Trong các bài viết nghiên cứu về văn hóa của dân tộc Thái nói chung và ẩm thực của dân tộc Thái nói riêng, chưa có một đề tài nào nghiên cứu sâu về các món ăn có giá trị và chức năng giả
Trang 1Tiểu luận
CÁC MÓN ĂN GIẢI NHIỆT TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI THÁI Ở HUYỆN THƯỜNG XUÂN, TỈNH THANH HÓA
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Dân tộc Thái có mặt ở Việt Nam từ hàng trăm năm trước, họ có nhiều kinh nghiệm đắp phai, đào mương, dựng cọn, bắc máng lấy nước làm ruộng nên trong dân gian thường truyền câu ca ''Xá ăn theo lửa, Thái ăn theo nước'' Một trong những đặc trưng nổi bật của dân tộc Thái là văn hóa ẩm thực Dân tộc Thái ưa thích vị đậm đà của món nướng được chế biến từ thịt của các loại động vật như: trâu, bò, cá, gà, và đặc biệt là các món ăn giàu chất dinh dưỡng Chính vì thế, trong các bữa ăn của người Thái thường không thể thiếu các món ăn giải nhiệt chế biến từ các loại rau rừng, là các món ăn lạ miệng và được xem như loại thảo dược có tác dụng chữa bệnh đường ruột, chống đầy hơi, tiêu mỡ và giải rượu trong ngày hè nóng nực và trong các dịp
lế tết,hội hè
Trong các bài viết nghiên cứu về văn hóa của dân tộc Thái nói chung và
ẩm thực của dân tộc Thái nói riêng, chưa có một đề tài nào nghiên cứu sâu về các món ăn có giá trị và chức năng giải nhiệt Vì vậy, “Các món ăn giải nhiệt truyền thống của người Thái ở huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa là đề tài
mà em lựa chọn cho bài nghiên cứu của mình Qua bài viết này, người đọc có thể hiểu thêm về văn hóa ẩm thực đa dạng của dân tộc Thái Ngoài ra, tìm hiểu về ẩm thực của người Thái ở huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa là một việc thiết thực, có ý nghĩa quan trọng về mặt khoa học và thực tiễn góp phần nghiên cứu văn hóa tộc người, bảo lưu, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
2 MỤC ĐÍCH VÀ Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Nghiên cứu về ẩm thực của dân tộc Thái không phải là một đề tài mới Tuy nhiên, các món ăn giải nhiệt truyền thống của người Thái lại chưa được một nghiên cứu nào khai thác sâu Trong giai đoạn đổi mới đất nước hiện nay,
sự mở cửa của nền kinh tế thị trường, sự du nhập và giao thoa văn hóa, sự
Trang 3thay đổi của môi trường xã hội, sự xen kẽ giữa các tộc người, quá trình giao lưu văn hóa với các vùng khác đặc biệt là sự thay đổi trong phương thức canh tác truyền thống đã có ảnh hưởng rất lớn tới nền văn hóa ẩm thực bản địa của người Thái
Với nguồn tư liệu của bài tiểu luận do chính em đã tìm hiểu,nguồn tư liệu từ địa chí của địa phương, tài liệu tham khảo, đã góp phần tìm hiểu rõ về nguồn gốc, vai tròcủa các món ăn giải nhiệt trong ẩm thực của người Thái ở huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa Cụ thể, đề tài không chỉ tìm hiểu về văn hóa ẩm thực, về các món ăn giải nhiệt của người Thái ở một địa phương
cụ thể ở khía cạnh văn hóa mà còn ở khía cạnh thuộc lĩnh vực y học Qua đó,người đọc có thể hiểu rõ hơn về văn hóa Thái và trình độ phát triển của một bộ phận nhỏ người Thái sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
- Đối tượng nghiên của đề tài:
Đề tài tập trung nghiên cứu về các món ăn giải nhiệt truyền thống của người Thái ở huyện Thường Xuân,tỉnh Thanh Hóa qua các vấn đề: cách chế biến các món ăn, công dụng đặc biệt của các món ăn, những biến đổi của cách chế biến món ăn truyền thống, những câu chuyện văn hóa về nguồn gốc của các món ăn
- Phạm vi nghiên cứu:
Thời gian: từ năm 1837 đến nay
Không gian: người Thái ở huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Vận dụng phương pháp điền dã Dân Tộc Học như: tham gia khảo sát trên địa bàn, quan sát thực tế, quay phim chụp ảnh, phỏng vấn sâu
- Tổng hợp, phân tích tài liệu: so sánh, xử lí thông tin
- Phương pháp luận: Vận dụng quan điểm của đảng trong nghị quyết
TW V khóa VII của Đảng về việc bảo tồn và phát huy những gía trị văn hóa
Trang 4CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI THÁI
