhạy cảm, không được kích thích để trải nghiệm và khám phá, bị bỏ rơi hoặc lạm dụng)

Trang 20

Có nhiều hạn chế trong sử dụng ngôn ngữ tại gia đình (chỉ sử dụng câu ngắn với vốn

từ và câu có hạn) Trẻ được nuôi dưỡng theo cách để người khác định đoạt cuộc sống của nó (những trẻ như vậy không tự kiểm soát được mình, ít khi tin là hành động của mình quan trọng đối với chính sự thành công hay thất bại của bản thân; đây cũng là nguyên nhân dẫn

Trẻ KTTT nặng có thể được giáo dục về những kĩ năng tự chăm sóc cơ bản như đi vệ sinh, tự xúc ăn, đánh răng, rửa mặt, mặc quần áo, đi giày dép Khi lớn lên, chúng có thể thực hiện những kỹ năng đơn giản tại những môi trường được giám sát chặt chẽ Hầu hết chúng có thể thích nghi tốt với cuộc sống trong cộng đồng, trong nhà tập thể hoặc tại nhà

mình trừ khi chúng có những khuyết tật đòi hỏi cần được chăm sóc đặc biệt

1.5 Các chính sách và văn bản pháp luật hỗ trợ về giáo dục đến TKT :

1.5.1 Quy định pháp luật hiện hành về giáo dục dành cho TKT:

Luật Người khuyết tật dành một chương quy định về Giáo dục đối với người khuyết tật (từ điều 27 đến Điều 31 Luật NKT) trong đó nhấn mạnh trách nhiệm của nhà nước trong việc bảo đảm hòa nhập của người khuyết tật trong giáo dục người khuyết tật Ngoài ra còn có nhiều văn bản luật khác cũng có những quy định liên quan đến giáo dục trẻ em khuyết tật Luật NKT đã quy định cụ thể về phương thức giáo dục người khuyết tật, chính sách hỗ trợ với nhà giáo và nhân viên hỗ trợ người khuyết tật học tập, trách nhiệm của cơ sở giáo dục và trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập Nội dung cơ bản bao gồm:

TKT được nhập học ở độ tuổi cao hơn so với quy định chung là 3 tuổi (Khoản 1 Điều

2 Thông tư liên tịch số 42/2013/TTLT-BGDĐT-BLĐTBXH-BTC quy định chính sách về giáo dục đối với NKT), được hưởng chế độ tuyển thẳng vào trung học phổ thông như đối với học sinh trưởng phổ thông dân tộc nội trú và học sinh là người dân tộc ít người theo quy định tại Quy chế tuyển sinh trung học cơ sở và tuyển sinh trung học phổ thông do Bộ Giáo dục & Đào tạo ban hành NKT được xét tuyển thẳng vào trung cấp chuyên nghiệp Căn cứ vào kết quả học tập ở phổ thông của học sinh (học bạ) và tình trạng sức khỏe và yêu cầu của ngành

Trang 21

đào tạo, Hiệu trưởng các trường hệ trung cấp chuyên nghiệp xem xét và quyết định tuyển thẳng

TKT nặng được hưởng chính sách ưu tiên theo đối tượng khi đăng kí xét tuyển vào các trường Đại học, Cao đẳng Quy định về ưu tiên nhập học tuyển sinh các hệ được quy định trong Quy chế tuyển sinh các hệ do Bộ GD&ĐT ban hành

TKT học tập theo phương thức giáo dục hòa nhập: Người đứng đầu cơ sở giáo dục quyết định điều chỉnh, miễn, giảm, thay thế một số nội dung môn học hoặc một số môn học, hoạt động giáo dục cho phù hợp và được thể hiện trong kế hoạch giáo dục cá nhân Đánh giá chung như học sinh không khuyết tật nhưng có giảm nhẹ yêu cầu về kết quả học tập Đối với những môn học hoặc hoạt động giáo dục TKT không đáp ứng được yêu cầu chung thì được đánh giá theo kế hoạch giáo dục cá nhân, không đánh giá những nội dung môn học, môn học hoặc nội dung giáo dục được miễn

TKT học tập theo phương thức giáo dục chuyên biệt: Chương trình học phù hợp với từng dạng khuyết tật Trường hợp TKT không đáp ứng được chương trình thì người đứng đầu cơ sở giáo dục quyết định điều chỉnh, miễn, giảm, thay thế một số nội dung môn học, môn học hoặc hoạt động giáo dục cho phù hợp và được thể hiện trong Kế hoạch giáo dục cá nhân Việc đánh giá theo quy định dành cho giáo dục chuyên biệt Đối với những môn học hoặc hoạt động giáo dục mà NKT không có khả năng đáp ứng yêu cầu giáo dục chuyên biệt thì đánh giá theo kết quả thực hiện kế hoạch giáo dục cá nhân

NKT được miễn, giảm học phí, chi phí học tập theo quy định tại Nghị định 49/2010/NĐ-CP ngày 14/05/2010 về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học

2010 – 2011 đến năm học 2014 - 2015 và Nghị định số 74/2013/NĐ-CP ngày 15/07/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14/05/2010

Phòng GD-ĐT, Sở GD-ĐT chịu trách nhiệm chi trả, quyết toán kinh phí hỗ trợ học tập trực tiếp bằng tiền mặt cho cha mẹ (hoặc người giám hộ) đối với NKT học tại các cơ sở giáo dục do đơn vị quản lý hoặc ủy quyền cho cơ sở giáo dục chi trả

