Đúc kết kiến thức từ học phần Ngữ dụng học cũng như các học phần về mảng ngôn ngữ; dưới sự hướng dẫn nhiệt tình và tâm huyết của PGS.TS Trần Văn Sáng – người đã hướng em chọn đề tài: Các
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện Các số liệu
và kết quả trình bày trong khóa luận là trung thực, chưa được công bố bởi bất kỳ tác giả nào hay ở bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Đậu Thị Hương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ vô cùng quý báu của các tập thể và cá nhân
Tôi xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến PGS.TS Trần Văn Sáng – người đã
tận tâm hướng dẫn tôi trong quá trình học tập và triển khai đề tài khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong Khoa Ngữ Văn – Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng đã luôn động viên, truyền đạt những kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường
Cảm ơn tập thể lớp 16SNV đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận
Xin được biết ơn gia đình, những người thân đã là điểm tựa vững chắc để tôi
cố gắng hoàn thành công trình này
Một lần nữa, xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, tháng 01 năm 2020
Tác giả
Đậu Thị Hương
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
Trong đời sống, để giao tiếp và liên lạc với nhau thì ngôn ngữ chính là công
cụ quan trọng đáp ứng nhu cầu đó của con người Dù ở bất kì lĩnh vực hay môi trường nào thì ngôn ngữ vẫn luôn giữ được vị thế ưu việt của nó Tuy nhiên, tùy vào từng hoàn cảnh, môi trường nhất định để cân nhắc phát huy hết khả năng, giá trị biểu đạt của ngôn ngữ
Ở nước ta, khảo sát ngôn ngữ theo hướng quy chiếu đang là vấn đề khá mới
mẻ Vì lẽ đó, các nguồn tài liệu nước ngoài chính là hướng mở để ngành ngôn ngữ nước ta có thể học hỏi, chọn lọc và phát huy hướng nghiên cứu này Đã có khá nhiều công trình của các nhà ngôn ngữ học như: Cao Xuân Hạo, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp,… với vai trò là “sự mở màn”, là “kim chỉ nam” cho các công trình nghiên cứu về sau
Áp dụng hướng nghiên cứu này trên hai ngữ liệu khảo sát: tập thơ “Không bao giờ là cuối” của Xuân Quỳnh và tuyển tập thơ “Trái tim sinh nở”, “Bài thơ không năm tháng” và “Đề tặng một giấc mơ” của Lâm Thị Mỹ Dạ Chúng tôi mong muốn với hướng nghiên cứu này sẽ đóng góp một phần nhỏ vào quá trình khai thác các ngụ
ý nghệ thuật thông qua các BTCV có chứa các từ “trái tim”, “bàn tay” trong thơ Xuân Quỳnh và Lâm Thị Mỹ Dạ trên hai bình diện: cái biểu đạt và cái được biểu đạt Từ
đó, đi vào tìm kiếm điểm tương đồng và nét khác biệt giữa hai nữ thi sĩ
Đúc kết kiến thức từ học phần Ngữ dụng học cũng như các học phần về mảng ngôn ngữ; dưới sự hướng dẫn nhiệt tình và tâm huyết của PGS.TS Trần Văn
Sáng – người đã hướng em chọn đề tài: Các biểu thức chiếu vật có chứa các từ
“trái tim”,“bàn tay” trong thơ Xuân Quỳnh và Lâm Thị Mỹ Dạ Qua quá trình tìm
đọc tài liệu, xử lý số liệu cũng như nghiên cứu em đã hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp Tuy nhiên, khóa luận vẫn không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Vì vậy, em rất biết ơn và luôn lắng nghe, ghi nhận những đóng góp, bổ sung của quý thầy (cô) để khóa luận hoàn thiện hơn Đó cũng là kinh nghiệm quý báu cho con đường nghiên cứu của em sau này
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BTCV : Biểu thức ngôn ngữ chiếu vật
HQC : Hệ quy chiếu NDT : Ngữ danh từ TTP : Thành tố phụ
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp, thủ pháp nghiên cứu 5
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 6
7 Cấu trúc của khóa luận 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 8
1.1 LÝ THUYẾT CHIẾU VẬT 8
1.1.1 Sự chiếu vật (reference) 8
1.1.2 Biểu thức chiếu vật (referring expression) 8
1.1.3 Chiếu vật và hệ quy chiếu 11
1.2 LÝ THUYẾT HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP 15
1.2.1 Các nhân tố của hoạt động giao tiếp 15
1.2.2 Các nhân tố giao tiếp và chiếu vật 18
1.3 GIỚI THIỆU VỀ HAI NHÀ THƠ: XUÂN QUỲNH VÀ LÂM THỊ MỸ DẠ 21 1.3.1 Xuân Quỳnh và tập thơ “Không bao giờ là cuối” 21
1.3.2 Lâm Thị Mỹ Dạ và các tập thơ làm nên tên tuổi 23
1.4 TIỂU KẾT 27
CHƯƠNG 2 CÁC BIỂU THỨC CHIẾU VẬT CÓ TỪ “TRÁI TIM”, “BÀN TAY” TRONG THƠ XUÂN QUỲNH VÀ LÂM THỊ MỸ DẠ TRÊN BÌNH DIỆN CÁI BIỂU ĐẠT 28
2.1 CÁC BIỂU THỨC CHIẾU VẬT CÓ TỪ “TRÁI TIM”, “BÀN TAY” TRONG TẬP THƠ “KHÔNG BAO GIỜ LÀ CUỐI” CỦA XUÂN QUỲNH TRÊN BÌNH DIỆN CÁI BIỂU ĐẠT 28
2.1.1 Cấu tạo của các biểu thức chiếu vật có từ “trái tim”, “bàn tay” trong tập thơ “Không bao giờ là cuối” của Xuân Quỳnh 28
Trang 82.1.2 Quan hệ kết hợp của các biểu thức chiếu vật có từ “trái tim”, “bàn tay”
trong tập thơ “Không bao giờ là cuối” của Xuân Quỳnh 38
2.2 CÁC BIỂU THỨC CHIẾU VẬT CÓ TỪ “TRÁI TIM”, “BÀN TAY” TRONG BA TẬP THƠ CỦA LÂM THỊ MỸ DẠ TRÊN BÌNH DIỆN CÁI BIỂU ĐẠT 41
2.2.1 Cấu tạo của các biểu thức chiếu vật có từ “trái tim”, “bàn tay” trong ba tập thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ 41
2.2.2 Quan hệ kết hợp của các biểu thức chiếu vật có từ “trái tim”, “bàn tay” trong ba tập thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ 52
2.3 SO SÁNH CÁC BIỂU THỨC CHIẾU VẬT CÓ TỪ “TRÁI TIM”, “BÀN TAY” TRONG THƠ XUÂN QUỲNH VÀ THƠ CỦA LÂM THỊ MỸ DẠ TRÊN BÌNH DIỆN CÁI BIỂU ĐẠT 55
2.3.1 Điểm tương đồng 55
2.3.2 Điểm khác biệt 56
2.4 TIỂU KẾT 62
CHƯƠNG 3 CÁC BIỂU THỨC CHIẾU VẬT CÓ TỪ “TRÁI TIM”, “BÀN TAY” TRONG THƠ XUÂN QUỲNH VÀ LÂM THỊ MỸ DẠ TỪ BÌNH DIỆN CÁI ĐƯỢC BIỂU ĐẠT 63
3.1 CÁC BIỂU THỨC CHIẾU VẬT CÓ TỪ “TRÁI TIM”, “BÀN TAY” TRONG THƠ CỦA XUÂN QUỲNH TRÊN BÌNH DIỆN CÁI ĐƯỢC BIỂU ĐẠT 63
3.1.1 Phân loại chiếu vật của các biểu thức chiếu vật có từ “trái tim”, “bàn tay” trong tập thơ “Không bao giờ là cuối” của Xuân Quỳnh 63
3.1.2 Chiếu vật trên hệ quy chiếu con người tâm lí - tình cảm của các biểu thức chiếu vật có từ “trái tim”, “bàn tay” 65
3.1.3 Chiếu vật trên hệ quy chiếu con người sinh học của các biểu thức chiếu vật có từ “trái tim”, “bàn tay” 67
3.2 CÁC BIỂU THỨC CHIẾU VẬT CÓ TỪ “TRÁI TIM”, “BÀN TAY” TRONG THƠ LÂM THỊ MỸ DẠ TRÊN BÌNH DIỆN CÁI ĐƯỢC BIỂU ĐẠT 70
Trang 93.2.1 Phân loại chiếu vật của các biểu thức chiếu vật có từ “trái tim”, “bàn
tay” trong thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ 70
3.2.2 Chiếu vật trên hệ quy chiếu con người tâm lí - tình cảm của các biểu thức chiếu vật có từ “trái tim”, “bàn tay” 72
3.2.3 Chiếu vật trên hệ quy chiếu con người sinh học của các biểu thức chiếu vật có từ “trái tim”, “bàn tay” 76
3.2.4 Chiếu vật trên hệ quy chiếu thời gian của các biểu thức chiếu vật có từ “trái tim”, “bàn tay” 78
3.2.5 Chiếu vật trên hệ quy chiếu thiên nhiên của các biểu thức chiếu vật có từ “trái tim”, “bàn tay” 80
3.3 SO SÁNH CÁC BIỂU THỨC CHIẾU VẬT CÓ TỪ “TRÁI TIM”, “BÀN TAY” TRONG THƠ XUÂN QUỲNH VÀ TRONG THƠ LÂM THỊ MỸ DẠ TRÊN BÌNH DIỆN CÁI ĐƯỢC BIỂU ĐẠT 82
3.3.1 Điểm tương đồng 82
3.3.2 Điểm khác biệt 83
3.5 TIỂU KẾT 86
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90 PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Các nhóm BTCV có từ “trái tim”, “bàn tay” trong tập thơ “Không bao giờ là cuối” của Xuân Quỳnh 29 Bảng 2.2 Phân loại BTCV trong tập thơ “Không bao giờ là cuối” của Xuân Quỳnh theo kiểu cấu tạo 30 Bảng 2.3 Thống kê số lượng các trường hợp của thành tố phụ sau các ngữ danh
từ làm BTCV có từ “trái tim”, “bàn tay” trong tập thơ “Không bao giờ là cuối” của Xuân Quỳnh 34 Bảng 2.4 Phân loại các BTCV là danh từ trong tập thơ “Không bao giờ là cuối” của Xuân Quỳnh 36 Bảng 2.5 Các BTCV là từ ghép trong tập thơ “Không bao giờ là cuối” của Xuân Quỳnh 37 Bảng 2.6 Quan hệ kết hợp của các BTCV trong tập thơ “Không bao giờ là cuối” – Xuân Quỳnh 39 Bảng 2.7 Quan hệ kết hợp của các BTCV ở cấp độ cụm từ 39 Bảng 2.8 Chức vụ cú pháp của các BTCV trong tập thơ “Không bao giờ là cuối” – Xuân Quỳnh 40 Bảng 2.9 Các nhóm BTCV có từ “trái tim”, “bàn tay” trong ba tập thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ 42 Bảng 2.10 Phân loại BTCV trong ba tập thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ theo kiểu cấu tạo 43 Bảng 2.11 Thành tố trung tâm của các BTCV là ngữ danh từ trong ba tập thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ 44 Bảng 2.12 Phân loại các BTCV là danh từ trong ba tập thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ 47 Bảng 2.13 Các BTCV là từ ghép trong ba tập thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ 49 Bảng 2.14 Quan hệ kết hợp của các BTCV trong ba tập thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ 52 Bảng 2.15 Quan hệ kết hợp của các BTCV trong ba tập thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ
ở cấp độ cụm từ 53
Trang 11Bảng 2.16 Chức vụ cú pháp của các BTCV trong ba tập thơ của Lâm Thị Mỹ
Dạ 53 Bảng 3.1 Các HQC của các BTCV có từ “trái tim”, “bàn tay” trong tập thơ
“Không bao giờ là cuối” của Xuân Quỳnh 64 Bảng 3.2 Các HQC của các BTCV có từ “trái tim”, “bàn tay” trong ba tập thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ 71
Trang 12DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 So sánh về tỷ lệ các BTCV giữa tập thơ “Không bao giờ là cuối” của Xuân Quỳnh và ba tập thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ 56 Biểu đồ 2.2 So sánh tỷ lệ các kiểu cấu tạo của các BTCV giữa tập thơ “Không bao giờ là cuối” của Xuân Quỳnh với ba tập thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ 57 Biểu đồ 2.3 So sánh về tỷ lệ cấu tạo của các BTCV là danh từ trong tập thơ
“Không bao giờ là cuối” của Xuân Quỳnh và ba tập thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ 58 Biểu đồ 2.4 So sánh về tỷ lệ các kiểu quan hệ kết hợp các BTCV giữa tập thơ
“Không bao giờ là cuối” của Xuân Quỳnh và ba tập thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ 59 Biểu đồ 2.5 So sánh tỷ lệ quan hệ kết hợp của các BTCV ở cấp độ cụm từ giữa tập thơ “Không bao giờ là cuối” của Xuân Quỳnh và ba tập thơ của Lâm Thị Mỹ
Dạ 60 Biểu đồ 2.6 So sánh về tỷ lệ quan hệ kết hợp của các BTCV ở cấp độ câu trong tập thơ “Không bao giờ là cuối” của Xuân Quỳnh và ba tập thơ của Lâm Thị Mỹ
Dạ 61 Biểu đồ 3.1 So sánh về tỷ lệ các HQC của các BTCV trong tập thơ “Không bao giờ là cuối” của Xuân Quỳnh và ba tập thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ 84
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong đời sống xã hội, để duy trì mối quan hệ giữa con người với con người thì việc giao tiếp luôn được đặt lên hàng đầu Chính trong quá trình giao tiếp ấy, ngôn ngữ được đánh giá là công cụ không thể thiếu và là phương tiện quan trọng nhất Như vậy, con người sử dụng ngôn ngữ để bày tỏ nhận thức về thế giới xung quanh, để trao đổi thông tin hay là để bày tỏ tình cảm cá nhân,… Tuy nhiên, xét trong những lĩnh vực cụ thể, việc sử dụng ngôn ngữ với những mục đích phù hợp sẽ tạo ra những giá trị biểu đạt khác nhau
Đặt điểm nhìn từ văn học, ngôn ngữ đóng vai trò là tiền thân và nhờ ngôn ngữ mà văn học có khả năng miêu tả thế giới một cách sống động với “đầy đủ sắc
màu, âm thanh, mùi vị, nhịp điệu” [16, tr.129- 131] M.Gorki đã từng khẳng định:
“Yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ, công cụ chủ yếu của nó và – cùng với
các sự kiện, các hiện tượng của cuộc sống – là chất liệu của văn học” Với nhận định trên, đã giúp ta hiểu hơn về vai trò của ngôn ngữ như là điểm xuất phát, là cơ
sở tồn tại của văn học Hay theo cách hiểu khác, ngôn ngữ vừa là công cụ và cũng vừa là chất liệu của văn học
Đi vào khảo sát ngôn ngữ khía cạnh “hẹp” hơn: đó là hướng quy chiếu Có thể thấy hướng khảo sát này ở Việt Nam đang còn là vấn đề khá mới mẻ và chưa nhận được nhiều sự quan tâm nghiên cứu Trong diễn ngôn văn học, quá trình tìm hiểu hệ thống các phương tiện ngôn ngữ chiếu vật và “vật được quy chiếu” của chúng sẽ là những thao tác đầu tiên để người đọc có thể thâm nhập vào tầng ý nghĩa sâu xa của tác phẩm
Ở khóa luận này, chúng tôi đã chọn hướng khám phá các biểu thức chiếu vật (BTCV) có chứa các từ “trái tim”, “bàn tay” trong thơ Xuân Quỳnh và Lâm Thị Mỹ
Dạ dưới ánh sáng của lý thuyết kí hiệu học: đặt chúng trong các BTCV được sử dụng trong diễn ngôn để từ đó khám phá các tầng biểu đạt của chúng
Đối sánh ngòi bút sáng tác cùng với các nhà thơ cùng thế hệ như Ý Nhi, Nguyễn Thị Hồng Ngát, Phan Thị Thanh Nhàn,… Xuân Quỳnh và Lâm Thị Mỹ Dạ
Trang 15đã để lại những dấu ấn thi ca cá nhân, mang đậm nét dịu dàng và tinh tế Phải chăng gặp nhau trong cùng một thời đại sáng tác và cùng đặt tâm tưởng “phóng bút” trong hồn thơ nữ tính mà việc sử dụng nhiều các từ như “trái tim”, “bàn tay” đã là sự đồng điệu của hai nhà thơ Có khá nhiều công trình nghiên cứu về hai nữ thi sĩ này
nhưng hướng nghiên cứu Các biểu thức chiếu vật có chứa các từ “trái tim”,“bàn
tay” trong thơ Xuân Quỳnh và Lâm Thị Mỹ Dạ được xem là hướng tiếp cận có
tính khoa học và thực tiễn cao
Qua quá trình lựa chọn và nghiên cứu so sánh hai tác giả, chúng tôi mong muốn phần nào giúp cho người đọc thấy được những đóng góp của hai nữ thi sĩ đối với nền văn học Việt Nam, góp phần làm giàu đẹp hơn cho bản sắc văn hóa dân tộc Đồng thời, nêu cao tính cá nhân, nét riêng biệt độc đáo trong việc biến hóa “nét nghĩa biểu đạt” của hai từ “trái tim”, “bàn tay” trong các sáng tác của hai nhà thơ
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Đối với các nhà nghiên cứu ngôn ngữ trong và ngoài nước, việc nghiên cứu
về chiếu vật là vấn đề dụng học được ưu tiên hàng đầu trong nghiên cứu ngôn ngữ Dựa theo khảo sát, lịch sử nghiên cứu về chiếu vật có thể được phân thành 3 giai đoạn nghiên cứu trên thế giới gồm: giai đọan thứ nhất (từ 1882 – khoảng năm 1950) – chiếu vật ngữ nghĩa (semantic reference); giai đoạn thứ hai (từ khoàng 1950 – cuối thế kỷ XX) – chiếu vật của người nói (speaker’s reference); giai đoạn thứ ba (khoảng từ cuối thế kỷ XX – nay) – chiếu vật được nghiên cứu trong phối cảnh liên ngành (interdisciplinary perspectives)
Ở nước ta, cho đến năm 1983 trở đi, ngữ dụng học mới có nền móng để phát triển cả về lý thuyết và các nghiên cứu cụ thể Ngữ dụng học là một chuyên ngành ngôn ngữ học chuyên nghiên cứu các vấn đề liên quan đến việc sử dụng ngôn ngữ
trong quá trình giao tiếp để đạt tới mục đích nhất định Trong cuốn Đại cương ngôn
ngữ học, tập 2; Ngữ dụng học – Đỗ Hữu Châu đã dành trọn một chương để đề cập
đến chiếu vật và chỉ xuất Đây được xem là mốc quan trọng đánh dấu công lao của ông với vai trò là người đầu tiên có công giới thiệu lý thuyết ngữ dụng học một cách
có hệ thống, đầy đủ nhất và tiêu biểu nhất ở Việt Nam Theo nghiên cứu của Đỗ
Trang 16Hữu Châu, chiếu vật là vấn đề đầu tiên mà các nhà nghiên cứu quan tâm do đó cũng
là vấn đề thứ nhất của dụng học Tác giả đã chỉ ra được tầm quan trọng của chiếu vật và việc xác định được nội dung của câu quy chiếu Quan trọng hơn là Đỗ Hữu Châu đã nêu ra được các phương thức quy chiếu – là một hành động có tính chủ động của người nói cho nên nó phần nào thể hiện tính mục đích của người nói khi lựa chọn biểu thức quy chiếu
Tiếp theo công trình được xem như nền móng của Đỗ Hữu Châu, nhiều nhà nghiên cứu đã dụng tâm bổ sung và công bố các công trình của mình Trước hết
phải kể đến công trình Dụng học Việt ngữ (NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội, 2000)
của Nguyễn Thiện Giáp Ở công trình này, nhà nghiên cứu cũng đã dành một phần
để làm sáng tỏ hơn lý thuyết chiếu vật và xem đó là một nhân tố, một phương châm trong hoạt động giao tiếp Kế tiếp là công trình nghiên cứu của Trịnh Bá Đĩnh và
các tác giả trong cuốn Từ ký hiệu đến biểu tượng (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội,
2018) Công trình này đã kể đến các ký hiệu và sự liên kết chặt chẽ giữa ký hiệu với
biểu tượng Trong Ký hiệu và Liên ký hiệu (NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí
Minh, 2018), nhà nghiên cứu Lê Huy Bắc đã ưu ái dành toàn bộ cuốn sách để nghiên cứu về lý thuyết ký hiệu học, đồng thời xem đó là nhân tố không thể tách rời trong việc phân tích tác phẩm
Sự phát triển của nghiên cứu ngôn ngữ ở nước ngoài trên khía cạnh chiếu vật
đã ảnh hưởng rất lớn đối với ngành nghiên cứu ngôn ngữ ở nước ta Theo luồng ảnh hưởng đó, các tài liệu nước ngoài dần được tiếp nhận và được giới thiệu ở Việt
Nam Một trong những tài liệu được giới thiệu sớm nhất là công trình Dụng học của
G.Yule do Diệp Quang Ban biên dịch Giáo trình được xem là bước khởi đầu có tính chuyên môn cao đối với quá trình tiếp cận và nghiên cứu ngôn ngữ học
