1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Biến đổi trong đời sống tín ngưỡng của cư dân ven biển xã tam tiến huyện núi thành tỉnh quảng nam

61 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 2,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu tìm hiểu về đời sống văn hóa của cư dân văn biển nói chung và đời sống tín ngưỡng nói riêng dưới góc nhìn truyền thống và hiện đại đặc trong bối cảnh đô thị hóa sẽ giúp chúng

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5

3.1 Đối tượng nghiên cứu 5

3.2 Phạm vi nghiên cứu 6

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

5 Đóng góp đề tài 6

6 Phương pháp nghiên cứu 6

6.1 Phương pháp khảo sát thực tế 6

6.2 Phương pháp thu thập, điều tra và xử lí số liệu 7

7 Bố cục 7

PHẦN NỘI DUNG 8

CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 8

1.1.1 Một số khái niệm liên quan 8

1.1.1.1 Cư dân ven biển 8

1.1.1.2 Tín ngưỡng 8

1.1.2 Một số quan điểm, lý thuyết nghiên cứu về biển đổi văn hóa 9

1.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội 11

1.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển 12

1.2.3 Đặc điểm văn hóa dân cư 14

1.3 Đời sống tín ngưỡng truyền thống của cư dân ven biển xã Tam Tiến huyện Núi Thành tỉnh Quảng Nam 16

1.3.1 Tín ngưỡng thờ cá Ông 16

1.3.2 Tín ngưỡng thờ Cô Hồn 18

1.3.3 Tín ngưỡng thờ cúng ông bà tổ tiên 20

1.3.4 Tín ngưỡng thờ thần giếng 22

CHƯƠNG 2 : NHỮNG BIẾN ĐỔI TRONG ĐỜI SỐNG TÍN NGƯỠNG CỦA CƯ DÂN VEN BIỂN XÃ TAM TIẾN 25

2.1 Các nhân tố tác động đến sự biến đổi trong đời sống tín ngưỡng của cư dân ven biển xã Tam Tiến 25

Trang 3

2.1.1 Quá trình đô thị hóa tại huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam 25

2.1.2 Chủ trương chính sách của chính quyền địa phương 27

2.1.3 Sự chuyển đổi nghề nghiệp 30

2.1.4 Tác động của tiến bộ kinh tế, khoa học kỹ thuật 32

2.2 Những biến đổi trong đời sống tín ngưỡng của cư dân ven biển xã Tam Tiến 34

2.2.1 Cơ sở thờ tự 34

2.2.2 Lễ vật 35

2.2.3 Nghi lễ 36

2.2.4 Bộ phận tổ chức và thực hành nghi lễ 37

2.2.5 Niềm tin và thực hành tín ngưỡng 38

2.3 Một số nhận xét, đánh giá 39

CHƯƠNG 3: BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ TÍN NGƯỠNG CỦA CƯ DÂN VEN BIỂN XÃ TAM TIẾN, NÚI THÀNH, QUẢNG NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 40

3.1.1 Kinh nghiệm bảo tồn phát huy giá trị tín ngưỡng của một số địa phương 41

3.1.2 Định hướng phát triển kinh tế xã hội của xã Tam Tiến 44

Định hướng phát triển kinh tế xã hội 44

3.1.3 Ý kiến nguyện vọng của người dân địa phương 46

3.2.1 Nâng cao vai trò quản lý văn hóa, tín ngưỡng của chính quyền các cấp 47 3.2.2 Nghiên cứu tôn vinh giá trị tín ngưỡng truyền thống của cư dân ven biển xã Tam Tiến 48

3.2.3 Nâng cao đời sống vật chất tinh thần của cư dân 48

3.2.4 Tuyên truyền vân động người dân tham gia bảo tồn 49

3.2.5 Khai thác giá trị tín ngưỡng kết hợp với phát triển du lịch địa phương 50

PHẦN KẾT LUẬN 52

PHỤ LỤC HÌNH ẢNH 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong tổng thể văn hóa Việt Nam văn hóa biển là một thành tố quan trọng Trải dài suốt lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, vận mệnh của tổ quốc Việt Nam luôn gắn chặt với biển Đặc biệt trong bối cảnh tình hình quốc tế

và khu vực đang có những diễn biến phức tạp như hiện nay, việc nhìn nhận nghiên cứu và khẳng định giá trị của văn hóa là nhiệm vụ chính trị quan trọng của cả dân tộc

Việt Nam là một quốc gia biển có 3260km đường biển dọc theo chiều dài của bờ biển Việt Nam từ Trà Cổ ( Quảng Ninh) đến Hà Tiên ( Kiên Giang) lớp lớp cư dân người Việt đã sống dựa vào biển và gắn chặt cuộc đời mình với biển Cũng chính những người dân đó đã sáng tạo giữ gìn và phát huy những giá trị tốt đẹp của văn hóa biển Dưới tác động mạnh mẽ của quá trình hồi nhập đô thị hóa như hiện nay văn hóa biển đang đối mặt với những biến đổi trên nhiều phương diện

Biến đổi là quy luật tất yếu trong sự vận động không ngừng của lịch sử, chi phối mọi lĩnh vực của đời sống của con người, trong đó có văn hóa Tùy vào nhân tố tác động cũng như bản lĩnh tự thân, các thành tố của văn hóa biến đổi khác nhau về tốc độ quy mô, phương thức, trạng thái Sự biến đổi đó biểu hiện

xu thế hay các xu hướng vận động mới của văn hóa Và trong tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay mà biểu hiện đặc trưng là đô thị hóa Văn hóa nói chung cũng như tín ngưỡng nói riêng mỗi ngày một đổi thay mạnh mẽ do sự tương tác của nhiều nhân tố khác nhau

Nghiên cứu tìm hiểu về đời sống văn hóa của cư dân văn biển nói chung

và đời sống tín ngưỡng nói riêng dưới góc nhìn truyền thống và hiện đại đặc trong bối cảnh đô thị hóa sẽ giúp chúng ta có được cái nhìn chân thực khoa học

về văn hóa biển hiện nay cũng như đề ra được những giải pháp để giữ gìn và phát huy những giá trị của văn hóa biển

Tam Tiến là một xã vùng bãi ngang ven biển thuộc huyện Núi Thành tỉnh Quảng Nam Đây là một trong số ít địa phương còn lưu giữ được những nét đặc trưng về văn hóa của cư dân ven biển Quảng Nam, đặc biệt là đời sống tín ngưỡng

Dưới tác động của quá trình đô thị hóa mạnh mẽ ở Quảng Nam hiện nay đời sống văn hóa nói chung và đời sống tín ngưỡng của cư dân ven biển Tam Tiến đang có những biến đổi mạnh mẽ Với mong muốn nghiên cứu tìm hiểu về

sự biến đổi trong đời sống tín ngưỡng của cư dân xã Tam Tiến cũng như góp một phần nhỏ trong việc công sức của mình nhằm tri ân mảnh đất quê hương

Tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Biến đổi trong đời sống tín ngưỡng của cư dân

Trang 5

ven biển xã Tam Tiến huyện Núi Thành tỉnh Quảng Nam” làm đề tài khóa luận

của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu về đời sống văn hóa nói chung và văn hóa biển nói riêng là vấn đề nhận được sự quan tâm của nhiều học giả trong và ngoài nước đặc biệt trong khoảng 10 năm trở lại đây khi vấn đề biển Đông trở thành vấn đề thời sự nóng bỏng thì việc nghiên cứu về vấn đề biển, đời sống cư dân ven biển và những biến đổi của nó dưới tác động của đô thị hóa nhận được sự quan tâm nhiều hơn của các nhà nghiên cứu Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu có thể

kể đến như : Nguyễn Duy Bắc ( 2008), Sự biển đổi các giá trị trong xây dựng

nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, NXB Từ điển Bách khoa và Viện

Văn hóa, Hà Nội; Vũ Văn Dũng ( Tuyển chọn ), Văn hóa biển Việt Nam dưới

góc nhìn văn hóa giân dan, tập 2, Nxb Công an nhân dân Hà Nội; Nguyễn

Thanh Lợi ( 2014), Một góc nhìn về văn hóa biển, Nxb Tổng hợp Thành Phố Hồ

Chí Minh… Các tác giả đã tập trung nghiên cứu về văn hóa ở Việt Nam và văn hóa biển trong bối cảnh đô thị hóa và đưa ra những nhận định, dự báo về diện mạo văn hóa,văn hóa biển Việt Nam trong tương lai

Về văn hóa biển ở miền Trung nói chung và văn hóa Quảng Nam Đà Nẵng nói riêng chúng ta có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như sau:

Tiến sĩ Nguyễn Xuân Hương với tác phẩm Tín ngưỡng cư dân ven biển

Quảng Nam- Đà Nẵng, NXB Từ điển bách khoa và viện văn hóa năm 2019 Đã

trình bày bức tranh tổng thể về đời sống tín ngưỡng của cư dân ven biển Quảng Nam Đà Nẵng dưới góc nhìn truyền thống Tác giả đã có sự kì công trong khảo sát các làng ven biển Quảng Nam Đà Nẵng để viết lên tác phầm này

Tiến sĩ Lê Thị Thu Hiền với tác phẩm Bảo tồn và phát huy giá trị tín

ngưỡng cư dân biển Đà Nẵng trong quá trình đô thị hóa hiện nay, NXB Thông

tin và truyền thông năm 2018, đã chỉ ra cụ thể những biến đổi trong đời sống tín ngưỡng của cư dân ven biển Đà Nẵng trong quá trình đô thị hóa Từ đó đề ra những giải pháp rất khả thi, khoa học để bảo tồn và phát huy giá trị tín ngưỡng trong gia đoạn hiện nay

Trên cơ sở kế thừa những thành quả nghiên cứu của các tác giả đi trước cùng những tư liệu điền dã của bản thân, tôi đã chọn vấn đề biến đổi trong đời sống tín ngưỡng của cư dân ven biển xã Tam Tiến huyện Núi Thành tỉnh Quảng Nam để nghiên cứu

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đời sống tín ngưỡng của cư dân ven biển xã Tam Tiến huyện Núi Thành tỉnh Quảng Nam và những biến đổi của nó dưới tác động của đô thị hóa

Trang 6

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian : đề tài tập trung nghiên cứu về đời sống tín ngưỡng của cư dân ven biển xã Tam Tiến (tập trung chủ yếu ở làng Hà Lộc và Long Thạnh)

Phạm vi thời gian : đề tài nghiên cứu sự biến đổi của đời sống tín ngưỡng

cư dân ven biển Tam Tiến trong khoảng thời gian từ năm 2015 đên nay

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhận diện thực trạng tín ngưỡng và đời sống tín ngưỡng của cư dân ven biển xã Tam Tiến với những biến đổi của nó trong quá trình đô thị hóa nhiều năm trở lại đây, đồng thời chỉ ra những tác nhân gây ra sự biến đổi đó Đồng thời, từ kết quả nghiên cứu, luận án nhận định, đánh giá về xu hướng biến đổi của tín ngưỡng cư dân

Thấy được những nét văn hóa nổi bật trong đời sống tín ngưỡng cư dân ven biển xã Tam Tiến huyện Núi Thành tỉnh Quảng Nam góp phần quảng bá hình ảnh văn hóa, du lịch của các tỉnh miền Trung tới độc giả, du khách trong và ngoài nước

Làm rõ đặc điểm đời sống tín ngưỡng của cư dân ven biển xã Tam Tiến từ

đó chỉ ra những biểu hiện đặc sắc trong phong tục tập quán của cư dân địa phương

5 Đóng góp đề tài

Đề tài khái quát được sự biến đổi trong đời sống tín ngưỡng của cư dân ven biển xã Tam Tiến huyện Núi Thành tỉnh Quảng Nam dưới tác động đô thị hóa dưới nhiều khía cạnh, từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy tín ngưỡng trong giai đoạn hiện nay

