Mục đích nghiên cứu của đề tài là đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Mời các bạn cùng tham khảo để nắm chi tiết nội dung của luận văn.
Tính cấp thiết của đề tài
Bảo hiểm xã hội (BHXH) cùng với Bảo hiểm y tế (BHYT) và Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) là chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước, đóng vai trò thiết yếu trong việc ổn định đời sống nhân dân và thực hiện công bằng xã hội Trong những năm qua, BHXH đã chứng tỏ vị trí của mình trong việc đảm bảo ổn định chính trị - xã hội Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 khẳng định rằng BHXH và BHYT là hai trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, góp phần vào tiến bộ và công bằng xã hội, cũng như phát triển kinh tế - xã hội.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam là cơ quan của Chính phủ, chịu trách nhiệm thực hiện các chế độ, chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp Bảo hiểm xã hội huyện Yên Dũng, trực thuộc Bảo hiểm xã hội Việt Nam và dưới sự quản lý của Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Giang, đã có nhiều đóng góp cho an sinh xã hội tại địa phương và toàn quốc Tuy nhiên, công tác thu bảo hiểm xã hội vẫn gặp một số khó khăn, bao gồm tình trạng trốn đóng, tỷ lệ tham gia thấp và gian lận trong đăng ký cũng như kê khai quỹ lương.
Bảo hiểm xã hội huyện Yên Dũng đang đối mặt với nguy cơ mất cân đối quỹ trong tương lai gần, làm cho việc tăng cường quản lý thu bảo hiểm xã hội trở nên cấp thiết Vì vậy, học viên đã chọn đề tài “Tăng cường công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang” để nghiên cứu và đề xuất giải pháp.
Đề tài luận văn thạc sỹ của tác giả xoay quanh việc nghiên cứu "Giang", với mong muốn ứng dụng những kết quả nghiên cứu vào thực tiễn Mục tiêu chính là nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu tại Bảo hiểm xã hội huyện Yên Dũng.
Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: ix
Phương pháp thống kê được áp dụng để điều tra và phân tích các số liệu liên quan đến hoạt động thu bảo hiểm xã hội tại Huyện Yên Dũng, Bắc Giang Việc này nhằm cung cấp cái nhìn rõ ràng về hiệu quả thu nộp bảo hiểm xã hội trong khu vực, từ đó đưa ra các giải pháp cải thiện.
Phương pháp hệ thống hóa là công cụ quan trọng trong việc phân tích dữ liệu theo thời gian, giúp tổ chức và phân loại các văn bản pháp luật liên quan đến quản lý thu bảo hiểm xã hội Ứng dụng phương pháp này tại huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang sẽ tạo ra cái nhìn rõ ràng và có hệ thống về các quy định pháp lý trong từng cấp ngành, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý.
Phương pháp phân tích so sánh là cách thức đánh giá các số liệu hiện có bằng cách đối chiếu hoạt động thu ngân sách qua các năm và so sánh với các đơn vị quản lý thu khác Phương pháp này giúp xác định những tồn tại trong quá trình thu ngân sách và đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện hiệu quả quản lý thu.
Phương pháp phân tích tổng hợp là cách tiếp cận hiệu quả trong việc tổng hợp các kinh nghiệm thực tiễn và xác định những vấn đề còn tồn tại Qua đó, phương pháp này giúp định hướng các giải pháp khắc phục phù hợp, nhằm nâng cao hiệu quả và cải thiện tình hình hiện tại.
Phương pháp đối chiếu với hệ thống văn bản pháp quy là việc so sánh các số liệu và hoạt động trong lĩnh vực quản lý thu bảo hiểm xã hội với các quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật liên quan Điều này giúp đảm bảo tính hợp pháp và hiệu quả trong việc thực hiện các hoạt động bảo hiểm xã hội.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Những kết quả nghiên cứu cung cấp thông tin quý giá cho việc học tập, giảng dạy và nghiên cứu về quản lý thu bảo hiểm xã hội, đồng thời mang lại ý nghĩa thực tiễn quan trọng cho các bên liên quan.