Như vậy, nhờ những quá trình tiếp cận và học hỏi các kết quả nghiên cứu từ các công trình nghiên cứu của nước ngoài cũng như việc vận dụng sáng tạo vào thực tiện sử dụng tiếng Việt, các nhà nghiên cứu trong nước đã xây dựng nên những công trình tiêu biểu về ngữ dụng học, trong đó có lý thuyết chiếu vật Các đóng góp của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ tiêu biểu như: Cao Xuân Hạo, Đỗ Hữu Châu,
Trang 17Diệp Quang Ban, Nguyễn Thiện Giáp,… sẽ là “kim chỉ nam” cho quá trình phát triển nghiên cứu ngôn ngữ sau này Tuy nhiên, trong quá trình khảo sát chúng tôi nhận thấy những công trình nghiên cứu còn mang tính riêng biệt khi ứng dụng các
lý thuyết của ngôn ngữ học và ký hiệu học để nghiên cứu ngôn ngữ văn chương, khuynh hướng nghiên cứu này chưa thật sự nhiều và còn mang tính riêng lẻ
Trên nền tảng nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học, những năm gần đây hướng nghiên cứu về lý thuyết chiếu vật của ngữ dụng học đã được đề cao và chiếm được ưu thế ở nhiều công trình Trong đó phải kể đến một số công trình ở cấp độ
luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ như: Các biểu thức chiếu vật về người phụ nữ trong ngôn
ngữ thơ Hồ Xuân Hương và thơ Xuân Quỳnh của Lê Thị Tuyết Hạnh năm 2017; Các biểu thức chiếu vật về người lính trong ngôn ngữ thơ Kháng chiến của Nguyễn
Thị Yến Nga năm 2019 Nhìn chung hai công trình này đã có sự đóng góp rất lớn cho hướng nghiên cứu về lý thuyết chiếu vật và tạo nên một bước tiếp cận mới về các biểu thức chiếu vật trong các tác phẩm văn chương được khảo sát
Cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu về Các biểu thức chiếu
vật có chứa các từ “trái tim”, “bàn tay” trong thơ Xuân Quỳnh và Lâm Thị Mỹ
Dạ như đề tài của chúng tôi Chúng tôi mong muốn công trình này sẽ góp một phần
nhỏ lấp đầy hơn tính riêng lẻ và ít ỏi của khuynh hướng nghiên cứu ứng dụng các lý thuyết chiếu vật của dụng học và ký hiệu học để nghiên cứu ngôn ngữ văn chương
3 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu cơ sở lý thuyết chủ yếu phục vụ cho việc triển khai đề tài khóa luận:
- Xác lập các tiêu chí để xác định và phân loại các BTCV có từ “trái tim”,
“bàn tay” cũng như đối tượng được quy chiếu của chúng trong thơ Xuân Quỳnh và trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ
- Phân tích, miêu tả đặc điểm của các BTCV được khảo sát trên bình diện cái biểu đạt và cái được biểu đạt
- Phân tích vai trò, giá trị riêng của các BTCV này đối với việc thể hiện ý nghĩa của các biểu tượng: “trái tim”, “bàn tay”
Trang 184 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu được khóa luận xác định là: Các biểu thức chiếu vật có chứa các từ “trái tim”, “bàn tay” trong thơ Xuân Quỳnh và Lâm Thị Mỹ Dạ
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về phương diện khảo sát, khóa luận của chúng tôi tiến hành khảo sát và nghiên cứu đối tượng kể trên ở các phương diện: cấu tạo, quan hệ kết hợp với các yếu tố ngôn ngữ khác trong ngôn cảnh, sự vật được quy chiếu trong ngữ cảnh sử dụng và so sánh chúng với các biểu thức chiếu vật có từ “trái tim”, “bàn tay” tương ứng trong tập thơ của Xuân Quỳnh và tuyển tập thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ Bên cạnh
đó, ở đề tài này chúng tôi còn khảo sát các dạng đồng chiếu vật với các BTCV có từ
“trái tim” như: “tim”, “con tim”, “quả tim”, “lồng ngực”; hay các dạng đồng chiếu vật với các BTCV có chứa từ “bàn tay” như: “tay”, “cánh tay”, “vòng tay”, “ngón tay”, “gang tay” nhằm tìm hiểu toàn diện hơn các tầng biểu đạt mà hai nhà thơ đã dày công xây dựng qua các biểu tượng
Về tư liệu khảo sát:
- Khóa luận khảo sát trên tập thơ của Xuân Quỳnh: + Không bao giờ là cuối
(Thơ, 2015)
- Và khảo sát trên tuyển tập thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ:
+ Trái tim sinh nở (Thơ, 1974 in chung với nhà thơ Ý Nhi trong tập Trái tim
nỗi nhớ)
+ Bài thơ không năm tháng (Thơ, 1983)
+ Đề tặng một giấc mơ (Thơ, 1998)
5 Phương pháp, thủ pháp nghiên cứu
5.1 Thủ pháp thống kê, phân loại
Phương pháp này được chúng tôi vận dụng để thống kê các biểu thức chiếu vật
có trong thơ và phân loại theo những tiêu chí cụ thể
5.2 Phương pháp miêu tả ngôn ngữ
Sau khi thống kê, phân loại cơ sở ngữ liệu là các biểu thức chiếu vật, chúng tôi
Trang 19vận dụng phương pháp này để phân tích, miêu tả đặc điểm cấu tạo các biểu thức chiếu vật và đưa ra những nhận xét, đánh giá với các thủ pháp nghiên cứu sau: thủ pháp phân tích thành tố trực tiếp, thủ pháp phân tích vị từ - tham thể (vị tố - tham thể), thủ pháp phân tích ngôn cảnh/văn cảnh và thủ pháp phân tích vai nghĩa,…Từ những phân tích, lý giải các ngữ liệu, chúng tôi rút ra những vấn đề khoa học có ý nghĩa thực tiễn cao qua từng chương, đề cập đến mục tiêu của đoạn văn
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Về lý luận: Củng cố và hệ thống hóa được các vấn đề cơ bản của lý thuyết chiếu vật, góp phần làm rõ thêm các khái niệm quan yếu đối với việc nghiên cứu chiếu vật trong tác phẩm hư cấu; xác lập được một số cơ sở và thao tác để xác định chiếu vật của các BTCV được sử dụng trong hoạt động giao tiếp; gợi mở và bước đầu vận dụng hướng nghiên cứu liên ngành ngôn ngữ - văn hóa - văn học vào nghiên cứu chiếu vật của Việt ngữ, đặc biệt là chiếu vật trong tác phẩm văn học
- Về thực tiễn: Cung cấp thêm tư liệu và kết quả phân tích mới cho việc nghiên cứu và giảng dạy về các BTCV trong thơ Xuân Quỳnh và Lâm Thị Mỹ Dạ nói riêng và trong giao tiếp tiếng Việt nói chung; cung cấp thêm cơ sở và phương tiện ngôn ngữ cho việc khám phá các giá trị và nét độc đáo trong thơ Xuân Quỳnh
và thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, từ đó giúp ích thêm cho việc nghiên cứu và giảng dạy tác phẩm dưới góc nhìn ký hiệu học
7 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và những vấn đề liên quan: Chương này trình bày
những vấn đề lý thuyết quan yếu nhất đến việc triển khai đề tài khóa luận, đó là: lý thuyết chiếu vật và lý thuyết hoạt động giao tiếp Từ đó, chúng tôi cũng trình bày những định hướng của việc vận dụng những lý thuyết đó vào việc nghiên cứu đề tài
Chương 2: Các biểu thức chiếu vật có từ “trái tim”, “bàn tay” trong thơ Xuân Quỳnh và Lâm Thị Mỹ Dạ nhìn từ bình diện cái biểu đạt: Trong chương
này, chúng tôi triển khai việc khảo sát, phân loại các biểu thức chiếu vật có chứa
Trang 20các từ “trái tim”, “bàn tay” và các biểu thức đồng chiếu vật trong tập thơ “Không
bao giờ là cuối” của Xuân Quỳnh và ba tập thơ: “Trái tim sinh nở”; “Bài thơ không năm tháng” và “Đề tặng một giấc mơ” của Lâm Thị Mỹ Dạ trên các phương
diện: cấu tạo và quan hệ kết hợp với các yếu tố ngôn ngữ khác trong ngôn cảnh Từ
đó, chúng tôi so sánh các biểu thức chiếu vật có từ “trái tim”, “bàn tay” trong ngôn ngữ thơ của nhà thơ Xuân Quỳnh với nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ trên bình diện cái biểu đạt để tìm điểm tương đồng và sự khác biệt trong ngôn ngữ thơ giữa hai tác giả
Chương 3: Các biểu thức chiếu vật có từ “trái tim”, “bàn tay” trong thơ Xuân Quỳnh và Lâm Thị Mỹ Dạ từ bình diện cái được biểu đạt: Ở chương này,
chúng tôi phân loại và miêu tả đặc điểm về chiếu vật trên hệ quy chiếu mà chúng được sử dụng để quy chiếu tới các thực thể cụ thể Từ đó, chúng tôi phân tích và nêu ra một số giá trị chủ yếu của các biểu thức chiếu vật này trong ngôn ngữ thơ Xuân Quỳnh và Lâm Thị Mỹ Dạ
Trang 21ra được một cách đúng đắn cái thực thể nào, đặc tính nào, quan hệ nào, sự kiện nào anh ta đang nói đến” (Dẫn theo Đỗ Hữu Châu, [8, tr.193]) Như vậy, dựa vào khái niệm trên có thể gắn sự chiếu vật với sự kiện lời nói, cũng tức là gắn nó với “cái nôi” ngữ cảnh (cụ thể là với hiện thực ngoài ngôn ngữ) mà trong đó “cái thực thể nào” được quy chiếu đến tồn tại như một thành tố bắt buộc dù hiện hữu hay không hiện hữu Trong những công trình nghiên cứu mình, Đỗ Hữu Châu, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thiện Giáp đã đều khẳng định và thống nhất trong việc nhìn nhận khái niệm sự chiếu vật với tư cách là vấn đề của ngữ dụng học Sự chiếu vật là quan hệ giữa người sử dụng ngôn ngữ và biểu thức ngôn ngữ được sử dụng với đối tượng hoặc thực thể (vật chất hoặc tinh thần, có thật hay tưởng tượng hoặc hư cấu, số ít hay một tập hợp,…) trong một thế giới khả hữu mà ở đó thực thể được quy chiếu tồn tại Do vậy, khái niệm sự chiếu vật thể hiện mối quan hệ giữa bốn yếu tố trong hoạt động giao tiếp: người nói/viết _ biểu thức ngôn ngữ - “vật” trong thế giới khách quan _ người nghe/đọc
