1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Cơ sở lý luận của việc ứng dụng phương pháp đánh giá đa chỉ tiêu và GIS trong phân hạng đất nông nghiệp theo mục đích sử dụng

13 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 622,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với ý nghĩa là cơ sở để đề xuất các biện pháp tăng cường quản lý Nhà nước về đất đai, phân hạng đất nông nghiệp hiện nay đã được hoàn thiện hơn về trình tự, nội dung, các chỉ tiêu phân hạng. Bài viết trình bày việc nghiên cứu ứng dụng phương pháp đánh giá đa chỉ tiêu và GIS trong phân hạng đất nông nghiệp theo mục đích sử dụng đất là rất cần thiết.

Trang 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ ĐA CHỈ TIÊU VÀ GIS TRONG PHÂN HẠNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP THEO MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG

Vũ Thị Nhung, Trần Thị Hòa, Đào Thị Thanh Lam, Bùi Minh Đức

Viện Nghiên cứu Quản lý đất đai, Tổng cục Quản lý đất đai

Tóm tắt

Với ý nghĩa là cơ sở để đề xuất các biện pháp tăng cường quản lý Nhà nước về đất đai, phân hạng đất nông nghiệp hiện nay đã được hoàn thiện hơn về trình tự, nội dung, các chỉ tiêu phân hạng Tuy nhiên, theo yêu cầu của công tác quản lý nhà nước về đất đai thì phương pháp đã và đang được áp dụng vẫn còn một số những khó khăn, bất cập (chưa phát huy hết được vai trò trong lĩnh vực quản lý đất đai; các yếu tố được đánh giá như nhau về mức độ quan trọng, chưa thể hiện được ảnh hưởng qua lại của các yếu tố, vai trò của các yếu tố trội; chưa tranh thủ được tri thức của nhiều chuyên gia trong các lĩnh vực khác nhau để đánh giá đối với từng mục đích sử dụng đất cụ thể, chưa có sự tích hợp giữa các phương pháp và công nghệ tiên tiến trong quá trình đánh giá Chính vì vậy, việc nghiên cứu ứng dụng phương pháp đánh giá đa chỉ tiêu và GIS trong phân hạng đất nông nghiệp theo mục đích sử dụng đất là rất cần thiết.

Từ khóa: phân hạng đất, nông nghiệp, MCA, GIS, phương pháp đánh giá đa

chỉ tiêu, hệ thống thông tin địa lý, mục đích sử dụng đất

Theory and practice basic of agricultural land classifi cation and the aplication

of MCA, GIS methods according to land use purpose

Abstracts

The basis for proposing methods to strengthen the state management of land, the agricultural land classifi cation has been more improved on the order, content and classifi cation criteria now However, according to the requirements of the state management on land, the applied methods still have some diffi culties and shortcomings (not fully achive roles in the fi eld of land management; the equally valued factors in terms of importance, not refl ect the interaction of factors and the role of the dominant factors, not gain the knowledge of many experts in diff erent fi eld

to evaluate for each specifi c land use purpose, there is no integration of advanced methods and technology in the assessment process Therefore, the study of the theory and practice basic of agricultural land classifi cation and the aplication of MCA, GIS methods according to land use purpose is very necessary.

Keywords: Land classifi cation, agriculture, MCA, GIS, multi-indicator

assessment method, geographic information system, land use purpose

1 Đặt vấn đề

Nước ta có diện tích đất sử dụng

cho nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, do

vậy sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên

đất đai trong sản xuất nông nghiệp là

vấn đề hết sức quan trọng không chỉ đối với hiện tại mà còn có ý nghĩa lâu dài trong tương lai Công tác phân hạng đất