Ở HUYỆN THƯỜNG XUÂN, TỈNH THANH HÓA 1.1 Điều kiện tự nhiên, lịch sử của huyện Thường Xuân, Thanh Hóa
1.1.1 Điều kiên tự nhiên
1.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Thường Xuân là một huyện miền núi thuộc tỉnh Thanh Hóa, cách thành phố Thanh Hóa 55 km về phía Tây, với diện tích tự nhiên là: 1.105,05 km², Thường Xuân hiện là huyện rộng nhất tỉnh Thanh Hóa Vị trí địa lý của huyện khá thuận lợi: phía Bắc giáp huyện Lang Chánh, Ngọc Lặc, phía Tây giáp tỉnh Nghệ An và tỉnh Hủa Phăn của Lào, phía Đông giáp huyện Thọ Xuân; phía Nam giáp huyện Triệu Sơn, Như Xuân và Như Thanh
Địa hình toàn huyện thấp dần từ Tây Bắc và Tây xuống khu vực phía Đông và Nam Có nhiều dãy núi cao như Chòm Vịn xã Bát Mọt cao 1.442m
so với mặt nước biển Địa hình bị chia cắt bởi các sông như sông Khao, sông Chu, sông Đặt, sông Đằn Có nhiều đối bát úp, đất nông nghiệp nhỏ lẻ
Trang 5là dân tộc có số dân đông nhất trong Huyện: 44.72 người, chiếm 52%
Dân tộc Thái là dân tộc vốn có truyền thống lâu đời, có vốn văn hóa dân gian phong phú gắn liền với sự hình thành, phát triển và nuôi dưỡng tộc người
từ thuở ban đầu Trong kho tàng đó phải kể tới nền ẩm thực truyền thống đa dạng và mang đậm tri thức dân gian của dân tộc qua các bài thuốc chữa bệnh, các món ăn giải nhiệt
1.1.2 Môi trường lịch sử,
Thường Xuân là huyện miền núi nằm ở phía Tây tỉnh Thanh Hoá, được thành lập năm 1837 (năm Minh Mạng thứ XVIII) với tên gọi Châu Thường, sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đổi tên là huyện Thường Xuân Huyện
có chung đường đường biên giới với huyện Sầm Tớ, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào Vùng đất cổ Thường Xuân từ ngàn xưa được 3 dân tộc Thái, Mường, Kinh cùng đoàn kết gắn bó với nhau trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, xây dựng nên bề dày truyền thống văn hoá son sắc, thuỷ chung, thương người - vì nghĩa và tình yêu quê hương đất nước Những truyền thống tốt đẹp ấy kết thành vùng đất "Thiên thời, địa lợi, nhân hoà", vùng đất đã từng được các bậc quân vương chọn làm hậu cứ, chiêu tập
Trang 6hiền tài để kháng chiến chống giặc ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc
Năm 2012, huyện Thường Xuân tròn 175 năm (1837 - 2012) Với truyền thống văn hoá, truyền thống lịch sử vẻ vang của ông cha trên vùng đất đã từng chịu nhiều gian khó nhưng rất đỗi hào hùng - truyền thống tốt đẹp của nhân dân các dân tộc Thường Xuân Một vùng "địa linh" của núi rừng quê Thanh anh hùng bất khuất; sẽ là điểm đến hấp dẫn du khách ở khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên kỳ thú và công trình thuỷ lợi - thuỷ điện Cửa Đạt - công trình trọng điểm Quốc gia đã hoàn thành Nhiều di tích văn hoá hấp dẫn khác như: Lũng Nhai - nơi diễn ra hội thề của 18 tướng lĩnh cùng Bình Định Vương Lê Lợi quyết tâm chống giặc Minh thế kỷ XV, Đền Cầm Bá Thước, Đền Mẫu chúa Thượng ngàn và quần thể khu di tích cách mạng trên đất Thường Xuân Thường Xuân là một vùng đất cổ, đã qua quá trình hình thành
Ấn Độ Theo tổng điều tra dân số và nhà ở của tổng cục thống kê năm 1999, người thái ở nước ta có 1.328.725 người, sinh sống chủ yếu ở các tỉnh Sơn
La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An…Người Thái ở Thanh Hóa là một bộ phận của người Thái ở Việt Nam sinh sống chủ yếu ở Thường Xuân, Mường Lát, Quan Hóa, Quan Sơn, Bá Thước, Lang
Chánh…
Theo ý kiến của một số nhà nghiên cứu cho rằng, rất có thể người Thái
đã có mặt trên mảnh đất của mình thuộc lưu vực sông Chu, sông Mã Trong thời kì Bắc thuộc, người Thái đã nhiều lần nổi lên chống lại các quan lại phong kiến Trung Quốc sang cai trị nước ta Bị đàn áp, người Thái phải chạy
Trang 7ngược theo các dòng sông lên miền núi cao thượng nguồn lập bản mường mới ví dụ người Thái có Mường ôm, Mường Ai nằm ở vùng đầu nguồn sông hồng được coi là mường tổ tiên của người Thái ở đó có câu:
“Mường Ống lái khoai
Mường Ái lái mó, viếng
Nghĩa là:
Mường Ống nhiều trâu
Mường Ái nhiều nồi, miếng.”