1.1.2 Biểu thức chiếu vật (referring expression)
1.1.2.1 Khái niệm biểu thức chiếu vật
Trước tiên, thuật ngữ “biểu thức ngôn ngữ” không phải đơn thuần là để chỉ các tổ hợp từ mà chính là dạng tồn tại của “sự diễn đạt bằng ngôn ngữ”của con người Khi biểu thức ngôn ngữ này được phát ngôn sử dụng để chỉ ra một thực thể
cụ thể trong một ngữ cảnh cụ thể nào đó của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ (tức
là nó thực hiện chức năng chiếu vật) thì biểu thức đó là biểu thức ngôn ngữ chiếu vật hay gọi một cách ngắn gọn là các biểu thức chiếu vật (BTCV) Ở khóa luận này,
Trang 22việc sử dụng thuật ngữ “biểu thức chiếu vật” nhằm chỉ các loại phương tiện ngôn ngữ được sử dụng để thực hiện chiếu vật trong ngữ cảnh cụ thể của ngữ liệu khảo sát, bao gồm cả những BTCV có chứa các từ “bàn tay”, “trái tim” hoặc các biểu thức đồng chiếu vật với “trái tim” như: tim, con tim, lồng ngực; với “bàn tay” như: tay, cánh tay, ngón tay Tuy nhiên, việc xác định khi nào thì một biểu thức ngôn ngữ được dùng là BTCV, khi nào thì không phải là BTCV tương đối khó phân biệt tuyệt đối rạch ròi cả trên phương diện lý thuyết và thực tiễn sử dụng ngôn ngữ Vì, khi đi vào hoạt động giao tiếp thì ngôn ngữ đồng thời đảm nhiệm hai chức năng: chức năng thuộc ngữ/ chức năng miêu tả và chức năng chiếu vật
Đỗ Hữu Châu đã đưa ra quan điểm rằng “cũng như các tín hiệu ngôn ngữ, BTCV có cái biểu đạt và cái được biểu đạt Cái biểu đạt của BTCV là các đơn vị ngôn ngữ tạo nên nó Cái được biểu đạt là sự vật được quy chiếu” [8, tr.193] Tuy nhiên, “cái biểu đạt” của một BTCV không hoàn toàn giống “cái biểu đạt” của một đơn vị ngôn ngữ hai mặt thông thường Bởi, một đơn vị ngôn ngữ có mặt cái biểu đạt (là vỏ âm thanh của tín hiệu ngôn ngữ) và mặt cái được biểu đạt (là ý nghĩa của tín hiệu) Nhưng cái biểu đạt của BTCV là toàn bộ sự kết hợp của các đơn vị cấu thành nên nó cả phương diện âm thanh và ý nghĩa, còn cái được biểu đạt của BTCV chính là sự vật được quy chiếu hay CV của nó Theo quan điểm này, các BTCV có
từ “trái tim”, “bàn tay” trong thơ của Xuân Quỳnh và thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ sẽ được miêu tả trên hai bình diện: bình diện cái biểu đạt và bình diện cái được biểu đạt Ngoài ra, các BTCV ở đây được sử dụng trong văn bản nghệ thuật nên khóa luận này còn hướng đến quá trình tìm hiểu và phân tích một số giá trị của chúng đối với việc thể hiện hệ thống hình tượng, biểu tượng nghệ thuật và văn hóa trong tác phẩm
Trong quá trình khảo sát các BTCV có chứa các từ “trái tim”, “bàn tay” và các hiện tượng đồng chiếu vật của chúng, chúng tôi nhận thấy các BTCV có cấu tạo
là một trong hai kiểu: danh từ và cụm danh từ Các BTCV là danh từ hay cụm danh
từ là loại phương tiện ngôn ngữ phổ biến và hữu dụng nhất trong ngôn ngữ khi thực hiện hành vi chiếu vật trong giao tiếp nhờ vào khả năng định danh và miêu tả của
Trang 23chúng Vì vậy, các BTCV là danh từ và cụm danh từ giúp cho người nghe/ đọc dễ dàng nhận diện thực thể cụ thể được quy chiếu đến trong ngữ cảnh giao tiếp cụ thể
1.1.2.2 Tiêu chí xác định biểu chức chiếu vật
a) Tiêu chí xác định biểu thức chiếu vật nói chung
Trong quá trình khảo sát, chúng tôi đã tự đặt mình vào các vai trong ngữ cảnh mà nhà thơ đã đặt ra Thông qua các cuộc giao tiếp trong nhiều ngữ cảnh khác nhau đã góp phần nhận diện các BTCV và CV của các biểu thức đó dựa trên một số tiêu chí cơ bản sau đây:
- Tiêu chí thứ nhất – tiêu chí cấu trúc: Chúng tôi xác định ranh mở đầu và
kết thúc của một BTCV bằng việc xét đến tính hoàn chỉnh độc lập tương đối của nó
về mặt cấu tạo: hoặc là một từ, hoặc là một cụm từ Nếu là một cụm từ, việc xác lập đường biên của BTCV sẽ kết thúc ở chỗ có thể làm cho phần biểu thức ngôn ngữ được xét đủ tư cách là một cụm danh từ
- Tiêu chí thứ hai – tiêu chí chức năng: Một biểu thức ngôn ngữ có kết cấu
hoàn chỉnh sẽ được chúng tôi coi là BTCV khi biểu thức ngôn ngữ đó chỉ ra được một đối tượng, một thực thể cụ thể nào đó, trong thế giới khả hữu – hệ quy chiếu của BTCV đang được nhà thơ hướng tới
Như vậy, hai tiêu chí về cấu trúc và chức năng là không thể tách rời nhau khi xác định BTCV trong các câu thơ được khảo sát Một BTCV cần thiết phải đáp ứng được cả hai tiêu chí trên thì mới nằm trong phạm vi đối tượng khảo sát của khóa luận
b Tiêu chí xác định biểu thức chiếu vật có từ “trái tim”, “bàn tay” trong thơ Xuân Quỳnh và Lâm Thị Mỹ Dạ
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các BTCV có chứa các từ “trái tim”,
“bàn tay” nên tiêu chí định lượng sẽ góp phần làm rõ phạm vi của các ngữ liệu khảo sát Ở khóa luận này, chúng tôi chỉ xét các BTCV mà trong cấu tạo của biểu thức ngôn ngữ thực hiện chức năng chiếu vật trong trường hợp được xét có xuất hiện ít nhất một trong các yếu tố ngôn ngữ thuộc các nhóm sau đây: Các từ “trái tim”, “bàn tay”; các biểu thức đồng chiếu vật với “trái tim” như: tim, con tim, lồng ngực, quả
Trang 24tim và các biểu thức đồng chiếu vật với “bàn tay” như: tay, cánh tay, ngón tay, gang tay, vòng tay Theo đó, khóa luận xếp vào ngữ liệu khảo sát tất cả các BTCV có từ
“trái tim”, “bàn tay” theo các tiêu chí kể trên, dù BTCV đó có quy chiếu đến thực thể hoặc thuộc tính nào đó của con người hay không
1.1.3 Chiếu vật và hệ quy chiếu
1.1.3.1 Khái niệm chiếu vật (referent)
Thuật ngữ “chiếu vật” (CV) được sử dụng trong khóa luận này tương ứng với
thuật ngữ sở chỉ (theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp), hoặc cái sở chỉ (theo tác giả Cao Xuân Hạo), hay yếu tố được quy chiếu (theo tác giả Diệp Quang Ban) Dựa vào đó,
CV được hiểu là đối tượng hay thực thể cụ thể của thực tế khách quan được các phương tiện ngôn ngữ biểu thị thông qua việc thực hiện chiếu vật của người sử dụng, trong ngữ cảnh cụ thể, vì thế còn được gọi là “vật được chiếu” (theo tác giả
Đỗ Hữu Châu [8]) Các thực thể này là các sự vật xuất hiện trong ngữ cảnh sử dụng của hoạt động giao tiếp “Sở chỉ (referent) của một biểu hiện là một sự vật được ghi nhận nhờ cách dùng biểu hiện này trong một tình huống phát ngôn cụ thể Có thể nói, sở chỉ là đối tượng mà từ biểu thị, gọi tên Sở dĩ cái đối tượng được gợi ra trong mỗi phát ngôn cụ thể là cái sở chỉ vì quan hệ giữa từ và đối tượng là quan hệ quy chiếu” [21, tr.36] Như vậy, khái niệm CV được hiểu với một ngoại diên tương đối
rộng so với khái niệm vật (thing) hay vật được ký hiệu (significatum) trước đây của
các nhà ngữ nghĩa học Trong phạm vi ngữ liệu khảo sát của khóa luận, các thực thể được quy chiếu và chính chúng có tư cách làm CV của các BTCV có từ “trái tim”,
“bàn tay”, tùy từng ngữ cảnh cụ thể, có thể là chính các bộ phận của con người như trái tim, bàn tay cụ thể; hoặc có thể là “phi bộ phận cơ thể con người” như tình cảm, cảm xúc, thân phận, tinh thần,… của nhân vật được xây dựng
1.1.3.2 Nghĩa – ý nghĩa – chiếu vật
Nghĩa hay ngữ nghĩa (theo nghĩa rộng: nghĩa của ngôn ngữ nói chung –
meaning) và ý nghĩa của từ (sense) đều có liên quan tới CV bằng ngôn ngữ
Xét về mặt tín hiệu học thì, thứ nhất từ ngữ âm là cái biểu hiện của từ (cái được biểu hiện); thứ hai, từ ngữ âm cùng với nghĩa của mình lại là cái biểu hiện của
Trang 25cái sở chỉ; thứ ba, trong những phát ngôn cụ thể, toàn bộ tam giác ngữ nghĩa còn có thể đóng vai trò là một tín hiệu của một sự vật khác Như vậy, nghĩa (sense) và sở chỉ là cái được biểu hiện Nhưng ý nghĩa (meaning) không phải là cái được biểu hiện mà là mối quan hệ giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện [19, tr.310 – 311]
Ý (meaning) của từ là quan hệ của từ với cái gì đó nằm ngoài bản thân nó Hiểu ý nghĩa của một đơn vị nào đó thì phải xác lập được nó biểu thị điều gì và đơn
vị ấy có quan hệ với cái gì đó Điều này được biểu hiện rõ khi ta quan sát quá trình nắm nghĩa của từ của con người Đối với trẻ con, quá trình nắm ngôn ngữ lần đầu
tiên chính là sự liên hệ âm thanh của từ với sự vật Trẻ con nắm nghĩa của từ mèo
