Mục đích nghiên cứu là để đưa ra các giải pháp trong phát triển kinh tế nhằm giúp chính phủ và các doanh nghiệp Lào tăng cường khả năng cạnh tranh, thu hút vốn đầu tư FDI, phát triển kinh tế đặc biệt là từ khi AEC đi vào hoạt động ngày 31/12/2015 thông qua các câu hỏi sau: Vị trí của Lào trong Cộng đồng kinh tế Asean đang ở đâu?Lào có cơ hội và thách thức gì khi AEC đi vào hoạt động?
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
THÁCH THỨC VÀ CƠ HỘI ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO KHI CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN (AEC) ĐI VÀO HOẠT ĐỘNG
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
MOUNYALITH PATHOUMMASENG
HÀ NỘI - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Thách thức và cơ hội đối với nền kinh tế Cộng hòa Dân chủ
nhân dân Lào khi cộng đồng kinh tế Asean (AEC)
đi vào hoạt động
Ngành: Kinh tế học Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 60310106
Họ và tên học viên : Mounyalith Pathoummaseng
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS TS BÙI ANH TUẤN
HÀ NỘI - 2017
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập củariêng tôi Các số liệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đãcông bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tự tìmhiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn củaCHDCND Lào Các kết quả nghiên cứu trong luận văn chưa từng được công bốtrong bất kỳ nghiên cứu nào khác
Hà Nội, ngày 12 tháng 10 năm 2017
Học viên
` MOUNYALITH PATHOUMMASENG
i
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy PGS.TS Bùi Anh Tuấn
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này
Tác giả cũng xin cảm ơn Khoa Đào tạo sau Đại Học, Đại học Ngoại Thươngcùng các giảng viên trong và ngoài trường Đại học Ngoại Thương đã nhiệt tìnhgiảng bài, hướng dẫn, truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu trongsuốt thời gian học tập và nghiên cứu tại Đại học Ngoại Thương
Cuối cùng, tác giả xin gửi tới gia đình và tất cả bạn bè lòng biết ơn chânthành Sự tin tưởng của gia đình luôn là nguồn cổ vũ, động viên to lớn cho tác giảtrong suốt quá trình học tập và hoàn thành tốt luận văn của mình
Hà Nội, ngày 12 tháng 10 năm 2017
Học viên
MOUNYALITH PATHOUMMASENG
ii
Trang 6MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BIỂU vii
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU viii
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ 5 1.1 Hội nhập kinh tế quốc tế và tác động của hội nhập quốc tế đến các quốc gia 5
1.1.1 Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế 5
1.1.2 Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến các quốc gia 6
1.2 Một số thể chế kinh tế quốc tế điển hình và tác động của nó đến các quốc gia khi tham gia 12
1.2.1 Tổ chức thương mại thế giới WTO 12
1.2.2 Liên minh châu Âu (EU) 19
1.3 Một số lý thuyết về hội nhập kinh tế quốc tế 21
TIÊU KẾT CHƯƠNG 1 26
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN 27
2.1 Quá trình hình thành và phát triển của Cộng đồng Kinh tế ASEAN 27
2.1.1 Cơ sở hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN 27
2.1.2 Lịch sự hình thành và các cột mốc quan trọng của AEC 33
2.2 Tổng quan về Cộng đồng AEC 34
2.2.1 Mục tiêu 35
2.2.2 Bản chất của AEC 37
2.2.3 Các hiệp định chính trong AEC 38
TIÊU KẾT CHƯƠNG 2 47
CHƯƠNG 3: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO KHI CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN ĐI VÀO HOẠT ĐỘNG 49
3.1 CHDCND Lào và vị trí trong Cộng đồng Kinh tế ASEAN 49
3.1.1 Khái quát về CHDCND Lào 49
iii
Trang 73.1.2 Vị thế của CHDCND Lào trong Cộng đồng Kinh tế ASEAN 50
3.1.3 Phân tích nền kinh tế Lào so với các quốc gia ASEAN theo mô hình SWOT 53
3.2 Phân tích cơ hội của CHDCND Lào 55
3.3 Phân tích thách thức của CHDCND Lào 63
