1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Quản lý kinh tế: Giải pháp tăng thu ngân sách trên địa bàn huyện Đoan Hùng - tỉnh Phú Thọ

96 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích cơ bản của luận văn này là trên cơ sở nghiên cứu thực trạng thu ngân sách của huyện Đoan Hùng trong những năm qua. Đề xuất những giải pháp nhằm tăng thu ngân sách giai đoạn 2019 – 2021 cho huyện Đoan Hùng – tỉnh Phú Thọ.

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, tác giả đã nhận được

sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, tập thể và cá nhân

Để có được kết quả này, trước hết cho phép tác giả xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu

sắc tới các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Thủy Lợi đã truyền đạt những tri thức

quý báu trong thời gian tác giả được học tập tại trường Đặc biệt, tác giả xin được trân

trọng cảm ơn PGS TS Trần Văn Hòe đã hướng dẫn, tận tình giúp đỡ để tác giả hoàn

thành cuốn luận văn này

Tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo UBND huyện Đoan Hùng, Kho

bạc nhà nước huyện Đoan Hùng, Chi cục thuế huyện Đoan Hùng, Chi cục thống kê

huyện Đoan Hùng, phòng Tài chính - kế hoạch huyện Đoan Hùng đã tận tình giúp đỡ

và tạo mọi điều kiện tốt nhất để tác giả nghiên cứu, thu thập số liệu và thực hiện luận

văn của mình

Cuối cùng, tác giả xin được gửi lời cảm ơn tới tập thể cán bộ lãnh đạo, anh chị đồng

nghiệp, gia đình và bạn bè, những người đã động viên và giúp đỡ tác giả về thời gian,

tinh thần và vật chất trong suốt quá trình tác giả học tập và thực hiện đề tài

Trong quá trình nghiên cứu, vì nhiều lý do chủ quan, khách quan Luận văn không

tránh khỏi những thiếu xót, hạn chế Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng

góp của các thầy giáo, cô giáo và đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày….tháng… năm 2019

Tác giả luận văn

Phạm Thị Lựu

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài “Giải pháp tăng thu ngân sách trên địa bàn huyện Đoan

Hùng - tỉnh Phú Thọ” do PGS.TS Trần Văn Hòe hướng dẫn là công trình nghiên cứu

khoa học của riêng tôi Các tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn có nguồn gốc

trích dẫn, xuất xứ rõ ràng; số liệu nghiên cứu trong luận văn được sử dụng trung thực,

khách quan, khoa học và chưa từng công bố trong các công trình nghiên cứu nào trước

đây

Hà Nội, ngày….tháng… năm 2019

Tác giả luận văn

Phạm Thị Lựu

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH v

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ TĂNG THU NGÂN SÁCH 6

1.1 Ngân sách nhà nước 6

1.1.1 Khái niệm ngân sách nhà nước 6

1.1.2 Vai trò của ngân sách nhà nước 7

1.1.3 Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước 10

1.2 Thu ngân sách nhà nước 12

1.2.1 Khái niệm thu ngân sách nhà nước 12

1.2.2 Đặc điểm thu ngân sách nhà nước 12

1.2.3 Chức năng của thu ngân sách nhà nước 13

1.2.4 Vai trò của thu ngân sách 15

1.2.5 Nội dung thu ngân sách nhà nước 22

1.2.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng thu ngân sách 27

1.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan 30

Kết luận chương 1: 34

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THU NGÂN SÁCH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ 35

2.1 Khái quát vị trí, đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội huyện Đoan Hùng 35

2.1.1 Lịch sử hình thành, vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 35

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 36

2.2 Thực trạng thu ngân sách trên địa bàn huyện Đoan Hùng 37

2.2.1 Thực trạng thực hiện thu và kế hoạch thu qua các năm 37

2.2.2 Phân tích lập kế hoạch thu ngân sách 43

2.2.3 Phân tích tổ chức thực hiện thu ngân sách 45

Trang 4

2.2.4 Đánh giá hiệu quả thu 52

2.3 Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới thu ngân sách trên địa bàn huyện 55

2.3.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện 55

2.3.2 Nhân tố cơ chế, chính sách 56

2.3.3 Nhân tố tổ chức thực hiện thu 57

2.4 Đánh giá chung 59

2.4.1 Những kết quả đạt được 59

2.4.2 Tồn tại và nguyên nhân tồn tại 60

Kết luận chương 2: 75

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG THU NGÂN SÁCH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ 66

3.1 Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện giai đoạn 2019 – 2021 66

3.1.1 Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ 66

3.1.2 Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, những định hướng, mục tiêu ngân sách huyện giai đoạn 2019 – 2021 68

3.2 Một số giải pháp nhằm tăng thu ngân sách trên địa bàn huyện giai đoạn 2019 – 2021 69

3.2.1 Giải pháp nhằm tăng cường, nuôi dưỡng nguồn thu 69

3.2.2 Tăng cường công tác quản lý thu của Chi cục thuế huyện 71

3.2.3 Tăng cường các khoản thu thuế của chính quyền xã, thị trấn 74

3.2.4 Hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách thu ngân sách trên địa bàn huyện 76

3.2.5 Nâng cao hiệu quả các biện pháp tiến hành thu 80

3.2.6 Hoàn thiện bộ máy quản lý thu ngân sách huyện 81

3.2.7 Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm 82

Kết luận chương 3: 83

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 84

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 5

DANH MỤC HÌNH

Hình 2 1 Bản đồ hành chính huyện Đoan Hùng Tỉnh Phú Thọ 35

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2 1 Dân số, lao động và cơ cấu lao động trong các ngành nghề 36 Bảng 2 2 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế 37 Bảng 2 3 Tổng hợp kết quả thực hiện dự toán thu NSNN trên địa bàn huyện Đoan Hùng từ năm 2016 đến năm 2018 40

Bảng 2 4 So sánh kết quả thực hiện thu NSNN trên địa bàn huyện Đoan Hùng từ năm

2016 đến năm 2018 41

Bảng 2 5 Tổng hợp kết quả thực hiện dự toán thu ngân sách huyện Đoan Hùng từ năm

2016 đến năm 2018 42 Bảng 2 6 So sánh kết quả thực hiện thu ngân sách huyện Đoan Hùng từ năm 2016 đến năm 2018 52

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngân sách nhà nước đóng một vai trò vô cùng quan trọng không chỉ đối với sự phát triển kinh tế của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới Vào dịp đầu năm chính phủ mỗi nước đều tổ chức cuộc họp thường niên nhằm tổng kết tài chính đã phân bổ - chi tiêu trong năm vừa qua đồng thời báo cáo về tình hình ngân sách và dự toán phân bổ ngân sách trong năm tới Một trong những vấn đề luôn được đề cập đến là việc tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước Thực tế, các cường quốc kinh tế trên thế giới đều có một chính sách thu ổn định, đồng thời chi tiêu ngân sách hợp lý Điều này thể hiện tầm quản lý vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước

Thu ngân sách nhà nước là hệ thống những quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động các nguồn tài chính để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của mình Do

đó, có thể nói thu ngân sách là một công tác rất quan trọng, nó quyết định việc thực hiện các vai trò của ngân sách nói chung cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến các khoản chi ngân sách nói riêng Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, ngân sách nhà nước luôn phải đối mặt với một thực trạng đó là bội chi ngân sách ở mức thâm hụt lớn Cân bằng cán cân thu – chi là một mục tiêu lớn mà Đảng và nhà nước ta đặt ra Trong những năm qua chính phủ đã đề ra các biện pháp nhằm giảm thiểu, thắt chặt các hoạt động chi ngân sách xong đối với một đất nước đang phát triển như Việt Nam đầu tư của Nhà nước là vô cùng quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng với mục tiêu hội nhập kinh tế quốc tế Đảo bảo cho nhu cầu chi rất lớn thì việc tăng thu ngân sách nhà nước

là cần thiết

Trong bối cảnh chung của đất nước, huyện Đoan Hùng là một huyện miền núi nghèo của tỉnh Phú Thọ với nền kinh tế phát triển chậm, nguồn thu ngân sách còn rất hạn hẹp, thu ngân sách không đáp ứng được nhiệm vụ chi, hàng năm ngân sách tỉnh phải chi bổ sung cân đối từ 80 – 85% nhu cầu chi của huyện Mặc dù, việc quản lý thu ngân sách trên địa bàn huyện đã được chú trọng song việc thu ngân sách và quản lý thu còn

Trang 10

bộc lộ nhiều điểm hạn chế Sau một thời gian tìm hiểu công tác thu ngân sách của huyện Đoan Hùng, tác giả nhận thấy vấn đề bức xúc nóng bỏng trong thời gian qua là

số thu chưa tương xứng với tiềm năng, công tác thu và quản lý thu ngân sách còn thiếu tập trung, chưa thống nhất, nhiều nguồn lực tài chính còn bị bỏ sót chưa được động viên vào ngân sách nhà nước, chính quyền cấp xã và một số đơn vị chưa tập trung cao cho thu ngân sách, coi đó là nhiệm vụ riêng của ngành thuế Việc phát hiện và nuôi dưỡng các nguồn thu, triển khai các biện pháp tăng thu ngân sách trên địa bàn vẫn còn nhiều bất cập cần được giải quyết Xuất phát từ thực tế đó, tác giả lựa chọn nghiên cứu

đề tài: “Giải pháp tăng thu ngân sách trên địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú

Thọ” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng thu ngân sách của huyện Đoan Hùng trong những năm qua Đề xuất những giải pháp nhằm tăng thu ngân sách giai đoạn 2019 – 2021 cho huyện Đoan Hùng – tỉnh Phú Thọ

2.1.2 Mục tiêu cụ thể

Mục tiêu cụ thể của đề tài bao gồm:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thu ngân sách nhà nước và tăng thu ngân sách nhà nước

- Phân tích thực trạng thu ngân sách của huyện Đoan Hùng trong những năm vừa qua

- Đề ra các giải pháp nhằm tăng thu ngân sách của huyện giai đoạn 2019 – 2021

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phát hiện những vấn đề đang đặt ra trong thu ngân sách của huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ;

- Tìm các giải pháp để giải quyết các vấn đề đang đặt ra nhằm tăng thu ngân sách cho huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ

Trang 11

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những chính sách về thu ngân sách nhà nước, đặc biệt là những chính sách liên quan đến thu ngân sách cấp huyện; Thực trạng thu ngân sách tại huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ và những vấn đề đặt ra cần giải quyết