nhờ nghe phức thể ngữ âm (mèo) Dần dần trong nhận thức của trẻ, âm [mèo] có quan hệ với con mèo – từ con mèo cụ thể xung quanh đến cá thể loài mèo nói chung Như vậy, nghĩa của từ là một hiện tượng tâm lí, có thể diễn đạt bằng siêu ngôn ngữ Chính vì vậy, ngay từ đầu trẻ con chưa thể nắm được mà phải thông qua một quá trình liên hệ giữa âm thanh của từ với sự vật cụ thể Còn đối với người lớn, khi không hiểu ý nghĩa của một từ nào đó, người ta thường dùng cách tra từ điển Ý nghĩa của từ cần làm sáng tỏ được biểu hiện thông qua lời giải thích trong từ điển Tuy nhiên, việc giải thích nghĩa trong từ điển là việc đi tìm đơn vị ngôn ngữ tương đương về nghĩa với từ cần giải thích Trong nhận thức của con người không xuất hiện và tồn tại bản thân ý nghĩa của các từ và các đơn vị ngôn ngữ khác, mà trong nhận thức chỉ có sự hiểu biết về các ý nghĩa của chúng Chính vì thế, khi nghe một câu nói bằng thứ tiếng khác (thứ tiếng ta chưa biết), ta chỉ lĩnh hội được mặt âm thanh của nó rồi tự liên tưởng về ý nghĩa (nhưng không thành công) Hiện tượng này dễ dàng gây ấn tượng là ý nghĩa của đơn vị ngôn ngữ đó đã ngự trị trong nhận thức của chúng ta thông qua sự tự liên tưởng ấy Nhưng thật chất không phải vậy, ý nghĩa của từ tồn tại khách quan trong lời nói còn trong nhận thức chỉ phản ánh những ý nghĩa đó mà thôi Vì vậy, không nên lẫn lộn nghĩa của từ với sự hiểu biết (nhận thức) của con người về cái ý nghĩa đó
Như vậy, ý nghĩa (meaning) không phải là cái được biểu đạt mà là mối quan
hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt Điều này cũng dẫn tới sự rạch ròi giữa ý
Trang 26nghĩa của từ với cái sở chỉ của nó Bởi, ý nghĩa của từ là một hiện tượng tâm lý, có tính chất trừu tượng, chủ quan; còn sở chỉ là mục tiêu cuối cùng của việc sử dụng từ ngữ Bởi lẽ, trong giao tiếp, người ta sử dụng từ ngữ để thông báo những sự tình của thế giới bên ngoài chứ không phải là bàn về ngôn ngữ
1.1.3.3 Hệ quy chiếu
“Để chiếu vật có hiệu quả, người nhận phải hiểu được thế giới bên ngoài được đưa vào diễn ngôn Người nhận cần phải xác định rõ diễn ngôn nói về thế giới thực hay thế giới ảo, thế giới tự nhiên hay thế giới nhân tạo và các mảng thế giới nhỏ hơn nữa: thế giới nghệ thuật, thế giới nhận thức…” [12, tr.501] Từ nhận định trên, có thể thấy rằng mảng thế giới bên ngoài được sử dụng làm cơ sở cho việc xác định nghĩa chiếu vật của từ ngữ được gọi là hệ quy chiếu Nói đến hệ quy chiếu là nói đến sự tồn tại của sự vật, hiện tượng trong thế giới Sự tồn tại trong một thế giới chính là điều kiện để một sự vật có thể được quy chiếu bởi một BTCV cụ thể trong một ngữ cảnh giao tiếp cụ thể và trở thành CV của BTCV đó.Trong công trình nghiên cứu của mình, nhà ngôn ngữ Nguyễn Thiện Giáp đã khẳng định: “Sự quy chiếu nhất thiết mang theo nó các tiền đề về sự tồn tại phát sinh từ những kinh nghiệm trực tiếp của ta về các đối tượng trong thế giới vật chất Có thể nói khái niệm “tồn tại vật chất” là cơ sở để định nghĩa mối quan hệ ngữ nghĩa của quy chiếu
Sự tồn tại là tiền đề của quy chiếu” [17, tr.26 – 27]
Sự vật có thể tồn tại ở hai dạng thế giới khác nhau, đó là: thế giới hiện hữu
và thế giới khả hữu Riêng thế giới khả hữu thì còn trường hợp cùng một lúc nhiều thế giới nội hàm đồng thời xuất hiện: thế giới thực hữu; thế giới tưởng tượng; thế giới hư cấu trong thần thoại, cố tích hay truyền thuyết và các tác phẩm văn học; thế giới tâm linh, siêu nhiên với sự tồn tại của các hồn ma, ác quỷ,… Tuy nhiên, khi thực hiện quy chiếu bằng các BTCV trong một ngữ cảnh giao tiếp cụ thể, chỉ một thế giới khả hữu mà ở đó sự vật – CV tồn tại mới được người nói lựa chọn làm HQC cho BTCV của mình và đưa vào trong ngữ cảnh thông qua phát ngôn
Ngược lại, trong hoạt động giao tiếp, có khi một biểu thức ngôn ngữ có thể được sử dụng để quy chiếu tới nhiều sự vật, đối tượng khác nhau trong những thế
Trang 27giới khả hữu khác nhau và các ngữ cảnh giao tiếp khác nhau Có khi tại một phát ngôn cụ thể, với một ngữ cảnh cụ thể thì chỉ có một sự vật tồn tại trong một HQC của biểu thức đó được quy chiếu đến
1.1.3.4 Chiếu vật trong tác phẩm văn chương
Nếu như chiếu vật trong những diễn ngôn giao tiếp thì chỉ dừng lại ở các tiêu chí cấu trúc, chức năng và liên hệ thì chiếu vật trong các tác phẩm văn chương đòi hỏi hệ quy chiếu rộng và sâu hơn nhiều Để giải mã được toàn bộ các hệ quy chiếu xuất hiện trong văn chương, người nghiên cứu phải thấy được sự tương ứng giữa từ (các cụm từ) với các sự vật, con người, hoạt động được nói tới Bên cạnh đó, đòi hỏi người nghiên cứu phải có một kiến thức, vốn hiểu biết sâu về lịch sử, văn hóa, thời đại ra đời tác phẩm, sự nghiệp của tác giả,… để có được những tiền giả định chính xác, lập thành một hệ quy chiếu phù hợp và đưa ra những ý nghĩa xác đáng nhất
Một trong những vấn đề đang được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm gần đây là: Sự chiếu vật trong tác phẩm hư cấu (tiêu biểu là tác phẩm văn học) có gì khác biệt so với sự chiếu vật trong giao tiếp hàng ngày? Cơ sở nào giúp người đọc
có thể nhận diện được CV của các BTCV hư cấu đó? Sự chiếu vật có thể chỉ ra các thực thể tồn tại trong một thế giới thực như thông thường; nhưng cũng có thể chỉ ra các thực thể không tồn tại trong thế giới thực – tức là các thực thể tồn tại trong thế giới không có thật Một trong những thế giới không có thực đó chính là thế giới khả hữu tồn tại trong các sản phẩm hư cấu – thế giới hư cấu
Thế giới khả hữu của các nhân vật hư cấu chính là tác phẩm hư cấu mà ở đó nhân vật xuất hiện, hành động, suy nghĩ, nói năng, Trong thế giới khả hữu đó, nhân vật tồn tại thực sự và khi được quy chiếu bằng ngôn ngữ thì nó chính là “vật được chiếu” của BTCV được sử dụng Theo đó, sự chiếu vật về các thực thể hư cấu cũng có nhiều loại: có sự chiếu vật của tác giả trong tác phẩm; sự chiếu vật của người đọc trong các diễn ngôn của tác phẩm – “diễn ngôn của diễn ngôn”; sự chiếu vật của chính bản thân nhân vật trong tác phẩm;… Việc phân biệt đặc điểm về sự chiếu vật của các chủ thể khác nhau này là cần thiết cho việc xem xét CV cụ thể của từng BTCV cũng như tính hệ thống của các BTCV do cùng một chủ thể sử dụng có
Trang 28ý nghĩa thế nào tới việc bộc lộ, thể hiện tư duy, tình cảm, thái độ của cá nhân chủ thể đó
1.2 LÝ THUYẾT HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP
1.2.1 Các nhân tố của hoạt động giao tiếp
Theo quan điểm Ngữ dụng học thì có rất nhiều cách phân loại và miêu tả các nhân tố giao tiếp Theo tác giả Đỗ Hữu Châu [8], cách khái quát nhất phải kể đến ba nhân tố giao tiếp cơ bản là: Ngữ cảnh, ngôn ngữ và diễn ngôn Tuy nhiên, “Chiếu vật là cái neo mà diễn ngôn thả vào ngữ cảnh” chính vì thế mà khóa luận đi vào trình bày chi tiết về nhân tố ngữ cảnh còn hai nhân tố còn lại chỉ dừng lại ở mức độ khái quát nhất
1.2.1.1 Ngữ cảnh
Ngữ cảnh được hiểu là “bối cảnh ngoài ngôn ngữ của một phát ngôn hay là những thông tin ngoài ngôn ngữ góp phần tạo nên nghĩa (của phát ngôn)” [8, tr.97] Các hợp phần của ngữ cảnh gồm: Đối ngôn và hiện thực ngoài diễn ngôn
Đối ngôn là người tham gia vào trong cuộc giao tiếp (hay cũng có thể gọi là
nhân vật giao tiếp) Một cuộc giao tiếp cần có ít nhất hai đối ngôn Và giữa các đối ngôn này có hai kiểu tác động qua lại, chi phối lẫn nhau: quan hệ tương tác và quan
hệ liên cá nhân Có thể hiểu quan hệ tương tác là quan hệ luân phiên giữa vai người nói và vai người nghe trong một cuộc giao tiếp Quan hệ này chịu sự chi phối bởi một một số quy tắc hội thoại mà đòi hỏi người trong cuộc (các đối ngôn) phải tuân theo nếu muốn cuộc giao tiếp được suôn sẻ Còn quan hệ liên cá nhân được hiểu là quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp trên hai phương diện (thường được biểu diễn trên hệ tọa độ bằng hai trục quan hệ): quyền lực giao tiếp (trục dọc) và khoảng cách giao tiếp (trục ngang) Như vậy, các kiểu quan hệ (quan hệ tương tác và quan hệ liên cá nhân) giữa các đối ngôn như kể trên có liên quan tới nhau và cùng có ảnh hưởng quyết định tới diễn tiến và kết quả của cuộc giao tiếp
Hiện thực ngoài diễn ngôn có thể hiểu là “tất cả những cái tạo thành môi
trường cho một cuộc giao tiếp” loại trừ diễn ngôn và đối ngôn của nó [8, tr.106] và được phân thành một số hợp phần chính như sau:
Trang 29* Hoàn cảnh giao tiếp: Đây là một hợp phần rất rộng lớn, “bao gồm toàn thể