TKT thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo đi học tại các cơ sở giáo dục được hưởng học bổng mỗi tháng bằng 80% mức lương cơ sở Thời gian hưởng trợ cấp: 10 tháng/năm học và

9 tháng/năm học tùy từng đối tượng TKT đã được hưởng học bổng theo quy định tại Quyết định số 152/2007/QĐ-TTg ngày 14 tháng 9 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ không áp dụng chế độ này

Trang 22

TKT thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo đang học tại các cơ sở giáo dục được hỗ trợ kinh phí để mua sắm phương tiện, đồ dùng học tập với mức 1.000.000 đồng/người/năm học NKT thuộc nhiều đối tượng nhận hỗ trợ thì chỉ được hưởng một chế độ hỗ trợ cao nhất

Cơ sở giáo dục công lập có TKT đang theo học có trách nhiệm lập phương án mua sắm tài liệu học tập, đồ dùng học tập đặc thù, dùng chung và dự toán kinh phí gửi cơ quan chủ quản phê duyệt Trên cơ sở dự toán kinh phí được phê duyệt, người đứng đầu cơ sở giáo

dục thực hiện mua sắm theo quy định

1.5.2 Quy định pháp luật hướng đến việc ưu đãi và bảo vệ TKT:

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì trẻ em khuyết tật (trẻ dưới 16 tuổi) được xác định mức độ khuyết tật trên cơ sở sử dụng 2 bộ công cụ, dưới 6 tuổi và trên 6 tuổi theo quy định tại Thông tư 37/2013/TTLT- BLĐTBXH-BYT-BGDĐT-BTC và việc xác định khuyết tật là cơ sở thực hiện các chính sách liên quan trong đó có hỗ trợ giáo dục

Chính sách trợ giúp xã hội là một trong những nội dung chính sách quan trọng nhằm bảo đảm đời sống vật chất cho người khuyết tật Để hướng dẫn thực hiện trợ giúp xã hội Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã trình Chính phủ quy định cụ thể về mức, chế độ và thủ tục, hồ sơ, trách nhiệm địa phương và Bộ, ngành trong Nghị định số 28/2012/NĐ-CP và Nghị định 136/2013/NĐ-CP Trong đó điều chỉnh tăng mức trợ giúp 1.5 lần so với mức cũ quy định trước khi Luật ban hành Thủ tục, hồ sơ rút gọn, đơn giản dễ cho người khuyết tật

và địa phương thực hiện Trong đó, bỏ sơ yếu lý lịch, đơn và các giấy tờ y tế bằng tờ khai và giấy xác nhận khuyết tật Thời gian rút ngắn từ 36 ngày theo quy định trước Luật xuống 25 ngày (đối tượng làm hồ sơ thủ tục trong 1 tháng thì nhận được chính sách) Đồng thời ban hành Thông tư hướng dẫn cụ thể về mẫu hồ sơ, thủ tục và trình tự xét duyệt cũng như các điều kiện bảo đảm thực hiện Cùng với việc ban hành văn bản đã tổ chức tập huấn, triển khai, chỉ đạo thành lập Hội đồng xét duyệt trợ cấp xã hội, kiểm tra giám sát, tổng hợp báo cáo về tình hình thực hiện Do vậy, chính sách này đã được thực hiện tương đối tốt và đầy đủ Số đối tượng hưởng tăng từ 400 ngàn năm 2010 lên 890 năm 2014 (tăng trên 2,2 lần) Mức trợ cấp đã được điều chỉnh tăng từ 180.000 đồng năm 2010 lên 270.000 đồng năm 2015 Nếu tính chung cả tăng hệ số và tăng mức chuẩn thì chế độ trợ cấp đã tăng 2,25 lần so với trước khi ban hành Luật Mặc dù, trợ giúp xã hội đã có tác động tốt đến đời sống vật chất của người khuyết tật Song, việc thực hiện ở địa phương vẫn còn những hạn chế nhất định Vẫn còn một số người khuyết tật chưa được hưởng chính sách, một số địa phương chậm thực hiện điều chỉnh hệ số theo quy định tại Nghị định số 28/2012/NĐ-CP và Nghị định 136/2013/NĐ-

CP

Trang 23

Theo quy định Luật người khuyết tật 2010 thì trẻ em khuyết tật được ưu tiên trong hệ thống chính sách trợ cấp xã hội hàng tháng Nội dung cụ thể bao gồm:

Hệ số hưởng TCXH đối với TKT cao hơn 0,5 so với hệ số chung.(Đây là điểm mới cơ bản trong TCXH đối với trẻ em KT) Trong trường hợp trẻ em khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng thì mức hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng được ưu tiên thêm đã giải quyết một phần khó khăn cho trẻ em khuyết tật, trên cơ sở đó việc tiếp cận giáo dục cũng được nâng cao một bước

Hộ gia đình đang trực tiếp nuôi dưỡng NKT đặc biệt nặng trong đó có trẻ em được hỗ trợ kinh phí chăm sóc hệ số 1,0 Chính sách này nhằm hỗ trợ trực tiếp đang trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc trẻ khuyết tật đặc biệt nặng Tuy nhiên thực tế cho thấy đối với những trường hợp trẻ em khuyết tật nặng thì nhu cầu từ việc chăm sóc và hỗ trợ từ phía gia đình là rất lớn nhưng hộ gia đình hiện nay chưa được hỗ trợ