là cơ sở trong việc hoạch định các chính sách, định hướng bố trí sử dụng hợp lý

Trang 2

quỹ đất, chuyển mục đích sử dụng đất

trong quá trình lập quy hoạch sử dụng

đất cũng như khi xác định giá trị quyền

sử dụng đất, thu thuế sử dụng đất, thuế

chuyển quyền sử dụng đất…

Công tác điều tra phân hạng đất ở

nước ta trước đây chủ yếu nhằm đáp ứng

cho mục đích bố trí cây trồng, vật nuôi

phù hợp trong sản xuất nông nghiệp và

tính thuế sử dụng đất, được thực hiện dựa

trên phương pháp của Liên Xô cũ và hiện

nay là theo phương pháp đánh giá thích

hợp đất đai của FAO (Tổ chức Lương

thực và nông nghiệp Liên hiệp quốc) chủ

yếu được dựa trên các yếu tố chính như

điều kiện thổ nhưỡng, tính chất nông hóa

của đất; điều kiện địa hình; khí hậu, thời

tiết; điều kiện tưới tiêu, và sử dụng cho

tất cả các mục đích

Theo yêu cầu của công tác quản lý

nhà nước về đất đai, thì việc phân hạng

đất nông nghiệp theo những chỉ tiêu,

phương pháp đã và đang áp dụng cho

thấy vẫn còn một số những khó khăn,

bất cập đó là: việc phân hạng đất nông

nghiệp chưa phát huy hết được vai trò

trong lĩnh vực quản lý đất đai; các yếu tố

được đánh giá như nhau về mức độ quan

trọng, chưa thể hiện được ảnh hưởng

qua lại của các yếu tố, vai trò của các

yếu tố trội; chưa xác định được trọng số

của các yếu tố khi đánh giá, chưa tranh

thủ được tri thức của nhiều chuyên gia

trong các lĩnh vực khác nhau để đánh

giá đối với từng mục đích sử dụng đất

cụ thể, chưa có sự tích hợp giữa các

phương pháp và công nghệ tiên tiến

trong quá trình đánh giá Chính vì vậy,

việc nghiên cứu ứng dụng phương pháp

đánh giá đa chỉ tiêu và GIS trong phân

hạng đất nông nghiệp theo mục đích sử

dụng đất là rất cần thiết

2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các loại đất thuộc nhóm đất nông nghiệp trừ đất nông nghiệp khác bao gồm đất trồng lúa, đất nuôi trồng thuỷ sản, trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp, trồng cây hàng năm khác, đất làm muối Cụ thể tại các tiểu vùng sinh thái, mục đích sử dụng đất được lựa chọn phân hạng như sau:

- Vùng đồng bằng: (i) Đất trồng lúa; (ii) Đất trồng cây hàng năm khác; (iii) Đất trồng cây lâu năm; (iv) Đất rừng sản xuất; (v) Đất rừng phòng hộ; (vi) Đất rừng đặc dụng; (vii) Đất nuôi trồng thủy sản;

- Vùng ven biển: (i) Đất trồng lúa; (ii) Đất trồng cây hàng năm khác; (iii) Đất trồng cây lâu năm; (iv) Đất rừng sản xuất; (v) Đất rừng phòng hộ; (vi) Đất rừng đặc dụng; (vii) Đất nuôi trồng thủy sản; (viii) Đất làm muối

- Vùng trung du, miền núi: (i) Đất trồng lúa; (ii) Đất trồng cây hàng năm khác; (iii) Đất trồng cây lâu năm; (iv) Đất rừng sản xuất; (v) Đất rừng phòng hộ; (vi) Đất rừng đặc dụng; (vii) Đất nuôi trồng thủy sản

3 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp chính được áp dụng để nghiên cứu gồm:

3.1 Phương pháp điều tra thu thập thông tin

- Điều tra, thu thập thông tin, số liệu

sơ cấp: Tiến hành thu thập thông tin, tài liệu, số liệu, bản đồ liên quan đến các vấn đề: loại đất/nhóm đất, độ dày tầng đất, kết von, đá lẫn, đá lộ đầu; về địa hình (độ dốc, địa hình tương đối); khí hậu (lượng mưa, tổng tích ôn, khô hạn, gió ); chế độ nước (chế độ tưới, xâm nhập mặn, ngập úng từ bản đồ thủy lợi, thủy văn nước mặt) Thu thập thông tin, số liệu về tình hình phát triển kinh tế

Trang 3

- xã hội; hiện trạng, biến động sử dụng

đất; tình hình quản lý, sử dụng đất

Điều tra, khảo sát các khu vực đất

nông nghiệp tại các địa bàn điều tra

phục vụ cho việc đánh giá những thuận

lợi và khó khăn trong quản lý, sử dụng

đất nông nghiệp cũng như trong việc

đánh giá đất thích hợp cho các mục đích

sử dụng đất Kiểm tra độ chính xác của

số liệu, chỉnh lý và bổ sung các nguồn

thông tin thông qua dã ngoại, khảo sát

thực địa; xây dựng các tuyến khảo sát,

để bổ sung các thông tin mới về hiện

trạng sử dụng đất, đồng thời cập nhật,

bổ sung trên bản đồ vị trí các khu vực

đất nông nghiệp

- Điều tra, thu thập thông tin, số liệu

thứ cấp: Điều tra, thu thập các thông tin,

tài liệu, số liệu tại các cơ quan ở Trung

ương (các đơn vị thuộc BTNMT như

Tổng cục quản lý đất đai; Trung tâm Khí

tượng thủy văn quốc gia; Cục Công nghệ

Thông tin, Bộ Nông nghiệp và Phát triển

nông thôn…) và địa phương (Sở Tài

nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn, Sở Khoa học và

Công nghệ, Trung tâm Khí tượng thủy

văn, Phòng Tài nguyên và Môi trường,

Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông

thôn, Phòng Thống kê…)

Phương pháp này sử dụng để thu

thập thông tin khoa học trên cơ sở

nghiên cứu các văn bản, tài liệu bản đồ,

số liệu thống kê, báo cáo, các chương

trình dự án đã có Những dữ liệu đã thu

thập là tài liệu về thổ nhưỡng, khí hậu,

nguồn nước, tài liệu về kinh tế - xã hội,

tài liệu về hiện trạng sử dụng đất, cơ cấu

sử dụng đất sản xuất nông nghiệp, tình

hình sản xuất nông nghiệp, diễn biến

năng suất trong 05 năm trở lại đây theo

từng mục đích sử dụng; các loại bản

đồ như bản đồ hành chính, bản đồ hiện

trạng sử dụng đất, bản đồ địa hình, bản

đồ thổ nhưỡng, bản đồ giao thông, bản

đồ thủy lợi, các số liệu thống kê khác tại các thời điểm khác nhau cần bổ sung

3.2 Phương pháp đánh giá đất của FAO

Phương pháp đánh giá đất theo FAO được sử dụng để thực hiện nội dung phân hạng mức độ thích hợp cho các mục đích sử dụng đất trên địa bàn nghiên cứu, để từ đó hiểu rõ hơn về tiềm năng của đất ở khu vực nghiên cứu, làm