Đóng góp thiết thực vào việc xây dựng cơ sở khoa học cho việc định hướng chính sách của chính quyền địa phương với đời sống cư dân ven biển Tam Tiến nói riêng và Quảng Nam nói chung Đề tài là tài liệu tham khảo cho sinh viên ngành lịch sử văn hóa

6 Phương pháp nghiên cứu

Đối với đề tài “Biến đổi trong đời sống tín ngưỡng của cư dân xã Tam

Tiến huyện núi thành tỉnh Quảng Nam”tác giả sử dụng một số phương pháp

nghiên cứu cơ bản sau:

6.1 Phương pháp khảo sát thực tế

Đây được xem là phương pháp chủ đạo trong quá trình nghiên cứu của đề tài Bởi thông qua đề tài này, các số liệu, thông tin thu thập được có phần chính xác hơn, thuyết phục hơn Đồng thời, có thể kiểm tra lại tính xác thực của tài liệu đã nghiên cứu

Trang 7

6.2 Phương pháp thu thập, điều tra và xử lí số liệu

Để hoàn thành đề tài thì tất yếu phải cần đến nhiều nguồn tư liệu từ các ban ngành có liên quan Do đó phải thu thập, tổng hợp, lựu chon nguồn tư liệu phù hợp nhất cần cho nội dung nghiên cứu Trên cơ sở đó cần tiến hành phân tích để tìm ra tính toàn vẹn, phát hiện mối quan hệ giữa các vấn đề liên quan đến nội dung đề tài

Bên cạnh đó, các số liệu, tư liệu thu nhập từ nhiều nguồn khác nhau và mức độ dài ngắn cũng không giống nhau Vì thế các tư liệu cần được thống kê,

xử lý có khoa học để phục vụ hiệu quả nhất cho quá trình nghiên cứu

7 Bố cục

nghiên cứu chia làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Những biến đổi trong đời sống tín ngưỡng của cư dân ven biển xã Tam Tiến dưới tác động đô thi hóa

Chương 3: Bảo tồn và phát huy giá trị tín ngưỡng của cư dân xã Tam Tiến,

huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn hiện nay

Trang 8

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Một số khái niệm liên quan

1.1.1.1 Cư dân ven biển

Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê (Chủ biên), “ven” là “ phần đất

chạy dọc theo sát một bên” như nhà ở ven sông, ven đê,vùng ven đô hoặc “men theo, dọc theo” như ven theo bờ biển, ven bờ sông Nói như vậy “ven biển” có

thể hiểu là “ phần đất chạy dọc theo sát một bên biển” Còn vùng ven biển

được hiểu như là nơi tương tác giữa đất và biển, bao gồm các môi trường ven biển cũng như vùng nước kế cận Các thành phần của nó bao gồm các vùng châu thổ, vùng đồng bằng ven biển, các vùng đất ngập nước, các bãi biển và cồn cát, các rạn san hô, các vùng rừng ngập mặn, đầm phá, và các đặc trưng ven biển khác

Hầu như rất ít công trình nghiên cứu quan tâm đến việc làm rõ khái niệm

cư dân vùng ven biển Trong những công trình về làng ven biển hay sự thay đổi của cư dân ven biển thì công trình của TS Lê Thị Thu Hiền có đề cập đến các vấn đề về khái niệm của cư dân ven biển được đưa ra bởi các chuyên gia đầu ngành như Ngô Đức Thịnh (Chủ biên), Nguyễn Đăng Vũ hay Nguyễn Xuân Hương,… qua đó các tác giả quan niệm cư dân/làng ven biển là những người/những nơi có địa bàn cư trú sát mép/bờ biển và sinh sống chủ yếu bằng nghề ngư nghiệp [6; tr.7]

Cư dân ven biển cũng được hiểu như là những người sống và sinh hoạt trong một ngôi làng nào đó gần biển, được thế hệ trước truyền lại nghề biển và nối tiếp nhau làm nghề biển để nuôi sống bản thân và gia đình

Như vậy dù trước đến nay chưa từng có định nghĩa về cư dân ven biển nhưng qua các công trình nghiên cứu về làng ven biển thì có thể hiểu cư dân ven biển là những người sống trong các làng ven biển và lấy ngư nghiệp làm nguồn sống chính Tuy nhiên dó quá trình đô thị hóa thì dân đến việc sự xáo trộn trong

cư dân ven biển, đã xuất hiện thêm một số nghề như công nhân, giáo viên, kỹ sư,

1.1.1.2 Tín ngưỡng

Hiện tại, có nhiều ý kiến khác nhau khi sử dụng khái niệm tôn giáo và tín ngưỡng Theo quan điểm truyền thống, người ta có ý thức phân biệt tôn giáo và tín ngưỡng, thường coi tín ngưỡng ở trình độ phát triển thấp hơn so với tôn giáo Loại quan điểm thứ hai là đồng nhất giữa tôn giáo và tín ngưỡng và đều gọi

Trang 9

chung là tôn giáo, tuy có phân biệt tôn giáo dân tộc, tôn giáo nguyên thủy, tôn giáo địa phương, tôn giáo thế giới (phổ quát)

Trong Luật Tín ngưỡng tôn giáo (2016) của Nhà nước Việt Nam Ngày

18/11/2016 Quốc hội thông qua Luật tín ngưỡng, tôn giáo 2016 Luật này quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo; tổ chức tôn giáo; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên

quan đến hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo Theo đó: “Tín ngưỡng là

niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng” [6; tr.11]

1.1.2 Một số quan điểm, lý thuyết nghiên cứu về biển đổi văn hóa

Mọi sự vật và hiện tượng địa lý đều tồn tại và phát triển trong một không gian lãnh thổ nhất định, các đối tượng nghiên cứu đều có mối quan hệ, tác động qua lại, mối quan hệ nhân quả trong quá trình phát triển Khoa học địa lí tìm ra các tác động đó để thấy được các quy luật cũng như dự kiến sự phát triển của chúng

Là đối tượng nghiên cứu trọng tâm của nhân học, biến đổi văn hóa được xem như là kết quả của quá trình vận động của xã hội Khái niệm biến đổi văn hóa chỉ sự thay đổi của các cơ chế trong một cấu trúc văn hóa cho trước, được đặc trưng bởi sự thay đổi các biểu tượng văn hóa, các nguyên tắc ứng xử, các thiết chế văn hóa và các hệ thống giá trị

Biến đổi văn hóa được các nhà khoa học khởi xướng thuyết Tiến hóa luận như Edward B Taylor hay L Morgan đề cập đến từ thế kỷ XIX khi họ phân chia xã hội theo thứ bậc đơn tuyến và có chung một mẫu hình biến đổi xã hội

cũng như biến đổi về văn hóa E Taylor cho rằng : “ Sự phát triển tiến bộ tiến

hóa của các nền văn hóa là xu hướng chinh trong lịch sử loài người Xu hướng phát triển này là rất hiển nhiên, vì rằng có nhiều dữ kiện theo tính liên tục của

nó có thể sắp xếp vào một trật tự xác định mà không thể làm ngược lại” Theo

các nhà tiến hóa luận, biến đổi văn hóa có một mô hình chung, đó là ở những

nền văn hóa ngoài phương Tây được nhìn nhận “ kém văn minh” sự biến đổi văn

hóa diễn ra chậm chạp, đối ngược với phương Tây năng động và biến đổi nhanh Các giai đoạn hiện tại của văn hóa đã tiến hóa lên từ các giai đoạn sớm hơn Mô hình tiến hóa đơn tuyến về sự phát triển và biến đổi văn hóa này đã bị phản đối rộng khắp trong giới nhân học và là tiền đề để dẫn đến sự ra đời và phát triển của khá nhiều lý thuyết mới cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX [6; tr.15]

Trong suốt nửa sau thế kỉ XX và phổ biến cho đến nay có một khuynh hướng nghiên cứu hấp dẫn các nhà văn học đó là nghiên cứu sự biến đổi văn hóa trong quá trình toàn cầu hóa đặc biệt ở những xã hội đang chuyển đổi từ kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại Dù

Trang 10

biến đổi văn hóa trong quá trình hiện đại hóa là một thực tế không thể đảo ngược trong các tác giả đều khẳng định sự bền vững của những giá trị truyền thống và nó sẽ chi phối sự lựa chọn của từng xã hội cụ thể chiều hướng quy mô dạng thức biến đổi của văn hóa điều này hướng tới trong quá trình nghiên cứu liên kết với nhau giữa cư dân ven biển Quảng Nam lưu ý đến các giá trị bền vững của tín ngưỡng cộng đồng này trong quá trình đô thị hóa

Ở nước ta, trong thời gian gần đây đã xuất hiện những công trình nghiên cứu về biến đổi văn hóa Trong công trình sự biến đổi các giá trị văn hóa trong xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay Nguyễn Duy Bắc đã cho

rằng: “Biến đổi văn hóa chính là quá trình thay đổi các phương thức sản xuất

bảo quản truyền bá các sản phẩm và các giá trị văn hóa phù hợp với những biến đổi về chính trị kinh tế xã hội ở những thời kỳ nhất định trong sự phát triển của các quốc gia dân tộc và nhân loại” Bốn nhân tố tác động đến biến đổi văn hóa

được đề cập trong công trình này bao gồm thứ nhất là sự vận động và phát triển của đời sống kinh tế xã hội thứ hai là sự nhân tố tư tưởng chính trị thứ ba là kỹ thuật và công nghệ mới thứ tự là giao lưu văn hóa

Như vậy các lý thuyết, quan điểm khác nhau có liên quan đến biến đổi văn hóa cung cấp cho chúng ta những cách tiếp cận luận giải không giống nhau

về chức năng biến đổi đòi hỏi phải xem xét từ nhiều cấp độ để các câu trả lời thấu đáo về tính đa diện của hiện tượng quá trình biến đổi văn hóa Tựu trung sự vận động và biên độ văn hóa của một xã hội do các nhân tố cơ bản sau:

(1) Những biến đổi của đời sống kinh tế xã hội thể hiện qua những chính sách đầu tư phát triển về môi trường sống về phương pháp cách thức sản xuất về nhu cầu nhận thức giáo dục nhiều hơn của con người nhằm đáp ứng đòi hỏi của khối trình độ phát triển xã hội

(2) Điều kiện về kỹ thuật và công nghệ mới Đây là một nhân tố cơ bản dẫn đến biến đổi văn hóa Trong cuộc sống, kỹ thuật công nghệ mới góp phần làm thay đổi trình độ nhận thức tạo sự phát triển của sản xuất vật chất làm xuất hiện các loại hình văn hóa nghệ thuật mới cũng như phổ cập rộng rãi những sản phẩm đó đến với mọi tầng lớp xã hội

(3) Sự giao lưu văn hóa khi một cộng đồng tiếp xúc với một cộng đồng khác có hai quá trình có gì diễn ra từ đó tất cả văn hóa biến đổi đó là truyền bá văn hóa và tiếp biến văn hóa

Áp dụng các luận điểm giải thích nguyên nhân biến đổi văn hóa ở trên tác giả đã chỉ ra các tác nhân quan trọng dẫn đến sự biến đổi tín ngưỡng cư dân ven biển xã Tam Tiến - Quảng Nam trong quá trình đô thị hóa cụ thể từ sau năm năm 2015 đến nay đó là sự phát triển kinh tế xã hội sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật và những chính sách có liên quan đến vùng ven biển và ngư dân của Nhà nước Chính quyền thành phố Quảng Nam