Người nhận chăm sóc TKT đặc biệt nặng được hỗ trợ hệ số 1,5 Chính sách này nhằm đẩy mạnh xã hội hóa công tác chăm sóc trẻ em khuyết tật đặc biệt nặng vì có ưu tiên trong việc nhận nuôi dưỡng chăm sóc đối tượng Bảo trợ xã hội

Người KT nặng, đặc biệt nặng đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi được

hỗ trợ hệ số 1,5 Đây là chính sách mới và tác động trực tiếp đến việc chuẩn bị hỗ trợ một phần cho việc học tập của trẻ em khuyết tật, hệ số này tăng lên 2,0 khi vừa nuôi con dưới 36

tháng tuổi và mang thai

1.6 Công tác xã hội hỗ trợ phát triển kĩ năng tự phục vụ cho trẻ khuyết tật trí tuệ:

1.6.1 Vai trò của CTXH đối với TKT:

- Hỗ trợ tâm lí, tiếp cận dịch vụ y tế:

Nhân viên công tác xã hội (NVXH) có vai trò cung cấp cho TKT và gia đình họ nhiều loại dịch vụ hỗ trợ Hỗ trợ tâm lý, giúp TKT có thể tiếp cận các dịch vụ y tế và xã hội hoặc các tổ chức liên quan đến nhu cầu của họ

Những đánh giá ban đầu của NVXH cũng sẽ là cơ sở cho những hỗ trợ về sau NVXH cần đánh giá về: sức mạnh; nguồn lực; những hỗ trợ sẵn có như hành vi trong quá khứ họ đã sử dụng để ứng phó với hoàn cảnh, sự hỗ trợ từ gia đình, mức độ học vấn, việc làm, sở thích, hoàn cảnh kinh tế,… Người NVXH cũng phải hiểu được cảm xúc và phản ứng của thân chủ

Trang 24

đối với sự khuyết tật hiện tại Những ảnh hưởng của sự khuyết tật đối với bản thân và gia đình của TKT Tác động của sự khuyết tật đến vai trò và mối quan hệ của các thành viên trong gia đình, và cả những rắc rối cá nhân hay vấn đề xã hội khác

Làm công tác xã hội với người khuyết tật, NVXH phải cung cấp cho nhân viên y tế những thông tin liên quan đến tâm lý của TKT Tư vấn cho gia đình TKT , giúp họ lập kế hoạch cá nhân và sử dụng tối đa những nguồn hỗ trợ nội lực và ngoại lực có sẵn

- Biện hộ:

NVXH vừa có vai trò đại diện cho TKT để phản ánh tiếng nói của họ đến các cấp chính quyền lại vừa giúp họ có khả năng tự biện hộ cho mình Để thực hiện tốt vai trò này, người NVXH phải có kiến thức về quyền cơ bản của TKT và các văn bản hiện hành của quốc tế và quốc gia để luôn so sánh đối chiếu giữa quyền lời của TKT với những đáp ứng hiện tại của xã hội Tiếp đó, NVXH cần phải có những kỹ năng về thương thuyết, đàm phán, trình bày để tiếp cận, trình bày và vận động các cấp chính quyền quan tâm và đáp ứng lợi ích của TKT

Là những người trực tiếp làm việc với TKT, NVXH là người nhận thức rõ hạn chế của các chương trình, chính sách trong việc đáp ứng nhu cầu của TKT NVXH có vai trò phản ánh lại thực tế đó để giúp cộng đồng xã hội nhận thức được khó khăn của TKT, từ đó góp phần điều chỉnh và hoàn thiện chính sách hỗ trợ

Những vấn đề cần biện hộ cho TKT:

+ Được tham gia vào các hoạt động ở cộng đồng nhằm đem lại lợi ích cho TKT và gia đình + Được hưởng đầy đủ các chính sách, chương trình ưu đãi, trợ giúp của nước ngoài và chính quyền địa phương

+ Được tiếp cận các nguồn lực

+ Được chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, giáo dục, dạy nghề

+ Được kết hôn, sinh con, nuôi con

+ Được sống độc lập

- Tuyên truyền với những người khác giúp đỡ TKT

NVXH phải giúp cho các thành viên khác trong xã hội hiểu rõ hơn về TKT và bản chất của sự khuyết tật để xã hội có cái nhìn đúng về TKT Từ đó nhìn nhật ra sự thiếu công bằng cơ hội mà họ luôn gặp phải Tác động đến những người, tổ chức liên quan đến việc phát triển các chính sách, chương trình phát triển xã hội để họ bao gồm sự tham gia của TKT vào quá trình ra quyết định TKT cũng sẽ tham gia giám sát và đánh giá việc thực hiện những quyết định liên quan đến cuộc sống của chính họ

Trang 25

1.6.2 Vai trò của công tác xã hội trong hỗ trợ phát triển kĩ năng tự phục vụ:

- Vai trò tổ chức các chương trình vui chơi giải trí: Để đảm bảo cho trẻ KTTT được tham gia hoạt động vui chơi giải trí đầy đủ như bao trẻ khác, nhân viên xã hội là người tổ chức các hoạt động dựa trên những đặc điểm riêng biệt của trẻ KTTT sao cho phù hợp với khả năng của trẻ, xây dựng chương trình dễ hiểu, đơn giản nhưng thúc đẩy tính tò mò, giúp trẻ kích thích các giác quan và cảm xúc của trẻ, giúp trẻ cử động linh hoạt tay chân và ohats triển mạch cảm xúc vui vẻ, thoải mái