Các kết quả nghiên cứu cung cấp những thông tin hữu ích, góp phần định hướng cho công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội tại huyện Yên Dũng cũng như toàn tỉnh Bắc Giang trong bối cảnh hiện nay.
Kết quả dự kiến đạt được
Kết quả dự kiến đạt được bao gồm:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn của quản lý thu bảo hiểm xã hội.
- Thực trạng công tác tổ chức quản lý thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện Yên Dũng.
Để nâng cao hiệu quả quản lý thu bảo hiểm xã hội tại huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang, cần triển khai các giải pháp thiết thực như tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về quyền lợi và nghĩa vụ tham gia bảo hiểm xã hội Đồng thời, cải thiện quy trình thu và quản lý dữ liệu để đảm bảo tính chính xác và minh bạch Bên cạnh đó, khuyến khích sự hợp tác giữa các cơ quan chức năng và doanh nghiệp trong việc thực hiện nghĩa vụ đóng bảo hiểm, cũng như áp dụng công nghệ thông tin để tối ưu hóa quy trình quản lý.
Nội dung của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, gồm 3 nội dung chính sau:
Chương 1 : Tổng quanlý luậnvềbảo hiểm xã hội và quản lý thu bảo hiểm xã hội
Chương 2 : Thực trạng công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
Chương 3 : Giải pháp tăng cường công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội tại địa bàn huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ
Tổng quan về bảo hiểm xã hội và công tác thu bảo hiểm xã hội
1.1.1 Tổng quan về bảo hiểm xã hội
Theo Điều 3, Mục 1 của Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13, bảo hiểm xã hội là hình thức bảo đảm giúp bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ gặp khó khăn về tài chính do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, đến tuổi nghỉ hưu hoặc qua đời, dựa trên sự đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội.
Có 2 hình thức Bảo hểm xã hội là BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện
Bảo hiểm xã hội bắt buộc là hình thức bảo hiểm do Nhà nước tổ chức, yêu cầu cả người lao động và người sử dụng lao động tham gia.
Bảo hiểm xã hội tự nguyện là hình thức bảo hiểm do Nhà nước tổ chức, cho phép người tham gia tự chọn mức và phương thức đóng phù hợp với thu nhập cá nhân Nhà nước cũng có chính sách hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội, giúp người tham gia hưởng các chế độ hưu trí và tử tuất theo quy định tại Luật BHXH số 58/2014/QH13 ngày 20 tháng 11.
Bảo hiểm xã hội (BHXH) cùng với Bảo hiểm y tế (BHYT) đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định cuộc sống của người lao động BHXH hỗ trợ người lao động khi gặp rủi ro như ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và thất nghiệp, giúp họ nhanh chóng phục hồi sức khỏe và trở lại làm việc.
Tham gia Bảo hiểm xã hội (BHXH) và Bảo hiểm y tế (BHYT) là cách đảm bảo hỗ trợ chính sách cho những người thuộc chế độ hưu trí Khi người lao động đến tuổi nghỉ hưu hoặc không còn khả năng lao động, họ có thể nhận được sự hỗ trợ tài chính, giúp ổn định cuộc sống.
Chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH) và bảo hiểm y tế (BHYT) đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định và nâng cao chất lượng lao động Điều này không chỉ đảm bảo sự bình đẳng về vị thế xã hội của người lao động trong các thành phần kinh tế khác nhau mà còn thúc đẩy sự phát triển của sản xuất.
BHXH và BHYT là những công cụ quan trọng của Nhà nước, giúp phân phối lại thu nhập quốc dân một cách công bằng giữa các tầng lớp dân cư Đồng thời, chúng cũng giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước và đảm bảo an sinh xã hội bền vững.