Trong quá trình lịch sử, người Thái ở Thanh Hóa đã nhiều lần tiếp nhận các cụm di dân từ Tây Bắc vào, và di chuyển vào phía Nam Ở vùng Thường Xuân, lang đạo họ Cầm dẫn người di cư từ Tây Bắc qua địa phận Lào vào lập nghiệp dọc theo sông chu, lấy Chiềng Vạn làm nơi trung tâm, dến đời cầm Bá Thước là đời thứ 13
Theo khảo sát thực tế bộ phân người Thái ở Thường Xuân có tiếng nói, thần thoại, cổ tích đặc biệt là trò chơi dân gian phong phú Họ tự ý thức được rằng phía dưới có người kinh ( keo), phía trên có người Lào, người Xá Ở Thường Xuân không phân biệt về Thái Đen và Thái Trắng mà chỉ phân biệt giữa Tay Dọ và Tay Mươi Như vậy về mặt lịch sử, người Thái ở Thanh Hóa được hình thành và phát triển từ một nhóm Tày cổ bản địa, trải qua nhiều biến cố lịch sử, được bổ sung thêm một phần từ nhiều địa phương phía Bắc vào,
đã tạo nên bản sắc riêng vừa mang đặc trưng Thanh Hóa, vừa phản ánh cộng đồng người Thái nói chung
1.2.2 Đặc điểm văn hóa truyền thống
1.2.2.1 Văn hóa mưu sinh
Hình thành kinh tế tập thể, tình hình kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, tự cấp tự túc Nghề sống chính là làm ruộng, làm nương rẫy, chăn nuôi gia súc, gia cầm kết hợp với khai thác nguồn thức ăn trong tự nhiên ( thịt rừng, cá nước, rau trời một số vật phẩm có giá trị như đại gia súc ( trâ, bò, ngựa…)
Trang 8thổ cẩm mỹ nghệ mang bán hoặc trao đổi, các loại dụng cụ lao động và dụng
cụ sinh hoạt như đồ gốm, đồ đồng, đồ sắt và muối
Là cư dân vốn có truyền thống trồng lúa nước từ lâu đời đã tích lũy được vốn kho tang kinh nghiện trông lúa về nước, phân, cần, giống đặc biệt chú ý
về các biện pháp thủy lợi,thời vụ và phòng trừ sâu, chuột phá hoại nổi tiếng với hệ thống mương, phai, lái lị Người ta quen với quan niệm về một cuộc sống ổn định là “Tắng chặng kin pà, phứa na kín kháu” (chặn nước ăn cá, làm ruộng ăn cơm) bản người Thái định cư ở vùng thung lũng chân núi Con trâu
là loại gia súc chủ yếu, vừa dùng để cày bừa, làm thịt, cúng tế, vừa bán lấy tiền trước đây người Thái chỉ làm ruộng mỗi năm một vụ, vào vụ mùa (tháng năm đến tháng mười) về sau do nhu cầu lương thực tăng, người Thái đã làm ruộng mỗi năm hai vụ để đáp ứng nhu cầu lương thực, trong đó ruộng thấp canh tác quanh năm, ruộng cao, bậc thang chỉ một vụ sản phẩm nông nghiệp tương đối phong phú, có nhiều giống lúa trồng ở ruộng và nương
Nghề làm nương, phổ biến là phương pháp quảng canh và xen canh.Người Thái rất quan tâm đến việc tìm tòi giống, các loại giống trồng đều được người Thái kế thừa từ người Mường, người Khơ mú, người Lào
Các nghề thủ công truyền thống phổ biến nhất là nghề thêu dệt thổ cẩm, đan lát, chặt đẽo bằng dìu,dao Nghề dệt thổ cẩm đẫ tổng hợp được phần lớn
kỹ thuật và hoa văn của người Thái vùng Tây Bắc, sản phẩm dệt là váy, áo, chăn, túi, khăn, chăn màn, gối, đệm của hồi môn cho cô dâu về nhà chồng Đối với người con trai Thái khi lớn lên phải học công việc đầu tiên là đan lát bằng các vật liệu như tre, nứa, mây, giang các vật dụng như giỏ đeo, sọt gánh, nong, nia, ép cơm,thúng mủng
1.2.2.2 Văn hóa vật chất
Trong năm có 4 tháng kiêng kỵ cưới vợ, gả chồng, làm nhà, khai ruộng
là tháng giêng, tháng tư, tháng bảy và tháng 10 (âm lịch)
Trong sinh hoạt hàng ngày người Thái ăn cơm nếp, ở nhà sàn, phụ nữ mặc áo ngắn ( xứa cóm), váy dài có thêu hoa văn, có phần đầu váy trùm lên
Trang 9trên ngực, khăn đội đầu màu đen thêu hoa văn ở hai đầu trước đây phụ nữ nhuộm răng đen, ăn trầu