- Vai trò là người giám sát, phối hợp với giáo viên lập kế hoạch tổ chức các hoạt động về kỹ năng tự phục vụ cho trẻ KTTT: Dựa trên nhu cầu của các giáo viên rằng mong muốn có sự

hỗ trợ từ nhân viên xã hội, cần phối hợp tổ chức những hoạt động dạy kỹ năng tự phục vụ cho trẻ Kết nối và trao đổi với các giáo viên về những biện pháp giúp phát triển kỹ năng tự phục vụ ở trường học hoặc tại gia đình,góp phần vào định hướng những kỹ năng tự phục vụ liên quan, thích hợp cho trẻ Xây dựng, trao đổi những kỹ năng liên quan về trẻ KTTT

- Vai trò là người kết nối đến các chính sách hỗ trợ cho trẻ KTTT: Để đảm bảo trẻ KTTT có thểm tham gia hòa nhập một cách đầy đủ và bình đẳng vào xã hội thì nhân viên xã hội có vai trò tạo điều kiện để TKT tiếp cận đến các chương trình, dịch vụ một cách phù hợp nhất Cung cấp các dịch vụ giáo dục phù hợp với trẻ và giúp trẻ tiếp cận đến các dịch vụ, nắm rõ

các mô hình, phương thức giáo dục

1.7 Tiểu kết chương 1:

NKT là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn, trẻ KTTT là trẻ giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật hiện tượng, giải quyết sự việc

CTXH trong phát triển kỹ năng tự phục vụ dành cho trẻ KTTT được hiểu là việc NKT được sử dụng các dịch vụ giáo dục, bao gồm được cung cấp thông tin, hỗ trợ, được khuyến khích định hướng phát huy năng lực cá nhân từ đó họ trở thành chính mình qua đó đóng góp năng lực bản thân cho xã hội, được thỏa mãn được quan điểm, sở thích và thế mạnh của bản thân để hòa nhập cộng đồng

Công tác xã hội trong hỗ trợ phát triển kỹ năng tự phục vụ chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau và yếu tố tiên quyết đầu tiên ảnh hưởng đến việc tự phục vụ của trẻ KTTT

là yếu tố cá nhân KTTT Ngoài ra còn có yếu tố quyết định trực tiếp đến việc tiếp cận giáo dục của trẻ KTTT như nhà trường, gia đình, xã hội

Trang 26

Chương 2

THỰC TRẠNG VỀ KHẢ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CỦA TRẺ KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ

TẠI CƠ SỞ GIÁO DỤC HÒA NHẬP ƯỚC MƠ XANH

2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu:

Cơ sở can thiệp giáo dục hòa nhập Ước Mơ Xanh được thành lập vào ngày 2/4/2014

từ Trung tâm Nghiên cứu và phát triển Giáo dục đặc biệt - trực thuộc Hội Bảo trợ người khuyết tật và trẻ mồ côi thành phố Đà Nẵng

Với mong ước “Chung tay cùng gia đình và cộng đồng tạo dựng môi trường, cơ hội phát triển cho trẻ có nhu cầu đặc biệt”, Cơ sở Ước Mơ Xanh hướng tới thực hiện các chức năng:

- Chăm sóc - can thiệp - giáo dục theo hướng hòa nhập cho có nhu cầu đặc biệt như: trẻ tự

kỷ, trẻ chậm nói, trẻ tăng động giảm chú ý, trẻ rối loạn cảm xúc - hành vi, trẻ nói ngọng và trẻ có khó khăn trong học tập

- Tư vấn và hỗ trợ giáo dục hòa nhập cho trẻ có nhu cầu đặc biệt tại gia đình và trường mầm non, tiểu học Phụ huynh có thể cùng tham dự tất cả các hoạt động trong ngày tại Cơ sở

để có thể định hướng và can thiệp tốt hơn cho trẻ tại gia đình Sau khi được can thiệp tại cơ

sở, trẻ sẽ chuyển sang học hòa nhập tại các trường mẫu giáo, tiểu học bình thường (nơi có chuyên môn về trẻ đặc biệt) Tại đây, giáo viên của cơ sở vẫn theo dõi và hỗ trợ để các cháu

có thể học hòa nhập một cách hiệu quả nhất

- Tìm và vận động các nguồn lực hỗ trợ cho trẻ có hoàn cảnh khó khăn được can thiệp sớm Đội ngũ giáo viên trực tiếp can thiệp, chăm sóc-giáo dục là các Tiến sĩ, Thạc sĩ - giảng viên Khoa Tâm lý-Giáo dục trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng và các cử nhân chuyên ngành: Giáo dục đặc biệt, Tâm lý học, Giáo dục mầm non, Giáo dục tiểu học Đây là đội ngũ giáo viên có chuyên môn sâu, tâm huyết và nhiều năm gắn bó với việc chăm sóc - giáo dục trẻ có nhu cầu đặc biệt Cơ sở còn có sự trợ giúp, cố vấn từ các chuyên gia về Giáo dục đặc biệt ở TP Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và các tình nguyện viên trong và ngoài nước

Cơ sở luôn cập nhật và ứng dụng phối hợp các phương pháp can thiệp tiên tiến trên thế giới như: phương pháp tích hợp đa giác quan, Teach, Montessori, Floortime, ABA, DIR,