Trang 11

1.2 Tổng quan về xã tam tiến huyện núi thành tỉnh quảng nam

1.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội

Tam Tiến là xã vùng cát ven biển của huyện Tam Kỳ trước đây nay thuộc huyện Núi Thành tỉnh Quảng Nam Đông Giáp biển, Tây giáp xã Tam Xuân(1,2), Nam giáp xã Tam Anh Bắc, Tam Hòa của huyện Núi Thành Bắc giáp xã Tam Phú Tam Thanh của thành phố Tam Kỳ cách Trung Tâm Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam 2 km về hướng Đông Nam cách thị trấn Núi Thành 15 km về hướng Đông Bắc diện tích đất tự nhiên của xã là 1785,66 ha trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 380,66 ha đất nuôi trồng thủy sản là 367 ha, đất thổ cư và xây dựng cơ bản 178 ha, đất rừng và bạch sha 860 ha còn lại là mặt nước sông đầm Dân số 11.772 nhân khẩu, 2.877 hộ đều là dân tộc kinh

Có hai dòng sông nước lợ trải dọc theo chiều dài của xã Sông Tam Kỳ ở phía Tây đổ ra cửa Lở (Tiểu Áp) và cửa An Hòa (trước đây có tên gọi là Đại Ấp, Hiệp Hòa) bao bọc ba cù lao: cồn Vẹt, cồn Chùa, Ổ Gà tạo thành ranh giới tự nhiên với các xả Tam Xuân(1,2) Tam Anh Bắc, Tam Hòa Sông Trường Giang chạy dọc giữa xã thông với Cửa Đại (Đại Chiêm)Hội An, cửa Lở và cửa An Hòa tạo thành hai vùng kinh tế chủ yếu: nông nghiệp và ngư nghiệp Hai dòng sông nói trên có nhiều thuận lợi về giao thông nuôi trồng đánh bắt thủy hải sản và cảnh quan môi trường song không có tác dụng về thủy năng gây nhiễm mặn đồng ruộng và trước mắt còn gây ngập úng trong mùa mưa lụt

Bờ biển Tam Tiến dài 7,5 km bằng phẳng nông và các trắng, phía Nam có rạng đá nổi thuộc thôn Phước Lộc (nay là thôn Hà Lộc) Từ xưa nơi đây có lợi thế cho người dân các thôn Phước Lộc và Hà Quang (nay là Hà Lộc) đưa thuyền

ra vào lúc sóng to, gió lớn Dọc bờ biển có rừng phi lao chắn gió bốn mùa xanh biếc tạo nơi cảnh đẹp thiên nhiên có thể quy hoạch để xây dựng bãi tắm, nơi nghỉ mát và du lịch sinh thái

Tam Tiến thuộc vùng khí hậu nhiệt đới, nhiệt độ trung bình hằng năm 26°C lượng mưa trung bình 220 mm, độ ẩm trung bình trong năm 83%, thích hợp cho các loại cây trồng vật nuôi phát triển Tuy nhiên vào mùa mưa bão gặp lúc triều cường thường gây ngập lụt cục bộ

Về giao thông ngoài đường thủy (sông, biển) từ sau ngày giải phóng

1975, nhất là sau 20 măm đổi mới đất nước đã xây dựng hệ thống đường bê tông thôn xóm nối liền với hai trục đường lớn đường Thanh Niên ven biển và đường nội bộ bên nông (đã rãi đá) và cầu bê tông bắc qua sông Trường Giang tạo thuận lợi cho việc đi lại giao lưu kinh tế văn hóa giữa các địa phương trong và ngoài

Trang 12

Trên đất Tam Tiến hiện nay đã cũng có một số công trình hạ tầng về kinh

tế xã hội như: cầu máng đưa nước từ hồ Phú Ninh về tưới cho đồng Vẹt, cơ sở sửa chữa tàu thuyền, sản xuất nước đá, cung ứng Xăng dầu, khu du lịch biển, bưu điện văn hóa, cùng với hệ thống trường hợp từ mầm non đến trung học cơ

sở, trạm y tế, nhà hộ sinh, nhà văn hóa các thôn, nghĩa trang liệt sĩ gần đây tỉnh Quảng Nam được Chính phủ cho xây dựng khu kinh tế mở đầu tiên của cả nước

xã Tam Tiến nằm trọn trong quy hoạch Khu kinh tế mở Chu Lai mở ra thời kỳ phát triển đầy hứa hẹn trong tương lai

Do biến động của thiên nhiên, địa mạo ở vùng đất Tam Tiến ngày nay có nhiều thay đổi nhất là sự xâm thực của biển Từ xưa bờ biển cách xa xóm làng hiện nay hàng km Năm 1945 nhân dân thôn Hà Quang (nay là thôn Hà Lộc) phát hiện dấu vết khu dân cư ở vùng biển giáp ranh thông Bình Phú - Hà Quang, cách bờ khoảng 400 – 900m còn gốc cây cổ thụ, tượng Phật bán thân, chảo đồng Tiền cổ và nhiều mảng đồ sành sứ Vùng cuối thôn Long Thạnh có cửa lỡ Diêm Điền (Tiểu Áp) phát sinh từ nguồn nước sông Tam Kỳ ở ngã ba trên (lạch Ổ Gà) sau một thời gian bị bồi lấp rồi ở lại ngay Hòn Đất Đỏ xã Xuân Phú (Tam Hòa) nên gọi là cửa Đất Đỏ

Ngày xưa trên đất Tam Tiến có nhiều đồi cát cao (cồn Cao - Hà Quang, động Chai - Hoài Trà, nổng cát Lộc Ngọc,…) vùng đầm nhỏ (vũng Vạc - Hòa Trà, vũng Rớ - Lộc Đông) và nhiều rừng cao nguyên sinh rậm rạp (rừng Cấm Cây Bàng (Bản Long), rừng Diêm Điền, Ngọc Giáp, Hòa Trà, rừng miếu Hà Quang (nay Hà Lộc),… do biến cố của tàn phá của chiến tranh và sự khai thác bừa bãi của con người đến nay chỉ còn lại dấu tích và địa danh lưu truyền [5; tr.10]

1.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển

vào cuối thế kỷ XIV vùng đất Quảng Nam ngày nay (từ bờ nam sông Thu Bồn trở vào) thuộc đất Chiêm Động dưới quyền cai quản của vương quốc Chăm Pa (Chiêm Thành) Những năm cuối đời nhà Trần, giặc Chiêm thường sang quấy nhiễu vùng biên giới phía Nam của nước Đại Việt để giữ yên bờ cõi tháng 7 năm 1402 Hồ Hán Thương làm cuộc Nam chinh buộc vua Chiêm Thành giao nộp đất Chiêm Động (Quảng Nam) và Cổ Lũy (Quảng Ngãi) Nhà Hồ chia đất

ấy thành bốn châu: Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa, tổ chức di dân vào khai phá theo chế

độ “ binh điền” do quân đội quản lý

Nhưng chẳng được bao lâu đến năm 1407 nhân lúc quân nhà Minh phương bắc tràn sang xâm lược nước Đại Việt, vua Chiêm Thành đưa quân đánh chiếm lại đất Chiêm Động, Cổ Lũy, phần đông người Việt mới di cư vào phải chạy ra vùng Thuận Hóa Quảng Trị Thừa Thiên lánh giặc Chiêm

Trang 13

Sau cuộc khởi nghĩa Lê Lợi chống quân nhà Minh xâm lược (1418 – 1427) thắng lợi tháng 8 năm 1470 vua Chiêm Thành là Trà Toàn đem quân đánh phá Hóa Châu (vùng Quảng Trị Thừa Thiên) Để giải quyết tận gốc vấn đề an ninh biên giới đất nước, ngày 6 tháng 11 năm 1470 vua Lê Thánh Tông xuống chiếu thân chinh bình Chiêm, mở rộng bờ cõi nước Đại Việt vào tận núi Thạch

Bi (Đá Bia) thuộc tỉnh Phú Yên ngày nay, tổ chức di dân vào khai phá vùng đất mới Phương Nam lập ra đạo Thừa Tuyên Quảng Nam gồm 3 phủ: Thăng Hoa,

Tư Nghĩa, Hoài Nhơn Đất Tam Tiến thuộc Hà Đông, phủ Thăng Hoa, phần lớn đất đai còn hoang vu, dân cư thưa thớt

Cũng như các địa phương khác ở khu vực Nam Trung Bộ cư dân Tam Tiến phần lớn có nguồn gốc tổ tiên từ các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, lần lượt di cư và Phương Nam khai cơ lập nghiệp sau khi vua Lê Thánh Tông Bình Định xong Chiêm Thành Những người đến đầu tiên có công khai khẩn, qui dân lập ấp sau này được phong danh vị tiền hiền của làng xã, được thờ cúng tại đình làng hằng năm có lệ giỗ tiền hiền của dân làng

Qua tra cứu gia phả của một số tộc họ có ghi rõ niên đại, lớp người di cư đến đất Tam Tiến đầu tiên vào khoảng những năm 1471 đến 1515 thời Hậu Lê tiếp đến thời Trịnh Nguyễn phân tranh 1604 đến 1778 và Tây Sơn khởi nghĩa

1773 đến 1800 số người đến định cư ngày càng đông và lập nên làng xã Những địa danh này còn nhắc đến như: Cát Cao Xứ, Hà Bừa thôn (nay là thôn Hà Lộc), Gành La (Kình La) xứ (thuộc thôn Tiến Thành), Thỉ Lập ấp (thuộc Diêm Trà), Ngọc Giáp thôn (nay thuộc Lộc Ngọc), xóm Cây Bàng (thuộc Bản Long), có từ thuở ấy

Lớp người di cư đến đất Tam Tiến lúc đó thuộc nhiều thành phần Phần đông trong số đó là nông dân nghèo không có ruộng đất bị chế độ phong kiến áp bức bóc lột, lánh nạn chiến tranh, đến vùng đất mới khai cơ lập nghiệp Một số ít trốn binh dịch, sĩ phu bất mãn tìm nơi ẩn dật, cá biệt có người bị triều đình truy bức chạy vào Nam lánh nạn… Họ phần lớn có chung tâm trạng oán ghét chiến tranh các cứ và chế độ vua quan thối nát, mong có nơi an cư lạc nghiệp phát triển giống nòi

Trải qua nhiều biến cố của lịch sử địa giới hành chính và tên gọi xã thôn

có nhiều thay đổi nhưng không có di chỉ để tra cứu đầy đủ các tên đất, tên xóm làng xa xưa Chỉ biết vào thời Tự Đức năm 1947 đến năm 1883 trên địa bàn Tam Tiến các 8 xã nhỏ thuộc hai tổng: An Hòa và Phú Quý của huyện Hà Đông Các xã Hà Quang, Phước Lộc, Diêm Điền, Ngao Tân, Trà Lý Đông thuộc tổng

An Hòa Các xã Tân Lược, Ngọc Giáp, Phú An, thuộc tổng Phú Quý

Năm Thành Thái thứ 18 năm 1906 đổi Huyện Hà Đông thành phố Tam

Kỳ và thay đổi tên một số xã xã Tân Lược thành Tân Lộc, Phú An thành Bình Yên, Hà Quang thành Tam Hà, Phước Lộc thành Tam Lập, Trà Lý Đông thành

Trang 14

Hòa Trà, địa giới các xã vẫn giữ nguyên sau ngày cách mạng tháng Tám năm

1945 Thành công chính quyền cách mạng chủ trương sáp nhập xã các xã Tân Lộc, Ngọc Giáp, Bình Yên Thành xã Tân Ngọc, các xã Tam Hà, Tân Lộc, Ngao Tân, Diêm Điền, Hòa Trà thành xã Tú Phùng (lấy tên nhà yêu nước của Nguyễn Phùng), bỏ cấp tổng, đổi phủ thành huyện Ngày 18 tháng 12 năm 1948 thực hiện quyết định của Ủy ban kháng chiến Hành chính tỉnh Quảng Nam sáp nhập