Nhà sàn cột chôn hoặn cột kê tảng, thường là số gian lẻ (3.4.7 gian), bắc thang lên hai đầu.trong nhà có một vách ngăn ở giữa phần sinh hoạt của phụ
nữ và đàn ông Bàn thờ thường đặt trên đầu sàn có vách ngăn không để cho khách nhìn thấy nhà có hai bếp lửa để sưởi ấm và nấu nướng, đồng thời cũng
là nơi khách ngồi tạm trước khi chủ săp xếp chiếu ngồi trong nhà có hai cây cột quan trọng khi dựng phải làm thủ tục cúng tế, đó là cây cột dựa bàn thờ
ma nhà (gọi là xáu hóng) và cây cột dựa bếp chính ( gọi là xáu tau)
Nhà sàn ở Thanh Hóa nói chung không có khau cút ở đầu nóc như Tây Bắc xà dọc chạy suốt chiều ngang không bị cắt cụt hướng nhà thường dựa vào thế núi , quay cửa sổ nhìn thẳng về chỗ thấp, gốc cây dầm sàn quay về phía đầu người nằm
Ở trên nhà sàn thường có những kiêng kỵ không ngồi trên bậc cửa ra vào, thả chân xuống cửa sổ, nằm ngang sàn Khách đến nhà phải lên thang giành cho giới tính, không được tự ý qua lại gian nhà khác giới
Trong tập quán sản xuất thì bằng kinh nghiệm quan sát thiên nhiên để dự đoán thời tiết như: nghe tiếng sấm động đầu năm, người ta có câu:
“Phạ họng húa xăm pénh xá
Phạ họng húa má pénh xiêm”
Nghĩa là:
Sấm động đầu nguồn sông Chu, sửa gác lúa
Sấm động nguồn sông Mã, sắm sửa củ mài
Tập quán xem ngày, xem tháng định ngày gieo trồng, làm nhà cưới vợ,
gả chồng.người Thái trước đây có cách tính lịch riêng Người ta phân ra 8 loại ngày, nằm trong hai vòng ứng với những điều may rủi đó là những ngày: kim
xa, xướm xa, cân xa, khóa ngàng, cân trong, xướm trong, kim trong và khóa
đỏ Trong các ngày đó có ngày khóa ngàng kỵ làm các việc mang tính chất khởi đầu như dựng nhà, cấy lúa, lấy vợ…người ta có câu:
Trang 10“Cấy lúa không cấy khóa ngàng
Đi đàng không đi ngày khóa đỏ.”
1.2.2.3 Văn hóa xã hội
Trước năm 1945, xã hội người Thái tồn tại dưới hình thức mường bản.bản là đơn vị quần cư ổn định theo ruộng nước, có từ năm bảy đến hàng trăn nóc nhà Bản có tên gọi riêng, có một người là đạo bản hay quan bản quan lí Nhiều bản trong một khu vực địa lý, thường là trong một thung lũng
có quan hệ gắn bó về mặt huyết thống, kinh tế, văn hóa hợp thành một mường
Thành phần xã hội trong mường được chia làm ba tầng lớp:
- Tầng lớp trên cai quản toàn bộ lãnh thổ và dân mường là nhà Tạo mỗi mường, mỗi poọng, mỗi bản có một gia đình, dòng họ cha truyền con nối tạo mường, tạo poọng có ông mụ trông coi về việc hành chính, lễ lạt và các công việc cưới xin, tang ma, thờ cúng nhà tạo tạo mường có quyền sinh, quyền sát được luật lệ cho phép và hưởng nhiều quyền lợi kinh tế về sở hữu đất đai, tài nguyên, sức lao động và cống nạp
- Tầng lớp đông đảo nhất là dân mường, tiếng Thái gọi là phú hay Đó
là những gia đình nông dân có tài sản, ruộng đất riêng, có quyền khai thác các nguồn lợi tự nhiên
- Cuối cùng là một số ít người do bị phạt tội hay sa cơ lỡ vận làm tôi đòi, đầy tớ trong các nhà tạo, tiếng Thái gọi là Ệt khói
Đối với bản người mường trong sinh hoạt hàng ngày, láng giềng có thể thay thế nhà chủ trông nhà, tiếp khách khi chủ đi vắng, các nhà gần nhau thường xuyên qua lại với nhau Những người có chức sắc khi tham gia các hoạt động cộng đồng cũng phải thực hiện các quy định chung, bình đẳng như nhau, nếu vi phạm phải chịu phạt và xin lỗi
Con cháu rất tôn trọng ông bà, cậu mợ bên ngoại: khi có việc quan trọng phải xin ý kiến quyết định của bên ngoại khách đến nhà, chủ nhà phải lên tiếng chào trước, người ta quan niệm người nhà chủ là người có trách nhiệm
Trang 11nếu khách là con gái từ mường xa đến, trai làng có thể đến chơi, hỏi thăm, uống rượu cần và hát giao duyên với nhau