Trang 27

Pictograme, tâm vận động, điều hòa cảm giác, massage,…Các phương pháp này trong khi sử dụng đều được điều chỉnh cho phù hợp với từng cá nhân và từng giai đoạn phát triển của trẻ Đội ngũ cán bộ, giáo viên của Cơ Sở Ước Mơ Xanh không ngừng phấn đấu hoàn thiện và đồng hành cùng phụ huynh để Ước mơ hòa nhập của trẻ và gia đình dần trở thành hiện thực

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu:

Cơ sở giáo dục hòa nhập Ước Mơ Xanh hiện có 85 trẻ với nhiều dạng tật khác nhau đang được can thiệp và hỗ trợ, chăm sóc-giáo dục, chia thành 2 cơ sở:

- Cơ sở Giáo dục Hòa nhập Ước Mơ Xanh: 15 trẻ

- Trường mầm non hòa nhập Ước Mơ Xanh: 70 trẻ

Đối tượng khảo sát của đề tài là 30 giáo viên đã và đang dạy trẻ khuyết tật dạng KTTT

Dựa vào đề tài nghiên cứu với mẫu là trường hợp điển cứu trẻ khuyết tật trí tuệ tại trung tâm Ước Mơ Xanh

2.2 Kết quả khảo sát thực trạng kĩ năng tự phục vụ cho trẻ KTTT tại cơ sở giáo dục hòa nhập Ước Mơ Xanh :

2.2.1 Nhận thức của giáo viên về KNTPV cho TKTTT:

Bảng 2.2.1 Nhận thức của giáo viên về KNTPV cho TKTTT

3

Là năng lực hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân về một hoặc nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc tự phục vụ cho chính mình

Trang 28

Kết quả nghiên cứu từ bảng 2.2.1 cho thấy, 100% các giáo viên đều hiểu chính xác về khái niệm kĩ năng tự phục vụ, đó là “Là năng lực hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân

về một hoặc nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc tự phục vụ cho chính mình” Việc nhận thức được nội hàm của kỹ năng tự phục vụ là cơ sở, tiền

đề và tạo ra những động lực và bài dạy kỹ năng tự phục vụ, phù hợp với khả năng của trẻ KTTT

2.2.2 Sự cần thiết của kĩ năng tự phục vụ trong sinh hoạt và phát triển của TKTTT:

Để giúp trẻ KTTT có được cuộc sống tốt hơn thì việc giáo dục kĩ năng tự phục vụ cho nhóm trẻ này thực sự cần thiết Tuy nhiên, còn tồn tại những đặc trưng tâm lí khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, các trẻ KTTT cần có một chương trình, nội dung và phương pháp giáo dục kĩ năng tự phục vụ riêng sao cho phù hợp với nhu cầu của mình Hiện nay, trung tâm vẫn đang triển khai những phương pháp giáo dục riêng biệt cho trẻ KTTT, trong đó tập trung chú trọng phương pháp rèn luyện kĩ năng tự phục vụ cho các trẻ từ độ tuổi 5 trở lên Qua cuộc trò chuyện khảo sát ý kiến với giáo viên tại đây, được biết rằng các cô luôn hỗ trợ trẻ trong những công việc tự làm hằng ngày như xúc cơm ăn, dọn dẹp dụng cụ học tập, dọn dẹp đồ chơi Tuy nhiên các cô cũng mong muốn cải thiện những phương pháp đó sao cho mới mẻ, sáng tạo hơn, đem lại hiệu quả hơn Dựa vào đó cùng với những đề xuất đưa ra những biện pháp cải thiện và phát triển kĩ năng tự phục vụ cho trẻ KTTT tại trung tâm của nhân viên xã hội đều được các giáo viên tại đây ủng hộ và đồng ý 100% đồng tình với quan điểm kĩ năng

tự phục vụ rất quan trọng trong giáo dục trẻ KTTT

2.2.3 Nhu cầu của giáo viên đối với hỗ trợ của nhân viên công tác xã hội:

Khi được hỏi: “Thầy, Cô có muốn công tác xã hội hỗ trợ, tư vấn những biện pháp phát triển kĩ năng tự phục vụ cho TKTTT không?” thì 100% các giáo viên đều trả lời là có Điều đó cho thấy vai trò quan trọng của công tác xã hội với việc hỗ trợ phát triển cho trẻ khuyết tật nói chung và trẻ khuyết tật trí tuệ nói riêng

Việc kết hợp giữa hỗ trợ CTXH với quá trình dạy kĩ năng tự phục vụ cho trẻ hết sức phù hợp và quan trọng, với tỉ lệ 100% đồng ý sự tham gia của CTXH vào quá trình giảng

Trang 29

dạy kỹ năng tự phục vụ là một hoạt động tích cực, hứa hẹn sẽ đem lại kết quả mong đợi và ngày càng mật thiết trong việc đưa ra những góp ý, xây dựng những biện pháp tích cực, phù hợp, tiếp cận những chính sách hỗ trợ Như vậy, việc tham gia của CTXH vào hỗ trợ và tư

vấn biện pháp phát triển kỹ năng tự phục vụ đã bước đầu được sự ủng hộ của các giáo viên

2.2.4 Nhận thức của giáo viên về các yếu tố giúp trẻ rèn luyện kĩ năng tự phục vụ:

Yếu tố rèn luyện kĩ năng tự phục vụ ở đây là những yếu tố khách quan của trẻ, những yếu tố này là yếu tố liên quan mật thiết đến sự hình thành và phát triển của trẻ Sau đây là kết quả chỉ ra yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự rèn luyện kỹ năng tự phục vụ của trẻ KTTT