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp thu thập số liệu

Những số liệu trong đề tài phục vụ cho nghiên cứu chủ yếu là số liệu thứ cấp nhằm nghiên cứu, phân tích, phản ánh về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tình hình thực hiện thu ngân sách của huyện được thu thập từ sách báo, tạp chí, các trang web, các báo cáo của các phòng, ban, ngành của huyện

Thu thập thông qua báo cáo quyết toán thu ngân sách hàng năm của UBND huyện, tài liệu về tình hình phát triển kinh tế - xã hội huyện trong những năm vừa qua, chủ yếu dựa trên những nội dung về tình hình tăng trưởng chung của nền kinh tế, cơ cấu thành phần, tốc độ tăng trưởng của một số ngành, lĩnh vực kinh tế để tiến hành nghiên cứu 4.2 Phương pháp phân tích dữ liệu

4.2.1 Phương pháp phân tích thống kê

Sau khi cập nhật, tiến hành phân tích thống kê, tổng hợp thống kê, tính toán các loại số tuyệt đối, tương đối, bình quân, các chỉ số Sử dụng các chỉ số đó để so sánh và phân

Trang 12

tích nhằm đánh giá được các nhân tố ảnh hưởng tới thu ngân sách, những hạn chế, tồn tại trong công tác thu ngân sách trên địa bàn huyện Đoan Hùng trong thời gian qua

4.2.2 Phương pháp phân tích so sánh

Đây là phương pháp được áp dụng phổ biến, so sánh trong phân tích là đối chiếu các chỉ tiêu kinh tế bao gồm so sánh việc thực hiện các chỉ tiêu thu ngân sách so với kế hoạch đề ra để xác định xu hướng biến động của các chỉ tiêu, kết quả việc thực hiện công tác thu ngân sách hàng năm Trên cơ sở đó có thể đánh giá được một cách khách quan thực trạng thu ngân sách của huyện, từ đó đưa ra các giải pháp tăng thu ngân sách nhằm đạt hiệu quả tối ưu

4.2.3 Phương pháp phân tích dãy số biến động theo thời gian

Sử dụng các chỉ số tăng trưởng, chỉ số phát triển để phân tích sự biến động của thu ngân sách huyện Đoan Hùng theo thời gian nhằm tìm ra nhân tố thúc đẩy và nhân tố cản trở cho việc tăng thu ngân sách của huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Luận văn vận dụng những lý luận cơ bản về ngân sách nhà nước và thu ngân sách nhà nước để phân tích, đánh giá thực trạng công tác thu ngân sách trên địa bàn huyện Đoan Hùng - tỉnh Phú Thọ Từ đó đề ra quan điểm, giải pháp nhằm tăng thu ngân sách trên địa bàn huyện trong thời gian tới

Với kết quả nghiên cứu đó, luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc lãnh đạo, điều hành, quản lý ngân sách tại địa phương, đặc biệt trong lĩnh vực thu ngân sách, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ chi, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội của huyện

6 Kết quả dự kiến đạt được của đề tài

Đề tài làm rõ những vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn của ngân sách nhà nước và thu ngân sách nhà nước Đánh giá thực trạng thu ngân sách nhà nước của huyện Đoan Hùng, phát hiện ra các vấn đề, nguyên nhân của vấn đề và kiến nghị một số giải pháp nhằm tăng thu ngân sách của huyện trong thời gian tới Từ đó góp phần:

Trang 13

- Ổn định ngân sách địa phương, vững mạnh ngân sách nhà nước và nền tài chính quốc gia

- Phát huy những việc đã làm được cũng như nhận thấy những điều bất cập, những hạn chế còn tồn tại cần khắc phục điều chỉnh trong thời gian tới

- Nâng cao hiệu quả quản lý thu, giúp tăng cường nguồn thu vào ngân sách tạo đà phát triển kinh tế, ổn định tình hình chính trị, an ninh trật tự xã hội tại địa phương

7 Nội dung của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị Luận văn được kết cấu với 3 chương nội dung chính sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về ngân sách nhà nước và tăng thu ngân sách

Chương 2: Thực trạng công tác thu ngân sách trên địa bàn huyện Đoan Hùng - tỉnh Phú Thọ

Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng thu ngân sách trên địa bàn huyện Đoan Hùng - tỉnh Phú Thọ

Trang 14

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ TĂNG THU NGÂN SÁCH

1.1 Ngân sách nhà nước

1.1.1 Khái niệm ngân sách nhà nước

Ngân sách nhà nước (NSNN) gắn liền với hoạt động của Nhà nước, là một trong những công cụ hết sức quan trọng, không thể thiếu được nhằm đảm bảo hoạt động của Nhà nước Nhà nước ra đời, hình thành và phát triển gắn liền với chế độ sở hữu và đấu tranh giai cấp trong quá trình phát triển xã hội loài người Khi không còn Nhà nước thì không còn NSNN Bản chất Nhà nước quyết định bản chất NSNN, nhưng quản lý NSNN là những tổ chức và con người cụ thể nên quản lý NSNN mang tính chủ quan

Do vậy, nhận thức đúng về bản chất của NSNN và vận dụng thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả NSNN là cần thiết đối với mọi quốc gia, mọi cấp chính quyền; là hoạt động quan trọng của Nhà nước để quản lý và điều hành xã hội

Một quan niệm khác về Ngân sách nhà nước Các nhà nghiên cứu kinh tế cổ điển cho rằng: Ngân sách nhà nước là một văn kiện tài chính mô tả các khoản thu, chi của Chính phủ được thiết lập hàng năm Nhiều nhà nghiên cứu kinh tế hiện đại thì cho rằng: Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu chi của Nhà nước được biểu hiện thông qua bảng liệt kê các khoản thu chi bằng tiền mặt trong một giai đoạn nhất định [1]

Theo Điều 1 Luật ngân sách Nhà nước ban hành năm 2002 định nghĩa: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” [2]

Theo Khoản 14 Điều 4 Luật ngân sách Nhà nước năm 2015 định nghĩa: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước [3]

Bên cạnh những sự khác biệt thì các định nghĩa có một số điểm nhất trí sau:

Trang 15

- Ngân sách là kế hoạch hoặc dự toán thu, chi của một chủ thể nhất định, thường là một năm - gọi là năm tài chính

- Ngân sách nhà nước của một quốc gia là một đạo luật được cơ quan lập pháp của quốc gia đó ban hành

Nội dung chủ yếu của ngân sách là thu, chi nhưng không phải chỉ là các con số, cũng không phải chỉ là quy mô, sự tăng giảm số lượng tiền tệ đơn thuần mà còn phản ánh chủ trương, chính sách của Nhà nước; biểu hiện các quan hệ tài chính giữa các cấp chính quyền (cũng là cấp ngân sách); giữa Nhà nước với các chủ thể kinh tế khác của nền kinh tế quốc dân trong quá trình phân bổ các nguồn lực và phân phối thu nhập mới sáng tạo ra Các quá trình sản xuất kinh doanh, gắn liền với sự vận động của các dòng tiền: dòng tiền thu vào (quá trình tạo lập), dòng chi ra (quá trình sử dụng) của ngân sách Nhà nước (quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước) Việc tạo lập và sử dụng ngân sách Nhà nước một mặt phản ánh mức độ tiền tệ hóa, luật pháp hóa các hoạt động của Nhà nước, bởi dự toán thu, chi ngân sách Nhà nước được các cấp có thẩm quyền thảo luận, quyết định và phê chuẩn trong khuôn khổ pháp luật; mặt khác từng khoản mục của ngân sách Nhà nước chính là sự cụ thể hóa các chính sách, các lựa chọn kinh tế, chính trị của đất nước [4]

1.1.2 Vai trò của ngân sách nhà nước

Vai trò của ngân sách Nhà nước được nhìn nhận trên hai phương diện:

Một là, Nhà nước có nhiều chức năng, nhiệm vụ Để thực hiện các chức năng, nhiệm

vụ đó Nhà nước cần có lực lượng vật chất nhất định Một trong đó là Ngân sách nhà nước Đối với bất kỳ quốc gia nào, Ngân sách nhà nước luôn có vị trí quan trọng trong việc đảm bảo nguồn tài chính cho sự thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước

Hai là, ngân sách là một công cụ kinh tế vĩ mô quan trọng tác động vào nền kinh tế

Ngân sách là nguồn lực đầu tư quan trọng giúp cho nền kinh tế phát triển, điều chỉnh

cơ cấu kinh tế; thúc đẩy quá trình đô thị hóa, động viên mọi thành viên trong xã hội tham gia vào quá trình phát triển; ngân sách cùng với các công cụ khác hỗ trợ sự hình thành đồng bộ các yếu tố của kinh tế thị trường, đồng thời tham gia khắc phục các thất

Trang 16

bại của chính nền kinh tế thị trường, đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh, tính công bằng và hiệu quả kinh tế - xã hội [5]

Ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng, quốc gia nào cũng xây dựng một hệ thống ngân sách hợp lý với các chính sách nhằm mục tiêu phân phối và sử dụng có hiệu quả nhất

Với vai trò của mình, ngân sách nhà nước là công cụ của Nhà nước để cùng với thị trường tác động tích cực vào nền kinh tế, tạo động lực khuyến khích mọi thành phần kinh tế phát triển; hạn chế cơ chế quản lý trực tiếp, mệnh lệnh hành chính; mở rộng và tăng cường sử dụng tích cực các công cụ tài chính tiền tệ, sửa đổi bổ sung các chính sách tài chính phù hợp với quy luật kinh tế thị trường Ngân sách nhà nước cần ưu tiên lựa chọn mục tiêu trung tâm, trọng điểm, đào tạo nhân lực, phát triển nội lực, thu hút, huy động và chuyển hóa ngoại lực thành nội lực nhằm phát triển nhanh nền kinh tế -

xã hội

Trước đây, nhiều nhà kinh tế học chủ trương xây dựng một ngân sách tối thiểu và cân bằng, có quy mô thu chi vừa đủ để duy trì hệ thống cơ sở hạ tầng; bảo đảm thực hiện các chức năng nhà nước công quyền, bảo vệ an ninh - quốc phòng, trật tự an toàn xã hội Nghĩa là NSNN chỉ giới hạn trong tiêu dùng nằm ở khâu sau phân phối lại kết quả sản xuất kinh doanh Hiện nay, quan điểm được nhiều quốc gia áp dụng là NSNN không chỉ phân phối lại kết quả sản xuất kinh doanh mà trước khi phân phối lại, NSNN đã tham gia phân phối các yếu tố đầu vào của quá trình kinh tế (đầu tư hạ tầng kinh tế - xã hội, đầu tư phát triển nguồn nhân lực, hỗ trợ phát triển thị trường, xúc tiến thương mại ) Với đặc điểm này, NSNN chủ động thúc đẩy nền kinh tế phát triển Cụ thể:

Thứ nhất, NSNN tác động trực tiếp đến việc tăng quy mô đầu tư, thúc đẩy nền kinh tế

tăng trưởng và phát triển

Là chủ đầu tư lớn nhất trong nền kinh tế, Nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội Ở Việt Nam cũng như đa số các nước đang phát triển trên thế giới, vốn đầu tư từ NSNN có một vị trí rất quan trọng, chiếm khoảng từ 22% - 30% tổng vốn đầu tư của toàn xã hội Vì vậy, về mặt lượng, quy mô đầu tư vào

Trang 17

nền kinh tế từ nguồn NSNN đóng vai trò quan trọng trong việc tăng quy mô đầu tư của toàn xã hội

Thứ hai, quy mô thu và cơ cấu chi NSNN tác động mạnh mẽ đến quan hệ cung cầu

trên thị trường và thông qua đó tác động đến nền kinh tế

Với tư cách là chủ thể kinh tế lớn nhất trong nền kinh tế, Nhà nước chi tiêu nhiều hay

ít sẽ tác động trực tiếp đến tổng cầu, đến sức mua của thị trường Nếu các bộ phận khác của tổng cầu không thay đổi thì chi tiêu của Nhà nước tăng sẽ tác động trực tiếp

là gia tăng tổng cầu của xã hội Đến lượt nó, sự gia tăng của tổng cầu nhanh hơn sự gia tăng của tổng cung thì một mặt, nó làm tăng sức mua của xã hội, giảm thời gian lưu thông, tăng tốc độ chu chuyển của vốn trong nền kinh tế, tăng GDP và tăng hiệu quả kinh tế - xã hội; mặt khác, mức dư cầu trên thị trường ở chừng mực nhất định làm tăng giá trị tiêu thụ hàng hóa ở mức độ vừa phải có tác động điều tiết mức tiêu dùng hợp lý hơn, đồng thời khuyến khích phát triển sản xuất, tăng đầu tư trong nền kinh tế

Thứ ba, thông qua việc sử dụng NSNN, Nhà nước thực hiện việc điều chỉnh cơ cấu

kinh tế, thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế nhằm phát triển bền vững, phù hợp với quy hoạch, không ngừng nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội

Thứ tư, NSNN là công cụ kinh tế quan trọng mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, kích

thích xuất khẩu, bảo vệ lợi ích chính đáng người tiêu dùng

Nhà nước sử dụng ngân sách của mình như một phương tiện vật chất, một công cụ tác động vào hoạt động kinh tế đối ngoại theo hướng tranh thủ cơ hội để phát triển Ở điều kiện nhất định, Nhà nước ban hành hệ thống những cơ chế chính sách để thực hiện, đồng thời sử dụng NSNN hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp nhắm khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu, thúc đẩy và khuyến khích hoạt động xuất nhập khẩu phát triển

Thứ năm, NSNN là công cụ kinh tế để Nhà nước thực hiện việc điều hành quản lý,

kiểm soát nền kinh tế

Vốn NSNN chỉ là một yếu tố trong nhiều yếu tố đầu vào của nền sản xuất xã hội Vì vậy, để xác định rõ vị trí, vai trò của ngân sách trong nền kinh tế và để đạt mục tiêu sử

Trang 18

dụng vốn ngân sách có hiệu quả đòi hỏi phải nắm được thực trạng các nguồn lực của

cả nền kinh tế

Thứ sáu, NSNN trực tiếp đầu tư phát triển nguồn nhân lực, trí lực (giáo dục, đào tạo, y

tế, văn hóa, khoa học, ) thực hiện nhiệm vụ phát triển xã hội

Trong nền kinh tế thị trường, để đảm bảo hài hòa lợi ích các thành viên tham gia sản xuất và lợi ích chung của toàn xã hội, việc phân phối nguồn ngân sách được ưu tiên thực hiện một số chính sách xã hội, bù đắp những khiếm khuyết của thị trường, thực hiện công bằng xã hội

1.1.3 Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước

1.1.3.1 Khái niệm

Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là việc phân định phạm vi trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan nhà nước ở mỗi cấp trong quá trình quản lý, điều hành ngân sách nhà nước [3]

Phân cấp quản lý NSNN được xem như là một trong những biện pháp quản lý NSNN Thực chất của việc phân cấp quản lý NSNN là việc phân chia trách nhiệm, quyền hạn trong quản lý hoạt động của NSNN cho các cấp chính quyền nhằm làm cho hoạt động của NSNN được lành mạnh và đạt hiệu quả cao Phân cấp quản lý thu, chi NSNN được thực hiện theo nguyên tắc thống nhất, tập trung dân chủ

Tư tưởng chỉ đạo trong phân cấp quản lý NSNN theo Luật NSNN là phân định cụ thể nhiệm vụ thu - chi cho ngân sách mỗi cấp

Trong đó nội dung chính về phân cấp quản lý thu NSNN: Tập trung đại bộ phận nguồn thu lớn, ổn định cho ngân sách trung ương, đồng thời tạo cho ngân sách địa phương có nguồn thu gắn với địa bàn Trên tinh thần đó, nguồn thu được chia thành 3 loại:

- Các khoản thu ngân sách trung ương hưởng 100%;

- Các khoản thu ngân sách địa phương hưởng 100%;

- Các khoản thu điều tiết theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương [4]

Trang 19

1.1.3.2 Các nguyên tắc phân cấp quản lý nhà nước

Theo Khoản 2, Điều 4 Luật NSNN được Quốc hội khoá XI nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 16/12/2002, Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi và quan hệ giữa ngân sách các cấp được thực hiện theo các nguyên tắc sau đây:

a) Ngân sách trung ương và ngân sách mỗi cấp chính quyền địa phương được phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể;

b) Ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, quan trọng của quốc gia và hỗ trợ những địa phương chưa cân đối được thu, chi ngân sách;

c) Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu bảo đảm chủ động trong thực hiện những nhiệm vụ được giao; tăng cường nguồn lực cho ngân sách xã Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và trình độ quản lý của mỗi cấp trên địa bàn;

d) Nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó bảo đảm; việc ban hành

và thực hiện chính sách, chế độ mới làm tăng chi ngân sách phải có giải pháp bảo đảm nguồn tài chính phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách từng cấp;

đ) Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước cấp trên uỷ quyền cho cơ quan quản lý nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi của mình, thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó;

e) Thực hiện phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) đối với các khoản thu phân chia giữa ngân sách các cấp và bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để bảo đảm công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu và số bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới được ổn định từ 3 đến 5 năm Số bổ sung từ ngân sách cấp trên là khoản thu của ngân sách cấp dưới;

g) Trong thời kỳ ổn định ngân sách, các địa phương được sử dụng nguồn tăng thu

Trang 20

hàng năm mà ngân sách địa phương được hưởng để phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn; sau mỗi thời kỳ ổn định ngân sách, phải tăng khả năng tự cân đối, phát triển ngân sách địa phương, thực hiện giảm dần số bổ sung từ ngân sách cấp trên hoặc tăng tỷ lệ phần trăm (%) điều tiết số thu nộp về ngân sách cấp trên;

h) Ngoài việc uỷ quyền thực hiện nhiệm vụ chi và bổ sung nguồn thu quy định tại điểm đ và điểm e khoản 2 Điều này, không được dùng ngân sách của cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác, trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ [3]

1.2 Thu ngân sách nhà nước

1.2.1 Khái niệm thu ngân sách nhà nước

Thu NSNN là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thỏa mãn các nhu cầu của Nhà nước Xét về hình thức, thu NSNN là một hoạt động, là quá trình của nhiều hành vi, hành động của Nhà nước Xét về nội dung, thu NSNN là quá trình Nhà nước sử dụng các quyền lực có được của mình để động viên, phân phối một bộ phận của cải của xã hội dưới dạng tiền tệ về tay Nhà nước nhằm hình thành nên quỹ NSNN.[3]

1.2.2 Đặc điểm thu ngân sách nhà nước

Thu NSNN có những đặc điểm sau đây:

- Thu NSNN gắn liền với quyền lực của Nhà nước (mà chủ yếu là quyền lực chính trị);

- Thu NSNN được xác lập trên cơ sở luật định và vừa mang tính chất bắt buộc, vừa không mang tính chất bắt buộc;

- Nguồn tài chính chủ yếu của thu NSNN là thu nhập của các thể nhân và pháp nhân, được chuyển giao bắt buộc cho Nhà nước dưới nhiều hình thức, nhưng chủ yếu là thuế;

- Thu NSNN gắn chặt với thực trạng kinh tế và các phạm trù: Giá cả, thu nhập, lãi suất, ;

- Thu NSNN gắn liền với các hoạt động của Nhà nước Nhà nước đề ra chủ trương, phương hướng, mục tiêu thu NSNN trong một thời kỳ nhất định, xác định rõ thu ở

Trang 21

đâu? Lĩnh vực nào chủ yếu? Hình thức nào là tốt nhất? Xác định rõ tỷ lệ thu hoặc một con số thu cụ thể nào đó Từ đó Nhà nước đề ra cơ chế chính sách, luật lệ về thu NSNN nhằm đạt được phương hướng mục tiêu đề ra Đồng thời nhà Nhà nước tổ chức

bộ máy thu, tổ chức thu và đảm bảo các điều kiện cho công tác thu

Tóm lại, thu NSNN thực chất là sự phân chia nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nước với các chủ thể trong xã hội dựa trên quyền lực chính trị của Nhà nước nhằm giải quyết hài hòa các mặt lợi ích kinh tế Sự phân chia đó là tất yếu khách quan xuất phát

từ yêu cầu tồn tại và phát triển của bộ máy Nhà nước, cũng như thực hiện các chức năng nhiệm vụ của mình Đối tượng phân chia là thu nhập xã hội, đây là kết quả lao động sản xuất trong nước tạo ra dưới hình thức tiền tệ.[5]

1.2.3 Chức năng của thu ngân sách nhà nước

Ngân sách nhà nước là thành phần chủ đạo trong tài chính công, gắn liền với vai trò và chức năng của nhà nước trong quản lý vĩ mô nền kinh tế Đó là ba chức năng, phân bổ nguồn lực, phân phối thu nhập và điều chỉnh kiểm soát Trong đó, thu NSNN tham gia

rõ nét vào chức năng phân bổ và phân phối thu nhập Đặc biệt là chức năng phân phối thu nhập