Trong hôn nhân: người Thái thực hiện chế độ hôn nhân một vợ một chồng theo chế độ phụ quyền từ lâu đời người Thái ở Thường Xuân duy trì hình thức ở rể có thời hạn phổ biến đôi trai gái yêu nhau và muốn đi đến hôn nhân thì ngầm bố trí một cuộc trộm vợ và khi đến nhà trai phải thực hiện một loạt các nghi thức nhưng phải sếp đặt gọn nhẹ, im lặng
Các thủ tục ăn hỏi, cưới xin được thực hiện đơn giản: au khoán, ăn hỏi,
đón dâu.Phong trong sinh đẻ: người Thái quan niêm sinh đẻ là việc riêng của
phụ nữ, đàn ông không được đến gần, khách đến trong khi nhà có người sinh thì phải tránh đi nơi khác Khi đứa trẻ chào đời, các bà đặt bé vào một cái nia hắt lên, hắt xuống ba lần để báo cho Mẹ Bảu trên trời biết đứa trẻ đã được làm người, sau đó dùng lách nứa cắt rốn
Sau sinh xong, hai mẹ con nằm cữ, bên cạnh bếp lửa, ăn cơm lam, uống nước thuốc, chườm lá vào lưng Sau ba ngày ttor chức ra cử (ooc phay).người Thái không có lễ đặt tên riêng, nhưng mỗi đời người được gọi tên nhiều lần : tên khai sinh(tên tục), tên trai, gái( gọi theo tên em, tên cháu),tên bố mẹ( gọi theo tên con), tên ông bà (gọi theo tên cháu)
Phong tục trang tang ma: người ta dùng cồng để báo hiệu có người
sắp chết, đánh một hồi ba tiếng là báo hiệu cho con cháu Một hồi không tiếng gọi con cháu về gấp ba hồi không tiếng, báo cho bản biết người nhà đã chết
Việc khâm liệm được tiến hành theo các thủ tục: tắm rửa bằng nước lá thơm, thay quần áo mới, lấy sợi chỉ buộc ngón chân cái và ngón tay cái chôn cất xong Mộ của người Thái tập trung tại một nghĩa địa của bản Khi chôn đầu quay về phía núi, chân phía nước, để tang và kèm theo những kiêng kị chung của bản
Người Thái không có tục làm giỗ ngày mất, chỉ khi nào làm lễ tết hoặc
có việc đột xuất mới thờ cúng ma nhà
Trang 121.2.2.4 Văn hóa tinh thần
Trước đây, do địa hình chia cắt, đường sá đi lại khó khăn, đặc điểm kinh
tế nông nghiệp tự cấp tự túc, vì vậy đời sống kinh tế cũng mang đặc điểm tự cấp tự túc, phạm vi hoạt động khíp kín trong mường tuy nhiên do ý thức truyền thống dân tộc, bản chất giao lưu của văn hóa và các mối quan hệ tình cảm đã hình thành những nét chung về đời sống văn hóa tinh thần của người Thái ở Thường Xuân là:
- Giữ được và phát huy những đặc trưng cơ bản của cộng đồng người Thái như: văn học dân gian, các hình thức sinh hoạt văn nghệ, sử dụng chữ Thái trong mọi mặt đời sống như chữ phổ thông
- Hệ thống văn học dân gian mang tính dị bản hoặc xuất xứ tại đại phương có địa danh và đặc điểm đời sống xã hội của từng vùng Một số tác phẩm văn họcViệt được sáng tác tại địa phương viết về đề tài địa phương Như Khăm Panh, Tư Mã Hai Đào, Ót Mọt Ót Đanh Khặp Hiến Pú Le, Khặp Vào Pha Dua…
Có đặc điểm riêng về tiếng địa phương, các làn điệu dân ca, tiết tấu nhạc cụ.làn điệu khắp ơi khỏe khoắn, vang vọng trong vùng sông núi như một điệu
hò, khặp son láy tỉ tê, tha thiết khi đối đáp giao duyên trên nhà sàn, ru con đằm thắm
Tín ngưỡng: cơ sở hình thành các hoạt động tín ngưỡng của người
Thái là quan niêm về thế giới ba tầng: trời, đất, nước và mọi vật có linh hồn trong điều kiện sản xuất nông nghiệp chưa chế ngự được thiên nhiên, cuộc sống còn nhiều mối đe dọa giải thích về sự hình thành trời, đất người, vạn vật người Thái có bài ca “ tách nặm, tách đin” Gần giống như trường ca “ Đẻ đất
đẻ nước” của người Mường.Tiếp theo, loài người tiếp tục đấu tranh vượt qua nhiều thử thách như bắn chin mặt trời để tránh khỏi khô hạn, gọi mặt trời lên
để có ánh sáng, học cách tạo ra lửa để khỏi ăn sống nuốt tươi, lên trời xin các loại giống, các thứ nghề, xin chữ viết…
