Nghiện internet đang ngày càng trở nên phổ biến đặc biệt là ở thanh thiếu niên và có thể gây nên những tác động tiêu cực. Nghiên cứu này nhằm xác định tỉ lệ và các yếu tố liên quan đến nghiện internet ở học sinh tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP. HCM).
Trang 1NGHIỆN INTERNET VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
Ở HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ, TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Võ Kim Duy 1 , Dương Thị Huỳnh Mai 1 , Trần Nguyễn Giang Hương 1 , Đặng Thị Thiện Ngân 1 ,
Thái Thanh Trúc 1
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Nghiện internet đang ngày càng trở nên phổ biến đặc biệt là ở thanh thiếu niên và có thể gây nên những tác động tiêu cực Nghiên cứu này nhằm xác định tỉ lệ và các yếu tố liên quan đến nghiện internet ở học sinh tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM)
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang được tiến hành trên 1492 học sinh tại 4 trường trung học cơ sở (khối 8, 9) và 4 trường trung học phổ thông (khối 10, 11, 12) Học sinh trả lời bộ câu hỏi
tự điền bao gồm các thông tin về đặc điểm cá nhân, thói quen sử dụng internet, nghiện internet, sự gắn kết với cha mẹ và sự gắn kết với trường lớp Nghiện internet được đánh giá bằng thang đo IAT
Kết quả: Tỉ lệ học sinh nghiện internet là 59,0% Kết quả từ mô hình đa biến cho thấy học sinh có thời gian truy cập internet nhiều hơn, truy cập internet để đăng ảnh, gửi thư điện tử, sử dụng mạng xã hội có tỉ lệ nghiện internet cao hơn Trong khi học sinh được mẹ bảo vệ quá mức có tỉ lệ nghiện internet cao hơn thì sự quan tâm của cha và mẹ là yếu tố bảo vệ của nghiện internet
Kết luận: Tỉ lệ nghiện internet của học sinh tại TP HCM ở mức cao và có mối liên quan với thói quen sử dụng internet Sự quan tâm của cha mẹ giúp giảm nghiện internet Vì thế, gia đình cần có những biện pháp hỗ trợ phù hợp cho học sinh
Từ khóa: nghiện internet, trung học cơ sở, trung học phổ thông
ABSTRACT
INTERNET ADDICTION AND ASSOCIATED FACTORS AMONG SECONDARY AND HIGH SCHOOL STUDENTS IN HO CHI MINH CITY
Vo Kim Duy, Duong Thi Huynh Mai, Tran Nguyen Giang Huong, Dang Thi Thien Ngan, Thai Thanh Truc * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 25 - No 2 - 2021: 153 - 160
Background: Internet addiction has become more and more popular especially among adolescents, resulting
in adverse effects This study estimated the prevalence and associated factors of internet addiction among students
in Ho Chi Minh city
Methods: A cross-sectional study was conducted among 1492 students in 4 secondary schools (grade 8, 9) and 4 high schools (grade 10, 11, 12) Students completed a self-report questionnaire including information about demographic characteristics, internet-using habits, internet addiction, parental bonding and school connectedness Internet addiction was measured through IAT
Results: The prevalence of internet addiction was 59.0% Multivariable analysis showed that students who had more time to access the internet or accessed the internet to post photos, send email, use social networking sites had higher prevalence of internet addiction While students with overprotective mothers had higher prevalence of internet addiction, parental care was the protective factor against internet addiction