các nhân tố chính trị, địa lí, kinh tế, văn hóa, lịch sử với các tư tưởng, các chuẩn mực về đạo đức, ứng xử, với các thiết chế các công trình, các tổ chức… tương ứng, tạo nên cái gọi là môi trường xã hội – văn hóa – địa lí cho các cuộc giao tiếp” [8, tr.111] Bối cảnh rộng lớn ấy như là hệ tọa độ để người xem có thể định vị hiệu quả những yếu tố còn lại của giao tiếp đang diễn ra trên sân khấu ngôn ngữ
* Thoại trường hay hiện trường giao tiếp: Là khoảng không gian hoặc thời gian cụ thể mà diễn ra cuộc giao tiếp “Thời gian, không gian thoại trường không tách nhau Nó là một thể thống nhất vừa có tính trừu tượng, tính điển dạng vừa có tính cụ thể, hiện dạng, ít nhiều đã quy ước hóa thành những mô típ nhất định, hình thành nên những cấu trúc đối với diễn ngôn cả về hình thức, cả về nội dung” [8, tr.112]
* Hiện thực được nói tới hay hiện thực đề tài: là “cái gì đó” mà các đối ngôn nói tới trong cuộc giao tiếp “Cái gì đó” này có thể là một hay một số yếu tố ngoài diễn ngôn (gọi là hiện thực đề tài ngoài diễn ngôn, có thể là hiện thực nội tâm hoặc hiện thực khách quan), cũng có thể là yếu tố nào đó nằm trong diễn ngôn đã có trước đó hoặc trong diễn ngôn đang đươc tạo lập (gọi là hiện thực đề tài trong diễn ngôn)
1.2.1.2 Ngôn ngữ
Mỗi cuộc giao tiếp đều sử dụng một ngôn ngữ cụ thể nào đó làm phương tiện, nên nói tới ngôn ngữ trong vai trò làm nhân tố giao tiếp cũng chính là nói tới ngôn ngữ cụ thể với các biến thể mà các đối ngôn sử dụng trong cuộc giao tiếp của
họ “Diễn ngôn được nói hay viết ra trong những biến thể đó một cách hỗn đồng (có nghĩa là một diễn ngôn đồng thời được sản sinh ra dưới ảnh hưởng của các biến thể của một ngôn ngữ nhất định) Những nhân tố biến thể và nhân tố loại thể nhất định
để lại những dấu vết đối với diễn ngôn về hình thức, về nội dung, chi phối diễn
ngôn cả về phía sản sinh và phía tiếp nhận” [8, tr.122]
Các đối ngôn trong một cuộc giao tiếp không nhất thiết phải có hiểu biết hoàn toàn giống nhau về các nhân tố thuộc về ngữ cảnh và ngôn ngữ Tuy nhiên,
Trang 30giữa họ phải có điểm chung, điểm giống nhau và cần thiết đối với cuộc giao tiếp đó, tạo thành cái gọi là “tiền giả định bách khoa” Như vậy, xét cho cùng nhân tố con người vẫn đóng vai trò quyết định đối với các nhân tố còn lại trong hoạt động giao tiếp
1.2.1.3 Diễn ngôn
“Diễn ngôn là bộ phận hợp thành sự kiện lời nói và tổ hợp các sự kiện lời nói hình thành một cuộc giao tiếp Các chức năng giao tiếp được thực hiện bằng các diễn ngôn và cụ thể hóa thành các phần của diễn ngôn” [8, tr.148] Rút ra từ quan điểm trên của tác giả Đỗ Hữu Châu, diễn ngôn là khái niệm chỉ sản phẩm sau cùng của cuộc giao tiếp giữa các đối ngôn, trong đó lại bao gồm các diễn ngôn riêng của từng đối ngôn trong giao tiếp Hầu hết trong tất cả các cuộc giao tiếp thông thường, các diễn ngôn riêng của từng đối ngôn đều có sự tác động, ảnh hường và chi phối qua lại lẫn nhau Thiếu đi sự chi phối đó thì một cuộc giao tiếp không thể đến được đích hiệu quả như mong muốn của các đối ngôn Diễn ngôn có hai phương diện: Hình thức và nội dung Hình thức của diễn ngôn bao gồm tất cả các yếu tố ngôn ngữ (thuộc ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, ngữ dụng,…) và các yếu tố phi ngôn ngữ được dùng khi các đối ngôn tạo ra diễn ngôn Nội dung của diễn ngôn gồm hai phần: nội dung thông tin (hay nội dung miêu tả) “thực hiện chức năng thông tin của giao tiếp, thuộc lĩnh vực nghĩa học của tín hiệu học và bị quy định bởi tính đúng – sai logic” [8, tr.148]; và thành phần nội dung liên cá nhân ứng với các chức năng còn lại của giao tiếp (các chức năng: tạo lập quan hệ, biểu hiện, giải trí, hành động) thuộc về lĩnh vực dụng học của tín hiệu học và không bị quy định bởi tín đúng – sai logic
Xét đến diễn ngôn viết, đây là loại diễn ngôn chịu đặc tính của “sự vắng mặt” hay còn gọi là tính gián cách Bởi nó không thể ngay lập tức nhận được sự phản hồi
từ đối ngôn khác Chính điều này đã tạo nên rào cản, khó khăn nhất định cho việc thuyết giải diễn ngôn đúng với ý đồ của người tạo lập Đây cũng là trường hợp phổ biến trong quá trình xem xét các diễn ngôn văn học từ góc độ lý thuyết hoạt động giao tiếp
Trang 31Như vậy, cả ba nhân tố giao tiếp: ngữ cảnh, ngôn ngữ và diễn ngôn không thể tách rời nhau trong từng cuộc giao tiếp, thay vào đó chúng nhất thiết phải phối hợp và tác động lẫn nhau để tạo nên cuộc vận động chung của cuộc giao tiếp
1.2.2 Các nhân tố giao tiếp và chiếu vật
Đối với ngành nghiên cứu về Ngữ dụng học, nhân tố giao tiếp được xem là một trong những khái niệm nền tảng Bởi, nó không chỉ được những chuyên gia về Ngữ dụng học quan tâm mà còn thu hút nhiều nhà ngôn ngữ học tìm hiểu và đào sâu nghiên cứu Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả Đỗ Hữu Châu đã đi vào
tìm hiểu cặn kẽ về nhân tố giao tiếp Điều này được thể hiện trong Đại cương ngôn
ngữ học – một công trình nghiên cứu khá đầy đủ và toàn diện về nhân tố giao tiếp
Theo đó, tác giả chỉ ra nhân tố giao tiếp bao gồm: ngữ cảnh, ngôn ngữ và diễn ngôn Các nhân tố này luôn hiện hữu trong xuyên suốt cuộc giao tiếp và luôn có sự chi phối, tác động đến cuộc giao tiếp đó trên cả phương diện hình thức cũng như nội dung
1.2.2.1 Đối ngôn (tác giả và bạn đọc)
Hoạt động của văn chương là hoạt động giao tiếp vì nó có tất cả yêu cầu và nhân tố của một cuộc giao tiếp thông thường, đó là: tác giả (người phát), tác phẩm (văn bản, diễn ngôn, thông điệp), độc giả (người nhận) và bao gồm hai quá trình: sáng tác (phát tin) và tiếp nhận (nhận tin)
Trong giao tiếp văn chương, quá trình tiếp nhận và độc giả đóng vai trò quan trọng Bởi, độc giả bây giờ không chỉ đóng vai trò thụ động trong quá trình lĩnh hội tác phẩm nữa mà chi phối nó ngay cả trong quá trình thai nghén và hình thành Nhà văn (người phát) bây giờ không phải muốn viết gì thì viết, muốn viết như thế nào cũng được mà cần phải lắng lại để thấu cảm nhu cầu và cách nhìn của độc giả Cũng như vậy, trong giao tiếp đời thường, các nhân vật giao tiếp cũng đóng vai trò chi phối quan trọng, mang tầm ảnh hưởng lớn đối với thành công của cuộc giao tiếp Bởi theo đó, người nói không phải muốn nói gì thì nói, để lời nói của mình đạt được mục đích giao tiếp thì chính người nói phải thấu hiểu người nghe, cần có những hiểu biết về người nghe để đạt được đích giao tiếp
Trang 32Như vậy, trong quá trình sáng tác và quá trình tiếp nhận, trong mối quan hệ giữa tác giả và bạn đọc thì vai trò của bạn đọc là cấp thiết, quan trọng Chỉ khi có sự tiếp nhận của độc giả thì khi đó tác phẩm mới được gieo linh hồn, sự sống; và chừng nào còn người đọc thì tác phẩm đó mới sinh tồn
1.2.2.2 Ngữ cảnh, tình huống giao tiếp
Vấn đề trung tâm được Ngữ dụng học quan tâm là hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ của con người xét trong tương quan với ngữ cảnh Hoạt động giao tiếp đó chịu sự chi phối, tác động của những nhân tố nhất định, nhà ngôn ngữ Đỗ Hữu Châu gọi đó là các nhân tố giao tiếp Để hiểu ý nghĩa của một phát ngôn, ta cần đi
vào đối chiếu phát ngôn đó trong hệ thống các câu hỏi sau: Ai nói? Nói với ai? Nói
trong hoàn cảnh nào? Nói về cái gì? Và Nói với mục đích gì? Như vậy, khi giải
quyết được những câu hỏi trên, chẳng những ta nắm được ý nghĩa của các phát ngôn
mà nó còn hướng chúng ta đến việc lựa chọn cách ứng xử phù hợp, hành vi ngôn ngữ thỏa đáng trong hoạt động giao tiếp Điều này cũng được thể hiện một cách đầy
đủ và rõ ràng trong các nghiên cứu của Đỗ Hữu Châu và Nguyễn Đức Dân Đích đến của các nhà ngôn ngữ là luôn xem ngữ cảnh như một trong những khái niệm nền tảng không thể thiếu trong công trình nghiên cứu về ngữ dụng học
Trong đời sống hàng ngày, việc giao tiếp đã trở thành nhu cầu thiết yếu để con người tránh xa cuộc sống cô độc, lẻ loi Hoạt động giao tiếp có thể được tiến hành bằng nhiều phương tiện khác nhau như: ngôn ngữ, nét mặt, dáng điệu, cử chỉ,… Song, giao tiếp bằng ngôn ngữ vẫn giữ vai trò phổ biến hơn cả Bởi lẽ, ngôn ngữ chính là phương tiện giao tiếp giúp con người bộc lộ được mọi tâm tư, tình cảm, trong khi các phương tiện giao tiếp khác đều rất hạn chế