Bảng 2.2.4 Nhận thức của giáo viên về các yếu tố giúp trẻ rèn luyện kĩ năng tự phục vụ

Kết quả nghiên cứu từ bảng 2.2.4 : Từ bảng 2.2.4 cho thấy nhận thức của thầy cô về

các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến kỹ năng tự phục vụ của trẻ có sự chênh lệch rõ ràng Với quan điểm của thầy, cô thì yếu tố nhà trường chính là yếu tố quan trọng nhất, giúp trẻ rèn luyện kỹ năng tự phục vụ tốt nhất ( chiếm 50% ),là yếu tố kèm theo nhờ sự giúp đỡ của thầy cô ở trường mà trẻ có thể rèn luyện và trau dồi thêm, ngoài ra có thể học được thêm các

kỹ năng bổ sung Bên cạnh đó, thầy cô có thể giúp trẻ nâng cao kỹ năng và rèn luyện thêm cho trẻ nhờ sử dụng các biện pháp giáo dục chuyên biệt Yếu tố gia đình là yếu tố đứng thứ hai sau yếu tố trường học (chiếm 44%) là yếu tố nền tảng giúp trẻ được rèn luyện mọi lúc mọi nơi, không giới hạn về không gian và thời gian Còn yếu tố bạn bè chiếm tỉ lệ thấp nhất (chiếm 6%) chứng tỏ yếu tố này không góp phần ảnh hưởng đến kỹ năng tự phục vụ, vì trẻ

Trang 30

KTTT vẫn còn chưa đủ khả năng thiết lập mối quan hệ bạn bè nên yếu tố bạn bè hầu như không có tác dụng giúp trẻ rèn luyện kỹ năng tự phục vụ

2.2.5 Nhận thức của giáo viên về nguồn lực hỗ trợ phát triển kĩ năng tự phục vụ cho trẻ:

Bảng 2.2.5: Nhận thức của giáo viên về các nguồn lực hỗ trợ kĩ năng tự phục vụ cho trẻ

Kết quả nghiên cứu bảng 2.2.5: Theo số liệu nghiên cứu từ bảng 2.2.5 thì theo các

giáo viên tại đây cho rằng nguồn lực từ bản thân trẻ và gia đình trẻ là quan trọng nhất (chiếm 67%) Điều này chứng tỏ rằng nhận thức về tầm quan trọng của nguồn lực bản thân trẻ và gia đình trẻ chính là điều kiện bắt buộc để có có thể đi học và phát triển như bao người, theo ý kiến của các giáo viên cho rằng nếu nguồn lực đó không tồn tại trẻ sẽ không có khả năng được đến trường học hòa nhập và phát triển bản thân Dưới góc nhìn của giáo viên cho rằng nguồn lực từ bản thân và gia đình trẻ không chỉ là việc được đi học, được giáo dục mà còn là

sự phát triển về lối suy nghĩ tích cực, luôn hướng con cái đến sự giáo dục phát triển toàn diện

và hòa nhập với cộng đồng Nguồn lực từ tổ chức cộng đồng không chỉ hiểu là nguồn lực về kinh tế mà còn là sự quan tâm của cộng đồng xung quanh đến trẻ KTTT, về khả năng hòa nhập với cộng đồng xung quanh và sự tương tác của cộng đồng đến trẻ KTTT (chiếm 23%) Nguồn lực từ chính sách hỗ trợ là nguồn lực được các giáo viên nơi đây đánh giá cho là mức thấp nhất khi tiếp cận hỗ trợ (chiếm 10%), với thực tế trẻ KTTT được đi học theo chính sách

sẽ được miễn giảm học phí và được hỗ trợ công việc làm, nhưng với sự phát triển như ngày nay, những điều đó được xem là quá thấp so với nhu cầu của trẻ và gia đình trẻ KTTT Điều

Trang 31

này thể hiện được sự chưa quan tâm đúng mực và cải cách về chính sách dành cho trẻ khuyết tật nói chung và trẻ khuyết tật trí tuệ nói riêng

2.2.6 Nhận thức của giáo viên về nhu cầu của trẻ khi dạy các kỹ năng tự phục vụ :

Bảng 2.2.6 Nhận thức của giáo viên về nhu cầu của trẻ khi dạy các kỹ năng tự phục vụ

lượng

Tỉ lệ (%)

1 Nhu cầu về thể chất( thức ăn, chỗ ngủ, nước uống,mặc

đủ ấm)

giác thuộc về, có bạn bè, gia đình, vợ chồng)

Kết quả nghiên cứu bảng 2.2.6: Qua kết quả thu được từ bảng 2.2.6 có những nhận

xét sau: Dựa trên thuyết nhu cầu của Maslow phần lớn nhận thức của giáo viên về nhu cầu

an toàn chiếm số lượng nhiều nhất ( Chiếm 48%), điều này ảnh hưởng nhiều đến việc lập kế hoạch giảng dạy của giáo viên đến trẻ KTTT là dựa vào những nhu cầu cơ bản của trẻ như chăm sóc, bảo vệ, quan tâm để xây dựng nên những bài học liên quan đến nhu cầu đó hoặc quan tâm, giáo dục trẻ dựa trên nhu cầu đó Nhu cầu về thể chất chiếm vị trí thứ hai sau nhu cầu an toàn ( Chiếm 23%) cũng ảnh huỏng nhiều đến việc giáo dục, khi đặc điểm của trẻ là KTTT thi nhu cầu về thể chất ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển thể chất cho trẻ, vấn đề ăn uống, ăn , ở của trẻ cũng góp phần hình thành nên trẻ Còn lại nhu cầu xã hội, nhu cầu lòng tự trọng, nhu cầu phát triển hoàn thiện nhân cách cũng lần lượt được giáo viên đánh giá ở mức độ thấp thể hiện sự mong muốn của trẻ đến những nhu cầu này là rất ít Đối với