Trang 13Các nhân vật huyền thoại như Then, Ái Tà Đằm, Tà Đanh, Lang Cặp, Lang Kè, bảy an hem Ẵm Ếch làm ra lửa… được người xưa tôn làm những bậc thần tối cao, thờ cúng hàng năm Trong đó, Then ( ở Mường Trời) được coi là thần tối cao nhất Then có những người giúp việc lien quan đến số mệnh, sinh tử của con người, được người Thái cầu cúng như: Mé Bán, Phi Chướng, Then Cặp Then Cóng…
Các loại ma, loại thần có nguồn gốc thiên nhiên đều xoay xung quanh truyền thuyết về đẻ đất, đẻ nước quan niệm tiếp theo là con người có linh hồn người Thái cho rằng mỗi con người có một cái bóng vô hình, lởn vởn bên ngoài cơ thể, chỉ nhận thấy được trong giấc mơ Người ta gọi là vía hay linh hồn, tiếng Thái gọi là Phi Khoắn Phi Khoắn tồn tại bất tử, có trước thân xác Mẹ Báu, vị thần trông coi về việc sinh đẻ và trẻ em, cho linh hồn từ trên trời xuống, đầu thai vào cơ thể mẹ, sinh ra con người khi người chết, linh hồn được thầy mo hướng dẫn lên trời trình báo rồi trở lại ngự trị ở bàn thờ và nghĩ địa, trở thành ma nhà ( Phi Hươn) che chở cho con cháu Nếu Phi Khoắn người chết không được làm ma, không có ông mo hướng dẫn thì sống lang thang và trở thành ma có hại
Về tín ngưỡng kiêng kỵ và thờ cúng các loài vật tổ ( tô tem) gắn với từng dòng họ mỗi dòng họ có một câu chuyện để giải thích Họ Kha (Hà) kiêng đánh bắt và ăn thịt chim cột kha Họ lộc kiên, thờ ông cọp.họ ngân kiêng ăn
cá, lươn, và rùa Họ lò kiêng chim Ú Lo…
Người những hình thức thờ cúng, kiêng kỵ, ngườ thái xưa còn có một số cách thể hiện khác phản ánh nhận thức thế giới của họ:
Hiện tượng nhật thực cho là hến đớp mặt trời, nếu không hả ra thiên hạ
sẽ tối tăm mù mịt.hiện tượng nguyệt thực người ta cho là ếch ăn mặt trăng Khi xuất hiện những hiện tượng đó, dân bản khua trống, gõ long (máng giã gạo), khua chiêng, đáng mõ, bắn súng nỏ lên trời, huyên náo cả gầm trời nhằm giải thoát cho mặt trăng, mặt trời
Trang 14Tín ngưỡng của người Thái trong các bản mường phản ánh trình độ nhận thức sơ khái về vũ trụ, thiên nhiên và ước mơ, nguyện vongjcos cuộc sống yên ổn, khỏe mạnh, làm ăn thuận lợi, phát triển nòi giống, bằng phương pháp
tư duy tưởng tượng và hình thức phản ứng tượng trưng Tín ngưỡng chi phối
tư duy,hành vi mỗi người góp phần hình thành phong tục tập quán địa phương
Tôn giáo: người Thái chưa duy trì hoạt động của một tôn giáo chính
thống nào Nói đến tôn giáo phải kể đến các giáo lý, giáo hội, cơ sở thờ tự và tín đồ Từ xưa mặc dù có một số hoạt động truyền bá đạo Phật và Thiên chúa
từ bên ngoài vào, nhưng chưa đủ hình thành tổ chức và hoạt động tổ chức tôn giáo trên địa bàn cư trú của người Thái
Lễ hội: trong điều kiện sản xuất nông nghiệp cá thể ở miền núi, hàng
ngày người dân bản cặm cụi, âm thầm bên công việc của gia đình, do đó rất khát khao mong muốn có những dịp sinh hoạt để giao lưu, gặp gỡ, thổ lộ tình cảm của mình xuất phát từ bản chất trong sáng, hồn nhiên, vô tư người Thái rất lạc quan, yêu đời cuộc sống ít va chạm xã hội, mâu thuẫn ít gay gắt, chưa
bị ảnh hưởng bởi tham vọng và các thủ đoạn bất nhân, cho nên các hoạt động tập thể luôn mang đến cho người ta sự đồng cảm, tự do, giao lưu học hỏi tính chất dân chủ cộng đồng còn khá đậm nét: quyền lực xã hội, tôn giáo, thần quyền chưa can thiệp sâu vào đời sống văn hóa, tạo ra tâm lý thoải mái không