cơ sở để chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất trong tương lai Xây dựng bản đồ đơn

vị đất đai thông qua việc xây dựng và chồng xếp các bản đồ đơn tính gồm bản

đồ loại đất, địa hình tương đối, lượng mưa, chế độ tưới, xâm nhập mặn, ngập úng thích hợp với các mục đích sử dụng đất bao gồm đất trồng lúa, đất trồng cây hàng năm khác, đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối Xác định yêu cầu sử dụng đất của mỗi mục đích sử dụng đất đai được lựa chọn Xác định và mô tả các mục đích

sử dụng đất trong điều kiện về chính sách, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng nghiên cứu

Trình tự đánh giá sử dụng đất thích hợp theo FAO (1976) bao gồm các nội dung cơ bản: Xác định mục tiêu; thu thập tài liệu; xác định loại sử dụng đất; xác định các đơn vị đất đai; đánh giá khả năng thích hợp của đất đai; đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường;

đề xuất sử dụng đất phục vụ quy hoạch

sử dụng đất Trong nghiên cứu phương pháp đánh giá đa chỉ tiêu sẽ được sử dụng trong nội dung đánh giá khả năng thích hợp của đất đai GIS được ứng dụng trong nội dung xác định đơn vị đất đai, đánh giá khả năng thích hợp và thành lập bản đồ phân hạng đất

Trang 4

3.3 Phương pháp xây dựng bộ

bản đồ trong PHĐ nông nghiệp

Sử dụng hệ thống thông tin địa lý

(GIS) để thành lập bản đồ Sử dụng các

tiện ích sẵn có của GIS để thành lập

bản đồ đơn vị đất đai (dùng chức năng

Overlay của GIS) và biểu diễn kết quả

phân hạng thích hợp thông qua việc phân

tích dữ liệu không gian, xử lý thông tin,

cơ sở dữ liệu đầu vào, xây dựng các lớp

thông tin bản đồ chuyên đề, bản đồ đơn

vị đất đai, bản đồ PHĐ nông nghiệp của

địa bàn thử nghiệm Sử dụng các chức

năng của phần mềm MicroStation và

phần mềm ArcGIS, ArcView để xây

dựng cơ sở dữ liệu đất đai bao gồm các

số liệu bản đồ: Bản đồ hiện trạng sử

dụng đất; Bản đồ hành chính; Bản đồ

đất; Bản đồ địa hình…

Sử dụng hệ tọa độ VN2000 với các

tỷ lệ 1/50.000, 1/100.000 để thể hiện

các bản đồ Cấu trúc số liệu thuộc tính

của các đối tượng trên bản đồ được thể

hiện bằng mô hình quan hệ Các bản

đồ chuyên đề và các bản đồ PHĐ được

xây dựng trên nền bản đồ địa hình tỷ lệ

1/50.000, 1/100.000 Ứng dụng phần

mềm Mapinfor, Microstation, ArcGIS,

ArcView biên tập, chồng xếp bản đồ Sử

dụng GIS thực hiện phân vùng sinh thái

của địa bàn điều tra theo ba tiểu vùng

(đồng bằng, đồi núi, ven biển), xây dựng

dữ liệu ranh giới các khoanh đất điều tra

tại địa bàn (diện tích, mục đích sử dụng

đất, các kết quả ký hiệu và phân mức

của tất cả các mục đích sử dụng đất )

Sử dụng GIS kết hợp với phương

pháp đánh giá đa chỉ tiêu trong quá

trình phân hạng được thực hiện bằng

cách chồng các lớp thông tin về loại

đất, địa hình, khí hậu, chế độ nước

tạo thành một lớp thông tin kết quả

cho phép phân các mức thích hợp theo

mục đích sử dụng có giá trị từ 0 đến 1,0

(Carver, 1991, Voogd, 1983) đến từng khoanh đất

3.4 Phương pháp MCA

Phương pháp đánh giá đa chỉ tiêu được áp dụng trong nghiên cứu để thực hiện quá trình PHĐ thích hợp cho các mục đích sử dụng đất Kết hợp các thông tin từ nhiều chỉ tiêu về một chỉ tiêu đánh giá duy nhất Phương pháp MCA sẽ công bằng, chính xác hơn ở việc xét đến tầm quan trọng khác nhau giữa các chỉ tiêu đối với một mục đích đánh giá cụ thể, nói lên tầm ảnh hưởng khác nhau đến mục đích đánh giá thể hiện ở các trọng số khác nhau, trong khi phương pháp đánh giá của FAO không xét đến

sự tương tác giữa các chỉ tiêu, xem các chỉ tiêu có vai trò quan trọng như nhau

Dữ liệu đầu vào của phân hạng theo phương pháp MCA và GIS có mức độ chi tiết cao, sát với thực tế và có tính khả thi cao vì MCA đưa ra đề xuất dựa trên mức độ ảnh hưởng của các chỉ tiêu đến đối tượng đánh giá Việc sử dụng phương pháp MCA phù hợp với những nghiên cứu mang tính chất chi tiết, phù hợp với cấp tỉnh, huyện, cấp xã và thực hiện trên nền bản đồ có tỷ lệ lớn