2 xã Tân Ngọc và Tú Phùng thành lập xã Tam Tiến

Dưới thời Mỹ - Ngụy tháng 10 năm 1954 đến tháng 3 năm 1975, từ tháng

10 năm 1954 đến năm 1955, ngụy quyền chia Tam Tiến thành 2 xã: các thôn bên biển là xã Kỳ Châu, các thôn bên nông là xã Thị Ngọc Đầu năm 1956, ngụy quyền tỉnh Quảng Nam quyết định nhập lại thành xã Kỳ Trung thuộc quận Tam

Kỳ Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng năm 1975 chính quyền cách mạng đổi lại tên xã Tam Tiến thuộc huyện Tam Kỳ tháng 12 năm 1983 hội đồng

Bộ trưởng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ra quyết định số 144 chia tách huyện Tam Kỳ thành hai đơn vị hành chính Thị xã Tam Kỳ và huyện Núi Thành xã Tam Tiến thuộc huyện Núi Thành với địa giới như ngày nay (cắt một phần ấp 5, Tân Lộc sáp nhập vào xã Tam Phú của thị xã Tam Kỳ

Qua nhiều lần điều chỉnh ranh giới và tên gọi các thôn cũng có nhiều thay đổi trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ chia thành 6 thôn: thôn 1, 2 ven biển, thôn 3, 4, 5, 6 bên nông Hiện nay gồm có 7 thôn: Long Thạnh, Long Thành, Tân Lộc, Hà Lộc, Lộc Ngọc, Ngọc An, Diêm Điền cơ quan xã được đóng tại Long Thành [5; tr.10-15]

1.2.3 Đặc điểm văn hóa dân cư

Thời Nho học còn thịnh hành ở nước ta trên đất Tam Tiến cũng có nhiều người là con các gia đình khá giả có vị thế trong xã hội theo học chữ Nho để mong sau này làm quan lại hoặc chức sắc ở làng hay làm các nghề tự do (thầy thuốc, thầy địa, thầy bói, ) nhưng rất ít người đổ đạt cao, chỉ có cụ Phan Bá Phiến ở Tân Lược đậu cử nhân, cụ Nguyễn Phựu ở Hà Quang đậu Tú Tài, cụ Trần Quý Công ở Ngọc Giáp đậu cử nhân

Quá trình xây dựng làng xã, ngày xưa tên đất Tam Tiến cũng có nhiều công trình kiến trúc mang tính chất văn hóa tín ngưỡng phương đông như đình, chùa, lăng, miếu, tiêu biểu là đình Trà Luông của làng Diêm Điền gắn liền với huyền thoại Thầy Lánh, xây dựng từ thời Tự Đức, đã phá dỡ năm 1947 do yêu

cầu “tiêu thổ kháng chiến”, lăng mộ cụ Thượng thư công bộ Trần Quý Công ở

rừng Ngọc Giáp nay vẫn còn di tích

Từ xưa, cư dân xã Tam Tiến cũng đóng góp vào nền văn học dân gian Xứ Quảng với nhiều thể loại, làn điệu dân ca khá phong phú, đa dạng nhưng hát chèo ghe, hò khoan, hát nhân ngãi, hô thai bài chòi, hát chèo đưa linh trong lễ hội cá Ông, đưa tang

Trang 15

Dưới thời thực dân pháp cai trị, chúng ráo riết thực hiện chính sách “ngu

dân”, bãi bỏ Nho học, bắt học tiếng Pháp thay tiếng mẹ đẻ, hạn chế việc học

hành thi cử mà đến những năm 1930 trên đất Tam Tiến mới có hai trường Sơ học liên xã ở Hòa Trà và Ngọc Giáp không quá 50 học sinh, mỗi xã nhỏ có một trường Đồng ấu (vỡ lòng) dân lập Đến năm 1936 tại thị trấn Tam Kỳ mới có trường tiểu học Pháp-Việt trong điều kiện nhập học các rất khó khăn chỉ có cô cậu con nhà giàu có quyền thế mơi học được Trước năm 1945 trên 95% dân số

mù chữ toàn xã chỉ có 8 người đậu thành chung và sơ đẳng, khoảng 40 người có bằng yếu luợt và tiễn sanh (lớp 5) Chính quyền duy trì nền lễ giáo phong kiến lỗi thời và các tập tục lạc hậu mê tín dị đoan truyền bá giáo lý thần quyền sùng

bái “Mẫu Quốc Pháp” nhằm gây tâm lý tự ti, vong bản, an phận thủ thường, tin

vào số mạng, rủi may…để mê hoặc tư tưởng thủ tiêu lòng yêu nước ý chí tự cường tinh thần đấu tranh của nhân dân ta

Về y tế, với việc chăm sóc sức khỏe nhân dân không được chính quyền thực dân quan tâm mấy năm 1936 cả huyện Tam Kỳ chỉ có một nhà thương

không quá 20 giường bện lại thiếu thuốc men, dụng cụ, thường gọi là “nhà

thương thí” ít ai đến điều trị Việc chữa bệnh trong nhân dân chủ yếu bằng thuốc

nam, thuốc bắc hoặc cúng bái Tại xã cũng có một số lương y nhưng không có điều kiện tổ chức nghiên cứu, truyền nghề nên nhiều phương thuốc hay của nền

y học cổ truyền ngày càng mai một Tình trạng ăn ở mất vệ sinh, dịch bệnh liên tiếp xảy ra không được ngăn chặn nhất là dịch đậu mùa năm Tân Dậu 1981 đã giết chết hàng trăm đồng bào xã Tân Lộc Nạn hữu sinh vô dưỡng hầu như phổ

biến, tuổi thọ con người rất thấp, “ thất thập cổ lai hy”

Do điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế nói trên bề mặt xã hội dân cư trên đất Tam Tiến tương đối thuần túy, tuyệt đại đa số là nông dân lao động (kể cả nhà cá) Cũng như nông dân cả nước, họ là tầng lớp giai cấp bị chế độ phong kiến thực dân pháp áp bức bóc lột nặng nề, chịu nhiều bất công trong xã hội nên rất thiết tha yêu quê hương, đất nước, khát khao độc lập, tự do, có tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất, không ngại gian khổ hi sinh vì tiếp thu tư tưởng dân chủ tiến bộ của thời đại, sẵn sàng theo Đảng làm cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, và trở thành Quân đội quân chủ lực hùng hậu trong Cách mạng Dân tộc dân chủ

Giai cấp địa chủ và tầng lớp phú nông (kể cả phú ngư) ở Tam Tiến không nhiều (chỉ có 3 địa chủ, 10 phú nông, phú ngư), mức chiếm hữu ruộng đất không quá 22ha/hộ quyền lợi của họ gắn liền với chế độ phong kiến tác động nông dân

về tô, tức, họ nắm giữ các vai trò chủ chốt trong bộ máy chính quyền xã, thôn Tuy vậy nhiều người có ý thức tự tôn dân tộc cảm nhận nhục mất nước đã hưởng ứng các phong trào chống thực dân Pháp do sĩ phu yêu nước đề xướng, một số sớm giác ngộ cách mạng trở thành Đảng viên cán bộ của xã Con em của

Trang 16

họ được học hành nhiều người có xu hướng tiến bộ, nhạy cảm với thời cuộc nhanh chóng tiếp thu tư tưởng cách mạng trở thành Đảng viên cán bộ lãnh đạo sau này cách mạng thành công

Về tín ngưỡng từ xưa đến đất Tam Tiến chưa có 1 cơ sở mang tính chất tôn giáo hiện đại ngoài việc thờ cúng tổ tiên ông bà, thần Linh và những vị có công trong việc khai khẩn xây dựng nên xóm làng Nông dân thờ cúng Thành Hoàng và lễ hội cầu bông, ngư dân thờ ông ngư (cá voi) và lệ cầu ngư hàng năm.[5; tr.25]

1.3 Đời sống tín ngưỡng truyền thống của cư dân ven biển xã Tam Tiến huyện Núi Thành tỉnh Quảng Nam

1.3.1 Tín ngưỡng thờ cá Ông

Tín ngưỡng thờ Cá Ông gắn với lễ hội Cầu Ngư là sinh hoạt văn hóa đặc trưng của cư dân miền Trung, trong đó Tam Tiến là một bộ phận quan trọng, đang góp phần gìn giữ và nâng cao giá trị của tín ngưỡng lễ hội truyền thống này trong kho tàng văn hóa dân tộc Giữa biển khơi mênh mông, nơi đầu sóng ngọn gió, con người càng trở nên nhỏ bé Để rồi, cái giúp họ kiên trì bám biển không chỉ là sức mạnh thể chất mà còn là niềm tin tâm linh – tin vào vị thần bảo

hộ, che chở cho những chuyến ra khơi, tôm cá đầy thuyền, cuộc sống bình yên

Cá Voi trong đời sống ngư dân có vị thế đặc biệt, vừa có khả năng cứu nguy vừa báo hiệu cho họ những nơi nhiều cá Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra đặc tính của loài vật này những khi biển động, để tránh sóng, theo bản năng cá Voi sẽ tìm những vật nổi trên mặt biển nép vào và cùng với vật ấy trôi vào bờ Điều đó đã khiến cho ngư dân tin rằng cá Voi đã cứu người, cứu thuyền khi gặp bão tố giữa biển khơi Đồng thời, nơi loài cá này xuất hiện cũng là nơi có nhiều cá và những ngư dân giàu kinh nghiệm sẽ dựa vào đó mà tìm được luồng cá lớn

Trong dòng chảy văn hóa tín ngưỡng, hầu hết các vị thần được cư dân ven biển nước ta cũng như cư dân ven biển vùng đất quê nghèo xã Tam Tiến tôn thờ vốn đều mang yếu tố biển cả, sông nước, bến bãi…có lai lịch công trạng và là niềm tin về quyền năng cứu giúp, là vị thần hộ mệnh cho cư dân của cả một vùng ven biển Tín ngưỡng thờ Cá Ông (cá Voi) nhằm đem đến nhiều may mắn cho ngư dân làm nghề đánh cá, ra khơi vào lộng Đây là một dạng thức thờ vật linh, nhiên thần, vị thần độ mạng cho những người đi biển Vì vậy, tục thờ Cá Ông là một tín ngưỡng hết sức phổ biến và có từ lâu đời ở cư dân ven biển tại xã Tam Tiến

Sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn chép rằng: “Cá Ông voi: Đức ngư (theo tên đời Tự Đức ban cho) đầu tròn, trên trán

có lỗ phun nước sắc đen, nhẵn nhụi không vẩy, đuôi chẻ ra như con tôm, tính hiền lành hay cứu người Quốc sử quán triều Nguyễn trong sách Đại Nam nhất thống chí: “Bạch ngư dài 20 trượng, tính hiền lành, hay cứu người, hoặc thấy

Trang 17

người chài bị loài cá dữ làm khốn quẫn, nó cũng giải cứu” Sách Gia Định thành

thông chí cũng chép: “Những khi thuyền bè gặp sóng gió nguy hiểm, thường

thấy thần (cá Ông) dìu đỡ mạn thuyền bảo vệ người yên ổn Hoặc thuyền bị chìm đắm, trong cơn sóng gió thần cũng đưa người vào bờ, sự cứu giúp ấy rất

rõ Chỉ nước Nam ta từ Linh Giang đến Hà Tiên mới có việc ấy và rất linh nghiệm, còn các biển khác thì không có” Còn trong Thoái thực ký văn, Trương

Quốc Dụng cho ta biết rõ hơn về tín ngưỡng thờ cúng cá Ông của ngư dân ven

biển: “Hải Thu tục gọi là cá Ông voi, mình dày không vây, đuôi giống tôm, kỳ nó

rất sắc, mũi ở trên trán, tính nó nhân hay cứu người Người đi thuyền gặp phong

ba mà đắm nó thường đội trên lưng đưa vào gần bờ, vẫy đuôi bỏ lên Người miệt biển rất kính Có con chết mà tạt vào bờ ruồi lẳng không đậu, họ bèn góp tiền làm ma, ai chủ việc ấy thì đánh cá và buôn bán có lợi”