1.1.1.4 Quỹ bảo hiểm xã hội
Theo Điều 3, Mục 4 của Luật Bảo hiểm xã hội số 58, quỹ bảo hiểm xã hội là quỹ tài chính độc lập, được hình thành từ sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động, cùng với sự hỗ trợ từ Nhà nước.
1.1.1.5 Các chế độ Bảo hiểm xã hội
- Bảo hiểm xã hội bắt buộc có các chế độ sau đây: Ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất.
- Bảo hiểm xã hội tự nguyện có các chế độ sau đây: hưu trí, tử tuất.
- Bảo hiểm hưu trí bổ sung do Chính phủ quy định(đang xây dựng)
[Điều 4 – Luật BHXH số 58/QH/2014 ngày 20 tháng 11 năm 2014]
1.1.1.6 Các nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm xã hội
- Thứ nhất, mức hưởng BHXH được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng BHXH và có chia sẻ giữa những người tham gia BHXH.
Mức đóng Bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc và Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) được xác định dựa trên tiền lương, tiền công của người lao động Đối với BHXH tự nguyện, mức đóng được tính theo mức thu nhập do người lao động lựa chọn, nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu chung.
Người lao động có thời gian đóng BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện sẽ được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất, dựa trên thời gian đã đóng BHXH.
Quỹ BHXH được quản lý một cách thống nhất, dân chủ và minh bạch, đảm bảo sử dụng đúng mục đích Quỹ này được hạch toán độc lập theo các thành phần của BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp (BHTN).
- Thứ năm, việc thực hiện BHXH phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHXH.
1.1.2 Khái quát chung về công tác thu bảo hiểm xã hội
Thu BHXH là hoạt động mà Nhà nước thông qua cơ quan BHXH yêu cầu các đối tượng đóng bảo hiểm xã hội theo mức phí quy định, đồng thời cho phép một số đối tượng tự nguyện tham gia với mức đóng và phương thức phù hợp với thu nhập của họ Qua đó, hình thành quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo cho hoạt động bảo hiểm xã hội.
- Số đối tượng phải thu là rất lớn và gia tăng theo thời gian nên công tác quản lý thu BHXH là rất khó khăn và phức tạp.
Công tác thu diễn ra định kỳ và lặp lại, dẫn đến khối lượng công việc lớn Do đó, cần có nguồn nhân lực và cơ sở vật chất tương ứng để đảm bảo hiệu quả cho công tác thu này.
- Đối tượng thu là tiền nên dễ xảy ra sai pham, vi phạm đạo đức và lạm dụng quỹ vốn tiền thu BHXH.
Quỹ BHXH đang được triển khai với mục tiêu trở thành một quỹ độc lập, không phụ thuộc vào ngân sách nhà nước, nhằm đảm bảo tài chính cho việc chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội.
Công tác thu bảo hiểm xã hội (BHXH) ngày càng trở nên quan trọng và quyết định cho sự tồn tại và phát triển của chính sách BHXH.
Cơ sở lý luận về công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội
1.2.1 Khái niệm, vai trò, mục đích quản lý thu bảo hiểm xã hội
1.2.1.1 Khái niệm công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội
Quản lý thu bảo hiểm xã hội (BHXH) là quá trình tổ chức và điều chỉnh hoạt động thu BHXH thông qua các biện pháp hành chính, kinh tế và pháp luật Mục tiêu của quản lý này là đảm bảo thu đúng, đủ và kịp thời, đồng thời ngăn chặn tình trạng thất thu tiền đóng BHXH theo quy định pháp luật.
1.2.1.2 Vai trò, mục đích của quản lý thu bảo hiểm xã hội
Thứ nhất: Tạo sự thống nhất trong hoạt động thu BHXH.