Phương pháp so sánh cặp đôi, thực hiện theo trình tự: Xây dựng ma trận so sánh cặp đôi; xác định trọng số; tính giá trị thích hợp; phân cấp tổng giá trị thích hợp

3.5 Phương pháp chuyên gia

Tham khảo ý kiến của các nhà quản

lý, các nhà khoa học, các chuyên gia về các vấn đề liên quan đến việc quản lý,

sử dụng đất đai; khoa học đất đồng thời tham vấn ý kiến người sử dụng đất tại địa bàn bằng hình thức điền thông tin vào mẫu phiếu và xin ý kiến trực tiếp thông qua các cuộc hội thảo chuyên đề Tổng hợp các ý kiến chuyên gia theo

Trang 5

phương pháp toán học Việc xin ý kiến

chuyên gia đóng vai trò tiên quyết trong

quá trình xây dựng ma trận so sánh cặp

đôi Các ý kiến chuyên gia có độ đồng

thuận cao sẽ làm cho ma trận vừa có

tính chính xác, vừa thể hiện được mối

tương quan giữa các chỉ tiêu đồng thời

vẫn đảm bảo tính khách quan của người

ra quyết định

Tham khảo ý kiến của các cán bộ

quản lý đất đai, cán bộ nông nghiệp…

và người dân trực tiếp sử dụng đất tại

địa phương về mức độ ảnh hưởng của

các chỉ tiêu về loại đất, độ dày tầng đất,

thành phần cơ giới, lượng mưa, độ dốc,

khô hạn, chế độ tưới, xâm nhập mặn,

ngập úng đối với từng mục đích sử dụng

đất

Phương pháp chuyên gia đóng vai

trò rất quan trọng khi kết hợp với phương

pháp đánh giá đa chỉ tiêu để thực hiện

nội dung đánh giá thích hợp đất đai cho

các mục đích sử dụng đất, xây dựng ma

trận cặp đôi so sánh các chỉ tiêu về loại

đất, độ dày tầng đất, thành phần cơ giới,

lượng mưa, độ dốc, khô hạn, chế độ

tưới, xâm nhập mặn, ngập úng đối với

từng mục đích sử dụng đất tại mỗi tiểu

vùng sinh thái

3.6 Phương pháp kế thừa

Kế thừa có chọn lọc các kết quả

nghiên cứu của các công trình, đề tài

khoa học có liên quan đến các lý thuyết

về đánh giá đất đai, lý thuyết về GIS, lý

thuyết về MCA trong và ngoài nước

Kế thừa kết quả từ các công trình dự án

đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường

thực hiện như dữ liệu phân vùng sinh

thái các tiểu vùng (ven biển, đồng bằng,

đồi núi), ranh giới các khoanh đất điều

tra Có thể nói, phương pháp kế thừa

là phương pháp rất quan trọng để có

được bộ dữ liệu đầu vào trong quá trình

thực hiện

4 Kết quả và thảo luận

4.1 Tình hình ứng dụng các phương pháp phân hạng đất nông nghiệp ở Việt Nam

Trong những năm qua, tùy thuộc vào từng thời kỳ công tác PHĐ nông nghiệp ở nước ta được triển khai ở các mức độ khác nhau, song về mặt phương pháp thì chủ yếu áp dụng những phương pháp phổ biến trên thế giới như phương pháp PHĐ của Liên Xô cũ và phương pháp PHĐ của FAO (1976, 1993b)

- Việc ứng dụng phương pháp phân hạng đất của Liên Xô cũ:

Từ đầu những năm 1970, Bùi Quang Toản cùng nhiều nhà khoa học của Viện Thổ nhưỡng Nông hóa (Vũ Cao Thái, Nguyễn Văn Thân, Đình Văn Tỉnh…) đã tiến hành công tác phân hạng đất ở 23 huyện, 286 hợp tác xã và

9 vùng chuyên canh Quy trình này bao gồm 4 bước: (1) Thu thập tài liệu; (2) Vạch khoanh đất; (3) Đánh giá và phân hạng chất lượng đất và (4) Xây dựng bản đồ phân hạng đất Các yếu tố được

sử dụng trong phân hạng đất vùng đồng bằng gồm: Loại đất, độ dày tầng đất,

độ chặt, độ xốp, hạn, úng, mưa, mặn, chua… Các yếu tố đó được chia thành 4 mức thích hợp là tốt, khá, trung bình và yếu kém Về phân hạng, đất được chia thành 4 hạng từ hạng I đến hạng IV theo thứ tự từ tốt đến xấu Quy trình này đã được áp dụng trong một thời gian dài Tuy nhiên, vấn đề kinh tế và môi trường chưa được nghiên cứu sâu [6]

Trong thời kỳ thực hiện phân hạng đất theo Chỉ thị số 299/TTg, công tác phân hạng đất nông nghiệp được tiến hành theo phương pháp của Liên Xô

cũ Tổng cục Quản lý ruộng đất đã ban

Trang 6

hành dự thảo phương pháp phân hạng

đất (Tổng cục quản lý ruộng đất, 1981)