1 Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Tác giả liên lạc: BS Võ Kim Duy ĐT: 0357600067 Email: kimduyvo08@gmail.com
Trang 2Conclusion: The prevalence of internet addiction among students in Ho Chi Minh City was high and was associated with internet-using habits Parental care helped decrease internet addiction Therefore, families should take appropriate strategies to support students
Keywords: internet addiction, secondary school, high school
ĐẶT VẤN ĐỀ
Với tốc độ phát triển nhanh chóng, internet
đang được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới và
trở thành một phương tiện hữu ích không thể
thiếu trong cuộc sống hàng ngày Theo báo cáo
vào tháng 5 năm 2020, thế giới có hơn 4,6 tỉ
người sử dụng internet và tại Việt Nam ghi nhận
hơn 68 triệu người với chủ yếu là thanh thiếu
niên(1) Lứa tuổi thanh thiếu niên là giai đoạn
quan trọng cho sự phát triển thể chất, nhận thức
và hành vi(2) Vì thế, nghiện internet ở thanh
thiếu niên là một vấn đề đáng quan tâm trong
các chương trình giáo dục sức khỏe(3)
Tỉ lệ nghiện internet ở thanh thiếu niên ngày
càng gia tăng ở các nước Châu Á Nghiên cứu
năm 2014 về tình trạng nghiện internet ở sáu
nước Châu Á ghi nhận tỉ lệ nghiện internet cao
nhất tại Philippin (50,9%), Nhật Bản (47,5%) và
thấp nhất tại Hàn Quốc (13,7%)(3) Tại Việt Nam,
nghiên cứu khảo sát tỷ lệ nghiện internet thực
hiện trên học sinh trung học cơ sở (THCS) thuộc
Đồng Nai năm 2017 là 51,1%(4), trên học sinh
trung học phổ thông (THPT) tỉnh Phú Yên năm
2018 là 56,7%(5) Bên cạnh mức độ phổ biến ở lứa
tuổi thanh thiếu niên, nghiện internet còn gây ra
những hậu quả nghiêm trọng Theo một phân
tích tổng hợp gồm tám bài báo với 1641 bệnh
nhân nghiện internet cho thấy mối liên quan
giữa nghiện internet và tình trạng lạm dụng
rượu, tăng động giảm chú ý, lo lắng và trầm
cảm(6) Việc sử dụng Internet quá nhiều còn dẫn
tới các tác động không tốt đến não bộ, sức khỏe,
giáo dục và tương tác xã hội của thanh thiếu
niên(7) Do đó, việc đánh giá và có biện pháp
ngăn ngừa sớm là hoàn toàn cần thiết
Nghiên cứu này nhằm xác định tỉ lệ và các
yếu tố liên quan của nghiện internet ở học sinh
tại TP HCM Đây là trung tâm kinh tế, văn hóa,
giáo dục lớn nhất của Việt Nam nên tạo điều kiện cho học sinh tiếp cận dễ dàng với internet Kết quả của nghiên cứu sẽ phản ánh mức độ phổ biến của tình trạng nghiện internet ở học sinh và gợi ý các yếu tố liên quan Từ đó, gia đình và nhà trường có thể định hướng được các chiến lược phòng ngừa hiệu quả để ngăn chặn những hậu quả nghiêm trọng xảy ra trên các học sinh có nguy cơ nghiện internet
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu
Được thực hiện ở học sinh THCS (khối 8,9)
và THPT (khối 10, 11, 12) từ tháng 9/2019 đến tháng 7/2020 thuộc các quận 3, 5, Tân Phú và huyện Hóc Môn tại TP Hồ Chí Minh
Tiêu chí chọn vào
Tất cả học sinh đang học tại các lớp được chọn vào thời điểm nghiên cứu và đồng ý tham gia trả lời bộ câu hỏi
Tiêu chí loại ra
Những học sinh không được phụ huynh/người giám hộ đồng ý cho tham gia nghiên cứu Những học sinh có tình trạng sức khỏe kém không thể tham gia trả lời bộ câu hỏi Những học sinh vắng mặt vào thời điểm khảo sát, quay lại lần 2 nhưng không gặp
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang sử dụng phương pháp chọn mẫu cụm nhiều bậc,
Cỡ mẫu