bị ràng buộc dể này sinh ngẫu hứng sáng tạo, hòa nhập cộng đồng đó là cơ sở nảy sinh các hoạt động văn hóa cộng đồng đó là những sinh hoạt văn hóa lấy nội dung làm căn cứ để sáng tạo ra các hình thức thể hiện phong cách, điều kiện của từng địa phuowng, các nội dung sinh hoạt theo nghi thức và tín ngưỡng trong bản, mừng như mở đầu một vụ gieo trồng, mừng kết quả mùa màng, cầu trời đất cho mưa thuận, gió hòa, cầu sức khỏe, ghi ơn những người
có công xây dựng bản mường, giữ gìn đất nước, mừng công ban thưởng… thu hút hầu hết các thành viên cộng đồng tham gia.tùy theo điều kiện địa lý, hoàn cảnh kinh tế, số lượng và mật độ dân cư mà các hoạt động tập thể có quy mô
Trang 15lớn, nhỏ khác nhau Trong phạm vi một bản thông thường chỉ tổ chức các nghi thức tín ngưỡng kêt hợp với vui chơi, giải trí tự do, tùy hứng vào những
kỳ nông nhàn và khi tết đến xuân về
Tại Mường Dôn lễ hội tổ chức tại Chiềng Vạn, thờ ba địa điểm: nhà thần Mường, thần vua Lê và nhà thờ dòng họ Cầm ( Cầm Bá Thước)
Các lễ hội trong năm cũng rất phong phú mang tính cộng đồng, tết nguyên đán là tết mừng năm mới thường được đồng bào tổ chức ăn tết to nhà nào cũng mổ lợn cũng như người Việt và một số dân tộc khác đều gói bánh trưng, ngoài ra đồng bào còn có thêm bánh ít, bánh rán Vào ngày mùng một tết nhà nào cũng mời ông mo đến làm lễ
Ngoài ra còn một số nghi lễ khác: trong chu kỳ đời người đó là các nghi
lễ trong và sau khi sinh đẻ, cưới xin, tang ma.và lễ hội của cộng đồng như Kin chiêng óc mạy, Xin Na( Thượng Điền), Làm cụm hay xin bản, xin mường
Trang 16CHƯƠNG 2: CÁC MÓN ĂN GIẢI NHIỆT TRUYỀN THỐNG
CỦA NGƯỜI THÁI Ở HUYỆN THƯỜNG XUÂN,
TỈNH THANH HÓA 2.1 Dấu ấn thiên nhiên trong văn hóa ẩm thực của người Thái ở huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa
2.1.1 Thiên nhiên trong đời sống mưu sinh
Từ xa xưa, người Thái có kinh nghiệm lập mường, lập bản dọc theo các con sông, suối thuận lợi cho nghề canh nông phát triển “ Táy kin nậm” hoặc “ o lóc có noong xoong hươn có bản” Nghĩa là: Người Thái ăn theo con nước; một vũng nhỏ cũng là ao, hai nhà cũng là bản Gắn liền với những kinh nghiệm lập bản là những kinh nghiệm quý được coi là vốn sống của đồng bào Thái như : Đắp mương đắp đập : Làm cọn nước ( xe hàn ) đưa nước về ruộng sản xuất, về bản sinh hoạt hằng ngày Điều đó chứng tỏ họ là những cư dân nông nghiệp canh tác cây lúa nước từ lâu đời nay Tuy nhiên, lúa nếp luôn là lương thực chính trong các bữa ăn hằng ngày của người dân tộc Thái
Ngoài việc trồng lúa , đồng Thái cũng trồng ngô, khoai, sắn, rau màu các loại Và nghề rừng, nghề dệt thủ công lâu này đã tạo thêm nhiều nguồn lợi sống quan trọng cho người Thái Trong các nghề thủ công của người Thái được phân định khá rõ : Phụ nữ Thái tinh tế, văn hoa trong công việc dệt thổ cẩm truyền thống; Người đàn ông Thái tinh xảo trong đan lát mây tre, nghề mộc Đặc biệt, những chiếc xuồng độc mộc đuôi én chở hàng hoá vượt thác ghềnh, sông suối đã phản ánh nét riêng khá độc đáo của người Thái - nơi thựơng nguồn các sông suối nói chung
Cũng như người Thái sinh sống ở khu vực khác, văn hóa mưu sinh của người Thái ở huyện Thường Xuân Tỉnh Thanh Hóa cũng gắn liền với thiên nhiên, tạo nên một bản sắc văn hóa riêng
Đặc điểm về ẩm thực của người Thái ở huyện Thường Xuân
a Đồ ăn:
Trang 17Người Thái chủ yếu làm ruộng nước, nhất là những thung lũng lớn Lương thực chính của họ là gạo, xưa kia chủ yếu là gạo nếp Khẩu phần ăn
của họ: “cư dân thung lũng chân núi, ăn xôi đồ từ úa nếp ”; các loại xôi của
họ bao gồm: xôi trắng, xôi đỗ, xôi sắn, xôi nhiều màu sắc Đặc biệt trong tết Xíp Xí (mười bốn tháng bảy) phải có xôi các màu làm lễ vật