Trang 32

giáo viên cho rằng những nhu cầu đó chưa quan trọng, vì muốn đáp ứng được những nhu cầu bậc cao đó thì trước hết phải đảm bảo được những nhu cầu cơ bản trước

2.2.7 Khó khăn mà giáo viên thường gặp khi dạy kĩ năng tự phục vụ cho TKTTT:

Bảng 2.2.7: Những khó khăn của giáo viên khi dạy kĩ năng tự phục vụ cho TKTTT

và trẻ khuyết tật nói chung hầu như chủ yếu.( chiếm 73%) Điều này gây khó khăn cho việc tiếp cận và giáo dục trẻ làm thế nào để tiếp thu và hứng thú trong học tập lẫn giáo dục Về khó khăn khí thời gian dạy học còn hạn chế cũng đem lại tác động khá lớn đến quá trình giáo dục ( chiếm 17%) với khó khăn này có thể cải thiện được nhờ sự sắp xếp thời gian sao cho hợp lí của các giáo viên và sắp xếp những nội dung chính khi dạy cho trẻ tránh trường hợp tốn quá nhiều thời gian cho việc kiểm soát trẻ Khó khăn khi tìm ra bài dạy phù hợp với khả năng của trẻ ( chiếm 10%) dưới góc nhìn của giáo viên tại đây không ảnh hưởng nhiều, vì cơ bản các giáo viên tại đây nắm rõ những ưu điểm và nhược điểm của mỗi trẻ mà hình thành nên những bài dạy kỹ năng sao cho phù hợp với khả năng của trẻ

Trang 33

2.2.8 Đánh giá của giáo viên về mức độ thực hiện các kĩ năng tự phục vụ hàng ngày của TKTTT:

Bảng 2.2.8.1: Đánh giá của giáo viên về mức độ thực hiện kĩ năng tự phục vụ hằng ngày

của TKTTT

STT Tên kĩ năng Trung bình Độ lêch chuẩn

Trang 34

13 Cách chải tóc 2,70 0.466

Đánh giá kết quả bảng 2.2.8: Qua bảng 2.2.8 cho thấy rằng các kĩ năng trẻ đạt mức độ thực hiện của trẻ có sự khác biệt rõ rệt về phía góc nhìn của giáo viên Những kĩ năng trên được cho là cơ bản đối với mỗi trẻ trong trung tâm, phản ánh chính xác được mức độ thực hiện (<2 là chưa thực hiện được, >2 là thực hiện được, ≥3 là thực hiện tốt) Các kỹ năng trên được các giáo viên tập luyện thường xuyên nên một số kĩ năng đã hình thành thì phát triển rất tốt ( kĩ năng cách uống nước, kĩ năng đi lên cầu thang, kỹ năng cất ba lô ), ngược lại với những kĩ năng có tính phối hợp với nhiều bộ phận lại không được thực hiện tốt ( cách quét rác trên sàn, xử lí khi ho, xử lí khi hỉ mũi) Các kĩ năng đó rất cần thiết và quan trọng trong việc tự phục vụ bản thân cho trẻ, vậy nên các giáo viên tại đây cũng ý thức được tầm quan trọng của việc hỗ trợ và rèn luyện cho trẻ

Bảng 2.2.8.2: Kết quả thực trạng nội dung dạy kĩ năng tự phục vụ cho trẻ KTTT

bình

Độ lệch chuẩn

Trang 35

9 Đi theo sự hướng dẫn của giáo viên khi đi qua đường 1,83 0.647

Nhận xét kết quả bảng 2.2.8.2: Qua bảng 2.2.8.2 cho thấy rằng các kĩ năng tự phục vụ

cơ bản khi tham gia các hoạt động rất cần thiết cho trẻ KTTT Nó không chỉ là phục vụ cho bản thân trẻ mà còn giúp cho giáo viên có thể quản lí được hành động của nhóm trẻ, tránh tình trạng lộn xộn và tránh một sô rắc rối có thể xảy ra Với kĩ năng xếp hàng khi tham gia hoạt động, nhóm trẻ còn chưa thực hiện được (trung bình 1,83) nghiêng về mức độ thực hiện được, ở mức độ thực hiện được trẻ luôn cần có sự hỗ trợ, nhắc nhở của giáo viên (chiếm 75%), ngoài ra vẫn có một số trẻ vẫn thực hiện tốt mà không cần sự nhắc nhở và hỗ trợ (chiếm 25%) Đối với kỹ năng giữ trật tự khi đứng xếp hàng, nhóm trẻ còn chưa thực hiện được ( trung bình 1,00) còn cần có sự nhắc nhở, giám sát của giáo viên,nhưng có sự nhắc nhở của giáo viên thì trẻ đã có sự thay đổi Đối với yếu tố lắng nghe hướng dẫn cách tham gia hoạt động của giáo viên cũng có kết quả đánh giá tương tự như kỹ năng xếp hàng khi tham gia hoạt động, nhóm trẻ vẫn còn chưa thực hiện được và thực hiện được khi có sự hỗ trợ của giáo viên Các kĩ năng như làm theo hành động của giáo viên khi được yêu cầu, đội

mũ và đeo khẩu trang khi đi ra ngoài, cài mũ bảo hiểm khi đi ra ngoài, mang giày dép khi đi

ra ngoài, nhìn chung đối với nhóm trẻ đã có một số trẻ thực hiện được Có thể thấy rằng những kỹ năng tự phục vụ dành cho trẻ khi tham gia hoạt động rất cần thiết và là cơ sở đển đánh giá phù hợp từng khả năng của trẻ