Cỡ mẫu được tính toán dựa trên công thức ước lượng một tỉ lệ với xác suất sai lầm loại 1 là 0,05; sai số biên là 0,04; tỉ lệ học sinh nghiện internet ước tính là 0,567(5) Nghiên cứu chọn hệ
số thiết kế là 2, tỉ lệ mất mẫu 20% do khả năng phụ huynh từ chối cho học sinh tham gia
Trang 3Hình 1: Quy trình chọn mẫu
Phương pháp thực hiện
Tại thời điểm khảo sát, 40 lớp được chọn
tham gia nghiên cứu có tổng cộng 1648 học sinh
Tất cả các học sinh đều được xin ý kiến đồng
thuận của phụ huynh/người giám hộ trước khi
tham gia nghiên cứu Quá trình thu thập dữ liệu
được giáo viên và nghiên cứu viên viên giám sát
nghiêm túc Trong hoặc sau quá trình khảo sát
nếu học sinh cảm thấy bất ổn về tinh thần có thể
liên hệ trực tiếp với nghiên cứu viên hoặc thông
báo với giáo viên chủ nhiệm hay cha mẹ để được
hỗ trợ tư vấn miễn phí từ các chuyên gia tâm lý
Sau khi rà soát và kiểm tra số liệu, tổng cộng
1492 phiếu khảo sát hợp lệ được đưa vào phân tích, chiếm tỉ lệ 90,5%
Các biến số chính và cách đo lường
Bộ câu hỏi khảo sát bao gồm các thông tin
về đặc điểm cá nhân, gia đình, thói quen sử dụng internet, tình trạng nghiện internet, đánh giá sự gắn kết của học sinh với cha mẹ và trường lớp Tình trạng nghiện internet của học sinh được đánh giá bằng thang đo IAT (Internet Addiction Test) đã sử dụng trên nhiều quốc gia với độ tin cậy và giá trị cao( 8 , 9 ) Trắc nghiệm nghiện internet IAT được dùng trong các nghiên cứu trước đây và dựa trên khảo sát ở học sinh
19 quận nội thành
3 quận nội thành
Chọn ngẫu nhiên 1 trường THCS và THPT cho mỗi quận
Chọn ngẫu nhiên 2 lớp mỗi khối tại mỗi trường
6 trường THCS và THPT
30 lớp Khối 8: 6 lớp Khối 10: 6 lớp
Khối 9: 6 lớp Khối 11: 6 lớp
Khối 12: 6 lớp
40 lớp Khối 8 (8 lớp); Khối 9 (8 lớp); Khối 10 (8 lớp); Khối 11 (8 lớp); Khối 12 (8 lớp)
10 lớp Khối 8: 2 lớp Khối 10: 2 lớp Khối 9: 2 lớp Khối 11: 2 lớp Khối 12: 2 lớp
5 huyện ngoại thành
1 huyện ngoại thành
Chọn ngẫu nhiên 1 trường THCS và THPT cho mỗi huyện
2 trường THCS và THPT
Chọn ngẫu nhiên 2 lớp mỗi khối tại mỗi trường
24 quận/huyện
Trang 4THCS tại Hà Nội cho thấy có tính tin cậy cao(10)
Thang đo gồm 20 câu hỏi sử dụng thang 5 điểm
từ 1 (không bao giờ) đến 5 (luôn luôn) Học sinh
có dấu hiệu của nghiện internet khi tổng điểm
của thang đo ≥50 Thang đo PBI (Parental
Bonding Instrument) được sử dụng để đánh giá
sự gắn kết của con cái với cha mẹ Thang đo có
25 câu hỏi riêng biệt cho cha và mẹ, bao gồm 12
câu hỏi về sự quan tâm và 13 câu hỏi đo lường
sự bảo vệ quá mức Sự gắn kết với trường lớp
được đánh giá bằng SCS (School Connectedness
Scale) gồm 5 câu với mỗi câu trả lời có 5 tùy
chọn theo thang đo Likert Với mỗi câu hỏi trong
thang đo, học sinh trả lời "Đồng ý" hoặc "Hoàn
toàn đồng ý" có nghĩa là "Có", các lựa chọn còn
lại là "Không"
Phương pháp thống kê
Dữ liệu được tổng hợp và phân tích bằng
phần mềm Stata 14.2 Với các phân tích đơn biến,
kiểm định Chi bình phương và Fisher được
dùng khi phù hợp Các yếu tố liên quan trong
phân tích đơn biến được đưa vào mô hình hồi
quy logistic đa biến Kết quả được báo cáo dưới
dạng tỉ số số chênh OR (Odds Ratio) kèm theo khoảng tin cậy 95%
Y đức
Nghiên cứu này được thông qua Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại học Y Dược TP HCM số 97/HĐĐĐ, ngày 18/02/2020