Hoạt động thu BHXH có đặc thù riêng biệt với sự đa dạng và phức tạp trong đối tượng tham gia, bao gồm nhiều ngành nghề, độ tuổi và thu nhập khác nhau, cũng như sự khác biệt về vị trí địa lý và vùng miền Để đảm bảo hiệu quả và công bằng trong việc thu BHXH, cần có sự thống nhất trong quản lý, tạo sự đồng thuận giữa các cấp trong hệ thống BHXH Quá trình quản lý đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức và thực hiện thu BHXH.
8 hoạt động thu BHXH được thống nhất: thống nhất về đối tượng thu, về hồ sơ, quy trình thu
Thứ hai: Đảm bảo hoạt động thu BHXH bền vững, hiệu quả
BHXH là trụ cột chính của an sinh xã hội, do đó, việc đảm bảo sự ổn định, bền vững và hiệu quả trong thu BHXH là mục tiêu quan trọng của mọi quốc gia Để đạt được điều này, hoạt động thu BHXH cần được định hướng đúng đắn, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của từng thời kỳ và được phối hợp nhịp nhàng Quá trình quản lý thu BHXH giúp xác định mục tiêu chung là thu đúng, thu đủ, không để thất thu, từ đó tập trung mọi nỗ lực của cá nhân và tổ chức vào mục tiêu này Quản lý thu hiệu quả sẽ huy động tối đa nguồn thu, đảm bảo cân đối quỹ BHXH, từ đó tăng cường quỹ và đảm bảo quyền lợi cho người lao động, cũng như mở rộng các chế độ hưởng.
Thứ ba: Quản lý thu giúp Nhà nước có thể kiểm tra, đánh giá hoạt động thu BHXH
Thu BHXH là một lĩnh vực tài chính dễ xảy ra thất thoát do sai sót, cả vô ý lẫn cố ý Việc quản lý và kiểm tra chặt chẽ giúp đảm bảo các quy định về thu BHXH được thực hiện nghiêm túc, đồng thời đánh giá kịp thời và toàn diện tình hình thu BHXH trong thực tiễn.
1.2.2 Căn cứ pháp lý trong quản lý thu bảo hiểm xã hội
Hằng năm, các cơ quan BHXH tại tỉnh, thành phố và quận, huyện thực hiện kiểm tra việc tuân thủ pháp luật về BHXH, BHYT và BHTN đối với các đơn vị tham gia trên địa bàn.
Nội dung kiểm tra bao gồm tình hình đóng bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) và bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), với các yếu tố như số lượng lao động, tiền lương làm căn cứ đóng, việc chuyển tiền đóng BHXH, BHYT, BHTN, cùng hồ sơ đăng ký tham gia và đóng BHXH, BHYT của đơn vị và người lao động.
9 b) Hồ sơ làm căn cứ điều chỉnh thông tin trên sổ BHXH, thẻ BHYT; truy thu BHXH, BHYT, BHTN
Để thực hiện kiểm tra, BHXH tỉnh và huyện căn cứ vào tình hình địa phương và kế hoạch hàng năm do BHXH Việt Nam giao Các đơn vị tham gia BHXH, BHYT sẽ được lập kế hoạch kiểm tra và báo cáo cho UBND cùng cấp nhằm phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền, hoặc thành lập đoàn kiểm tra để tổ chức thực hiện Các bước tiến hành kiểm tra sẽ được thực hiện theo quy trình đã được xác định.
Để kiểm tra và đối chiếu hồ sơ đóng BHXH, BHYT, BHTN, các đơn vị cần căn cứ vào bảng kê hồ sơ đăng ký và hồ sơ điều chỉnh gửi cơ quan BHXH Đồng thời, cần xem xét các thông báo kết quả đóng BHXH, BHYT hàng tháng và hàng năm từ cơ quan BHXH Việc này bao gồm việc đối chiếu với hồ sơ chứng từ như danh sách lao động trong biên chế, danh sách trả lương, hợp đồng lao động, quyết định của đơn vị đối với người lao động, và các chứng từ chuyển tiền đóng BHXH, BHYT, BHTN.