2.2.9 Đánh giá của giáo viên về những hạn chế ảnh hưởng đến dạy kĩ năng tự phục vụ cho TKTTT:

Bảng 2.2.9 Đánh giá của giáo viên về những hạn chế ảnh hưởng đến dạy kĩ năng tự

phục vụ cho TKTTT

bình

Độ lệch chuẩn

Trang 36

Mất tập trung 3,00 0.00

Khó khăn khi khái quát hóa kiến thức trong việc vận dụng

Có những hành vi không mong muốn như tự do đi lại

trong giờ học, không ngồi yên và vận động chân tay liên

tục

Kết quả nghiên cứu bảng 2.2.9 cho thấy rằng: Với độ tuổi của trẻ từ 9 đến 16 tuổi đã

có những khác biệt so với các mực độ ảnh hưởng rõ rệt Khi nhóm trẻ này đã được học và rèn luyện nhiều về kỹ năng tự phục vụ, trẻ sẽ có xu hướng chỉ nhớ những kỹ năng cơ bản (như xúc cơm ăn, khát nước tự rót nước uống ), các kĩ năng này đều nhờ từ quá trình lặp đi lặp lại hằng ngày nên trẻ có thể ghi nhớ được, nhưng ngoài những kĩ năng đó ra trẻ còn ảnh hưởng nặng bởi những yếu tố như không ý thức về hậu quả về các hành vi của mình (ví dụ: Trẻ biết cách rót nước uống nhưng chỉ biết rót và không biết canh chừng đủ lượng nước cần

Trang 37

uống mà thường xuyên rót nước tràn ra ly, hoặc có sự giúp đỡ của giáo viên mới lấy đúng lượng nước vừa đủ để uống), khó khăn khi tập trung (ví dụ: khi giáo viên đứng lên tập bài thể dục buổi sáng, trẻ thường làm những động tác mà giáo viên hướng dẫn đầu tiên và những động tác sau khi cần có sự nhắc nhở thì trẻ mới làm theo) tất cả các yếu tố : mất tập trung, trí nhớ kém, phối hợp tay và mắt, khó khăn khi biểu đạt thái độ đúng mực, khó khăn khi khái quát hóa kiến thức trong việc vận dụng vào tình huống đã từng gặp, có những hành vi không mong muốn như tự do đi lại trong giờ học, không ngồi yên và vận động chân tay liên tục, kém hăng hái, sợ thất bại, ỷ lại, trông chờ sự giúp đỡ của người khác, không ý thức được hậu quả về các hành vi của mình đều là những yếu tố ảnh hưởng nặng đến trẻ KTTT từ 9 đến 16 tuổi (với trung bình bằng 3.00) thể hiện mức độ ảnh hưởng nặng và độ lệch chuẩn 0.00 chứng tỏ các giáo viên đều đồng tình cho rằng những yếu tố trên ảnh hưởng nặng đối với nhó

9 đến 16 tuổi

2.2.10 Biện pháp hỗ trợ phát triển kĩ năng tự phục vụ cho trẻ KTTT:

Việc sử dụng các biện pháp để hỗ trợ phát triển cho trẻ KTTT rất cần thiết và quan trọng, đối với trẻ khuyết tật trí tuệ, trí nhớ hạn chế, các kĩ năng khó được các em ghi nhớ và làm theo, do đó giáo viên cần dành một khoảng thời gian nào đó để hướng dẫn riêng cho trẻ,

vì vậy để có biện pháp giúp trẻ trang bị và củng cố lại kiên thức giúp trẻ đạt được hiệu quả trong học tập Đối với trẻ KTTT trung tâm đã có những biện pháp cụ thể , phù hợp với đặc trưng của trẻ và đảm bảo thực hiện theo đúng mục tiêu của nhà trường Với lứa tuổi chung là trẻ mầm non, trẻ KTTT cần có một môi trường giáo dục lành mạnh, đầy đủ không gian và tiện nghi tốt nhất Trong quá trình giảng dạy muốn trẻ tiếp thu tốt luôn cần xây dựng thiết bị tân tiến, hình thức trang trí đa dạng, thu hút trẻ, đồ dùng học tập sạch sẽ, an toàn Đẩy mạnh hoạt động vui chơi theo cách thức “học mà chơi, chơi mà học” Từ đó trẻ có nhiều cơ hội lựa chọn và thực hiện các hoạt động, các bài tập phù hợp.thông qua đó kỹ năng thực hiện các bài học trẻ sẽ rèn luyện tính độc lập, biết tự phục vụ bản thân có thêm kỹ năng và trở nên ngăn nắp, nề nếp hơn

Bảng 2.2.10: Đánh giá của giáo viên về các biện pháp hỗ trợ phát triển kĩ năng tự phục

vụ cho trẻ KTTT

Ngày đăng: 06/05/2021, 16:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w