1.2.3.1 Chức năng phân bổ nguồn lực

Chức năng phân bổ nguồn lực của NSNN là khả năng khách quan mà nhờ vào đó các nguồn tài lực thuộc quyền chi phối của Nhà nước được tổ chức, sắp xếp, phân phối một cách có tính đến hiệu quả kinh tế - xã hội của việc sử dụng các nguồn tài lực đó đảm bảo cho nền kinh tế phát triển vững chắc và ổn định theo các tỷ lệ cân đối đã định của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội

Trong đó, hình thành chức năng này của NSNN, quá trình thu đóng vai trò huy động, tập trung một phần những nguồn lực mà xã hội sử dụng một cách hợp lý có tính đến khả năng của các đối tượng huy động cũng như thể hiện thái độ của Nhà nước với những thành phần đó

Chuyển sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước xóa bỏ dần những can thiệp trực tiếp vào hành động kinh tế - xã hội, chủ yếu thực hiện chức năng quản lý và điều chỉnh vĩ

mô nền kinh tế, việc bao cấp cho các hoạt động kinh tế - xã hội cũng giảm dần Bởi

Trang 22

vậy, thể hiện chức năng phân bổ nguồn lực, thu NSNN chỉ tập trung vào một phần những nguồn lực của xã hội để phục vụ cho những mục tiêu trọng điểm, những gì mà thị trường còn chưa tính đến

Kết quả trực tiếp của việc vận dụng chức năng phân bổ nguồn lực là các quỹ ngân sách được tạo lập, được phân phối và sử dụng Việc tạo lập, phân phối và sử dụng một cách đúng đắn, hợp lý các quỹ ngân sách đó chính là sự phân bổ một cách tối ưu các nguồn lực tài chính thuộc quyền chi phối của các chủ thể công, nó tác động mạnh mẽ tới việc

sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính của toàn xã hội: thúc đẩy hoàn thiện cơ cấu sản xuất, cơ cấu kinh tế xã hội bằng việc tính toán, sắp xếp các tỷ lệ cân đối quan trọng trong phân bổ các nguồn tài chính Một sự phân bổ như thế sẽ là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững và ổn định của nền kinh tế

Chức năng phân bổ của thu NSNN, thể hiện ở việc thu ngân sách phải trên cơ sở thực lực nguồn lực tài chính của toàn xã hội, có cân nhắc cho phù hợp với đặc điểm, tình hình của đất nước trong từng thời kỳ và theo sát các kế hoạch, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước cũng là một tiêu chuẩn quan trọng Phân bổ nguồn lực tài chính phải nhằm đạt được những mục tiêu kinh tế vĩ mô là hiệu quả, ổn định và phát triển kinh tế

1.2.3.2 Chức năng phân phối lại thu nhập

Chức năng phân phối lại thu nhập của thu NSNN là khả năng khách quan mà nhờ vào

đó ngân sách được sử dụng vào việc phân phối và phân phối lại các nguồn tài chính trong xã hội nhằm thực hiện mục tiêu công bằng xã hội trong phân phối và hưởng thụ kết quả của sản xuất xã hội

Trong chức năng này chủ thể phân phối là Nhà nước trên tư cách người có quyền lực chính trị, còn đối tượng phân phối là các nguồn tài chính đã thuộc sở hữu công cộng hoặc đang là thu nhập của các pháp nhân và thế nhân trong xã hội mà Nhà nước tham gia điều tiết

Trong việc điều tiết thu nhập, thu thuế là biện pháp chủ yếu Thông qua các thứ thuế gián thu để điều tiết tương đối giá cả của các loại hàng hóa, từ đó điều tiết sự phân phối các yếu tố sản xuất của các chủ thể kinh tế Thông qua thuế thu nhập doanh

Trang 23

nghiệp để điều tiết lợi nhuận của doanh nghiệp Thông qua thuế thu nhập cá nhân để điều tiết, thu nhập lao động và thu nhập phi lao động của cá nhân (thu nhập về tài sản, tiền cho thuê, lợi tức ) Thông qua công cụ thuế, các thu nhập cao được điều tiết bớt một phần và được tập trung vào NSNN

Trong việc hỗ trợ thu nhập, chi tiêu công là biện pháp chủ yếu NSNN sử dụng các nguồn tài chính đã tập trung được, trong đó có một phần là nguồn tài chính điều tiết từ các thu nhập cao, để chi cho các biện pháp văn hóa xã hội kể trên nhằm hỗ trợ thu nhập cho những người có thu nhập thấp Như vậy, với tư cách là chủ thể của chức năng tái phân phối thu nhập, Nhà nước đóng vai trò như người trung gian trong việc điều hòa thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, hạ thấp bớt các thu nhập cao và nâng cao thêm các thu nhập thấp nhằm rút ngắn độ chênh lệch về thu nhập giữa các cá nhân Khác với chức năng phân bổ nguồn lực, chức năng phân phối lại thu nhập được đề cập với sự quan tâm nhiều hơn đến khía cạnh xã hội của sự phân phối Tuy nhiên, vấn đề đặt

ra là cần nhận thức và xử lý hợp lý mối quan hệ giữa mục tiêu công bằng và mục tiêu hiệu quả của kinh tế vĩ mô Trong nhiều trường hợp, để đạt mục tiêu công bằng, sự phân phối lại làm tổn hại tới mục tiêu hiệu quả Chẳng hạn, một sự đánh thuế quá cao vào thu nhập sẽ hạn chế tác dụng thúc đẩy tăng tiết kiệm và tăng đầu tư của tư nhân, đồng thời,

có thể dẫn đến hiện tượng tìm cách trốn thuế do tình trạng quá tải của thuế mang lại Hay một sự trợ cấp xã hội tràn lan, thiếu tính toán cân nhắc dễ dẫn đến tâm lý chờ được cứu tế, giảm tính tích cực lao động, đồng thời làm giảm tác dụng tăng tiết kiệm của khu vực công

Do đó, một sự tính toán cân nhắc trong chính sách phân phối và tái phân phối thu nhập

để có thể đạt tới mục tiêu công bằng trên cơ sở đảm bảo tính hiệu quả kinh tế là rất quan trọng nhằm sử dụng có hiệu quả NSNN trong thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ

1.2.4 Vai trò của thu ngân sách

1.2.4.1 Bảo đảm nguồn tài chính cho hoạt động của bộ máy Nhà nước

Để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ đó Nhà nước cần có lực lượng vật chất nhất định Một trong đó là Ngân sách nhà nước Đối với bất kỳ quốc gia nào, Ngân sách

Trang 24

nhà nước luôn có vị trí quan trọng trong việc đảm bảo nguồn tài chính cho sự thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước

Vai trò này xuất phát từ bản chất kinh tế của Ngân sách nhà nước, để đảm bảo cho hoạt động của nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội đòi hỏi phải có những nguồn tài chính nhất định Những nguồn tài chính này được hình thành từ các khoản thu thuế và các khoản thu ngoài thuế Đây là vai trò lịch sử của Ngân sách nhà nước mà trong bất kỳ chế độ xã hội nào, cơ chế kinh tế nào ngân sách nhà nước đều phải thực hiện

1.2.4.1 Công cụ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững

Ngân sách là nguồn lực đầu tư quan trọng giúp cho nền kinh tế phát triển, điều chỉnh

cơ cấu kinh tế; thúc đẩy quá trình đô thị hóa, động viên mọi thành viên trong xã hội tham gia vào quá trình phát triển; ngân sách cùng với các công cụ khác hỗ trợ sự hình thành đồng bộ các yếu tố của kinh tế thị trường, đồng thời tham gia khắc phục các thất bại của chính nền kinh tế thị trường, đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh, tính công bằng và hiệu quả kinh tế - xã hội

Ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng, quốc gia nào cũng xây dựng một hệ thống ngân sách hợp lý với các chính sách nhằm mục tiêu phân phối và sử dụng có hiệu quả nhất

Với vai trò của mình, ngân sách nhà nước là công cụ của Nhà nước để cùng với thị trường tác động tích cực vào nền kinh tế, tạo động lực khuyến khích mọi thành phần kinh tế phát triển; hạn chế cơ chế quản lý trực tiếp, mệnh lệnh hành chính; mở rộng và tăng cường sử dụng tích cực các công cụ tài chính tiền tệ, sửa đổi bổ sung các chính sách tài chính phù hợp với quy luật kinh tế thị trường Ngân sách nhà nước cần ưu tiên lựa chọn mục tiêu trung tâm, trọng điểm, đào tạo nhân lực, phát triển nội lực, thu hút, huy động và chuyển hóa ngoại lực thành nội lực nhằm phát triển nhanh nền kinh tế -

xã hội

Trước đây, nhiều nhà kinh tế học chủ trương xây dựng một ngân sách tối thiểu và cân bằng, có quy mô thu chi vừa đủ để duy trì hệ thống cơ sở hạ tầng; bảo đảm thực hiện các

Trang 25

chức năng nhà nước công quyền, bảo vệ an ninh - quốc phòng, trật tự an toàn xã hội Nghĩa là NSNN chỉ giới hạn trong tiêu dùng nằm ở khâu sau phân phối lại kết quả sản xuất kinh doanh Hiện nay, quan điểm được nhiều quốc gia áp dụng là NSNN không chỉ phân phối lại kết quả sản xuất kinh doanh mà trước khi phân phối lại, NSNN đã tham gia phân phối các yếu tố đầu vào của quá trình kinh tế (đầu tư hạ tầng kinh tế - xã hội, đầu tư phát triển nguồn nhân lực, hỗ trợ phát triển thị trường, xúc tiến thương mại, ) Với đặc điểm này, NSNN chủ động thúc đẩy nền kinh tế phát triển Cụ thể:

Thứ nhất, NSNN tác động trực tiếp đến việc tăng quy mô đầu tư, thúc đẩy nền kinh tế

tăng trưởng và phát triển

Là chủ đầu tư lớn nhất trong nền kinh tế, Nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội Ở Việt Nam cũng như đa số các nước đang phát triển trên thế giới, vốn đầu tư từ NSNN có một vị trí rất quan trọng, chiếm khoảng từ 22% - 30% tổng vốn đầu tư của toàn xã hội Vì vậy, về mặt lượng, quy mô đầu tư vào nền kinh tế từ nguồn NSNN đóng vai trò quan trọng trong việc tăng quy mô đầu tư của toàn xã hội