Theo đó, việc phân hạng dựa trên các cơ

sở: (i) Vùng địa lý thổ nhưỡng, (ii) Loại

và nhóm cây trồng, (iii) Đặc thù của địa

phương, (iv) Trình độ thâm canh, (v)

Mối tương quan với năng suất cây trồng

Đây là tài liệu hướng dẫn vừa mang tính

khoa học vừa mang tính thực tiễn, có thể

áp dụng trên diện rộng Tính đến tháng

7/1986 cả nước đã có 14/40 tỉnh, thành

phố trực thuộc trung ương hoàn thành

hoặc hoàn thành cơ bản cả 3 nội dung:

đo đạc, phân hạng và đăng ký thống kê

ruộng đất; Hai vùng trọng điểm lúa của

cả nước là Đồng bằng Sông Cửu Long

và Đồng bằng Bắc Bộ đã cơ bản hoàn

thành Đã có 37% số tỉnh đã hoàn thành

phân hạng đất lúa cấp huyện [6]

Nhìn chung, kết quả phân hạng đất

nông nghiệp theo phương pháp này tại

Việt Nam đã giúp cho việc thống kê tài

nguyên đất nông nghiệp và hoạch định

chiến lược sử dụng, quản lý nguồn tài

nguyên đất nông nghiệp trong phạm

vi cả nước theo các phân vùng nông

nghiệp tự nhiên hướng tới mục đích sử

dụng, bảo vệ và cải tạo đất nông nghiệp

hợp lý Tuy nhiên, đối với mục đích sử

dụng đất nông nghiệp, việc phân hạng

thích hợp chưa đi sâu một cách cụ thể

vào từng loại sử dụng, đối tượng phân

hạng không toàn diện; phương pháp

này mới chỉ tập trung chủ yếu vào đánh

giá các yếu tố tự nhiên của đất đai và

chưa có những quan tâm cân nhắc tới

các điều kiện kinh tế - xã hội, thực tế

kết quả phân hạng dựa vào năng suất

Quy định về thời hiệu phân hạng, định

suất thuế, hình thức thu thuế đã không

khuyến khích sản xuất, nền kinh tế nông

thôn kém phát triển

- Việc ứng dụng phương pháp phân

hạng đất nông nghiệp theo FAO:

Năm 1996, Tổng cục Địa chính đã

áp dụng phương pháp phân hạng đất nông nghiệp theo FAO tiến hành phân hạng trên một số địa bàn thí điểm như huyện Cẩm Bình, tỉnh Hải Hưng; huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh Kết quả của chương trình thí điểm được kết luận như sau: Yếu tố chất đất của mỗi địa bàn thí điểm chỉ tiêu phân hạng không đồng nhất Do đặc thù của ĐBSCL nên yếu tố

vị trí có thể thay nơi cư trú bằng trung tâm mua bán vật tư nông nghiệp Khi phân hạng cấp xã yếu tố khí hậu là đồng nhất do đó cần vận dụng lịch thời vụ, bổ sung các chỉ tiêu khí hậu thời tiết đặc thù [1]

Đến năm 1997, phương pháp xác định hạng đất theo điều kiện giới hạn

đã trở thành phổ biến và được thực hiện rộng rãi trong cả nước Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện có một số tồn tại sau: Việc áp dụng hoàn toàn máy móc, không xem xét điều chỉnh các yếu tố tham gia định hạng, nhất là các yếu tố

ít quan trọng có linh động được nên dẫn đến kết quả thiếu chính xác, không đúng với thực tế; Tình trạng tự điều chỉnh một cách tùy tiện, không đề ra các quy định

và giải thích chi tiết dẫn đến kết quả xác định bị gò ép, đồng thời hệ thống các chỉ tiêu và số liệu không đồng nhất [1] Trên cơ sở tiếp thu phương pháp phân hạng đánh giá đất đai của FAO

và tổng kết kinh nghiệm phân hạng đất

ở nước ta, Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp đã biên soạn "Quy trình đánh giá đất đai phục vụ nông nghiệp

- 10TCN, 1998" được Bộ Nông nghiệp

và phát triển nông thôn phê duyệt và ban hành thành quy trình cấp ngành nhằm thống nhất nội dung, phương pháp phân hạng đánh giá tài nguyên đất phục vụ quy hoạch sử dụng đất bền vững trên phạm vi cả nước [1]

Trang 7

Trong các năm từ 2002 - 2005,

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thực

hiện chương trình: "Xây dựng mô hình

chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất đai

phục vụ yêu cầu công nghiệp hóa, hiện

đại hóa nông nghiệp nông thôn" tại 7

huyện đại diện cho 7 tỉnh thuộc 7 vùng

kinh tế nông nghiệp Chương trình này

đã vận dụng: "Quy trình đánh giá đất

đai phục vụ nông nghiệp" do Bộ Nông

nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành

để tiến hành đánh giá đất đai ở quy mô

cấp huyện làm cơ sở cho việc đề xuất

chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất hợp lý

Do có được một quy trình đánh giá đất

đai hoàn chỉnh nên các bản đồ được xây

dựng đồng bộ theo một trình tự thống

nhất bao gồm hệ thống các bản đồ và

số liệu đi kèm có chất lượng tốt hơn,

là cơ sở khoa học để thực hiện việc

chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất đai ở

địa phương

Qua thực tiễn triển khai cho thấy,

việc áp dụng phương pháp của FAO

trong phân hạng đất nông nghiệp tại

nước ta trong những năm qua vẫn còn

một số hạn chế, đó là:

- Chưa phát huy hết được vai trò

trong lĩnh vực quản lý đất đai như: Làm

cơ sở cho việc lập quy hoạch, kế hoạch

sử dụng đất; xác định giá trị quyền sử

dụng đất; trong công tác điều tra cơ

bản về đất đai, mới chỉ quan tâm đến

số lượng đất, chưa quan tâm đến chất

lượng đất…

- Nội dung, chỉ tiêu phân hạng đất

nông nghiệp chủ yếu dựa trên các yếu

tố thổ nhưỡng, tính chất nông hóa của

đất; địa hình; khí hậu, thời tiết ; chưa

quan tâm đầy đủ đến các yếu tố khác

(vị trí, không gian sử dụng đất, kinh tế -

xã hội ) khi phân hạng đất phù hợp với

từng mục đích sử dụng cụ thể đáp ứng

yêu cầu của công tác quản lý đất đai

- Trong phương pháp phân hạng đất nông nghiệp chưa thể hiện được ảnh hưởng qua lại của các yếu tố, vai trò của các yếu tố trội, chưa xác định được trọng số của các yếu tố khi đánh giá, chưa tranh thủ được tri thức của nhiều chuyên gia trong các lĩnh vực khác nhau

để đánh giá đối với từng mục đích sử dụng đất cụ thể, chưa có sự tích hợp giữa các phương pháp và công nghệ tiên tiến trong quá trình đánh giá

- Khả năng ứng dụng phương pháp MCA và GIS trong phân hạng đất nông nghiệp theo mục đích sử dụng đất: Tại Việt Nam, có 3 - 4 nhóm nổi bật

về nghiên cứu AHP-GIS liên quan đến phân hạng đất đai, như: Nhóm thuộc Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh (nhóm

Lê Cảnh Định); Đại học Nông lâm Thành phố Hồ Chí Minh (nhóm Nguyễn Kim Lợi); Đại học Khoa học, Đại học Huế; Đại học Khoa học tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội… Các nghiên cứu

đã cho thấy rằng, tích hợp MCA và GIS vẫn là xu thế hiện nay, theo đó MCA được sử dụng để gắn trọng số cho các chỉ tiêu, GIS để liên kết kết quả phân hạng theo không gian với sự phân bố

mở rộng hoặc biến đổi khôn gian của đối tượng theo lãnh thổ (vùng thích hợp

“suitability zone”, hoặc khu vực thích hợp “suitability area”)

Theo nghiên cứu của Võ Quang Minh và các cộng sự thì đây là phương pháp tập hợp các thông tin từ một số chỉ tiêu để hình thành một chỉ số duy nhất cho việc đánh giá Trong nghiên cứu

về phân định và hợp nhất cơ sở dữ liệu phục vụ quy hoạch sử dụng đất được thí điểm tại xã Tân Phú Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Cần Thơ đã cho thấy trong phương pháp này các trọng số sẽ được gán cho các chỉ tiêu tùy thuộc vào mức

Trang 8

độ quan trọng của từng chỉ tiêu và từ đó

việc đánh giá thích hợp sẽ mang lại độ

chính xác hơn phương pháp đánh giá đất

của FAO [8]

Tuy nhiên, tại nước ta việc nghiên

cứu ứng dụng MCA và GIS trong các

lĩnh vực và đặc biệt trong lĩnh vực phân

hạng thích hợp đất đai còn hạn chế Một

số nghiên cứu điển hình bao gồm:

- Nghiên cứu ứng dụng phương

pháp MCA với công nghệ GIS trong

đánh giá thích hợp các mục đích sử dụng

đất tại huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang

của Lê Thị Giang (năm 2012) Trong đó,

việc ứng dụng được thực hiện qua các

bước: định chỉ tiêu và xây dựng ma trận

so sánh cặp đôi; tính toán trọng số và

kiểm tra tỷ số nhất quán Cr; tính giá trị

thích hợp Si và bước cuối cùng là phân

cấp tổng giá trị thích hợp Nghiên cứu

đã khẳng định, việc xác định ma trận so

sánh cặp đôi và xác định điểm của chỉ

tiêu Xi để đánh giá thích hợp phụ thuộc

rất nhiều vào yêu cầu sử dụng đất của

địa phương Điều này cũng có nghĩa kết

quả hai bước thực hiện này sẽ chịu ảnh

hưởng nhiều từ đặc điểm của khu vực

nghiên cứu

- Nghiên cứu sử dụng đất bền vững

vùng cửa Ba Lạt, huyện Giao Thủy, tỉnh

Nam Định của Nguyễn Thị Thu Trang

(năm 2013) đã tích hợp GIS và MCA

để đánh giá sử dụng bền vững đất nông

nghiệp vùng Cửa Ba Lạt huyện Giao

Thuỷ Áp dụng phương pháp MCE để

đánh giá tổng hợp hiệu quả kinh tế, xã

hội, môi trường của các kiểu sử dụng

đất Trên cơ sở ma trận so sánh cặp đôi

sử dụng phần mềm IDRISI, tính được

trọng số W(i) của các chỉ tiêu đánh giá

hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường cho

13 kiểu dụng đất Các tỷ số nhất quán

(CR) đều < 10%, vì vậy kết quả tính toán

trọng số có độ tin cậy và có thể chấp

nhận được Kết quả đánh giá phân hạng

sử dụng đất thích hợp tại vùng nghiên cứu cho thấy đất của vùng Cửa Ba Lạt thích hợp cao nhất đối với kiểu sử dụng đất rừng ngập mặn chiếm 55,95%, tiếp đến là tôm - rừng ngập mặn (cá, cua) hoặc tôm cua quảng canh, tôm sinh thái xấp xỉ 30%, chuyên lúa 25,2%, diện tích thích hợp cho chuyên ngao và lúa tôm thấp < 10% trong tổng số diện tích đánh giá Tính thích hợp này phụ thuộc nhiều vào chất lượng đất, nguồn nước, địa hình theo từng khu vực khai thác

4.2 Kinh nghiệm nước ngoài về phân hạng đất nông nghiệp

Việc phân hạng và đánh giá đất đai

đã được thực hiện từ khá lâu ở nhiều nước trên thế giới Tuỳ theo mục đích

cụ thể, mỗi quốc gia đã đề ra nội dung, phương pháp đánh giá đất của mình Có nhiều quan điểm, trường phái phân hạng đất khác nhau hình thành ở một số nước trên thế giới, trong đó đáng chú ý là các nước như: Liên Xô, Mỹ, Anh, Canada,

Ấn Độ, Châu Phi

Ở Mỹ, ý đồ xây dựng một chương trình nghiên cứu phân loại đất đã có từ năm 1832 do E Ruffi n khởi xướng, đến năm 1860 W Hilgard xây dựng bảng phân loại đất và bản đồ đất đầu tiên cho nước Mỹ trên cơ sở nhận thức đất là một vật thể tự nhiên, tính chất đất có quan hệ đến thực vật và khí hậu Năm

1951 Cục cải tạo đất đai - Bộ nông nghiệp Mỹ (USBR) biên soạn “Phân loại khả năng đất có tưới” (Irrigation land suitability classifi cation) đã phân loại gồm 6 lớp (classes), từ lớp có thể trồng trọt được (Arable) đến lớp có thể trồng trọt được một cách có giới hạn (Limited arable) đến lớp không thể trồng trọt được (Non-arable) Trong phân loại này, ngoài đặc điểm về đất

Trang 9

đai, một số chỉ tiêu kinh tế cũng được

xem xét chỉ giới hạn trong phạm vi thủy

lợi Năm 1961, Cơ quan bảo vệ đất - Bộ

Nông nghiệp Mỹ (USDA) soạn thảo

“Phân hạng khả năng đất đai” (The

land capability classifi cation) Mặc

dù hệ thống này được xây dựng riêng

cho điều kiện nước Mỹ nhưng những

nguyên lý của nó được ứng dụng ở

nhiều nước Trong đó, phân hạng đất

chủ yếu dựa vào những hạn chế của

đất đai gây trở ngại đến sử dụng đất,

những hạn chế khó khắc phục cần phải

đầu tư vốn, lao động, kỹ thuật… mới

có thể khắc phục được Hạn chế được

chia thành 2 mức: hạn chế tức thời và

hạn chế lâu dài Đất đai được xếp hạng

chủ yếu dựa vào hạn chế lâu dài Hệ

thống đánh giá đất đai được chi làm 3

cấp: lớp (class), lớp phụ (sub-class) và

đơn vị (unit) được chia làm 8 lớp và

hạn chế tăng dần từ lớp I đến lớp VIII,

từ lớp I đến lớp VI có khả năng sử dụng

cho nông - lâm nghiệp, lớp V đến VII

chỉ có thể sử dụng cho lâm nghiệp, lớp

VIII chỉ sử dụng cho mục đích khác

Đây là một trong những cách tiếp cận

trong đánh giá đất đai có quan tâm đến

các yếu tố hạn chế và hướng khắc phục

các hạn chế; có xét đến vấn đề kinh tế -

xã hội ảnh hưởng đến sử dụng đất Hai

phương pháp đánh giá đất đai được ứng

dụng khá rộng rãi là: Phương pháp tổng

hợp (lấy năng suất cây trồng nhiều năm

làm tiêu chuẩn và phân hạng đất cho

từng cây trồng cụ thể, trong đó lấy cây

lúa mì là đối tượng chính) và Phương

pháp yếu tố (bằng cách thống kê các

yếu tố tự nhiên, kinh tế để so sánh,

lấy lợi nhuận tối đa là 100 điểm (hoặc

100%) để làm mốc so sánh với các đất

khác) [2, 5]

Ở Liên Xô cũ và các nước Đông

Âu: từ thập niên 60, việc phân hạng và

đánh giá đất đai cũng được thực hiện, quá trình này được chia làm 3 bước: (i) Đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng; (ii) Đánh giá khả năng sản xuất (kết hợp xem xét yếu tố khí hậu, địa hình…); (iii) Đánh giá đất đai dựa vào kinh tế (chủ yếu là khả năng sản xuất hiện tại của đất đai) Phương pháp này quan tâm chủ yếu đến yếu tố tự nhiên, có xem xét về khía cạnh kinh tế - xã hội trong sử dụng đất đai nhưng chưa đầy đủ