Kiểm tra các loại giấy tờ liên quan đến truy thu BHXH, BHYT, BHTN là cần thiết để điều chỉnh các yếu tố nhân thân Đồng thời, cần xem xét và điều chỉnh nghề nghiệp cho những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo quy định trong Phụ lục 02, Mục I.
- Lập biên bản kiểm tra.
Để khắc phục các sai sót trong quá trình đóng BHXH, BHYT, BHTN, đơn vị cần hiểu rõ quy định pháp luật và thực hiện điều chỉnh kịp thời Nếu đơn vị kê khai thiếu lao động hoặc nhầm lẫn mức tiền lương của người lao động, cần yêu cầu đơn vị thực hiện kê khai điều chỉnh và đóng đúng theo quy định.
Trong trường hợp vi phạm pháp luật liên quan đến bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) và bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), các hành vi như trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN; đóng không đúng mức lương của người lao động; thu tiền nhưng không thực hiện nghĩa vụ đóng; hoặc đóng không kịp thời và không đủ số tiền quy định đều bị xử lý nghiêm khắc theo quy định của pháp luật.
10 phải đóng; khai man, giả mạo hồ sơ thì lập biên bản và kiến nghịthanh tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
- Kế hoạch kiểm tra a) Kiểm tra định kỳ:
Hằng năm, BHXH tỉnh xây dựng kế hoạch và thực hiện kiểmtra thấp nhấtđạt 25% số đơn vị, cơ quan quản lý đối tượng trên địa bàn. b) Kiểmtra đột xuất:
Dựa trên tình hình tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) và bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), cũng như việc truy đóng các khoản này, số lượng đơn vị và người tham gia, cùng với mức tiền lương đóng góp, cơ quan chức năng sẽ lập kế hoạch và tiến hành thanh tra, kiểm tra đột xuất tại các đơn vị theo quy định của pháp luật.
Từ ngày 01/01/2016, BHXH tỉnh và BHXH huyện sẽ tiến hành thanh tra hàng năm đối với việc đóng BHXH, BHYT, BHTN của các đơn vị trên địa bàn Đối tượng thanh tra bao gồm các đơn vị đã bị phát hiện vi phạm pháp luật về BHXH, BHYT, BHTN nhưng chưa khắc phục, cũng như các đơn vị chưa được kiểm tra nhưng có dấu hiệu vi phạm trong việc đóng các loại bảo hiểm này.
- Nội dung, kế hoạch, phương pháp thanh tra:
Thực hiện theo Văn bản quy định của Chínhphủ và hướng dẫn của BHXH Việt Nam.
1.2.3 Mô hình và phân cấp quản lý thu bảo hiểm xã hội
1.2.3.1 Bảo hiểm xã hội cấp quận, huyện a) Thu tiền đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN của đơn vị đóng trụ sở trên
Huyện theo phân cấp của BHXH tỉnh có nhiệm vụ giải quyết các trường hợp truy thu và hoàn trả tiền đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN Đồng thời, huyện cũng tạm dừng việc đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất đối với các đơn vị và người tham gia Huyện sẽ thu tiền hỗ trợ mức đóng BHYT và BHXH tự nguyện từ ngân sách nhà nước Ngoài ra, huyện còn thu tiền đóng BHXH tự nguyện và BHYT từ người tham gia cư trú trên địa bàn Cuối cùng, huyện thu tiền đóng BHYT của các đối tượng do ngân sách nhà nước chi trả và ghi thu tiền đóng BHYT cho học sinh, sinh viên theo phân cấp của BHXH tỉnh.