Vậy giao tiếp là gì? Vấn đề này đã được các nhà ngôn ngữ học định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Ở khóa luận này, chúng tôi chọn cách định nghĩa như sau: Giao tiếp là một dạng hoạt động của con người, là quá trình truyền – nhận thông điệp từ một người gửi đến một hay nhiều người nhận trong một môi trường nhất định Như vậy, giao tiếp nói chung và giao tiếp bằng ngôn ngữ nói riêng chính
là nhu cầu tất yếu của con người Quá trình giao tiếp không chỉ giúp con người trao
Trang 33– nhận thông tin mà còn bổ khuyết cho sự hình thành, tồn tại và phát triển của con người, của xã hội loài người, của cộng đồng ngôn ngữ
Từ nhu cầu giao tiếp sẽ tạo nên các tình huống giao tiếp khác nhau, sự phong phú đó giúp cho tiến trình giao tiếp của con người trở nên đa dạng, nhiều màu hơn Vậy, tình huống giao tiếp là gì? Đó là trạng thái trực tiếp do tác động của các nhân
tố giao tiếp trong một cuộc giao tiếp cụ thể mà có Trong quá trình giao tiếp sẽ xuất hiện đồng thời hai quá trình đan xen nhau: quá trình tạo lập và quá trình tiếp nhận
sự chiếu vật Như vậy, sự phối kết của hai quá trình này sẽ tạo nên sự chiếu vật; giúp cho quá trình diễn tiến trở nên linh hoạt và quyết định sự thành công cho cuộc giao tiếp Như vậy, nếu xét về chức năng giao tiếp của ngôn ngữ thì sự chiếu vật là một trong những cơ sở đầu tiên và quan trọng nhất để con người có thể tiến hành giao tiếp bằng ngôn ngữ Nói cách khác, hoạt động giao tiếp được tiến hành trước tiên là dựa trên việc thực hiện liên tiếp, luân phiên các hành động quy chiếu và giải quy chiếu của các nhân vật giao tiếp Nó cho thấy vai trò của chiếu vật trong sự tương tác xã hội giữa người với người
Mối quan hệ giữa các nhân tố giao tiếp và sự chiếu vật như trên chính là một trong những cơ sở lí luận để triển khai đề tài của khóa luận này Mỗi tác phẩm trong
tập thơ Không bao giờ là cuối của Xuân Quỳnh và mỗi tác phẩm trong ba tập thơ:
Trái tim sinh nở, Đề tặng một giấc mơ, Bài thơ không năm tháng của Lâm Thị Mỹ
Dạ đều có tư cách như là sản phẩm của các hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ (giao tiếp nghệ thuật) và trong hoạt động đó luôn tồn tại sự tồn tại sự tương tác giữa các nhân tố giao tiếp như đối ngôn (tác giả và bạn đọc), ngữ cảnh, tình huống giao tiếp
và ngôn ngữ (ngôn ngữ nghệ thuật) Tất cả các nhân tố này đều được vận dụng trong việc nhận diện các BTCV và CV của chúng trong khóa luận
Trang 34đó, văn chương chính là loại hình nghệ thuật dùng ngôn ngữ làm chất liệu Bởi lẽ, ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của nghệ thuật văn chương và không có ngôn ngữ thì không có nghệ thuật văn chương
Sử dụng ngôn ngữ để sáng tạo nghệ thuật văn chương, tác giả (và cả độc giả) đang thực hiện hoạt động nhận thức, tư duy Quá trình hoạt động này sẽ mang những đặc tính, nét riêng của nghệ thuật để sáng lập nên một quá trình giao tiếp nghệ thuật Quá trình này còn được gọi là tư duy hình tượng nghệ thuật để phân biệt với tư duy bằng ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày hay trong lĩnh vực khoa học
1.3 GIỚI THIỆU VỀ HAI NHÀ THƠ: XUÂN QUỲNH VÀ LÂM THỊ MỸ DẠ 1.3.1 Xuân Quỳnh và tập thơ “Không bao giờ là cuối”
Nhà thơ Xuân Quỳnh (06/10/1942 – 29/08/1988) tên thật là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, sinh ra trong một gia đình công chức nhỏ Tuổi thơ nhiều mất mát, thiếu vắng tình thương của mẹ lúc còn rất nhỏ, bố thường đi công tác xa gia đình nên phải ở với bà nội Tháng 2 năm 1955, được tuyển vào đoàn Văn công Nhân dân Trung ương và sau đó được đào tạo thành diễn viên múa Năm 1962 – 1963, học ở trường bồi dưỡng những người viết văn trẻ (khóa I) của Hội Nhà văn Từ năm 1964 trở đi, là biên tập báo Văn Nghệ, nhà xuất bản Tác Phẩm Mới
Đánh dấu sự trưởng thành trong nền văn học Việt Nam hiện đại chính là nét
cá tính, phong cách và bản sắc riêng rõ nét trong thơ Xuân Quỳnh Trải qua nhiều năm tháng sống và viết, Xuân Quỳnh đã để lại cho đời một di sản văn học thật đáng
tự hào và kính quý Ngòi bút sáng tác ấy đã được trau luyện qua nhiều chủ đề khác nhau và sự từng trải, tâm hồn dạt dào xúc cảm, tình yêu chân thành đã giúp những sáng tác của nữ thi sĩ được trường tồn trong tri nhận của bạn đọc Trong đó, phải kể đến những bài thơ tình yêu đã đạt đến độ đỉnh cao Dù đi vào khai phá những vấn
đề chung của dân tộc hay hướng ngòi bút xen vào nỗi khắc khoải riêng tư, thơ Xuân Quỳnh bao giờ cũng giữ được nét phong cách độc đáo, nét nữ tính, nét thơ của một tâm hồn phụ nữ thông mình, hiểu đời Đắm mình trong những vần thơ của Xuân Quỳnh, dường như ta giật mình khi cảm nhận được quãng đời nữ sĩ đã sống như thế nào, đã làm gì, được tái hiện như chất “tự sự” trong từng “câu chữ nghệ thuật” Để
Trang 35độc giả cảm nhận được điều đó, hẳn là Xuân Quỳnh đã dùng “nét chân thật” để tô điểm cho màu thơ, để làm điểm tựa cho cảm xúc sáng tạo của mình và để những bài thơ là nơi trang trải mỗi bước vui buồn trong đời sống của nhà thơ
Dõi theo từng trang thơ của nữ thi sĩ, ta cảm thấy như mọi vấn đề đưa vào đó đều là cái cớ để nhà thơ bộc lộ tâm trạng của mình Thật vậy, dù ở vấn đề nào, là miền gió Lào cát trắng, con đường hai mươi trong những năm đánh Mỹ, thành phố nơi nhà thơ lớn lên, căn phòng riêng, đứa con nhỏ mà nữ thi sĩ yêu dấu,… thì cái nổi bật lên vẫn là tâm trạng của nhà thơ:
“Dòng sông này, bãi cát, cánh đồng quen Hoa lau trắng suốt một thời quá khứ
Tập thơ “Không bao giờ là cuối” là tuyển tập thơ giới thiệu một cách đầy đủ
về cuộc đời và sự nghiệp thi ca của nữ thi sĩ tài hoa bạc mệnh Xuân Quỳnh Phần
đầu của cuốn sách có tên gọi “Dẫu biết chắc rằng anh trở lại” – là những bài thơ
tình đã từng khiến bao thế hệ bạn đọc say đắm, đặc biệt là mảng thơ viết tặng Lưu Quang Vũ, người mà nữ thi sĩ đã yêu sâu sắc đến tận những phút giây cuối cùng của
cuộc đời Phần 2 của cuốn sách là những trăn trở, suy ngẫm của tác giả về “Những
Trang 36năm tháng không yên của đất nước và lòng người” Phần cuối cùng của tuyển tập:
“Bầu trời trong quả trứng” là một Xuân Quỳnh dí dỏm, tâm hồn tựa như trẻ nhỏ
hàm ẩn trong những sáng tác dành cho thiếu nhi Xuân Quỳnh quan niệm rất rõ
ràng: “Viết cho các em để phục vụ các em, và đồng thời nuôi dưỡng cho mình tâm
hồn tươi trẻ của các em” Cùng với những trang viết, trang thơ, cuốn sách còn giới
thiệu đến người xem những bức họa của họa sĩ Lương Xuân Đoàn, đặc biệt, phần thơ thiếu nhi còn có những bức hình minh họa của Lưu Quỳnh Thơ – con út của Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh
Đi vào khai thác tập thơ này, độc giả có thể nhận ra được nét nghệ thuật mang đặc tính phong cách của ngòi bút sáng tác Xuân Quỳnh Trước hết, nữ thi sĩ
này đã từng phát biểu: “Đừng lo đi tìm ngôn ngữ Cảm xúc sẽ tự chọn được ngôn
ngữ của mình” Chính vì thế mà Xuân Quỳnh ít phải bận tâm trong việc tìm kiếm
hình thức biểu hiện Cũng không mất quá nhiều công sức trong việc lựa chọn hình ảnh và chải chuốt ngôn ngữ Chị đến với những thành quả sáng tác bằng một tâm
thế hồn nhiên nhưng lại nhuần nhuyễn, chắc tay Bởi lẽ, với Xuân Quỳnh “Cái hay
bao giờ cũng mới”; phải chăng vì vậy mà nghệ thuật biểu hiện trong thơ của chị
không hề biến tấu gấp gáp đuổi kịp xu hướng; ngược lại nó vô cùng vững vàng ở cấu tứ Bên cạnh đó, giọng điệu trong thơ của Xuân Quỳnh – mà đặc biệt là ở tập
thơ “Không bao giờ là cuối”, đó là giọng điệu của tâm hồn, giọng của cách cảm
xúc, mang màu tự nhiên và phóng khoáng
Bao năm qua, những bài thơ mang đậm hình ảnh, cảm xúc về cuộc sống và tình yêu ấy đã tạo nên một dấu ấn riêng về phong cách, chiếm phần lớn tình cảm của độc giả cũng như sự nhìn nhận khách quan của các nhà phê bình văn học Một
nhà nghiên cứu đã từng viết: “Tiếng thơ Xuân Quỳnh là một tiếng nói mới của thơ
dân tộc, tiếng nói phản ánh chiều sâu của văn hóa dân tộc” Và đến với Xuân
Quỳnh, người đọc mới được sống lại trong mọi cung bậc của tình yêu của cảm xúc
vô đỗi chân thành và thế giới đời sống chân thật, giản dị
1.3.2 Lâm Thị Mỹ Dạ và các tập thơ làm nên tên tuổi
Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ sinh ngày 18 tháng 9 năm 1949, trong một gia đình