KẾT QUẢ Trong tổng số 1492 học sinh thì tỉ lệ nữ (54,6%) cao hơn nam (45,4%) Tỉ lệ các khối lớp gần như tương đồng nhau Đa số học sinh có học lực khá giỏi (80,5%) và hạnh kiểm tốt (80,8%) Tỉ lệ học sinh nghiện internet dựa trên thang đo IAT là 59,0% Kết quả phân tích mối liên quan cho thấy so với học sinh lớp 8 thì các học sinh khối THPT nghiện internet cao hơn Nhóm học sinh xếp loại hạnh kiểm khá thì nghiện internet cao hơn nhóm học sinh có hạnh kiểm tốt với
OR=1,80 (KTC 95% 1,33-2,43) (Bảng 1)
Bảng 1: Phân bố của tỉ lệ nghiện internet theo các đặc điểm cá nhân của học sinh (n=1492)
Đặc điểm
Tổng n=1492
n (%)
Nghiện internet
(KTC 95%)
Có (n=881; 59,0%)
n (%)
Không (n=611; 41,0%)
n (%) Giới tính
Khối lớp
Học lực
Hạnh kiểm
Trang 5Bảng 2: Phân bố của tỉ lệ nghiện internet theo các đặc điểm sử dụng internet của học sinh (n=1492)
Đặc điểm
Tổng n=1492
n (%)
Nghiện internet
(KTC 95%)
Có (n=881; 59,0%)
n (%)
Không (n=611; 41,0%)
n (%) Mức độ truy cập internet
Thời gian truy cập internet
>4 giờ/ngày 561 (37,6) 383 (43,5) 178 (29,1) <0,001 3,06 (2,24-4,17)
Địa điểm truy cập internet
Ở nhà trong phòng riêng 1268 (85,0) 779 (88,4) 489 (80,0) <0,001 1,91 (1,43-2,54)
Ở nhà trong phòng khách khi có người thân 880 (59,0) 537 (61,0) 343 (56,1) 0,063 1,22 (0,99-1,50)
Ở nhà trong phòng khách khi không có ai 764 (51,2) 505 (57,3) 259 (42,4) <0,001 1,83 (1,48-2,25)
Nơi công cộng 464 (31,1) 311 (35,3) 153 (25,0) <0,001 1,63 (1,30-2,05)
Ở trường ngoài giờ học 520 (34,9) 342 (38,8) 178 (29,1) <0,001 1,54 (1,24-1,93)
Ở trường trong giờ học 207 (13,9) 148 (16,8) 59 (9,7) <0,001 1,89 (1,37-2,60)
Phương tiện thường sử dụng để truy cập internet
Mục đích truy cập internet
Nói chuyện với người khác 1073 (71,9) 673 (76,4) 400 (65,5) <0,001 1,71 (1,36-2,14)
Tìm kiếm thông tin 1037 (69,5) 643 (73,0) 394 (64,5) <0,001 1,49 (1,19-1,86)
Gửi thư điện tử 565 (37,9) 384 (43,6) 181 (29,6) <0,001 1,84 (1,47-2,28)
Hơn 90% học sinh sử dụng internet hàng
ngày và trong đó chủ yếu truy cập từ 2-4
giờ/ngày (45,8%) Học sinh dùng càng nhiều thời
gian sử dụng internet thì khả năng nghiện
internet càng cao Phần lớn học sinh thường truy
cập internet ở nhà trong phòng riêng (85,0%)
Tình trạng nghiện internet có mối liên quan có ý
nghĩa thống kê với các địa điểm truy cập internet
(p <0,05) Điện thoại di động là thiết bị mà học
sinh thường dùng nhất để truy cập internet
(92,0%) Các phương tiện như điện thoại di
động, máy tính bảng, máy tính cá nhân hay
dùng chung đều có mối liên quan đến nghiện internet (p <0,05) Đa số học sinh khi sử dụng internet đều truy cập vào các trang mạng xã hội (92,4%), một số hoạt động cũng chiếm tỉ lệ cao như nghe nhạc (77,8%), xem phim (75,1%), học tập (72,8%), nói chuyện với người khác (71,9%), chơi game (70,1%) Hầu hết các yếu tố này đều liên quan có ý nghĩa thống kê với tình trạng
nghiện internet ở học sinh (Bảng 2)
Phần lớn các học sinh đều sống chung với cả cha và mẹ (85,5%) Gần một nửa số học sinh tham gia cảm nhận được sự quan tâm của cha
Trang 6(48,2%) và mẹ (41,1%) Trong khi đó có gần hai
phần ba học sinh cảm thấy cha mẹ bảo vệ quá
mức (với cha là 62,1% và mẹ là 61,8%) Sự quan
tâm của cha mẹ là yếu tố góp phần làm giảm
nghiện internet ở học sinh Tỷ lệ học sinh nghiện
internet có sự quan tâm của cha (48,2%), hoặc sự
quan tâm của mẹ (34,1%) là thấp hơn so với tỷ lệ này ở nhóm học sinh không nghiện internet lần lượt là 58,2% và 50,9% Trong khi đó, nhóm học sinh nghiện internet lại có tỷ lệ bảo vệ quá mức của cha hoặc của mẹ lại cao hơn so với nhóm học