1.2.3.2 Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh, thành phố a) Thu tiền đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN của các đơn vị chưa phân cấp cho BHXH huyện. b) Giải quyết các trường hợp truy thu, hoàn trả tiền đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN; tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất đối với đơn vị, người tham gia BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN do BHXH tỉnh trực tiếp thu. c) Thu tiền hỗ trợ mức đóng BHYT, hỗ trợ mức đóng BHXH tự nguyện của ngân tiền đóng BHYT của đối tượng do ngân sách nhà nước đóng; ghi thu tiền đóng BHYT của đối tượng do quỹ BHXH, quỹ BHTN đảm bảo, ngân sách trung ương hỗ trợ học sinh, sinh viên đang theo học tại cơ sở giáo dục do Bộ, cơ quan Trung ương quản lý.
Cơ sở thực tiễn về công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội
1.3.1 Công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội của một số nước trên thế giới
Hệ thống an sinh xã hội Đức đã được hình thành từ thế kỷ 19 với bốn loại bảo hiểm cơ bản: Bảo hiểm y tế (1883), bảo hiểm tai nạn (1884), bảo hiểm hưu trí (1889) và bảo hiểm thất nghiệp (1927) Từ năm 1994, bảo hiểm chăm sóc sức khỏe đã trở thành một phần quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội Ngoài ra, Đức cũng phát triển mạnh mẽ các hình thức bảo trợ xã hội khác như bảo trợ nuôi dưỡng trẻ em và bảo trợ cho người già Để đối phó với áp lực từ sự gia tăng tuổi thọ dân số và gánh nặng hưu trí, chính phủ Đức đã ban hành đạo luật cải cách hưu trí mới vào năm 2001 nhằm ổn định tỷ lệ đóng góp quỹ hưu trí Tiếp theo, vào năm 2004, cải cách hưu trí tiếp tục được thực hiện với mục tiêu tài chính bền vững, bao gồm việc tăng độ tuổi nghỉ hưu từ 65 lên 67 tuổi vào năm 2035 và duy trì tỷ lệ đóng góp vào hệ thống hưu trí công cộng ở mức 20% vào năm 2020 và 22% vào năm 2030.
Hệ thống an sinh xã hội Pháp, được hình thành từ năm 1945, chủ yếu áp dụng theo mô hình Bismarck cho đến cuối thập kỷ 70, khi Pháp đạt tốc độ tăng trưởng bền vững và việc làm đầy đủ Đến cuối thập kỷ 1990, an sinh cho người về hưu được chú trọng hơn, thể hiện qua luật quỹ an sinh xã hội Pháp năm 2002 Hiện nay, các chương trình an sinh xã hội Pháp bao gồm bảo hiểm y tế, bảo hiểm hưu trí và trợ cấp tuổi già, bảo hiểm thương tật khi làm việc, bảo hiểm thất nghiệp, và trợ cấp gia đình, mỗi chương trình đều có luật riêng điều chỉnh.
- Hệ thống an sinh xã hội ở Thuỵ Điển: mô hình an sinh xã hội xuất hiện từ những năm
Mô hình an sinh xã hội của Thụy Điển, được thiết lập từ năm 1930, dựa vào thuế và sự đóng góp, tạo ra một hệ thống "thân thiện với việc làm" nhằm đảm bảo việc làm cho mọi người Năm 1999, chính phủ Thụy Điển đã triển khai các chiến lược hiện đại hóa an sinh xã hội với bốn mục tiêu cơ bản, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải thiện đời sống người dân.
Mục tiêu quan trọng của hệ thống an sinh xã hội ở Thụy Điển là tạo việc làm để nâng cao thu nhập, từ đó đảm bảo an sinh cho người dân Kể từ thập kỷ 90, hệ thống này đã phát triển theo hướng "xã hội dân chủ", tập trung vào việc bồi thường cho sự mất mát thu nhập và đảm bảo thu nhập nhằm khuyến khích năng suất lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp Hiện nay, các hình thức an sinh xã hội tại Thụy Điển bao gồm bảo hiểm hưu trí cho người già, trợ giúp xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chính sách chăm sóc mẹ đơn thân và chế độ nghỉ phép cho việc chăm sóc trẻ.