Trang 37ở huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình Năm 1978, bà là thành viên của Hội Nhà văn Việt Nam Lâm Thị Mỹ Dạ từng là biên tập, phóng viên trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước Năm 1979 – 1983, tốt nghiệp trường Đại học Văn hóa (khoa Viết văn) Cho đến năm 1998, bà tốt nghiệp khóa học 3 tháng của Học viện Văn học Gorki (Liên Xô cũ) Với tâm thế của một người đam mê và nghiêm túc với sáng tác, Lâm Thị Mỹ Dạ đã có một kho tàng “tinh thần” cho chính bà và cũng làm giàu cho nền văn học dân tộc Những tác phẩm làm nên tên tuổi của nữ thi sĩ Quảng
Bình, phải kể đến những tập thơ như: Trái tim sinh nở; Bài thơ không năm tháng;
Đề tặng một giấc mơ;… và những bài thơ tiêu biểu: Đề tặng một giấc mơ (1998); Hái tuổi em đầy tay (1990); Mẹ và con (1995); Hồn đầy hoa cúc dại (2007);… Bên
cạnh đó, Lâm Thị Mỹ Dạ còn chắc tay ở mảng truyện dành cho thiếu nhi với những
tập truyện quen thuộc như: Danh ca của đất (1984); Nai con và dòng suối (1989);…
Trải qua nhiều chức vụ, nhiều năm tháng sáng tác và cống hiến làm giàu hơn cho nền văn học của dân tộc, Lâm Thị Mỹ Dạ đã được đáp đền xứng đáng với thành phẩm mà nhà thơ đã kì công gọt dũa: Giải Nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1973; Giải thưởng văn học Hội nhà văn Việt Nam 1981 – 1983; Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2007;…
Để thấu cảm được tâm hồn thơ của nữ thi sĩ này, ắt hẳn độc giả phải trải xúc cảm của mình trong từng câu chữ tự nhiên và mang nặng tính hướng nội của nhà thơ Thơ của bà là sản phẩm của chính tính cách, sự suy tư, nét tinh tế và lòng thấu cảm đời mà nhà thơ nhìn, cảm nhận qua chính lăng kính nghệ thuật của mình Đó là
minh chứng cho những lời tâm sự mộc mạc, chân thật của nữ thi sĩ: “Thơ là cái mới
mẻ trong cái bình thường Người ta chỉ đạt đến thơ như khi một quả trứng nóng bức tới mức nó phải tách vỏ nở ra đời sống – một đời sống sinh động, có hình hài”
Chiêm ngưỡng từng tứ thơ của nhà thơ, qua nhiều bài thơ, vô hình ta nhận thấy được nét trưởng thành từng ngày trong thơ của bà Và mỗi chặng thơ gắn liền với một hoàn cảnh chung của đất nước hay hoàn cảnh cá nhân thì nó vẫn bộc lộ được nét chân thực, sự nữ tính và nét nghệ thuật
Điểm chung trong nét thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ chính là quá trình làm giảm đi
Trang 38nét công phu ở việc cách tân về ngôn ngữ, cách cấu tạo từ hoặc thi pháp, ngôn ngữ Bởi, chiếm lĩnh nhiều trong thơ của nữ thi sĩ chính là tình cảm đẹp, nét tinh tế và giàu nữ tính Không ồn ào, dữ dỗi hay khua gõ làm vang nhưng thơ chị lại dễ đi vào mạch xúc cảm, mạch thấu cảm của độc giả Cùng hòa vào mạch chung giữa hai luồng tri nhận ấy, hình ảnh thơ hay hình tượng thơ cũng được dệt từ chiều sâu của
tư duy, cảm xúc, tâm trạng Có lẽ, người cầm bút là phái yếu nên sự nhạy cảm đến
độ tinh tế của những người phụ nữ cũng được tái hiện nhẹ nhàng trong thơ Thơ bấy giờ đã mang nét bản sắc tâm hồn người viết, thơ tạo nên tính hướng nội để lấy nhiều hơn sự chiếm lĩnh từ độc giả Vì lẽ đó mà thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ đậm triết lí cuộc sống, dễ lắng lại chiều sâu nơi bạn đọc
Tập thơ “Trái tim sinh nở” được in vào năm 1974, là một trong những tập thơ giúp nhà thơ thỏa sức vẫy vùng tính nữ của mình Tuy trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, dành khá nhiều thời gian để sáng tác nên những hình ảnh thơ mang đậm âm hưởng sử thi Trên hành trình thi ca của mình, nữ sĩ không chỉ dừng lại ở những bài thơ làm rạng danh một thời ấy mà luôn tìm tòi để cống hiến những cái mới mẻ, ngọt ngào và sâu lắng Trái tim đa sầu đa cảm của một người phụ nữ, nỗi mong ngóng của một người mẹ và lòng hiếu thảo của một người con đã rung lên, mang vào thơ những nhịp điệu làm xúc động lòng người – giai điệu của tình mẫu tử Lâm Thị Mỹ Dạ đã khéo léo truyền tải những tình cảm, xúc cảm thiêng liêng ấy vào những vần thơ của mình Nhà thơ đã làm tròn bổn phận của mình, đó là bổn phận của một cái tôi trữ tình biện chứng, đúng với quy luật cuộc đời Cái tôi trữ tình ấy, có khi đóng vai trò là một người mẹ, người luôn chở che, thấu hiểu nỗi lòng của con thơ Cái tôi trữ tình ấy có khi lại trong vai của người con, thấu cảm với những vất vả và khó nhọc một đời của mẹ Chính vì lẽ đó, áp những vần thơ ấy vào lồng ngực, độc giả như hòa vào nhịp đập của tình mẫu tử toàn diện, vẹn tròn, chân thành và thắm thiết trong những vần thơ của nữ thi sĩ
Đến với tập thơ “Bài thơ không năm tháng” (năm 1983); đây là tập thơ đã dành được giải thưởng của hội nhà văn Việt Nam vào năm 1984 Đúng như tên gọi của tập thơ – những bài thơ sống mãi theo tháng năm trong lòng của bạn đọc Sự
Trang 39thành công ở tập thơ “Trái tim sinh nở” là tiền để tạo nên dấu mốc “chắc ngòi bút”
ở tập thơ này Lâm Thị Mỹ Dạ đã trở nên sâu lắng, thiết tha hơn và đã bộc lộ rõ nét hơn nét dáng riêng của chị trong thơ Để có những nét mới ấy, nhà thơ đã tìm ra
được chân lý của cuộc đời: “Cuộc sống cho tôi tình yêu” Nhận thức rõ ràng được
chân lý ấy, nhà thơ đã cố gắng phát triển thơ mình theo cả hai hướng: vừa mở rộng thêm (tức là thơ ca phải phản ánh ngày càng toàn vẹn hơn hiện thực cuộc sống lớn lao) và vừa sâu sắc thêm (làm thơ ca ngày càng phải sâu sắc hơn, tinh chất hơn – tức chiều sâu phải làm rung động sự tri nhận của bạn đọc) Với hai mươi lăm bài thơ trong tập, Mỹ Dạ có những câu thơ về quê hương Bình Trị Thiên của mình và
cả những vùng đất xa xôi khác trên đất nước Còn có những câu thơ hướng về truyền thống xa xưa mà tổ tiên để lại; hay những truyền thống gần gũi mà được cha anh và những đồng đội làm nên trong cuộc kháng chiến Thi sĩ còn đưa ngòi bút của mình để phác họa những câu thơ hướng tới những người đang làm nên những giá trị vật chất và cả những con người đang sáng tạo những giá trị tinh thần Tất cả những câu thơ ấy đều hướng về cuộc đời, cuộc sống chân chính – đó là cái tồn tại theo tháng năm
Một trong những tập thơ gây được tiếng vang lớn trên diễn đàn văn học vào năm 1998, đó là tập thơ “Đề tặng một giấc mơ” – Lâm Thị Mỹ Dạ Thật xứng đáng với giải thường đã được vinh danh: giải nhất của UBTQ liên hiệp các hội VNNT toàn quốc năm 1998 Đây là một trong những tập thơ hay và buồn của nữ thi sĩ Mấy ai từ cuộc đời thực đi đến được giấc mơ? Cái đi không đến được ấy đã dồn nén
và bừng chói thành cảm xúc sáng tạo? Có lẽ đây chính là tâm thế thơ xuyên suốt và tạo nên những tầng xúc cảm trong tập thơ này Cũng nhờ đó mà, sản phẩm tinh thần này được hình thành từ sự kết tinh của những “kinh nghiệm nghệ thuật” mà chị đã đúc rút được trong quá trình sáng tạo không ngừng nghỉ của mình Ở tập thơ này tính triết lý, nghiệm sinh được tăng cường và sự khẩn thiết nhìn lại mình để thấy bước đi của thời gian và nỗi buồn không thể khác của con người và chính mình Sức
hấp dẫn và giá trị của thơ Lâm Thị Mỹ Dạ nằm ở đường biên của cái tôi và cái ta,
giấc mơ và hiện thực, sự chôn vùi và sự tự nổ tung, giữa những gì đã qua và những
Trang 40gì sẽ đến, bên cạnh cái hư ảo mong manh ta bắt gặp cái biếc xanh, bỡ ngỡ Và vì
vậy, đó là tiếng nói của sự va chạm, sinh thành Phải chăng từ những điểm mới đó,
Mỹ Dạ đã mở ra một hướng thơ mới cho chính mình
Như vậy, ba tập thơ như một sự minh chứng cho quá trình trưởng thành trên con đường sáng tạo nghệ thuật của Lâm Thị Mỹ Dạ Những chặng đường thơ ấy, sẽ
có những điểm riêng, điểm sáng tạo nhưng nó vẫn là những tiền đề, sự kết nối vững chắc trong từng ý thơ của nữ thi sĩ
1.4 TIỂU KẾT
Đề tài tiến hành các bước triển khai đề tài: Các biểu thức chiếu vật có chứa
các từ “trái tim”,“bàn tay” trong thơ Xuân Quỳnh và Lâm Thị Mỹ Dạ, khóa luận
đã dựa trên hai lý thuyết ngôn ngữ học được coi là quan trọng nhất đối với đề tài là:
Lý thuyết chiếu vật và lý thuyết hoạt động giao tiếp Các khái niệm cơ bản của lý thuyết chiếu vật và khung lý thuyết để giải quyết tất cả nhiệm vụ của đề tài, chỉ ra cách tiếp cận của một số tác giả về các khái niệm: sự chiếu vật, CV, HQC, BTCV
Lý thuyết hoạt động giao tiếp cung cấp cho chúng tôi những khái niệm nền tảng để có cái nhìn bao quát nhất về việc sử dụng ngôn ngữ và các nhân tố liên quan
để giao tiếp diễn ra hiệu quả nhất Chúng tôi đã lấy việc xác định các nhân tố của hoạt động giao tiếp cụ thể giữa hai nhà thơ: Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ và người tiếp nhận làm một trong các căn cứ quan trọng để tiến hành nhận diện các BTCV có chứa các từ “trái tim”, “bàn tay” trong ngôn ngữ thơ Xuân Quỳnh và Lâm Thị Mỹ
Dạ