sinh không nghiện internet (Bảng 3)
Bảng 3: Phân bố của tỉ lệ nghiện internet theo các đặc điểm gia đình của học sinh (n=1492)
n (%)
Nghiện internet
(KTC 95%)
Có (n=881; 59,0%)
n (%)
Không (n=611; 41,0%)
n (%) Người đang sống chung
Sự gắn kết với cha mẹ Quan tâm của cha (n=1365) 658 (48,2) 329 (41,1) 329 (58,2) <0,001 0,50 (0,40-0,62) Quan tâm của mẹ (n=1397) 574 (41,1) 277 (34,1) 297 (50,9) <0,001 0,50 (0,40-0,62) Bảo vệ quá mức của cha (n=1365) 847 (62,1) 541 (67,6) 306 (54,2) <0,001 1,77 (1,42-2,21) Bảo vệ quá mức của mẹ (n=1397) 863 (61,8) 560 (68,9) 303 (51,9) <0,001 2,05 (1,65-2,56)
Bảng 4: Phân bố của tỉ lệ nghiện internet theo các đặc điểm gắn kết với trường lớp của học sinh (n=1492)
Đặc điểm
Tổng n=1492
n (%)
Nghiện internet
(KTC 95%)
Có (n=881; 59,0%)
n (%)
Không (n=611; 41,0%)
n (%) Thấy vui khi học tại trường
Cảm thấy an toàn ở trường
Rất thích là học sinh của trường
Cảm thấy gần gũi với mọi người trong trường
Giáo viên trong trường đối xử công bằng với học sinh
Về mức độ gắn kết với trường lớp, phần lớn
các học sinh cảm thấy vui khi học tại trường
(73,7%), cảm thấy an toàn ở trường (72,3%), rất
thích là học sinh của trường (71,4%) Học sinh
cảm thấy gần gũi với mọi người trong trường
(62,3%) và cho rằng giáo viên đối xử công bằng
với học sinh (56,6%) Những cảm nhận của học
sinh về trường lớp có liên quan đến tình trạng
nghiện internet Đối với nhóm học sinh có
nghiện internet, tỷ lệ các học sinh này cảm thấy
vui khi học tại trường, cảm thấy an toàn ở trường, rất thích là học sinh của trường, cảm thấy gần gũi với mọi người trong trường hay cảm thấy giáo viên trong trường đối xử công bằng với học sinh đều thấp hơn có ý nghĩa thống
kê so với các tỷ lệ này ở nhóm học sinh không nghiện internet với các giá trị OR <1 và p <0,05
(Bảng 4)
Kết quả phân tích đa biến cho thấy nhóm học sinh nghiện internet có tỉ lệ sử dụng internet
Trang 7từ 2 giờ trở lên, truy cập các trang mạng xã hội,
đăng ảnh và gửi thư điện tử cao hơn có ý nghĩa
thống kê so với các tỉ lệ này ở nhóm không
nghiện internet với OR>1 và p <0,001 Về sự gắn
kết giữa học sinh và cha mẹ, nhóm học sinh
nghiện internet có tỉ lệ được mẹ bảo vệ quá mức
cao hơn nhóm không nghiện internet Trong khi
đó, nhóm học sinh nghiện internet có tỉ lệ cha
hoặc mẹ quan tâm thấp hơn so với nhóm không
nghiện internet (Bảng 5)
Bảng 5 Mô hình đa biến giữa nghiện internet và
các đặc điểm của học sinh (n=1492)
(KTC 95 %) Thời gian truy cập internet
2-4 giờ/ngày <0,001 1,81 (1,30-2,52)
>4 giờ/ngày <0,001 2,86 (2,01-4,06)
Mục đích truy cập internet
Gửi thư điện tử 0,032 1,33 (1,02-1,73)
Sự gắn kết với cha mẹ Quan tâm của cha <0,001 0,65 (0,50-0,85)
Quan tâm của mẹ 0,047 0,76 (0,58-0,99)
Bảo vệ quá mức của mẹ <0,001 1,88 (1,47-2,41)
BÀN LUẬN
Đây là nghiên cứu đầu tiên được tiến hành
tại 4 quận/huyện của TP HCM Kết quả
nghiên cứu cho thấy tỉ lệ học sinh THCS và
THPT nghiện internet là khá cao so với nghiên
cứu trước đây ở các nước Châu Á(3) Điều này
có thể do Việt Nam là một trong tám quốc gia
có số người sử dụng internet cao nhất Châu
Á(1) Trong cuộc thăm dò ý kiến toàn cầu với
hơn 10.000 thanh thiếu niên tại 25 quốc gia do
UNICEF thực hiện vào năm 2016 cho thấy 72%
thanh thiếu niên Việt Nam sử dụng internet(11)
Tỉ lệ học sinh nghiện internet ghi nhận cũng