Hệ thống an sinh xã hội Nhật Bản, ra đời từ những năm 1950, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế quốc gia Các thành tố chính của hệ thống bao gồm quỹ xã hội đảm bảo thu nhập cho người gặp khó khăn, bảo hiểm y tế, và phúc lợi cho người cao tuổi, người tàn tật, cùng trẻ em cần chăm sóc An sinh xã hội Nhật Bản được chia thành ba bộ phận chính: chăm sóc y tế, hưu trí, và các phúc lợi xã hội khác, trong đó hưu trí chiếm tỷ lệ chi tiêu cao nhất.
Hệ thống an sinh xã hội tại Anh bắt đầu từ năm 1601 với đạo luật cứu tế người nghèo, nhằm cung cấp dịch vụ chăm sóc cho những người nghèo khổ và không nhà cửa từ nguồn thuế địa phương Đến thập kỷ 20, đạo luật bảo hiểm sức khỏe quốc gia (1911) được ban hành, tiếp theo là đạo luật BHXH quốc gia, nhằm tái thiết hệ thống dịch vụ xã hội sau Thế chiến II Cơ cấu đóng góp vào quỹ an sinh xã hội được chia thành 5 nhóm: Nhóm 1 bao gồm giới chủ doanh nghiệp và người lao động; Nhóm 2 là đóng góp của người tự làm chủ; Nhóm 3 liên quan đến những người tình nguyện bảo vệ quyền lợi; Nhóm 4 là đóng góp của người tự làm chủ trên lợi nhuận thuế; và Nhóm 5 là đóng góp của người chủ cung cấp nhiên liệu cho người lao động.
Hệ thống an sinh xã hội ở Anh bao gồm nhiều loại hình hỗ trợ như bảo hiểm hưu trí, trợ cấp cho cha mẹ và trẻ em, trợ cấp ốm đau và mất sức lao động, bảo hiểm thất nghiệp, cùng với trợ cấp cho những người đang tìm kiếm việc làm.
Luật Lao động Cộng hòa nhân dân Trung Hoa bao gồm 13 chương và 107 điều, trong đó Chương IX quy định về bảo hiểm và phúc lợi xã hội với 7 điều, cụ thể là Điều 73 đề cập đến 5 chế độ bảo hiểm xã hội: nghỉ hưu, bệnh tật, tai nạn lao động, thất nghiệp và sinh đẻ Luật chỉ đưa ra các nguyên tắc chung, còn việc cụ thể hóa được giao cho chính quyền địa phương Tính đến năm 1999, các chế độ bảo hiểm đã được triển khai theo điều kiện kinh tế - xã hội từng địa phương, trong đó nghỉ hưu và bảo hiểm thất nghiệp đã có điều lệ riêng Mỗi chế độ bảo hiểm có quỹ riêng, với nguồn quỹ bao gồm đóng góp từ người sử dụng lao động và người lao động Riêng quỹ bảo hiểm tai nạn lao động và bảo hiểm sinh đẻ do doanh nghiệp hoàn toàn chịu trách nhiệm đóng góp Nhà nước chỉ can thiệp hỗ trợ ngân sách cho các quỹ khi có sự mất cân đối thu chi do nguyên nhân bất khả kháng.
- Hệ thống an sinh xã hội Phần Lan
Phần Lan, giống như các nước Bắc Âu khác, tổ chức các chương trình an sinh xã hội thành hai nhóm chính: bảo đảm an sinh thu nhập và cung cấp dịch vụ sức khỏe, xã hội Nguồn thu cho các chương trình này chủ yếu đến từ bảo hiểm xã hội, nhằm hỗ trợ người già, người ốm, phụ nữ mang thai, người thất nghiệp và những người gặp khó khăn do tai nạn lao động An sinh thu nhập được chia thành nhiều loại phúc lợi, bao gồm trợ cấp cho trẻ em, hỗ trợ mẹ, trợ cấp cho nạn nhân chiến tranh và gia đình họ, cùng với hỗ trợ tài chính cho người tàn tật hoặc có nhu cầu cấp bách Các chương trình bảo hiểm xã hội đóng góp tới 80% quỹ phúc lợi xã hội.