Thứ hai, quy mô thu và cơ cấu chi NSNN tác động mạnh mẽ đến quan hệ cung cầu

trên thị trường và thông qua đó tác động đến nền kinh tế

Với tư cách là chủ thể kinh tế lớn nhất trong nền kinh tế, Nhà nước chi tiêu nhiều hay

ít sẽ tác động trực tiếp đến tổng cầu, đến sức mua của thị trường Nếu các bộ phận khác của tổng cầu không thay đổi thì chi tiêu của Nhà nước tăng sẽ tác động trực tiếp

là gia tăng tổng cầu của xã hội Đến lượt nó, sự gia tăng của tổng cầu nhanh hơn sự gia tăng của tổng cung thì một mặt, nó làm tăng sức mua của xã hội, giảm thời gian lưu thông, tăng tốc độ chu chuyển của vốn trong nền kinh tế, tăng GDP và tăng hiệu quả kinh tế - xã hội; mặt khác, mức dư cầu trên thị trường ở chừng mực nhất định làm tăng giá trị tiêu thụ hàng hóa ở mức độ vừa phải có tác động điều tiết mức tiêu dùng hợp lý hơn, đồng thời khuyến khích phát triển sản xuất, tăng đầu tư trong nền kinh tế

Thứ ba, thông qua việc sử dụng NSNN, Nhà nước thực hiện việc điều chỉnh cơ cấu

kinh tế, thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế nhằm phát triển bền vững, phù hợp với quy hoạch, không ngừng nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội

Trang 26

Thứ tư, NSNN là công cụ kinh tế quan trọng mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, kích

thích xuất khẩu, bảo vệ lợi ích chính đáng người tiêu dùng

Nhà nước sử dụng ngân sách của mình như một phương tiện vật chất, một công cụ tác động vào hoạt động kinh tế đối ngoại theo hướng tranh thủ cơ hội để phát triển Ở điều kiện nhất định, Nhà nước ban hành hệ thống những cơ chế chính sách để thực hiện, đồng thời sử dụng NSNN hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu, thúc đẩy và khuyến khích hoạt động xuất nhập khẩu phát triển

Thứ năm, NSNN là công cụ kinh tế để Nhà nước thực hiện việc điều hành quản lý,

kiểm soát nền kinh tế

Vốn NSNN chỉ là một yếu tố trong nhiều yếu tố đầu vào của nền sản xuất xã hội Vì vậy, để xác định rõ vị trí, vai trò của ngân sách trong nền kinh tế và để đạt mục tiêu sử dụng vốn ngân sách có hiệu quả đòi hỏi phải nắm được thực trạng các nguồn lực của

cả nền kinh tế

Thứ sáu, NSNN trực tiếp đầu tư phát triển nguồn nhân lực, trí lực (giáo dục, đào tạo, y

tế, văn hóa, khoa học, ) thực hiện nhiệm vụ phát triển xã hội

Trong nền kinh tế thị trường, để đảm bảo hài hòa lợi ích các thành viên tham gia sản xuất và lợi ích chung của toàn xã hội, việc phân phối nguồn ngân sách được ưu tiên thực hiện một số chính sách xã hội, bù đắp những khiếm khuyết của thị trường, thực

1.2.4.2 Công cụ điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và kiềm chế lạm phát

Ngân sách nhà nước có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế, xã hội,

an ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nước Cần hiểu rằng, vai trò của ngân sách nhà nước luôn gắn liền với vai trò của nhà nước theo từng giai đoạn nhất định Đối với nền kinh tế thị trường, ngân sách nhà nước đảm nhận vai trò quản lý vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế, xã hội

Ngân sách nhà nước là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội, định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường,bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội Huy động các nguồn tài chính của ngân sách nhà nước để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của nhà

Trang 27

nước Mức động viên các nguồn tài chính từ các chủ thể trong nguồn kinh tế đòi hỏi phải hợp lí nếu mức động viên quá cao hoặc quá thấp thì sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế, vì vậy cần phải xác định mức huy động vào ngân sách nhà nước một cách phù hợp với khả năng đóng góp tài chính của các chủ thể trong nền kinh tế

Đối với thị trường sức lao động: Cơ chế điều tiết: Muốn điều tiết nhà nước sử dụng

các chính sách làm thay đổi cung cầu trên thị trường lao động, các chính sách như: thuế thu nhập, chính sách chi cho giáo dục

Chính sách hiện hành: Khủng hoảng tài chính tác động nặng nề đến thị trường lao động, số lao động bị thất nghiệp tăng cao nhưng lao động trình độ cao thì còn thiếu Nhà nước sử dụng NSNN chi cho hoạt động đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng đội ngũ lao động Bên cạnh đó, nhà nước sử dụng các quỹ trợ cấp thất nghiệp Chính sách thu: Chính sách thuế thu nhập cá nhân

Đối với thị trường vốn: Cơ chế điều tiết: Nhà nước điều tiết thị trường vốn bằng cách

tác động đến cung cầu vốn vay Chính sách như sau: Chính sách thuế thu nhập, kênh phát hành trái phiếu

Chính sách hiện hành: Chính sách thuế thu nhập làm thay đổi tài sản và thu nhập của các chủ thể làm thay đổi khả năng cung ứng vốn Phát hành trái phiếu chính phủ là một kênh huy động vốn hiệu quả của chính phủ

Vai trò của NSNN trong việc bình ổn giá và kiềm chế lạm phát:

Chúng ta đã biết NSNN là khâu chủ đạo trong tài chính, là công cụ để Nhà nước thực hiện kiểm soát vĩ mô và cân đối vĩ mô nền kinh tế, bởi lẽ NSNN là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước Thông qua NSNN các nguồn tài chính tập trung vào Nhà nước như hình thức: thu thuế, lệ phí, phí…sẽ được Nhà nước sử dụng để thực hiện các chức năng nhiệm vụ của mình

NSNN có vai trò là công cụ điều chỉnh ổn định nền kinh tế thị trường, Nhà nước sử dụng hiệu quả NSNN trong nền kinh tế thị trường thể hiện qua 2 công cụ chủ yếu sau:

Thông qua công cụ thuế: Thuế chính là khoản chuyển giao thu nhập bắt buộc từ các cá

Trang 28

nhân, pháp nhân do Nhà nước theo mức độ và thời hạn pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng Vì vậy thuế không chỉ là nguồn thu quan trọng của NSNN mà còn là công cụ điều tiết vĩ mô giúp kích thích hoạt động sản xuất kinh doanh, định hướng đầu tư trên thị trường Thuế có tác dụng bình ổn giá cả thị trường Thuế thuộc khâu phân phối có tác động vào tiền công và lợi nhuận làm thay đổi nhu cầu thị trường, tác động đến sản xuất, tiêu dùng và thu nhập mỗi cá nhân, thuế gián tiếp vào thu nhập thông qua giá cả thị trường có thể làm tăng hoặc giảm số lượng và yếu tố cầu trên thị trường

Thông qua thuế trực tiếp và gián tiếp Nhà nước có thể áp dụng ưu đãi về thuế cho các hàng hóa dịch vụ làm cho giá cả hàng hóa nhập khẩu tăng nhờ đó giảm giá hàng hóa trong nước

Thị trường tiền tệ: Nhà nước đã sử dụng thuế như một công cụ điều tiết sản xuất và tiêu dùng, điều tiết vĩ mô nền kinh tế ở cả thu và chi ngân sách Nhà nước thông qua các công cụ kinh tế, chính sách đòn bẩy kinh tế để tác động vào thị trường mà thuế chính là công cụ sắc bén nhất

Thông qua công cụ chi NSNN: Về mặt thị trường NSNN có vai trò quan trọng đối với việc thực hiện các chính sách ổn định về giá cả thị trường và chống lạm phát Bằng công cụ chi NSNN, công cụ thuế và sử dụng quỹ dự trữ Nhà nước có thể điều chỉnh được giá cả thị trường một cách chủ động

Cơ chế điều tiết: Hoạt động điều tiết của chính phủ: sử dụng các quỹ dự trữ của nhà nước và các chính sách thuế

Khi giá của một hàng hóa nào lên cao, để kìm hãm và chống đầu cơ, chính phủ đưa dự trữ hàng hóa đó ra thị trường để tăng cung, sẽ bình ổn được giá cả và hạn chế khả năng tăng giá đồng loạt gây nguy cơ lạm phát

Khi giá của một hàng hóa bị giảm mạnh, gây thiệt hại cho người sản xuất và tạo xu hưởng di chuyển vốn sang lĩnh vực khác, chính phủ sẽ bỏ tiền để mua các hàng hóa đó theo giá nhất định đảm bảo quyền lợi cho người sản xuất

Chính sách hiện hành: nhiều nông sản: cao su, cà phê, điều, gạo giảm mạnh

Trang 29

Chính sách chi: Chống lại tình hình trên chính phủ đưa ra giải pháp: tăng mua dự trữ các mặt hàng nông sản, đẩy giá các mặt hàng lên, giúp người sản xuất thoát khỏi tình trạng khó khăn

Đối với việc chống lạm phát:

Tác động của lạm phát: Lạm phát bên cạnh làm méo mó giá cả, nó còn làm sói mòn tiết kiệm và không khuyến khích đầu tư, hạn chế tăng trưởng kinh tế, gây ra những bất

Chính sách thu: Khai thác các khoản thu đặc biệt là thu thuế, giảm mức bội chi, cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, hạn chế phát hành tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách

1.2.4.3 Công cụ hữu hiệu của Nhà nước để điều chỉnh thu nhập, thực hiện công bằng

Trang 30

Các vai trò trên của Ngân sách nhà nước cho thấy tính chất quan trọng của thu ngân sách nhà nước, với các công cụ của nó có thể quản lý toàn diện và có hiệu quả đối với toàn bộ nền kinh tế

1.2.5 Nội dung thu ngân sách nhà nước

1.2.5.1 Hình thức các khoản thu

Để biến nguồn thu ngân sách thành thu nhập của NSNN cần phải có các hình thức thu thích hợp Những hình thức đó được coi như những công cụ, phương tiện biến nguồn thu thành thu nhập của NSNN Hình thức thu ngân sách phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố kinh tế - xã hội Trong những cơ chế quản lý kinh tế khác nhau thì cơ cấu các hình thức thu cũng khác nhau

Hiện nay có những hình thức thu cơ bản sau đây:

- Thu thuế: Thuế là một biện pháp tài chính bắt buộc (phi hình sự) của Nhà nước nhằm động viên một bộ phận thu nhập từ lao động, của cải, vốn, từ việc chi tiêu hàng hóa dịch vụ và từ việc lưu giữ, chuyển dịch tài sản của các thể nhân và pháp nhân nhằm trang trải các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Việc thu thuế bao giờ cũng được thể chế bằng hệ thống pháp luật

Nhà nước là người đại diện cho người dân, Nhà nước thay mặt cho xã hội cung cấp cho mọi người dân hàng hóa và dịch vụ công cộng thuần túy nên Nhà nước với quyền lực chính trị của mình quy định thuế để coi phần nộp mà người dân trích một phần thu nhập của mình không mua hàng hóa phục vụ cho cá nhân mà coi như trả hàng hóa dịch

vụ công cộng của Nhà nước Nhà nước thu thuế không phải nô dịch, bóc lột công dân,

mà thực chất là người đại diện cho xã hội, được xã hội giao phó cho việc cung ứng hàng hóa dịch vụ công cộng mà thuế là nguồn lực tạo ra hàng hóa dịch vụ công cộng

đó

- Thu phí và lệ phí: Trong điều kiện kinh tế thị trường, đối với hàng hóa dịch vụ tư nhân, khi người dân muốn nhận một sản phẩm hàng hóa dịch vụ nào đó thì buộc họ phải đưa ra một lượng giá trị tương ứng để trao đổi theo nguyên tắc ngang giá Còn khi thụ hưởng hàng hóa dịch vụ công cộng thì việc trả các chi phí phức tạp hơn Cụ thể:

Trang 31

+ Hàng hóa công cộng do Nhà nước cung cấp thì việc thu hồi chi phí thực hiện theo giá quy định của Nhà nước; giá này thường ít bị chi phối bởi quy luật thị trường

+ Đối với dịch vụ công cộng vô hình do Nhà nước cung cấp, việc lượng hóa chi phí cụ thể để từng người dân phải trả khi thụ hưởng các dịch vụ này theo nguyên tắc ngang giá là rất khó thực hiện, nên việc thu hồi chi phí trực tiếp cũng rất khó khăn Do vậy, nhiều nước trên thế giới đều dùng công cụ thuế (chủ yếu là thuế gián thu để thu hồi các chi phí này)

+ Đối với dịch vụ công cộng hữu hình do Nhà nước cung cấp, thì Nhà nước cũng phải xác định “giá phí” mà người thụ hưởng phải thanh toán Tuy nhiên “giá phí” này thường không hoàn toàn vì mục đích kinh tế mà còn mang ý nghĩa chính trị, xã hội

Do đó, chúng phổ biến là không tính đủ chi phí đầu tư cung cấp dịch vụ công cộng hữu hình cho xã hội, đồng thời cũng là các khoản chi phí mà người dân phải trả khi thụ hưởng các dịch vụ công cộng đó

Ngoài ra, trong quá trình hoạt động, một số cơ quan thuộc bộ máy Nhà nước còn cung cấp các dịch vụ hành chính pháp lý cụ thể cho dân chúng Người dân thụ hưởng dịch

vụ này cũng phải trả một phần chi phí Tuy thế, việc thu khoản tiền này hoàn toàn không có ý nghĩa là thu hồi một phần chi phí do cơ quan của bộ máy Nhà nước bỏ ra,

ở đây không phải là thu phí, không phải là giá dịch vụ mà khoản thu này chủ yếu để phục vụ yêu cầu quản lý Nhà nước Người dân thụ hưởng dịch vụ này có nghĩa vụ nộp cho Nhà nước một khoản tiền Đây chính là các khoản lệ phí Như vậy, lệ phí là khoản thu phát sinh ở các cơ quan của bộ máy chính quyền Nhà nước có cung cấp dịch vụ công cộng về hành chính, pháp lý cho dân chúng Lệ phí thường là khoản thu nhỏ, rải rác, chủ yếu phát sinh ở các địa phương

Thu phí và lệ phí nhằm tạo nên thu nhập, bù đắp chi tiêu của Nhà nước ở các lĩnh vực tạo ra hàng hóa dịch vụ công cộng, hành chính, pháp lý, góp phần thực hiện công bằng

xã hội khi thụ hưởng các hàng hóa dịch vụ công cộng của dân chúng Đồng thời, qua việc thu phí và lệ phí Nhà nước thực hiện việc quản lý và kiểm soát có hiệu quả hơn các hoạt động xã hội trong khuôn khổ pháp luật, giúp cho người dân nâng cao ý thức trách nhiệm đối với các giá trị vật chất và tinh thần của cộng đồng xã hội

Trang 32

Thu thuế, phí và lệ phí là những khoản thu thường xuyên, chiếm từ 90 - 95% trong số thu NSNN

- Ngoài những khoản thu thường xuyên, chúng ta còn có những khoản thu không thường xuyên:

+ Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước (như thu hồi vốn, chia lãi góp vốn, thu hồi tiền vay, phụ thu, thu chênh lệch giá, );

+ Thu sự nghiệp: là khoản thu gắn liền với hoạt động sự nghiệp;

+ Thu hồi quỹ dự trữ Nhà nước;

+ Thu tiền sử dụng đất, thu tiền cho thuê đất;

+ Các khoản huy động đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội;

+ Tiền bán tài sản, cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước trong các đơn vị hành chính

sự nghiệp;

+ Các di sản Nhà nước được hưởng;

+ Các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức, các nhân trong và ngoài nước Đây

là khoản đóng góp thường mang tính chất nhân đạo;

+ Thu tiền kết dư ngân sách năm trước;

+ Thu tiền phạt, tiền bán hàng tịch thu;

+ Thu viện trợ bằng tiền, bằng hiện vật của Chính phủ các nước, các tổ chức và các cá nhân nước ngoài;

+ Các khoản vay trong nước, vay nước ngoài của Chính phủ để bù đắp bội chi ngân sách và các khoản huy động vốn đầu tư của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

+ Các khoản thu khác theo pháp luật quy định: Là những khoản thu không quy định ở trên như: thu về hợp tác lao động với nước ngoài, thu hồi tiền thừa năm trước [3]

1.2.5.2 Xây dựng kế hoạch thu ngân sách

Trang 33

Sau khi nhận được thông tin hướng dẫn từ cấp trên xuống, quá trình lập dự toán được tiến hành từ cơ sở và tổng hợp từ dưới lên Thời gian lập dự toán được quy định từ 10/6 hàng năm Các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm trong việc thu, chi ngân sách phải

tổ chức lập dự toán thu, chi ngân sách trong phạm vi nhiệm vụ được giao và báo cáo

cơ quan tài chính cùng cấp Cơ quan tài chính cấp địa phương xem xét dự toán của các

cơ quan, đơn vị cùng cấp và dự toán ngân sách của chính quyền cấp dưới tổng hợp, lập

dự toán và phương án phân bổ ngân sách địa phương để trình Ủy ban nhân dân cùng cấp Ủy ban nhân dân cùng cấp có trách nhiệm lập dự toán và phương án phân bổ ngân sách địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định và báo cáo cơ quan hành chính Nhà nước, cơ quan tài chính cấp trên Bộ Tài chính xem xét dự toán ngân sách các cơ quan trung ương, dự toán ngân sách địa phương, tổng hợp và lập dự toán ngân sách Nhà nước trình Chính phủ Được chia thành 3 giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Hướng dẫn lập dự toán ngân sách và thông báo số kiểm tra

- Giai đoạn 2: Lập và thảo luận dự toán ngân sách

- Giai đoạn 3: Quyết định phân bổ, giao dự toán ngân sách Nhà nước

Sau khi nhận được quyết định giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách của Uỷ ban nhân dân cấp trên, Uỷ ban nhân dân trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định dự toán ngân sách địa phương và phương án phân bổ dự toán ngân sách cấp mình, đảm bảo dự toán ngân sách cấp xã được quyết định trước ngày 31 tháng 12 năm trước

1.2.5.3 Tổ chức thực hiện thu ngân sách

Trên cơ sở nhiệm vụ thu cả năm được giao và nguồn thu dự kiến phát sinh trong quý,

cơ quan thu lập dự toán thu ngân sách quý chi tiết theo khu vực kinh tế, địa bàn và đối tượng thu chủ yếu gửi cơ quan tài chính vào cuối quý trước

Thu ngân sách nhà nước được thực hiện theo Luật (các luật thuế, pháp lệnh phí và lệ phí, ) Tất cả các nguồn thu đều được thực hiện thông qua hệ thống kho bạc nhà nước

Cơ quan thu bao gồm: cơ quan Thuế, Hải quan, Tài chính và các cơ quan khác được Nhà nước giao nhiệm vụ thu ngân sách Các khoản thu có tính chất nội địa như thuế,

Trang 34

phí, lệ phí thường do cơ quan Thuế thực hiện Cơ quan Hải quan tổ chức thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu Cơ quan Tài chính và các

cơ quan khác được ủy quyền thu các khoản thu còn lại của NSNN

1.2.5.4 Phân định nhiệm vụ thu đối với ngân sách địa phương

Phân định nhiệm vụ thu đối với ngân sách cấp quận, huyện

Theo quy định của Luật, quận (huyện) là một cấp ngân sách thuộc ngân sách địa phương và là một cấp ngân sách hoàn chỉnh thuộc Ngân sách nhà nước, Ủy ban nhân dân cấp quận, huyện là người điều hành ngân sách cấp mình

Nguồn thu 100% của quận (huyện) bao gồm: Thuế môn bài (trừ thuế môn bài thu từ các cá nhân và hộ kinh doanh nhỏ ở xã, thị trấn); các khoản phí, lệ phí từ các hoạt động do các cơ quan thuộc cấp quận, huyện quản lý; tiền thu từ hoạt động sự nghiệp của các cơ quan, đơn vị do cấp quận, huyện quản lý; viện trợ không hoàn lại của pháp luật; đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theo quy định; đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước cho ngân sách cấp quận, huyện; thu kết dư ngân sách cấp quận, huyện; bổ sung

từ ngân sách cấp tỉnh; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật

Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm giữa ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp quận (huyện) và ngân sách cấp xã gồm: Thuế chuyển quyền sử dụng đất; thuế nhà đất; thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; tiền sử dụng đất; thuế sử dụng đất nông nghiệp; thuế tài nguyên; lệ phí trước bạ; thuế tiêu thụ đặc biệt hàng sản xuất trong nước và một

số khoản thu khác theo quy định của pháp luật

Ngoài ra, đối với thị xã, thành phố thuộc tỉnh được phân chia với ngân sách cấp tỉnh theo tỷ lệ phần trăm khoản thu lệ phí trước bạ, không kể lệ phí trước bạ nhà đất phát sinh trên địa bàn do Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định nhưng không dưới 50%