cao hơn so với nghiên cứu trước đây trên khối
THCS tại Đồng Nai(4,12) hay khối THPT tại Phú
Yên(5) Có thể thấy tình trạng nghiện internet
đang ngày càng phổ biến và cần được quan
tâm ở lứa tuổi thanh thiếu niên Internet mang
lại rất nhiều lợi ích, thế nhưng sử dụng như
thế nào để không bị lệ thuộc cần phải xem xét
và có giải pháp phòng ngừa
Mối liên quan giữa nghiện internet và thời gian truy cập internet được tìm thấy tương đồng với các nghiên cứu trước đây(13) Tuy nhiên, đây
là nghiên cứu cắt ngang nên gây khó khăn trong việc đánh giá chiều hướng liên quan Hiện vẫn chưa rõ học sinh dành nhiều thời gian để truy cập internet góp phần vào nghiện internet hay nghiện internet khiến học sinh dùng nhiều thời gian sử dụng mạng Nghiên cứu ghi nhận nghiện internet gia tăng ở nhóm học sinh sử dụng mạng xã hội, tương đồng với khảo sát tại
Hà Lan(14) Nghiên cứu còn tìm thấy mối liên quan giữa mục đích đăng ảnh và gửi thư điện tử với tình trạng nghiện internet của học sinh Đây cũng là phát hiện mới chưa được ghi nhận trong các nghiên cứu trước đây Từ khi xuất hiện, internet được các thanh thiếu niên yêu thích vì đây là công nghệ hứa hẹn mang lại niềm vui, thú
vị và sáng tạo Các học sinh thích tạo một hồ sơ trên mạng để kết bạn mới, đăng ảnh và trò chuyện(15) Ở độ tuổi này, thanh thiếu niên thường biểu lộ rõ tính tự lập, tâm lý cho rằng người lớn không đánh giá đúng đắn, nghiêm túc những điều các em nghĩ, những việc các em làm cũng như sự trưởng thành của các em Do đó, thanh thiếu niên dễ có xu hướng xa lánh người lớn(2) Việc nắm bắt được tâm lý lứa tuổi và xác định các học sinh có nguy cơ cao nghiện internet
sẽ giúp ích cho việc đưa ra các biện pháp can thiệp phù hợp
Nghiên cứu tìm thấy mối liên quan giữa tình trạng nghiện internet và sự gắn kết với cha mẹ Trong khi cha mẹ quan tâm con cái giúp giảm tỉ
lệ nghiện internet thì sự bảo vệ quá mức làm tăng tỉ lệ này Kết quả tương đồng với nghiên cứu được thực hiện tại Ấn Độ(16), Hy Lạp(17) và một lần nữa cho thấy vai trò của cha mẹ đối với vấn đề nghiện internet ở học sinh Những thanh thiếu niên được cha mẹ quan tâm sẽ dành thời gian cho các hoạt động khác thay vì sử dụng internet Điều này thúc đẩy sự phát triển thể chất, nhận thức và xã hội Nếu thiếu đi sự hỗ trợ
Trang 8từ phía gia đình, thanh thiếu niên có xu hướng
tìm kiếm sự hỗ trợ từ xã hội thông qua các trải
nghiệm trên mạng(16,18) Việc kiểm soát con cái
quá mức của mẹ có thể gây nên những hậu quả
tiêu cực Từ đó, gợi ý một cách phong cách nuôi
dạy phù hợp là khi cha mẹ quan tâm, bảo vệ
nhưng cần tôn trọng tự chủ của con cái
Mặc dù, nghiên cứu đã tiến hành kiểm soát
các sai lệch thông tin có thể xảy ra Tuy nhiên,
công cụ mà nghiên cứu sử dụng là bộ câu hỏi tự
điền có thể gây ra sai lệnh thông tin do quá trình
hồi tưởng và tự báo cáo Đây cũng là hạn chế cần
được lưu ý của nghiên cứu
KẾT LUẬN
Tỉ lệ nghiện internet ở học sinh ở mức cao và
có mối liên quan đến thói quen sử dụng internet,
sự gắn kết với cha mẹ Vì thế, gia đình cần có các
biện pháp phù hợp để quản lý tốt quỹ thời gian
sử dụng internet, các hoạt động trên mạng của
học sinh Bên cạnh đó, cha mẹ cũng quan tâm
con cái nhiều hơn, lắng nghe và chia sẻ với các
em cách sử dụng internet hiệu quả Tuy nhiên,
cũng không nên kiểm soát con cái quá mức
khiến các em muốn che giấu các hoạt động của