Ở nhiều nước Châu Âu, việc phân hạng và đánh giá đất đai được thực hiện theo 2 hướng là: Phân hạng định tính (dựa trên các kết quả nghiên cứu các yếu tố tự nhiên để xác định tiềm năng sản xuất của đất đai); Phân hạng định lượng (dựa vào kết quả nghiên cứu các yếu tố kinh tế, để xác định sức sản xuất thực tế của đất đai)

Ở Ấn Độ và các nước vùng nhiệt đới ẩm châu Phi thường áp dụng phương pháp tham biến để xác định mối quan

hệ giữa các yếu tố đất đai và cây trồng Các mối quan hệ này được biểu thị dưới dạng phương trình toán học Kết quả phân hạng được thể hiện dưới dạng % hoặc điểm [6]

Bản dự thảo đầu tiên về tiêu chuẩn hoá việc đánh giá đất đai đã được thống nhất do 2 Uỷ ban nghiên cứu ở

Hà Lan và FAO- Roma thực hiện vào năm 1972 và phương pháp đánh giá đất đai đầu tiên của FAO được công

bố vào năm 1976 và được chỉnh lý vào năm 1983 [12]

Nhiều quốc gia đã phát triển hệ thống đánh giá đất đai cho riêng mình (các chỉ tiêu dùng cho đánh giá cũng như kết quả rất khác nhau), điều này làm cho việc trao đổi kết quả đánh giá đất trên thế giới gặp nhiều khó khăn Thấy rõ vai trò quan trọng của đánh giá,

Trang 10

phân hạng làm cơ sở cho công tác quy

hoạch sử dụng đất đai, tổ chức Nông -

Lương của Liên hợp quốc (FAO) với

sự tham gia của các chuyên gia đầu

ngành đã tổng hợp kinh nghiệm của

nhiều nước, xây dựng Đề cương đánh

giá đất đai (FAO - 1976) Tài liệu này

được cả thế giới quan tâm, ứng dụng

và chấp nhận là phương tiện tốt nhất

để đánh giá tiềm năng đất đai Tiếp

theo đó, hàng loạt các tài liệu hướng

dẫn đã được xuất bản như: Đánh giá

cho nông nghiệp nhờ nước trời (1983);

Đánh giá đất cho các vùng rừng (1984),

cho các vùng nông nghiệp được tưới

(1985) và Đánh giá đất cho đồng cỏ

(1989) Thực chất đây là một tập hợp

các hướng dẫn về phương pháp luận,

có thể ứng dụng trong bất kỳ dự án nào

và ở bất kỳ tỷ lệ nào [11] [12]

4.3 Đề xuất ứng dụng nội dung, phương pháp MCA và GIS để phân hạng đất nông nghiệp theo mục đích sử dụng đất

Để đáp ứng được yêu cầu quản lý

và sử dụng đất bền vững, việc phân hạng đất nông nghiệp đối với từng mục đích

sử dụng có ý nghĩa rất quan trọng, đây là

cơ sở khoa học để đề xuất định hướng sử dụng đất cũng như xây dựng các phương

án quy hoạch sử dụng đất Do đó việc PHĐ đất theo Luật Đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành vẫn được thực hiện trên cơ sở phương pháp của FAO có điều chỉnh phù hợp với điều kiện của Việt Nam, song để tăng tính khách quan khi đánh giá thông qua việc xem xét

sự ảnh hưởng qua lại của các yếu tố, vai trò của các yếu tố trội hay xác định trọng

số của các yếu tố đánh giá thì đề tài ứng dụng phương pháp MCA, GIS vào trong các bước của quy trình PHĐ

Hình 1 Bước ứng dụng MCA&GIS trong PHĐ nông nghiệp

Việc PHĐ nông nghiệp theo mục

đích sử dụng đất cấp tỉnh được thực hiện

theo quy định của Luật Đất đai 2013 và

các văn bản hướng dẫn được đề xuất

gồm 5 bước:

- Bước 1: Lựa chọn các chỉ tiêu

đánh giá

- Bước 2: Xây dựng bản đồ đơn vị

đất đai

- Bước 3: Xác định yêu cầu sử

dụng đất

- Bước 4: Đánh giá khả năng thích hợp

- Bước 5: Xây dựng bản đồ PHĐ

theo mục đích SDĐ

Trong đó GIS được ứng dụng ở bước 2, bước 4, bước 5 MCA được ứng dụng ở bước 4 trong quá trình phân lớp xác định hạng đất bao gồm 4 nội dung:

- Xây dựng ma trận so sánh cặp đôi;

- Xác định trọng số;

- Tính tỷ số nhất quán;

- Tính giá trị thích hợp

(i) Bước 1: Lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá

- Phân cấp tiểu vùng sinh thái nghiên cứu: Căn cứ vào mô hình số độ cao DEM, đặc điểm phân bố của các nhóm đất và các văn bản pháp lý liên quan để phân vùng sinh thái khu vực

Ngày đăng: 06/05/2021, 14:07

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w