Vào cuối thập niên 80, Luật Hưu trí quốc gia tại Phần Lan đã được cải cách, tạo cơ hội cho mọi người từ 16 tuổi trở lên, bao gồm cả người nước ngoài không có nguồn gốc Bắc Âu, được hưởng lợi từ hệ thống hưu trí này.
Để đủ điều kiện nhận lương hưu tại Phần Lan, người dân cần định cư ở đây ít nhất 5 năm Độ tuổi nhận lương hưu là 65 tuổi, nhưng có thể thấp hơn, từ 50 đến ngoài 60 tuổi, đối với những người thất nghiệp lâu dài.
Năm 1961, Luật Lương hưu cho người lao động được ban hành nhằm cải thiện Kế hoạch lương hưu quốc gia, vốn chỉ phù hợp với người dân nông thôn Đến thập niên 70, các kế hoạch lương hưu cho lao động tạm thời và người tự kinh doanh cũng được luật hóa Cuối thập niên 70, một kế hoạch lương hưu bổ sung cho nông dân ra đời, và năm 1986, những người làm nghề tự do như nhà văn, diễn viên cũng được đưa vào đối tượng điều chỉnh Các kế hoạch lương hưu này do chủ lao động, tư nhân hoặc xã hội chi trả, trong khi Viện An ninh lương hưu Trung ương chịu trách nhiệm báo cáo về tình trạng việc làm và thu nhập.
Bảo hiểm ốm đau tại Phần Lan, được quy định bởi Luật Bảo hiểm ốm đau năm 1963, đảm bảo rằng tất cả công dân đều có quyền truy cập vào bảo hiểm y tế khi ốm đau Hệ thống chăm sóc sức khỏe tại bệnh viện và trung tâm y tế hoàn toàn miễn phí Phụ nữ sinh con nhận được khoảng 80% thu nhập trong vòng một năm, trong khi người sống độc thân có một con nhận 92% thu nhập khi ốm đau, và người độc thân không có con nhận 77% Đối với các gia đình có cả vợ chồng và con, mức thanh toán bảo hiểm ốm đau đạt khoảng 90% thu nhập thực tế Quỹ bảo hiểm ốm đau chủ yếu do nhà nước tài trợ, với người nhận đóng góp 2% thuế thu nhập và người sử dụng lao động đóng 1% lương của người lao động.
Bảo hiểm thất nghiệp tại Phần Lan bắt đầu từ năm 1984, khi Luật An sinh thất nghiệp được cải cách, đảm bảo rằng tất cả công dân từ 17 đến 64 tuổi đều có quyền lợi khi thất nghiệp Mức trợ cấp hàng ngày cho người tìm việc là 70 Fmk, với thời gian hỗ trợ tối thiểu là 500 ngày trong vòng 4 năm Đối với những người gần 60 tuổi không tìm được việc, họ có thể nhận trợ cấp tương đương mức lương tàn tật cho đến khi đủ tuổi nghỉ hưu Quỹ bảo hiểm thất nghiệp được tài trợ chủ yếu bởi giới chủ và nhà nước, với tỷ lệ đóng góp lên tới 95%, trong khi người lao động chỉ đóng 5%.
Pháp luật an sinh xã hội ở nhiều quốc gia, dù có sự khác biệt về địa lý, kinh tế và sắc tộc, vẫn giữ vai trò quan trọng trong hệ thống bảo vệ công dân Bảo hiểm xã hội (BHXH) được hình thành từ sự đóng góp của cá nhân và hỗ trợ từ Chính phủ, trong khi cứu trợ xã hội đóng vai trò tái phân phối nguồn lực của quốc gia, đảm bảo chế độ bảo hộ cho mọi công dân.
1.3.2 Bài học kinh nghiệm về công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội tại một số địa phương