Tục thờ cúng Cá Ông tương truyền được biết đến từ thời Nguyễn với các câu chuyện liên quan tới việc Cá Ông cứu mạng cho Vua Gia long Nguyễn Ánh khi chạy trốn quân Tây Sơn Khi thắng trận, Vua Gia Long đã phong tặng Cá Ông là Nam Hải Đại tướng quân và cho lập lăng miếu thờ cúng, sắc phong Ngoài ra, việc Cá Ông cứu người và cứu ghe thuyền của ngư dân cũng thường được lưu truyền trong nhiều cộng đồng ngư dân ven biển bằng những câu chuyện truyền miệng mang màu sắc huyền thoại như: Cá Ông là tiền thân của đức Quan Thế Âm Bồ Tát Đức Phật này đã có lần hóa thân để cứu khổ chúng sanh Ngài hóa thân thành ông Nam Hải để đi tuần du biển Nam Hải Một hôm, trên tòa sen nhìn lướt qua sóng gió đại dương Nam Hải, ngài không khỏi đau lòng thấy muôn ngàn sinh linh gặp cơn phong ba bão táp phải bỏ mình giữa biển khơi, mà những nạn nhân đáng thương này chỉ là những ngư dân hiền lành lấy nghề đánh cá nuôi thân Trước cảnh tượng đau lòng đó, Bồ Tát liền cởi chiếc pháp y xé tan thành từng mảnh vụn thả xuống mặt biển mênh mông Mỗi mảnh vụn theo nguyện ý của Bồ Tát đã biến thành một cá Ông, sau đó Quan Âm Bồ Tát lấy bộ xương Voi ban cho để cá Ông có thân hình to lớn Để giúp cá Ông làm tròn trách nhiệm cứu người, Đức Bồ Tát đã ban cho cá Ông phép thu đường, giúp cho cá Ông ở bất cứ nơi nào, cần đến nơi đâu để cứu nạn đều kịp thời Nhờ

có phép thu đường mà cá Ông đã kịp ứng cứu các thuyền lâm nạn không kể ở hải điểm nào, xa bao nhiêu

Huyền thoại này đã ảnh hưởng sâu sắc về lòng nhân ái, đức hy sinh trong tâm thức của cư dân ven biển xã Tam Tiến Đối với họ, những người sống lênh đênh giữa biển khơi, bão tố hiểm nguy luôn đe dọa họ Khi đó, cá Ông trở thành chỗ dựa tinh thần trong niềm tin bất diệt của ngư dân Niềm tin này, ban đầu là một nhu cầu giúp người ta chịu đựng gian khổ hiểm nguy trong cuộc mưu sinh, dần dần dấu vết của niềm tin hằn sâu vào tiềm thức, trở thành tín ngưỡng dân gian Cộng đồng ngư dân làm nghề đánh cá biển, theo địa phương thường gọi Cá

Trang 18

Ông bằng nhiều danh xưng tôn kính mang biểu tượng dân gian khác nhau như: Đức Ông, Cá Ngài, Ông Nam Hải, Ông Lớn, Ông Cậu, Ông Lộng, Ông Khơi, Ông Chuông, Ông Kìm, Ông Phướn, Ông Sứa Khi Cá Ông sống, ngư dân gọi là Ông Sanh (là ân nhân cứu sống sinh mạng của họ những khi bão to gió lớn trên biển); khi Cá Ông chết thì gọi là Ông Lụy (ngư dân chịu tang như đối với người thân của mình)

Theo lệ thì dân chài ai phát hiện được cá voi mắc cạn, tục gọi là "ông lụy" thì có bổn phận chôn cất và để tang Ông như để tang chính cha mẹ mình Xác cá được đem tắm bằng rượu rồi liệm bằng vải đỏ Dân làng còn lấy giấy đỏ đắp vào miệng cá thấm lấy nước dãi, xong đem phơi khô rồi đốt thành tro để chữa bệnh suyễn Xác cá được mai táng trong đụn cát gần biển Người phát hiện ra cá voi mắc cạn thì được nhân dân tôn sùng và dưới triều nhà Nguyễn còn được miễn sưu dịch 3 năm

Hàng năm dân làng chọn ngày "ông lụy" (ngày cá Ông trôi vào bờ) làm lễ cúng giỗ theo nghi thức Nghinh Ông Người địa phương có câu: "Thấy ông vào

làng như vàng vào tủ" vì theo tín ngưỡng này, Cá Ông lụy và trôi dạt vào làng

nào, làng đó muôn đời ấm no, tai qua nạn khỏi

Ba bốn năm sau khi chôn thì dân làng phải cải táng, thường làm vào mùa xuân sang hè rồi đem cốt cho nhập lăng và tế chung Đối với xương cá Ông to lớn thì dân làng sẽ chờ đủ 3 năm cho xương cốt rã ra rồi mới đem vào hòm để đưa về làng thờ Với trường hợp cá nhỏ, người ta sẽ cho trực tiếp vào hòm và đem về thờ Khi tế cá thì dân làng cũng cúng các vong hồn ngư dân chết ngoài biển

Cá ông được thờ trong các lăng, gọi là lăng Ông Lăng Ông ở cư dân vùng biển xã Tam Tiến có kiến trúc như đình làng nhưng quy mô tương đối nhỏ hơn Gồm 2 phần đó là nhà thờ và chỗ chôn cất Về phần đền thờ thì được xây dựng 3 gian Khi chúng ta bước vào thì thấy gian ở giữa là bàn vị thờ cá ông lớn (là cá ông đầu tiên được trôi dạt vào đây) Còn 2 gian bên cạnh người địa phương gọi

là bên tả và bên hữu Bên tả thờ con của cá ông ( đó chính là những cá ông bị trôi dạt vô sau) Bên hữu là thờ các vị thổ địa cai quản ở vùng đất đó Ở phần

ngoài đằng sau đền có một gò đất để bảo vệ đền được gọi “gò án” Phần đất chôn Cá Ông được gọi là đất “vạn niên” là khi làm lễ xong ngoài đền thì mới vô

tới mộ Cá Ông làm lễ

1.3.2 Tín ngưỡng thờ Cô Hồn

Thờ cúng cô hồn là một phong tục khá phổ biến của người Việt vùng ven biển Quảng Nam Biểu hiện qua sự tồn tại các thiết chế tín ngưỡng như nghĩa trủng, nghĩa tự, miếu âm hồn… với nghi lễ thờ cúng hàng năm được tổ chức tại các thôn, xã hết sức quy củ và trang nghiêm Tùy từng vùng, việc thờ cúng có những nét riêng, nhưng tựu trung lại vẫn mang một mẫu số chung, đó là giá trị

Trang 19

nhân văn sâu sắc được thể hiện qua một hình thức tín ngưỡng dân gian của cư dân vùng ven biển Việc thờ cúng âm hồn của cư dân biển Quảng Nam xã Tam Tiến tồn tại ở hai cấp độ: gia đình và làng xóm

Như vậy, ngay từ thời nhà Nguyễn, khắp nơi trong tỉnh Quảng Nam đã lập các đàn tế, các dinh miếu thờ âm hồn; các nghĩa tự, nghĩa trủng được thiết lập, tu sửa, hoàn thiện Bên cạnh đình làng, miếu thờ Thành Hoàng làng, các thiên thần, nhân thần, thì lúc này người dân còn có thêm nghĩa trủng, nghĩa tự, miếu thờ âm hồn Vì thế, cho đến hiện nay, trong các làng quê dọc ven biển Quảng Nam nói riêng và các làng quê ven biển Nam Trung Bộ nói chung còn rất nhiều nghĩa trủng, nhiều nghĩa tự Vậy nghĩa trủng là gì? Nghĩa tự là gì? Nghĩa trủng thực chất là một ngôi mộ chung cho những người chết vì làm việc nghĩa Tất cả những ngôi mộ của chiến sĩ vô danh, những người vốn có công với đất nước, nhưng khi chết không ai xác định được danh tín đều được quy tập chung vào nghĩa trủng Nhưng cũng có những nghĩa trủng, không chỉ có những hài cốt của những người có công, những chiến sĩ vô danh mà còn có cả xương cốt của những người vô chủ khác Nghĩa trủng thường do làng xóm quản lý và đứng ra

tổ chức cúng tế một cách tự phát Tuy nhiên cũng có nghĩa trủng do Nhà nước trực tiếp chăm lo việc quy tập hài cốt, trực tiếp tế lễ, như Hòa Vang nghĩa trủng (Đà Nẵng) - nơi quy tập và tế lễ những dân binh đã bị hy sinh trong các trận đánh với Pháp tại cửa Hàn vào thời Tự Đức Còn nghĩa tự có nghĩa là nơi thờ việc nghĩa, thường được đặt gần nghĩa trủng Nghĩa tự là một thiết chế tín ngưỡng của cộng đồng, là nơi dùng để tế lễ các âm hồn, cô hồn không có ai thờ cúng, bao gồm cả các chiến sĩ trận vong, chiến sĩ vô danh

Thờ cúng âm hồn thì hầu như bất cứ nơi nào trên đất nước Việt Nam đều

có Có thể tổ chức tế lễ mang tính cộng đồng, làng xã, hoặc cũng có thể thờ cúng mang tính chất gia đình, cá nhân Dọc ven biển xã Tam Tiến, tục thờ cúng âm hồn hết sức phổ biến và luôn được củng cố, duy trì qua các thời kỳ lịch sử Trước hết, đó là lý do về nghề nghiệp Ngày xưa, cư dân ven biển Quảng Nam làm nghề đánh bắt hải sản trên biển với những công cụ hết sức đơn sơ, phương tiện chủ yếu để hành nghề là thuyền nan, thuyền buồm, thuyền chèo nên lúc gặp sóng to gió lớn, bão tố không đủ sức chống chọi Nếu gọi thần Nam Hải ứng cứu cũng hết sức hy hữu, không phải lúc nào khấn nguyện thần cũng có mặt để cứu giúp Trước biển cả mênh mông, con người trở nên vô cùng nhỏ bé, với những tai nạn, hiểm nguy luôn rình rập, nhất là vào mùa mưa bão

Lúc này, bà con ngư dân vùng đó đứng ra lo ma chay, chôn cất và thờ cúng hàng năm tại nghĩa tự Đó cũng chính là biểu hiện tính cách của người Việt: trọng tình cảm, có tấm lòng yêu thương, xót xa cho những số phận hẩm hiu của con người Sau nữa là trong chiến tranh, ngay từ thời chúa Nguyễn, đã có không biết bao nhiêu binh lính lẫn dân thường, người Việt lẫn người Chăm và

Trang 20

một số bộ phận các tộc người sống cộng cư trên vùng đất này tử nạn Và gần nhất là hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Tất cả điều khốc liệt và hầu hết đều diễn ra dọc biển Nhiều người trực tiếp chiến đấu hi sinh, có người không ra trận nhưng bị bom rơi đạn lạc, chết bất đắc kỳ tử, những người có thân nhân thì nhận về, không có thân nhân thì bà con trong làng cũng lo việc chôn cất Ngoài ra, trong quá trình Nam tiến của người Việt, khi đến vùng đất này, với địa thế một bên là biển cả mênh mông, một bên là rừng núi trập trùng, thường xuyên đối mặt với điều kiện tự nhiên không thuận lợi, dịch bệnh, thú dữ nên đã có rất nhiều người phải bỏ mạng dọc theo dải đất ven biển hoặc dưới lòng biển Chính vì lẽ đó, quan niệm của người dân địa phương, tất cả những người chết, có thể là người dân bản địa hoặc có thể là người từ nơi khác trôi dạt, phiêu bạt vào, đều là những số phận bất hạnh Vì vậy, người dân thường xây dựng một quần thể tâm linh gần nhau, bên cạnh lăng tự thờ thần Nam Hải, còn

có các nghĩa tự, nghĩa trủng để thờ cúng tất cả những người chết không có thân nhân cúng kiếng, hương khói, những người khuất mặt, mà rất nhiều trong số đó

là dân chài Hầu hết, các nghĩa trủng, nghĩa tự ở Quảng Nam do cộng đồng đóng góp xây dựng và tu bổ hằng năm Tuy nhiên cũng có nơi nghĩa trủng, nghĩa tự

do một cá nhân là người của làng đóng góp tiền của xây dựng, thể hiện tình cảm đối với quê hương xứ