Phân định nhiệm vụ thu đối với ngân sách cấp xã, phường, thị trấn

Theo quy định của Luật, ngân sách cấp xã có các nguồn thu sau:

Trang 35

Nguồn thu 100% gồm: Thuế môn bài thu từ các cá nhân và nhóm kinh doanh nhỏ; các khoản phí, lệ phí và đóng góp thu cho ngân sách xã theo quy định của pháp luật; thu hoa lợi công sản khác; tiền thu từ hoạt động sự nghiệp do xã, thị trấn quản lý; các khoản đoán góp tự nguyện cho xã, thị trấn; viện trợ không hoàn lại của các tổ chức và

cá nhân ở trong và ngoài nước trực tiếp cho các xã, thị trấn theo quy định của pháp luật; thu kết dư ngân sách xã, thị trấn; bổ sung từ ngân sách cấp trên; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật

Nguồn thu điều tiết gồm: Thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế nhà đất, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế tài nguyên, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng sản xuất trong nước Tỷ lệ phân chia các nguồn thu này do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định nhưng không dưới 70% [3]

1.2.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng thu ngân sách

1.2.6.1 Mức độ tăng trưởng của nền kinh tế

Chỉ tiêu thu nhập GDP bình quân đầu người phản ánh tốc độ tăng trưởng và phát triển của một quốc gia, phản ánh khả năng tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của một nước Thu nhập GDP bình quân đầu người càng cao thì khả năng tiêu dùng của dân chúng được bảo đảm, đồng thời người dân cũng có điều kiện tiết kiệm để đầu tư vào sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy kinh tế tăng trưởng và phát triển Ngược lại, nếu mức thu nhập GDP bình quân đầu người quá thấp không đủ để tiêu dùng thì sẽ không có nguồn vốn để đầu tư phát triển kinh tế Như vậy, thu nhập GDP bình quân đầu người là yếu tố thu khách quan quyết định mức độ động viên của NSNN: Thu nhập càng cao thì tỷ lệ động viên càng cao và ngược lại

So với các nước trong ASEAN, thu nhập trung bình của người Việt Nam vẫn còn ở khoảng cách rất xa, dù được cải thiện nhiều do đổi mới và mở cửa cách đây hơn một phần tư thế kỷ Tính theo tỉ giá hối đoái, GDP đầu người của Việt Nam tăng từ mức 14 USD năm 1991 lên 2.385 USD năm 2017

Theo số liệu về tổng sản phẩm trong nước, được bộ kế hoạch và đầu tư công bố cho thấy, tốc độ tăng GDP của Việt Nam từ đầu năm đến nay có nhiều cải thiện và tăng dần qua từng quí Cụ thể, tốc độ tăng trưởng GDP quí III/2017 ước đạt khoảng 5,35%,

Trang 36

tuy thấp hơn so với cùng kì năm trước nhưng mức tăng này cao hơn mức tăng 4% của quí I và mức tăng 4,665 của quí II, đã thể hiện sự cố gắng lớn của nền kinh tế trong điều kiện phải tập trung mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô

1.2.6.2 Hệ thống pháp luật trong lĩnh vực thu ngân sách nhà nước

Hệ thống pháp luật trong lĩnh vực thu NSNN có ảnh hưởng rất nhiều đến công tác thu NSNN ở địa phương Trong những năm qua vẫn còn những khoản thu, sắc thuế có tiến

độ thu đạt thấp so với dự toán, đặc biệt là các khoản thu liên quan đến hoạt động sản

xuất kinh doanh như thu từ DNNN, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thu

từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh Thu nội địa đạt thấp hơn so với yêu cầu tiến độ

dự toán, lũy kế 5 tháng đầu năm đạt 388.260 tỷ đồng, bằng 39,2% dự toán; trong đó, một số khoản thu lớn có liên quan đến hoạt động sản xuất – kinh doanh đạt thấp, đặc biệt là thu từ khu vực DNNN (chủ yếu nguồn thu của NSTW) chỉ đạt 29,1% dự toán

và thu từ khu vực doanh nghiệp có vốn ĐTNN đạt 36,1% dự toán, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 39,8% dự toán

Nguyên nhân chủ yếu do tăng trưởng kinh tế quý I/2017 đạt thấp (chỉ tăng 5,1%) đã ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tăng trưởng của một

số ngành công nghiệp có đóng góp số thu lớn cho ngân sách như khai khoáng, điện tử, điện thoại, chế biến thực phẩm,… đạt thấp Ngoài ra, việc điều chỉnh thuế suất thuế nhập khẩu theo lộ trình cam kết tại các FTA cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình sản xuất của các DN có vốn ĐTNN đặc biệt là các doanh nghiệp có số thu nộp NSNN lớn như Honda, Toyota,… Ngoài ra, tiến độ thu đạt thấp, đặc biệt là thu từ khối DNNN có tác động mạnh đến thu ngân sách Trung ương khi thực hiện thu NSTW 6 tháng đầu năm 2017 mới đạt có 35,7% dự toán

Do đó cần phải tập trung hoàn thiện thể chế chính sách, pháp luật về thu NSNN Trong

đó, tiếp tục rà soát hệ thống các chính sách thu NSNN để hoàn thiện theo hướng tăng cường tính công khai, minh bạch, giảm thủ tục hành chính thuế, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong khai nộp thuế Trong quản lý điều hành, tổ chức triển khai thực hiện tốt các Nghị quyết của Trung ương, của Quốc hội, của Chính phủ, các luật như Luật NSNN, Luật phí và lệ phí năm 2015; tổ chức thực hiện tốt các nhiệm vụ thu NSNN năm 2017; hạn chế tối đa việc đề xuất, ban hành các chính sách mới làm giảm

Trang 37

thu NSNN (trừ các cam kết quốc tế) Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, hải quan theo các Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP, Nghị quyết số 36a/NQ-

CP, Nghị quyết số 41/NQ-CP nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện cho phát triển doanh nghiệp, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sức cạnh tranh Đẩy mạnh kê khai thuế qua mạng điện tử, thực hiện quy trình thu nộp theo phương thức điện tử tự động tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế cũng như nâng cao hiệu quả trong quản lý thuế

1.2.6.3 Tổ chức, quản lý thực hiện thu ngân sách

Trong quá trình thu NSNN cần tổ chức bộ máy thu nộp Bộ máy thu NSNN phải tổ chức gọn nhẹ nhưng bao quát hết toàn bộ nguồn thu, thu đúng, thu đủ, thu theo Luật định Bộ máy thu NSNN phải đảm bảo được nguyên tắc thu ngân sách nhiều nhất, chi phí thu ít nhất

Tổ chức bộ máy thu nộp có ảnh hưởng trực tiếp đến NSNN Tổ chức bộ máy gọn nhẹ, đạt hiệu quả cao, chống được thất thu do trốn lậu, thuế sẽ là nhân tố tích cực làm giảm

tỉ suất thu mà vẫn thỏa mãn được nhu cầu chi của NSNN

Thu NSNN đang đứng trước vấn đề thâm hụt trầm trọng, nhiều yếu tố giảm thu NSNN đang xuất hiện làm cho khả năng mất cân đối thu chi NSNN cả năm trở thành thách thức nhất đối với nền kinh tế

Chính sách tài khóa của Việt Nam chưa thực sự nuôi dưỡng nguồn thu một cách hợp

lí Việt Nam mới xây dựng chính sách thu nhưng làm thế nào để có nguồn thu thì chính sách chưa đề cập đến một cách thỏa đáng nên nguồn thu giảm sút cũng có phần

do chính sách tài khóa tạo ra Trong khi đó, thực hiện chính sách tài khóa chưa nghiêm túc, đôi lúc còn chưa được thực hiện tốt các qui định tài chính, việc chậm nộp thuế, thất thu thuế vẫn còn, chi tiêu lãng phí, thực hành tiết kiệm chưa cao, nên dẫn đến việc thu NSNN chưa đạt mục tiêu đề ra

Nguyên nhân khác là do cơ chế tài chính rườm rà, phức tạp nên các giải ngân các dự

án, công trình gặp nhiều khó khăn gây tổn hại tăng trưởng kinh tế Trước vấn đề trên,

để đạt được mục tiêu ngân sách cần tiếp tục kiềm chế lạm phát, giữ vững kinh tế vĩ

mô, thực hiện chính sách tài khóa linh hoạt

Trang 38

Chi phí thời gian thực hiện các quy định về thuế cho thấy, mỗi năm doanh nghiệp phải mất 1959,2 giờ (tương đương khoảng 244,9 ngày) để thực hiện các nghĩa vụ thuế của mình

Thuế thu nhập doanh nghiệp đã giảm từ 32% đến 28% thuế suất, thuế GTGT đã giảm

từ mức 4 xuống còn mức 3 và mức 2

1.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan

Việc nghiên cứu quản lý thu, chi ngân sách nhà nước ở nước ta trong những năm qua có rất nhiều các công trình nghiên cứu các nhà khoa học, các cơ quan trung ương và địa phương như:

“Một số vấn đề về quản lý và điều hành NSNN” (2005), Đặng Văn Thanh, NXB Chính

trị Quốc gia Tác giả đã phân tích một số vấn đề về quản lý Ngân sách nhà nước trong thời gian từ 2005 trở về trước, đánh giá những mặt được và những mặt còn hạn chế trong quản lý; đề xuất một số định hướng trong quản lý và điều hành Ngân sách Nhà nước hiệu quả trong thời gian tới [6]

“Phát triển tài chính Việt Nam giai đoạn 2001 – 2005 và định hướng giai đoạn 2006 – 2010” của tác giả Đặng Văn Thanh trên Tạp chí Cộng sản số 19 tháng 10/2005 Bài viết đã nêu rõ công cuộc đổi mới trong lĩnh vực tài chính sau gần 20 năm đổi mới, những thành tự đạt được của hoạt động tài chính, cũng như những hạn chế yếu kém cần khắc phục Quán triệt quan điểm tài chính là mạch máu của nền kinh tế, có vai trò thúc đẩy, mở đường cho phát triển kinh tế xã hội bền vững, xác định nhiệm vụ và giải pháp trong thời gian tới