Đồ ăn của người Thái phần lớn lấy từ thiên nhiên và sử dụng nguyên liệu
từ thiên nhiên để chế biến Trước đây, các loại thịt thường được người dân lấy được từ việc săn bắn, bẫy thú rừng là nguồn sống chính Ngày nay, họ thường nuôi các loại gia súc, gia cầm để mổ thịt Các loại thịt tươi sống như: thịt trâu, thịt bò, thịt lợn, thịt gà, cá, được sử dụng nhiều
Người Thái ưa cái hương vị đậm đà, giàu chất dinh dưỡng của món nướng Món thịt trâu hoặc bò, cá, gà nướng, Những món này được người Thái tẩm, ướp gia vị rất cầu kỳ Gia vị để ướp là tiêu rừng hay còn gọi là
“mắc khén”, ớt, tỏi, gừng, muối Trước khi đem ướp với thịt, các gia vị cũng được nướng lên cho chín, tỏa mùi thơm Trong mâm cơm của người Thái có nhiều món ăn, mỗi món đều có hương vị đặc trưng Các loại thịt gia súc, gia cầm, hay thủy sản đều có thể nướng Thịt thái miếng, ướp gia vị, dùng xiên hoặc kẹp tre tươi đặt lên than hồng; hoặc thịt băm nhỏ, bóp nhuyễn với trứng, gói lá chuối, lá dong, kẹp lại, nướng trên than đỏ hoặc vùi tro nóng; khi chín, thịt rất thơm, ăn không ngán Món cá nướng hấp dẫn bởi hương thơm của cá,
vị cay của ớt Món “pỉnh tộp” cũng là cá nướng, nhưng thường dùng cá to như chép, trôi, trắm mổ lưng, để ráo nước, xoa một lớp muối rang nổ; tẩm
ớt tươi nướng, nghiền nát, mắc khén, để cá ngấm gia vị, cứng thịt lại rồi đặt lên than hồng Cá chín có vị thơm hấp dẫn, dùng để uống rượu rất độc đáo Sản phẩm cá được người Thái chế biến ra nhiều món ăn khác nhau, đặc trưng
và ngon: cá hấp trong chõ gỗ, người Thái gọi là cá mọ; món “pa giảng” là cá hun khói
Ngoài ra, các món chế biến từ thịt cá, người Thái còn chế biến các món luộc, xào, canh, canh, nộm, Nguyên liệu chế biến chủ yếu lấy từ thiên nhiên
Trang 18qua việc hái lượm, các loại rau được sử dụng như: măng, mộc nhĩ, nấm,củ quả, rêu đá, các loại lá cây và rau rừng
Do đặc thù vùng cao, người Thái thường để dành cá sấy trong bếp Khi
có khách, nhà xa chợ, chưa làm kịp món ăn thì bỏ cá ra nướng lại cho thơm, rót rượu mời khách nhâm nhi Và ở bếp, người nhà tiếp tục chế biến món ăn, tiếp từng món lên đãi khách.Đây là cách giữ chân khách, thể hiện sự hiếu khách của đồng bào vùng cao
b Đồ uống:
Đồ uống của người Thái chủ yếu là các loại rượu Rượu của họ gồm
hai loại chính: rượu cất và rượu cần (lảu siêu và lảu xá) Rượu cần không phải
là đồ uống truyền thống của người Thái mà là loại đồ du nhập qua quá trình giao lưu văn hóa với các dân tộc thuộc nhóm Môn-Khome Gọi là rượu cần vì uống rượu bằngcần, dùng bằng thân mây đã dùi lỗ, số lượng cần cắm ở chinh bao giờ cũng phải số chẵn, tùy thuộc vào lượng người uống: 2,4,6… cần Rượu của người Thái cũng chưng cất, pha chế bằng những nguyên liệu hoàn toàn là tự nhiên Những hũ rượu được ủ bằng thứ men lá của vùng cao Tây Bắc sẽ cho ra loại rượu nồng, êm, dịu và có thể làm say lòng bất cứ ai khi thưởng thức mà không lo bị nhức đầu mà còn tỉnh nhanh Những loại rượu chuối hột, rượu táo mèo, rượu ngâm cây mật gấu… sẽ là món quà tuyệt vời
mà thực khách có thể dùng để tặng người thân và bạn bè để có thể cảm nhận được sự hoang sơ và hiếu khách của vùng núi cao Với những ai không uống được rượu có thể thưởng thức sự mát lành của nước cây khúc khắc có tác dụng bổ máu được pha chế dung hằng ngày như người miền xuôi pha chè
2.1.2 Những kiêng kị trong ẩm thực của người Thái ở huyện Thường Xuân
Người Thái có nhiều kiêng kị trong việc ăn uống, ví dụ như:
Trong bữa cơm, khi gắp thức ăn cho trẻ, người Thái kiêng không gắp chân gà (tin cáy), đầu gà (hua cáy), quả tối táp lưm, vì người Thái quan niệm