Như hiện nay ở thôn Long Thành xưa là thôn Bản Long còn gọi là thôn cây Bàng có một số ngôi miếu thờ cô hồn ở những nơi linh thiêng

Về lễ nghi trong từng gia đình thì gia chủ chi làm việc trưng bày một mâm cơm gồm có một con gà trống, hoa quả và mâm cơm mang đậm tính chất vùng ven biển Theo như lời của gia chủ cách trưng bày con gà ở giữa còn hoa

và quả thì được xếp: đông bình tây quả và đến mâm cơm Khi co việc gì lớn như xin một cái gì đó an lành cho gia khuyến làm nên ăn ra thì cúng cô hồn Cầu xin những người khuất mặt mang lại may mắn cho gia chủ, cầu những điều tốt lành

từ công việc cho đi lại

1.3.3 Tín ngưỡng thờ cúng ông bà tổ tiên

Mỗi gia đình người Việt đất Quảng luôn gắn mình với gia tộc Người ta

có ý thức rất rõ ngõ nhà mình thuộc chi nào, phái nào, trong mối liên hệ thờ phụng tổ tiên Các trưởng chi, trưởng phái hàng năm tổ chức cúng giỗ Việc tham gia và góp giỗ phân đến từng gia đình mỗi gia đình cử đại diện tham gia ngày cúng tổ của chi phái mình Ở phạm vi gia đình dân đất Quảng gọi thờ tổ tiên là thờ ông bà Cách nói này phản ánh sự phân cấp trong thờ phụng Trong gia đình bàn thờ ông bà thường thờ 3 đối tượng: ông bà cố, ông bà, cha mẹ

Dù là nhà giàu hay nhà nghèo thì nhà nào cũng có bàn thờ tổ tiên đặt ở danh chính của nhà Trên bàn thờ phổ biến có đồ đồ tam sự Chính giữa bàn thờ

Trang 21

là Giá kỉnh Đó là một khung ảnh bằng gỗ, có đế chân, mặt kính, bên trong thường cất chữ Phước, có nghĩa như bài vị

Có một bộ phận khá đông người dân đất xã Tam Tiến vẫn theo đạo Phật

Họ thờ Phật Bà Quan Âm tại gia Với những gia đình này thì bàn thờ Phật được đặt cao hơn bàn thờ ông bà Tượng phật đặt trong tủ kính, chuông và mỏ niệm phật đặt hai bên bác hương của bàn thờ ông bà Ngoài ra, còn có một bộ phận nữ giới là các bà các chị tin vào sự độ mạng của Bà Cửu Thiên Huyền Nữ nên cúng lập bàn thờ Bà Cửu Thiên bên phải bàn thờ ông bà Nhà nào có cô, bác, chú, chết mất xác thì gia đình xây khóm thờ ở ngoài sân mặt khóm quay vào trong nhà

Người dân đất Quảng quan niệm “giàu út ăn khó út chịu” con trai út trong

gia đình là người ở cùng bố mẹ sướng hay khổ còn tùy thuộc vào của cải cha mẹ

để lại Bù lại con trai út cũng được thờ cúng ông bà, do đó ở Quảng Nam việt thờ cúng cho ông bà do người con út đảm nhiệm

Việc thờ phượng bày diễn ra quanh năm trong đó có những ngày chính như cúng vào ngày 14 và ngày 30 âm lịch hàng tháng người dân đất Quảng cho rằng ngày 1 và ngày 15 hàng tháng là ngày mọi người đi chùa lễ phật mà cũng

là ngày ông bà lên chùa nên phải cúng ông bà vào ngày trước đó Các sự kiện trong gia đình như cưới hỏi, thi cử, học hành, làm ăn, Tết Đoan Ngọ hay Tết Nguyên Đán và ngày giỗ Trừ dịp lễ Tết, cúng giỗ, thức cúng dân ông bà phải nhiều hơn còn các việc khác thì cúng đơn giản Tuy nhiên những món cúng cổ truyền thì không bao giờ thiếu như: cơm, canh, xôi, chè, bánh tráng, bánh tổ, trầu, rượu, …Cách bài trí, sắp đặt trên bàn thờ phải theo đúng tục xưa có bình bông là bông cúc vạn thọ vàng và nãy quả gồm ngũ quả trong đó không thể

thiếu nải chuối xanh, sắp bày theo nguyên tắc “Đông Bình Tây quả”, trầu rượu,

12 cặp vàng bạc hàng mã trãi dưới bác hương Vào ngày tết Đoan Ngọ, trên bàn thờ ông bà có thêm vài dĩa bánh ú lá chuối, bánh tét, lễ Vu Lan thì có chè, xôi để ông bà hâm hưởng

Cúng ông bà trong lễ Tết Nguyên Đán là một lễ trọng của gia đình Theo phong tục cứ hết năm nhà nào cũng tiến hành thay cát lư hương trên bàn thờ ông

bà Khoảng giữa tháng chạp nhà nhà đi chợ mua cát trắng về đãi sạch phơi khô sau ngày cúng tất niên, trừ ngày Dần các ngày còn lại đều là ngày tốt, gia chủ thắp hương khấn vái ông bà xin phép được thay cát chân hương trên bàn thờ Một lớp cát mỏng được lót xuống đáy bát hương, trên lớp cát đó là 3 lá trầu và 1 trái câu để ông bà ban lộc, cuối cùng là lớp cát phủ kín Trên bàn thờ ông bà gia chủ bày hoa quả và rượu, bánh chưng, bánh tét, bánh tổ, đồ mã, quần áo, mũ, giấy tiền vàng bạc có khắc tên của ông bà Ngày 29, 30 tết gia đình làm mâm cơm rước ông bà về ăn tết đến ngày mùng 3 làm lễ hóa vàng cũng làm mâm cơm đưa tiễn ông bà

Trang 22

Trong phạm vi gia tộc nhà thờ tộc là nơi gắn kết các thành viên của tộc

họ Hầu như nhà thờ tộc nào cũng có một gia phả Có nhà thờ tộc chung và có nhà thờ tộc riêng của từng chi phái Một số nhà thờ tộc vẫn giữ được nét kiến trúc cổ xưa với các bức hoàng phi, liễn đối, tuổi đời của những nhà thờ này khoảng gần 200

Việc thờ tổ tiên trong tộc họ của cư dân ven biển theo nguyên tắc “9 đời hơn người dung” Bên cạnh đó quan niệm về Tổ tiên của người cũng rất rộng rãi

và sâu sắc Chẳng hạn người tộc Lê ở đây luôn tự hào mình là con cháu nhà Lê điều này cho thấy sự liên hệ thường trực với cội nguồn đất Tổ đã ăn sâu vào tâm thức người dân đất ven biển Chúng ta sẽ thấy rõ điều này khi tìm hiểu tộc họ có ông tổ là tiền hiền hoặc hậu hiền của làng Trong trường hợp này con cháu Gia Tộc vừa tự hào vì được quỳ thần bái xã, vừa hãnh diện vì tổ tiên của mình có nguồn gốc từ vùng đất tổ đã các công lập nên bờ cõi, trấn nhậm một vùng, lập nên Làng xã

Các lễ trọng tổ chức ở nhà thờ tộc và lễ giỗ tổ tiên và lễ Tết Thanh Minh vào ngày nay đại diện các chi phái phải có mặt và góp giỗ Con cháu có làm ăn

xa cũng phải về đón đến Tết Thanh Minh, trưởng tộc cùng các chi phái làm lễ tại nhà sau đó con cháu ra nghĩa trang dọn dẹp và rẩy mã sau đó hóa vàng thắp hương cho ông bà tổ tiên

Lễ giỗ ông bà của người dân tại vùng bãi ngang xã Tam Tiến rất đơn giản

Có 2 mâm cúng, mâm đầu tiên là đặt ở ngoài sân nhà đây là mâm cơm để cúng

cô bác, người khuất mặt, những chiến sĩ tử trận, thành hoàng, tiền hiền, những người có thế lực siêu nhiên khác và cả thổ địa, hương được thắp 2 lần Lần đầu

là 3 cây khi gia chủ vái cầu những thế lực trên thì thắp xung quang nhà như cổng, giếng nước, chuồng heo, bếp,… Lần 2 là còn lại bao nhiêu cây thì cắm vào lư hương trên bàn thờ cúng ở ngoài Còn bên trong là mâm cơm cúng ông

bà Gia chủ cúng ở đây từ 1 đến 2 người đều là con trai Khi anh cả cúng thì đến người con thứ cúng và 2 người con đều vái cầu xin ông bà ban phước hiền, những điều may mắn cho con cháu trong gia đình Sau đó thì đại gia đình cùng nhau ngồi lại với nhau cùng nhau ôn lại những ký ức ngày xưa cũng như tộc trưởng sẽ nêu ra những đức gương tốt những tấm gương học tập tôt trong gia tộc

để con cháu noi theo và không làm mất đi danh tiếng của gia tộc Sau khi làm lễ, hương tàn thì mọi người cùng dự tiệc và chia phần cho những người vắng mặt

1.3.4 Tín ngưỡng thờ thần giếng

Cũng như mọi nơi ở khu vực Quảng Nam – Đà Nẵng thì việc thờ giếng thần cũng được phát huy và giữ gìn cho đến ngày nay Từ bao đời nay, cây đa, giếng nước, sân đình đã tạo nên bức họa của làng quê Việt Nam nói chung, và ở vùng ven biển nói riêng Những hình ảnh ấy đã đi vào tiềm thức của người dân, trở thành biểu tượng mang giá trị tinh thần của nhiều làng, xã Vì vậy, trong quá

Trang 23

trình xây dựng nông thôn mới, rất nhiều giếng làng đã được người dân chú trọng khôi phục, sửa chữa và lưu giữ

Và hình tượng ấy được vùng đất Hà Quang (Hà Lộc) cư dân ven biển xã Tam Tiến đến khai cơ lập nghiệp khá đông, lúc bấy giờ điều kiện sinh hoạt còn nhiều khó khăn nhất là nguồn nước ngọt Trước tình cảnh đó dân làng đã chung tay góp sức đào giếng khơi để lấy nước sinh hoạt Giếng làng này đầu tiên là giếng đất lát đá tự nhiên, do dân làng đào từ thời Tây Sơn năm Nhâm Dần (1782) Đến thời Tự Đức năm Đinh Mùi (1847) dân làng làm ăn khấm khá, chung góp công của tu bổ Giếng xây bằng đá ong, có bốn trụ, khung mái làm bằng gỗ lợp ngói âm dương Nền giếng lát đá xanh nguyên khối lấy từ núi Bàn Than (Tam Hải)

Mỗi độ xuân về tết đến, người dân làng Hà Quang (Hà Lộc) tụ họp tại giếng làng để mổ heo, nấu bánh tét chia nhau về ăn tết tạo nên sự gắn kết cộng đồng mật thiết Giếng làng quanh năm không cạn, nước trong và ngọt Hàng ngày mọi người lấy nước để nấu ăn, giếng nước cũng là nơi gặp gỡ của dân làng, chuyện vui, chuyện buồn cùng kể cho nhau nghe, nhiều người nên vợ nên chồng cũng bắt đầu từ giếng làng này Trải qua nhiều thế kỷ với biết bao biến

cố thăng trầm nhưng người dân làng Hà Quang (Hà Lộc) vẫn giữ được giếng, coi như linh hồn của làng