“Quản lý thu chi ngân sách ở các tỉnh duyên hải miền Trung”, của tác giả Nguyễn

Văn Tranh, Tạp chí Thuế số tháng 3/2005 Bài viết đã làm rõ hệ thống cơ sở lý luận về thu chi ngân sách nhà nước Đánh giá thực trạng công tác quản lý thu chi ngân sách tại các tỉnh duyên hải miền trung Tác giả đã đưa ra được kết quả, hạn chế và nguyên nhân từ đó đưa ra các giải pháp tích cực nhằm tăng cường quản lý thu chi ngân sách cho các tỉnh duyên hải miền trung Tác giả đã kế thừa từ luận văn này một số cơ sở lý luận về thu ngân sách nhà nước nói chung, một số phương pháp nghiên cứu, một số giải pháp quản lý cho quá trình nghiên cứu của mình [7]

Trang 39

Tạp chí Tài chính số 2/2015 “Thành tựu tài chính ngân sách qua 30 năm đổi mới” của

viện nghiên cứu chiến lược và chính sách tài chính theo đó phân định rõ về nguồn thu

và nhiệm vụ chi của các cấp chính quyền, thẩm quyền của các cơ quan nhà nước trong việc lập, phê chuẩn và quyết toán NSNN; thực hiện thay đổi một cách căn bản phương thức quản lý NSNN

Tiếp đó, việc hoàn chỉnh các cơ chế, chính sách thuế, hải quan, kho bạc đã được chú trọng, làm đòn bẩy kích thích và hướng dẫn sản xuất, kinh doanh; bảo đảm nguồn thu ngân sách và điều tiết thu nhập, thực hiện công bằng xã hội; xây dựng bộ máy và phương thức thu ngân sách có hiệu lực, hiệu quả; đánh giá đúng và khai thác, sử dụng

có hiệu quả tài sản, tài nguyên quốc gia, nâng dần tỷ lệ động viên thu nhập quốc dân vào ngân sách Đặc biệt, cải cách hệ thống chính sách thuế và thu ngân sách đã thể hiện tính tiên phong đi đầu trong quá trình đổi mới Hệ thống chính sách thuế đã trở thành công cụ quan trọng trong quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế Hệ thống chính sách thuế đã được quy định khá đầy đủ, rõ ràng, công khai, minh bạch, bao quát hết các nguồn thu chủ yếu của NSNN, đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và đảm bảo nguồn tài chính cho sự nghiệp phát triển KTXH

“Giải pháp thu ngân sách nhà nước năm 2013: nhìn từ bài học năm 2012” TS Vũ Sỹ

Cường - Học Viện tài chính Tạp chí tài chính ngày 06/3/2013 Bài viết nhìn lại một số nét khái quát về tình hình thu ngân sách năm 2012, đề xuất những bài học và giải pháp cho thực hiện dự toán thu ngân sách nhà nước năm 2013 Bài viết đã đề xuất một số giải pháp cụ thể về tăng thu ngân sách năm 2013 của cả nước Trên cơ sở đó, tác giả nghiên cứu giải pháp cụ thể của địa bàn Huyện áp dụng trong thời gian nghiên cứu thực tế [8]

Hội thảo khoa học bàn về vấn đề Ngân sách nhà nước như: “Nâng cao

hiệu quả và tăng trưởng bền vững” (Hà nội ngày 30 - 31/10/2013 tại Hà Nội, Viện

Chiến lược phát triển (Viện CLPT) thuộc Bộ Kế hoạch & Đầu tư Việt Nam phối hợp với Viện Phát triển Hàn Quốc (KDI) tổ chức Hội nghị khu vực Châu Á trong khuôn khổ chương trình chia sẻ tri thức năm 2013) Các ý kiến trong hội nghị chỉ ra hiệu quả công tác đầu tư công tại Việt nam trong thời gian qua; Những kinh nghiệm của Hàn Quốc trong việc quản lý đầu tư công được đánh giá là gần gũi và phù hợp với nhiều

Trang 40

nước đang phát triển ở châu Á, trong đó có Việt Nam Các tài liệu sử dụng trong hội thảo với phạm vi nghiên cứu rộng bao gồm thu, chi NSNN; quản lý trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, an ninh quốc phòng, xã hội

Ngoài ra, còn có các luận văn Thạc sĩ, Tiến sĩ nghiên cứu về vấn đề này như:

Đề tài “Phương hướng hoàn thiện phân cấp quản lý ngân sách địa phương theo đặc

điểm của mỗi cấp chính quyền ở Việt Nam” (2002), Luận án tiến sĩ kinh tế của Hoàng

Công Uẩn, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh Công trình này đã nghiên cứu cơ chế phân cấp quản lý NSNN từ trung ương trở xuống Tuy nhiên chưa nghiên cứu cụ thể cơ chế phân cấp quản lý NSNN giữa ngân sách cấp tỉnh và ngân sách cấp huyện, đặc biệt tại một địa bàn cụ thể Ở công trình này tác giả đã kế thừa về mặt cơ sở lý luận của cơ chế phân cấp quản lý NSNN áp dụng vào cơ chế phân cấp quản lý NSNN cấp tỉnh và cấp huyện cho luận văn của mình [9]

Đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước huyện Đức Phổ” (2011) luận

văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Huỳnh Thị Cẩm Liêm, trường Đại học Đà Nẵng

Đề tài “Hoàn thiện cơ chế phân cấp ngân sách của các cấp chính quyền địa phương”

(2002), luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Phạm Đức Hồng Ở đề tài này tác giả cũng đã nghiên cứu lý luận về phân cấp ngân sách, trong đó có phân cấp ngân sách địa phương

và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện ngân sách địa phương Nhìn từ đề tài này tác giả kế thừa được những nét tinh tú của ngân sách địa phương, đưa vào cụ thể địaphương mình trực tiếp nghiên cứu về mặt lý luận và mặt giải pháp [10]

Đề tài “Tăng cường quản lý thu, chi ngân sách nhà nước huyện Đại Từ, tỉnh Thái

Nguyên” (2012) luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Bùi Minh Thành trường Đại học

Kinh tế và quản trị kinh doanh năm 2012

Đề tài “Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý ngân sách

cấp huyện ở tỉnh Thái Nguyên” năm 2007, luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Hà Việt

Hoàng Đề tài này gần sát với đề tài mà tác giả đang nghiên cứu Tuy nhiên phạm vi rộng hơn, nói về công tác quản lý ngân sách cấp huyện nói chung, ở cả hai mảng thu chi ngân sách nhà nước Qua đề tài này tác giả kế thừa được những cơ sở lí luận về

Ngày đăng: 06/05/2021, 11:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Bộ tài chính, Thông tư số 80/2003/TT-BTC ngày 13/8/2003, Hướng dẫn tập trung quản lý các khoản thu NSNN qua Kho bạc Nhà nước, Hà Nội (2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn tập trung quản lý các khoản thu NSNN qua Kho bạc Nhà nước
Tác giả: Bộ tài chính
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2003
[5]. Lê Văn Ái, “Những vấn đề lý luận cơ bản về thuế trong nền kinh tế”, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội (2000) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận cơ bản về thuế trong nền kinh tế
Tác giả: Lê Văn Ái
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 2000
[6]. Đặng Văn Thanh, “Một số vấn đề về quản lý và điều hành NSNN” , NXB Chính trị Quốc gia (2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số vấn đề về quản lý và điều hành NSNN”
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia (2005)
[7]. Đặng Văn Thanh, “Quản lý thu chi ngân sách ở các tỉnh duyên hải miền Trung”,(2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quản lý thu chi ngân sách ở các tỉnh duyên hải miền Trung”
[8]. Vũ Sỹ Cường - Học Viện tài chính, đề tài “Giải pháp thu ngân sách nhà nước năm 2013” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp thu ngân sách nhà nước năm 2013
[9]. Hoàng Công Uẩn, Đề tài “Phương hướng hoàn thiện phân cấp quản lý ngân sách địa phương theo đặc điểm của mỗi cấp chính quyền ở Việt Nam” (2002) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương hướng hoàn thiện phân cấp quản lý ngân sách địa phương theo đặc điểm của mỗi cấp chính quyền ở Việt Nam
Tác giả: Hoàng Công Uẩn
Năm: 2002
[10]. Phạm Đức Hồng, Đề tài “Hoàn thiện cơ chế phân cấp ngân sách của các cấp chính quyền địa phương” (2002) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện cơ chế phân cấp ngân sách của các cấp chính quyền địa phương
[11]. Hà Việt Hoàng, đề tài “Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý ngân sách cấp huyện ở tỉnh Thái Nguyên” (2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý ngân sách cấp huyện ở tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Hà Việt Hoàng
Năm: 2007
[12]. Nguyễn Hoài Phương, đề tài “Hoàn thiện quản lý thu, chi ngân sách nhà nước của thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa” (2006) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện quản lý thu, chi ngân sách nhà nước của thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Tác giả: Nguyễn Hoài Phương
Năm: 2006
[13]. Nguyễn Ngọc Tuấn, Đề tài "Giải pháp tăng thu trong cân đối ngân sách trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình" (2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp tăng thu trong cân đối ngân sách trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình
Tác giả: Nguyễn Ngọc Tuấn
Năm: 2009
[16]. UBND huyện Đoan Hùng, Báo cáo phát triển kinh tế xã hội huyện Đoan Hùng giai đoạn 2016 – 2018. Phương hướng nhiệm vụ giai đoạn 2019 – 2021, Huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ (2018) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phát triển kinh tế xã hội huyện Đoan Hùng giai đoạn 2016 – 2018. Phương hướng nhiệm vụ giai đoạn 2019 – 2021
Tác giả: UBND huyện Đoan Hùng
Nhà XB: Huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ
Năm: 2018
[17]. UBND huyện Đoan Hùng, Báo cáo quyết toán ngân sách huyện giai đoạn 2016 – 2018 (2018) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quyết toán ngân sách huyện giai đoạn 2016 – 2018
[2]. Quốc hội, Luật ngân sách nhà nước số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002 Khác
[3]. Quốc hội, Luật ngân sách nhà nước số 83/2015/QH13 ngày 25/6/2015 Khác
[4]. Bộ tài chính, Tài liệu bồi dưỡng kiến thức kinh tế - tài chính Tập 1 và 2, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội (2003) Khác
[14]. Nghị quyết Hội đồng nhân dân huyện Đoan Hùng. Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội đến năm 2021 Khác
[15]. Phụ lục quyết toán thu hằng năm giai đoạn 2016 – 2018 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w