mình trên internet
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Internet World Stats (2020) Internet Usage in Asia URL:
https://www.internetworldstats.com/stats3.htm
2 Vũ Thị Nho (2008) Những đặc điểm tâm lý của tuổi thiếu niên
In: Vũ Thị Nho Tâm lý học phát triển, pp.60-64 Nhà xuất bản
Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội
3 Mak K, Lai CM, Watanabe H et al (2014) Epidemiology of
Internet Behaviors and Addiction Among Adolescents in Six
Asian Countries Cyberpsychology, Behavior and Social Networking,
17(11):720-728
4 Nguyễn Trường Viên, Trần Thị Anh Thư, Thái Thanh Trúc
(2018) Mối liên quan giữa nghiện Internet và trầm cảm ở học
sinh trung học cơ sở Nguyễn Công Trứ Thành phố Biên Hòa,
Đồng Nai Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 22(1):339-346
5 Đoàn Thị Linh Hiếu (2019) Tỉ lệ nghiện internet và mối liên quan với trầm cảm ở học sinh trung học phổ thông Lê Lợi,
huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên năm 2019 Khóa luận tốt nghiệp
bác sĩ Y học dự phòng, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
6 Ho RC, Zang MWB, Tsang TY et al (2014) The association between internet addiction and psychiatric co-morbidity: a
meta-analysis BMC Psychiatry, 14(1):1-10
7 Phạm Thị Thuỳ Linh (2017) Ảnh hưởng của mạng internet đối
với giới trẻ: Cái nhìn từ phía khoa học thần kinh Khoa học Đại
học Quốc gia Hà Nội: Nghiên cứu Giáo dục, 33(3):1-8
8 Boysan M, Kuss DJ, Barut Y et al (2017) Psychometric properties
of the Turkish version of the internet addiction test (IAT)
Addictive Behaviors, 64(1):247-252
9 Milani L, Osualdella D, Blasio PD (2009) Quality of Interpersonal Relationships and Problematic Internet Use in
Adolescence CyberPsychology & Behavior, 12(6):681-684
10 Đặng Hoàng Minh, Nguyễn Thị Phương (2013) Tương quan giữa mức độ sử dụng Internet và các vấn đề sức khỏe tâm thần
của học sinh trung học cơ sở Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội,
29(2):34-42
11 Unicef (2017) Làm cho thế giới công nghệ số an toàn hơn cho trẻ
em – đồng thời tăng cường khả năng tiếp cận trực tuyến nhằm mang lại lợi ích cho những em thiệt thòi nhất URL: https://uni.cf/3iIEX2B
12 Lê Minh Công (2013) Tình trạng nghiện internet ở học sinh
trung học cơ sở tại Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Y tế
Công cộng, 28(28):70-78
13 Lam LT (2015) Parental mental health and Internet Addiction in
adolescents Addictive Behaviors, 42(1):20-23
14 Kuss DJ, Van Rooji AJ, Shorter GW et al (2013) Internet
addiction in adolescents: Prevalence and risk factors Computers
in Human Behavior, 29(5):1987–1996
15 Yusof SHM, Othman SH (2018) The Cyberpsychology Factors
of Internet Addiction among School Teenagers International
Journal of Innovative Computing, 8(3):31-37
16 Bhagat G, Sehgal M (2011) The relationship of parental bonding
and internet addiction Indian Journal of Psychological Scienc,
2(2):29-37
17 Floros G, Siomos K (2013) The relationship between optimal parenting, Internet addiction and motives for social networking
in adolescence Psychiatry Research, 209(1):529–534
18 Tichon J, Shapiro M (2003) The Process of Sharing Social
Support in Cyberspace Cyberpsychology & Behavior, 6(2):161-170
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 01/02/2021 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2020