Tại giếng làng Hà Quang, ngày 7.2.1938 Phủ ủy Tam Kỳ quyết định thành lập Chi bộ đảng xã Tam Tiến, lấy tên Chi bộ Tam Hà (bí danh Ba Hải) Đây là chi bộ đảng đầu tiên của Tam Tiến do đồng chí Nguyễn Cự (tức Nhiêm) làm Bí thư cùng 2 đảng viên gồm Nguyễn Dương Thanh (tức Chánh Phiêu) và Huỳnh Lãng (tức Yết); phạm vi hoạt động trên địa bàn 5 xã thuộc tổng An Hòa (Tam Hà, Tam Lộc, Diêm Điền, Ngao Tân, Hòa Trà) Sau khi thành lập, được

sự chỉ đạo trực tiếp của Tổng ủy An Hòa, chi bộ đã tuyên truyền tổ chức 2 tổ quần chúng cách mạng gồm những người trung niên và những người tiến bộ được cử làm lý hương các xã, đồng thời vận động thanh niên đọc sách báo tiến

An Hòa Ngoài việc vận động bà con trong gia tộc khai san tài sản để đồng chí

đủ tiêu chuẩn về kinh tế ra tranh cử, Chị bộ Tam Hà còn vận động lý hương các

xã tập trung phiếu bầu đồng chí Nguyễn Dương Thanh thắng cử Thông qua các hình thức vận động cách mạng trong những năm 1937 - 1945 tại địa phương mở thêm được trường tư thục dạy vỡ lòng, xây dựng trường sơ học; xóa bỏ một số

Trang 24

tục lệ cẩn biếu, phục dịch cho hào lý, phân chia công diền cho dân nghèo, hạn chế hình thức phạt vạ khắc nghiệt và tạo điều kiện cho nhân dân đi lại làm ăn… Đặc biệt chi bộ tập hợp lực lượng tham gia cùng ban bạo động cướp chính quyền thành công năm 1945 tại Phủ lỵ Tam Kỳ Trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ và gian khổ, Chi bộ Tam Hà đã lãnh đạo nhân dân “bám đất, bám làng”, nuôi giấu, bảo vệ an toàn tuyệt mật các đồng chí lãnh đạo cấp trên về xây dựng phong trào cách mạng địa phương góp phần đi đến thắng lợi cuối cùng, giải phóng quê hương

Giếng làng Hà Quang được tôn tạo theo nguyên bản, nền lát gạch nung, thành bao giếng xây theo hình bát giác, bia di tích lịch sử cách mạng về chi bộ đảng đầu tiên của xã được làm bằng đá granic Tổng kinh phí hơn 300 triệu đồng thực hiện công trình từ nguồn đóng góp của cán bộ, nhân dân và những người con Tam Tiến đang công tác, sinh sống ở các địa phương trong và ngoài

tỉnh “Công trình này cũng sẽ là “địa chỉ đỏ” giáo dục các thế hệ trẻ địa

phương về truyền thống văn hóa cũng như truyền thống cách mạng của quê hương” - ông Lê Kim Tuyến, Bí thư Chi bộ thôn Hà Quang nói

Giếng làng Hà Quang luôn gắn bó với người dân nơi đây Từ xa xưa trong

cả thôn Hà Lộc chỉ có mỗi cái giếng này là có nước và đặc biệt chưa bao giờ khô cạn ngoài ra cũng là nơi sinh hoạt của mọi người mà vì thế để tưởng nhớ những thế lực siêu nhiên nên người dân đã lập bàn thờ để tưởng nhớ và cầu cúng Mỗi đợt vào những ngày rằm hoặc mồng 1 thì người dân đều thắp hương và cúng bái cũng như mỗi đợt tết đến xuân về Đồ lễ thì rất đơn giản như: hộp bánh, dĩa trái cây, Cầu mong sự sung túc, đoàn tụ và sự no đủ của người dân

Trang 25

CHƯƠNG 2 : NHỮNG BIẾN ĐỔI TRONG ĐỜI SỐNG TÍN NGƯỠNG

CỦA CƯ DÂN VEN BIỂN XÃ TAM TIẾN

2.1 Các nhân tố tác động đến sự biến đổi trong đời sống tín ngưỡng của cư dân ven biển xã Tam Tiến

2.1.1 Quá trình đô thị hóa tại huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam

Huyện Núi Thành được thành lập ngày 0/12/1983 khi huyện Tam Kỳ được chia thành huyện Núi Thành và Thị xã Tam Kỳ thuộc tỉnh Quảng Nam -

Đà Nẵng Khi mới tách ra, huyện Núi Thành có thị trấn Núi Thành và 13 xã: Tam Anh, Tam Giang, Tam Hải, Tam Hiệp, Tam Hòa, Tam Mỹ, Tam Nghĩa, Tam Quang, Tam Sơn, Tam Thạnh, Tam Tiến, Tam Trà, Tam Xuân

Theo Quy hoạch chung đô thị Quảng Nam đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050, toàn bộ huyện Núi Thành sẽ được nâng cấp lên thành thị xã Núi Thành, gồm 9 phường: Núi Thành, Tam Anh Bắc, Tam Anh Nam, Tam Giang, Tam Hiệp, Tam Hòa, Tam Mỹ Đông, Tam Nghĩa, Tam Quang và 8 xã: Tam Hải, Tam Mỹ Tây, Tam Sơn, Tam Thạnh, Tam Tiến, Tam Trà, Tam Xuân 1, Tam Xuân 2

Núi Thành là trung tâm phát triển công nghiệp nhanh và mạnh nhất của tỉnh Quảng Nam Với Khu Kinh tế Mở Chu Lai được đánh giá là khu kinh tế thành công nhất Việt Nam, Núi Thành đóng góp hơn 60% tổng thu ngân sách Quảng Nam Kinh tế chuyển dịch rõ rệt theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Các KCN Bắc Chu Lai, KCN Cảng và Dịch vụ Hậu cần Tam Hiệp, KCN Tam Anh, và Khu Phi thuế quan cảng Kỳ Hà là động lực phát triển của huyện trong những năm tới Những dự án du lịch lớn tạo điều kiện thuận lợi để khai thác tốt hơn tiềm năng du lịch biển của địa phương Khu Liên Hiệp Cơ khí Ô Tô Chu Lai - Trường Hải, nhà máy Kính nổi, nhà máy sản xuất xút là các cơ sở sản xuất công nghiệp trọng điểm của huyện

Theo chỉ đạo của Phó Thủ tướng, UBND tỉnh Quảng Nam tổ chức lập, thẩm định và phê duyệt Quy hoạch chung đô thị Núi Thành như đề nghị của UBND tỉnh Quảng Nam và ý kiến của Bộ Xây dựng, bảo đảm tuân thủ Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế mở Chu Lai đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và theo đúng các quy định pháp luật Được biết, phần lớn diện tích nội thị Khu đô thị Núi Thành nằm trong ranh giới đã được xác định quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế mở Chu Lai

Trang 26

Theo điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế mở Chu Lai, tỉnh Quảng Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050 được phê duyệt tại Quyết định số 1737 ngày 13/12/2018 của Thủ tướng Chính phủ, Khu đô thị Núi Thành với diện tích tự nhiên khoảng 2.320 ha; có dân số đến năm 2035 khoảng 165.000 người

Định hướng phát triển không gian, quy hoạch sử dụng đất khu vực nội thị của đô thị Núi Thành sẽ phải tuân thủ quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế

mở Chu Lai đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

Tỉnh Quảng Nam thực hiện trình tự, thủ tục, thẩm quyền thẩm định, phê duyệt quy hoạch chung đô thị Núi Thành, theo quy định đối với quy hoạch chung đô thị loại IV của Luật quy hoạch đô thị năm 2009

Xây dựng các đô thị có bản sắc, gắn liền với tự nhiên – văn hóa của từng khu vực cụ thể, tiếp tục phát huy và tạo dựng các đô thị có thương hiệu như: Đô thị Thạnh Mỹ, Khu Kinh tế mở,

Đối với từng đô thị, chính quyền đô thị cần được quan tâm nhiều hơn đến

cơ cấu, hiệu quả, năng lực cạnh tranh, vị thế đô thị trong hệ thống khu vực… Phát triển đô thị bền vững, có trọng tâm, trọng điểm tạo đột phá thành công, gắn với không gian phát triển kinh tế (khu kinh tế, khu công nghiệp, các khu dịch vụ,

du lịch,…)

lượng đô thị Mở rộng đô thị và tăng tỷ lệ đô thị hóa trên cơ sở phát triển dân số lành mạnh, nâng cao sức khỏe cộng đồng Phân bổ, kết nối và hoàn thiện các trung tâm công cộng, các khu nghỉ ngơi vui chơi giải trí và hệ thống cây xanh, mặt nước trong đô thị để tạo các không gian mở, tạo cảnh quan chung và điều hòa môi trường không khí đáp ứng nhu cầu về môi trường ở, làm việc, đi lại, nghỉ ngơi giải trí cho các cá nhân và toàn xã hội

Tăng cường liên kết đô thị và nông thôn: Tổ chức rà soát các quy hoạch nông thôn mới, lập các Quy hoạch xây dựng vùng huyện, từng bước đầu tư hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội theo hướng đảm bảo tính tầng bậc, không dàn trải, đầu tư có trọng điểm (tập trung vào một khu vực thị tứ, trung tâm cụm xã…)

Chú trọng vấn đề môi trường, biến đổi khí hậu: Thực hiện có hiệu quả công tác đánh giá tác động môi trường ngay trong giai đoạn lập và thực hiện quy hoạch, đề xuất các giải pháp, lộ trình thực hiện quy hoạch xây dựng kết hợp bảo

vệ môi trường, bảo vệ nguồn nước Ưu tiên các giải pháp đô thị xanh Có giải pháp phát triển hợp lý đối với dãi đất ven biển

Bên cạnh việc phát triển rất nhanh công nghiệp, ngành nông nghiệp với trọng tâm đánh bắt xa bờ và nuôi trồng thủy hải sản cũng đem lại nguồn thu ổn định cho cư dân ven biển Núi Thành là tỉnh có sản lượng đánh bắt thủy hải sản lớn nhất tỉnh Quảng Nam và là một trong những trung tâm ngư nghiệp mạnh của duyên Hải Miền Trung Vùng núi của huyện là địa bàn phát triển mạnh cây keo

lá tràm (làm nguyên liệu giấy) và cây cao su được trồng trên diện rộng trong những năm gần đây

Trang 27

Như vậy quá trình đô thị hóa tại huyện Núi Thành đã tác động đến mạnh

mẽ tới xã Tam Tiến, nhiều chính sách, chiến lược đã được đề ra để chạy đua với

sự hội nhập cũng như tốc độ đô thị hóa Xã Tam Tiến từ một vùng nghèo khó

mà nây đây hệ thống cơ sở hạ tầng được phát triền nhiều công ty xí nghiệp đã mạnh dạn đứng trên mảnh đất này Cầu cống, hệ thống giao thông được xây dựng giúp bà con nơi đây dễ dàng đi lại hơn Trường học mở nhiều hơn giúp cho trình độ dân trí trong xã được cải thiện Nhưng với tốc độ cũng như ảnh hưởng của đô thị hóa thì mặt trái của nó cũng diễn ra làm cho không gian truyền thống

bị thu hẹp hơn, đồng ruộng, làng quê bị thay đổi rất nhiều, một số cánh đồng ruộng bị biến dạn hay mất đi do chính sách bồi đất đi tái định cư,…

2.1.2 Chủ trương chính sách của chính quyền địa phương

Là địa phương giàu truyền thống cách mạng, nổi tiếng với chiến thắng vang dội trong trận đầu đánh Mỹ vào mùa hè năm 1965, huyện Núi Thành (tỉnh Quảng Nam) còn giàu tiềm năng phát triển Bằng nỗ lực lớn của cấp ủy, chính quyền và nhân dân, diện mạo Núi Thành đang thay đổi từng ngày

Một tong những chính sách có tác động to lớn đến quá trình đô thị hóa tại huyện Núi Thành nói chung và xã Tam Tiến nói riêng chính là quyết định điều chỉnh quy hoạch chung thị trấn Núi Thành mở rộng (đô thị Núi Thành) giai đoạn đến năm 2020 và năm 2030 Quyết định này đã tác động rất lớn đến quá trình đô thị hóa, mở rộng không gian đô thị Trong đó có một số nội dung ảnh hưởng trực tiếp đến xã Tam Tiến như:

Định hướng phát triển không gian đô thị

1 Nội thị: Lấy đô thị hiện có làm hạt nhân phát triển về các hướng gồm:

- Hướng Đông lấy xã Tam Giang, xã Tam Quang và xã Tam Nghĩa và thị trấn Núi Thành

- Hướng Nam lấy xã Tam Mỹ Đông

- Hướng Bắc lấy xã Tam Hiệp, xã Tam Hòa, xã Tam Anh Nam và xã Tam Anh Bắc

2 Ngoại thị: Các xã còn lại là khu vực ngoại thị gồm Tam Xuân 1, Tam Xuân 2,

Tam Sơn, Tam Thạnh, Tam Hải, Tam Mỹ Tây, Tam Trà, Tam Tiến

3 Hướng phát triển đô thị: Phát triển mạnh về phía Bắc theo hướng phát triển

Khu kinh tế mở Chu Lai

4 Các khu chức năng đô thị

- Trung tâm hành chính của thị xã trong tương lai: Bố trí ở khu vực hiện nay ở

và dự kiến mở rộng qua xã Tam Giang

- Khu trung tâm thương mại và dịch vụ: Bố trí ở 03 vị trí chính, gồm: Khu vực chợ hiện nay, khu vực trung tâm của đồ án quy hoạch chung đã được phê duyệt tại xã Tam Mỹ Đông và khu vực xã Tam Nghĩa

- Khu trung tâm văn hoá: Bố trí ở khu vực hiện nay và khu vực mở rộng ở xã Tam Mỹ Đông

Trang 28

- Khu trung tâm thể dục thể thao: Bố trí ở khu vực hiện nay (gần khu dân cư 617) và khu vực mở rộng ở xã Tam Mỹ Đông

- Khu trung tâm giáo dục đào tạo: Bố trí mới ở 02 cụm chính, 01 ở khu đô thị mới phía Nam thị trấn Núi Thành hiện hữu và 01 ở xã Tam Mỹ Đông

- Khu trung tâm y tế: 02 vị trí chính khu vực hiện nay tại thị trấn Núi Thành và khu vực xã Tam Hiệp

- Khu trung tâm du lịch: Bố trí chính ở các xã biển như Tam Tiến, Tam Hải, Tam Anh Bắc, Tam Giang, Tam Quang và Tam Nghĩa

- Khu công nghiệp: Về cơ bản là cập nhật và khớp nối các dự án thuộc Khu kinh

tế mở Chu Lai

Toàn đô thị chia thành các phân khu để đầu tư xây dựng quản lý, cụ thể như sau:

Phân khu 1:

- Vị trí: Xã Tam Hòa, xã Tam Tiến, xã Tam Hải

- Quy mô dân số: 22.700 người

- Diện tích: 4.839,21 ha; trong đó đất đơn vị ở là 1.192,98 ha

- Mật độ cư trú: 19,03 người/ha

- Định hướng phát triển: Đây là trung tâm du lịch và lễ hội biển Các khu du lịch xây dựng theo kiểu resort, công trình nhà dân xây dựng theo hình thức địa phương, dạng nhà vườn là chủ yếu

+ Các khu dịch vụ du lịch nghỉ dưỡng ven biển tập trung ở Tam Tiến, Tam Hải, Tam Quang và Tam Nghĩa

Đất di tích lịch sử: Bao gồm khu di tích lịch sử núi Ô Vuông, đồi Rừng Làng

- Diện tích 56,68ha

- Tính chất: Là những di tích lịch sử, văn hoá

Hệ thống cây xanh, thể dục thể thao và mặt nước

- Tích cực khai thác không gian mặt nước Bố trí đất cây xanh dọc theo các lưu vực sông (như sông Trường Giang, sông An Tân), kênh rạch để tạo không gian đệm liên kết, vừa tạo cảnh quan đẹp vừa bảo vệ lưu vực dòng sông; đảm bảo hành lang an toàn theo cấp sông

- Cải tạo hệ thống đồi núi trong đô thị để làm các tiểu rừng, giữ vững hệ sinh thái tự nhiên trong đô thị

Về giao thông

Trang 29

Đường thủy:

- Sông Trường Giang (điểm đầu tại ngã ba An Lạc, điểm cuối cách cảng Kỳ Hà 6,8km về phía Thượng Lưu) do Cục đường sông quản lý dài 60,2 km hiện trạng sông cấp IV Quy hoạch đến năm 2030 giữ nguyên cấp IV

- Sông Tam Kỳ (điểm đầu Cầu Tam Kỳ, điểm cuối ngã 3 sông Trường Giang)

do tỉnh quản lý dài 16km, hiện trạng cấp sông là cấp VI, quy hoạch đến năm

2030 là cấp IV

- Sông An Tân (điểm đầu Cầu An Tân, điểm cuối ngã 3 sông Trường Giang) do tỉnh quản lý dài 8km, hiện trạng cấp sông là cấp VI, quy hoạch đến năm 2030 là cấp V

Về cấp điện và chiếu sáng đô thị

- Nguồn điện:

+ Trạm Kỳ Hà tại Tam Hiệp 220/110/22KV: Giai đoạn đầu: 1x125MVA 2015); giai đoạn dài hạn nâng lên: 2x125MVA (2016-2020);

(2011-+ Trạm Tam Kỳ E15: 1x250MVA ( 2021-2025)

- Mạng lưới: Toàn bộ đường dây trung thế 22kV hiện trạng trục chính tiết diện 3AC-70 được nâng cấp trong giai đoạn đầu và thiết kế đi nổi bám dọc theo trục giao thông chính Các tuyến bị ảnh hưởng bởi đất cảnh quan đô thị được điều chỉnh theo trục giao thông quy hoạch mới

+ Đợt đầu: Giữ nguyên hiện trạng xuất tuyến 22kV nhưng nâng cấp tiết diện dây;

+ Dài hạn: Xây dựng mới 1 số xuất tuyến 22kV để phục vụ bổ sung cho giai đoạn dài hạn

- Trạm biến áp phụ tải: Với công suất tính toán đến năm 2020 đạt S = 74.660kVA để đáp ứng đủ công suất đề xuất nâng công suất trạm 110/22/0,4kV

Kỳ Hà có công suất 45MVA lên 125MVA (đã nâng cấp theo dự án) Đến năm

2030, S = 139.257kVA đề xuất xây dựng thêm 1máy 125MVA Các trạm biến

áp phân phối 22/0,4kV được cung cấp nguồn 22kV từ các trạm 110/22kV Kỳ

Hà, trạm Tam Kỳ E15

Thông tin liên lạc, viễn thông:

- Nguồn cấp thông tin liên lạc được lấy từ mạng lưới cáp gốc của quốc gia

- Các tuyến cáp gốc sẽ được đấu nối vào các tổng đài chính và từ đó phân bố bằng mạng lưới cáp quang về từng khu vực nghiên cứu

- Quy hoạch 05 tổng đài bưu điện kết hợp với các trạm tổng đài điều khiển (HOST), các trạm BTS để đáp ứng khả năng phục vụ các dịch vụ bưu chính và viễn thông

- Tổng đài bưu điện sẽ được đặt tại trung tâm của từng khu quy hoạch nhỏ; trong

đó tập trung phát triển tại khu vực thương mại dịch vụ

Trang 30

- Đường cáp quang cung cấp đến trạm lấy từ đường cáp gốc tuyến Quốc lộ 1A

rẽ nhánh trục chính giao thông đến tổng đài khu vực nghiên cứu

Với những chính sách của chính quyền huyện Núi Thành đã có tác động mạnh mẽ đến các xã và đặc biệt là Tam Tiến, một lớp áo mới sẽ được khoát lên mảnh đất biển mặn này với nhiều tiềm năng mới mà huyện Núi Thành đã nhận thấy và bắt đầu khai thác cũng như đầu tư vào một vùng đất hứa Từ một vùng quê nghèo hiện nay với những chính sách trên thì Tam Tiến ngày càng thay đổi Đời sống nhân dân thì được cải thiện, cơ sở hạ tầng được xây dựng ngày càng nhiều hơn bộ mặt về văn hóa cũng từ đó thay đổi dần, cuộc sống cư dân vui hẳn lên với các hoạt động vui chơi giải trí

2.1.3 Sự chuyển đổi nghề nghiệp

Việt tăng nhanh dân số ở các ven biển đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình sử dụng các diện tích đất hoang và các tài nguyên khác nhau ở dãy đất này Ở những giai đoạn đầu việc tăng dân số đã kéo theo sự mở rộng nhanh cùng khu vực bãi bồi màu mở ở cửa sông lớn do các cây trồng lương thực thực phẩm cây

ăn quả và cây công nghiệp Việc lấn biển ngày càng được thực hiện mạnh mẽ và hiệu quả hơn Các hệ thống chống bão, chống mặn ,hệ thống đồng ruộng làng mạc được xây dựng khắp nơi tạo cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự ổn định và tăng cường nơi cư trú Những làng mạc trù phố dần dần được hình thành lại làm tiền

đề cho sự mở rộng các quy mô khai thác các vùng đất mới

Chính việc tăng cường số lượng định cư và sự hấp dẫn của nền kinh tế nông nghiệp ở các dải văn biển đã lôi cuốn người vươn ra biển để đánh bắt hải sản cùng với việc mở rộng sử dụng đất lập nên có quần cư ven biển của các làng xóm Những người đánh cá đã từng hội về đây dựa vào cộng đồng ven biển để

ra khai thác biển cả

Trước hết cư dân cư dải văn biển như ta thấy quá trình hình thành ở trên

cơ cấu nông dân vẫn là chủ yếu tuy nhiên khả năng đất đai nông nghiệp hiện trạng bị hạn chế lại và nghiên cứu đất đai cho thấy khả năng thâm canh của vùng ven biển lại không cao hơn Cho nên tuy nông nghiệp và thủy sản cho đất nước

có đa dạng hơn các vùng khác của đất nước song đó có phần lạc hậu hơn dân số nông ngư nghiệp còn tăng nhanh thì sự lạc hậu thì cũng tăng theo và gây ra sức

ép to lớn cho sự phát triển

Trong giáo dục các vùng ven biển có nguồn nhân lực và và đa ngành có thể sử dụng nguồn nhân lực và nhiều lĩnh vực khác nhau để cho phép tự điều kiện sử dụng lao động hợp lý với cơ cấu kinh tế xã hội đang được hình thành và phát triển

Số dân trong độ tuổi lao động ở vùng ven biển chiếm khoảng 70% (phản ánh số người dưới độ tuổi lao động và trên độ tự động sống dựa vào lao động chính tương đối lớn) số lao động ở độ tuổi 15 đến 44 chiếm tỷ lệ cao nhất và dần

Ngày đăng: 06/05/2021, 16:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w