3.4 Một số khuyến nghị đến chính phủ và doanh nghiệp Lào 67
3.4.1 Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước 67
3.4.2 Đề xuất đối với các doanh nghiệp 70
TIÊU KẾT CHƯƠNG 3 73
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
iv
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ACIA ASEAN Comprehensive
Investment Agreement
Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN
AEC ASEAN Economic
Kế hoạch tổng thể về cộng đồng kinh tế ASEAN
AEM ASEAN Economic Ministers Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế
ASEANAFAS ASEAN Framework
AIA ASEAN Investment
Agreement
Hiệp định khung về hoạt động đầu
tư ASEANAMS ASEAN Members Các quốc gia thành viên ASEANASEAN Association of Southeast
Asian Countries
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ASEAN 6 Singapore, Thái Lan, Indonesia,
Bruney, Philipin, MalaysiaAsean Stats ASEAN Statistics Bộ phận thống kê ASEAN
ASW ASEAN Single Window Cơ chế một cửa ASEAN
ATIGA ASEAN Trade in Goods
Agreement
Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN
AUN ASEAN University Network Mạng lưới Đại học ASEAN
BRICS Brazil, Russia, Indonesia,
China, South Africa
Brazil, Nga, Indonesia, Trung Quốc,Nam Phi
v
Trang 9E-ASEAN Ecommerce ASEAN Thương mại điện tử ASEAN
EU European Union Liên minh Châu Âu
FAST500 Bảng xếp hạng (BXH) 500 doanh nghiệp
có tốc độ tăng trưởng cao nhấtFDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FTA Free Trade Area Khu vực thương mại (mậu dịch) tự
doHLTF High Level Task Force Nhóm đặc trách cao cấp
IGA ASEAN Investment Guarantee
Agreement
Hiệp định Bảo lãnh Đầu tư ASEAN
IPR Intellectual Property Rights Quyền sở hữu trí tuệ
MERCOSUR Khối thị trường chung Nam MỹNSWs National Single Windows Cơ chế một cửa quốc gia
RCEP Regional Comprehensive
Economic Partnership Agrement
Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện
ROO Rules Of Origin Quy tắc xuất xứ hàng hóa
SEOM ASEAN Economic Senior
Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào
SME Small and Medium Enterprise Doanh nghiệp vừa và nhỏ
TEL Temporary Exclusion List Danh mục loại trừ tạm thời
WCO World Customs Organization Cơ quan hải quan thế giới
HS HS Code Mã phân loại hàng hóa của hải quan
Trang 10DANH MỤC BIỂU
Biểu đồ 3.1: Cơ cấu kinh tế của các nước ASEAN năm 2015 (đvt: %) 51Biểu đồ 3.2 Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu của Lào sang các châu lục 2013 52Biểu đồ 3.3: Tổng quan FDI của Lào qua các năm 60Biểu đồ 3.4: Năng lực cạnh tranh quốc gia của Lào so với các quốc gia khác trong khu vực ASEAN năm 2015 61
Trang 11TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bài nghiên cứu xác định khái quát về Cộng đồng ASEAN và Cộng đồng Kinh
tế ASEAN, vị trí của Lào trong Cộng đồng ASEAN từ đó sẽ xác định những yêucầu cấp thiết để thiết kế xây dựng và phát triển bền vững thể chế kinh tế, đồng thờiđưa khuyến nghị chính sách của Lào khi AEC đi vào hoạt động được hơn một năm.Xác định được những cơ hội và thách thức của chính phủ và của doanh nghiệptại Lào Đề ra được những giải pháp để giảm thiểu những khó khăn mà chính phủ
mà doanh nghiệp Lào gặp phải khi Cộng đồng Kinh tế ASEAN đi vào hoạt động
Trang 12LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hội nhập kinh tế quốc tế đang là một xu thế phát triển nổi bật hiện nay trênthế giới với sự tồn tại của hàng loạt các tổ chức, các liên kết khu vực liên kết giữacác quốc gia: WTO, ASEAN, EU, BRICS,….thông qua các Hiệp định được ký kết
Hiệp hội các quốc gia Ðông Nam Á (ASEAN) đang khẳng định là một trongnhững hợp tác khu vực thành công trên thế giới, đặc biệt trên phương diện kinh tếđược thể hiện thông qua liên kết nội khối: Khu vực mậu dịch tự do thương mại AFTA.Hợp tác kinh tế trong ASEAN đã giúp nền kinh tế của các quốc gia thành viên tăngtrưởng mạnh, phát triển tiềm năng và tạo dựng được vị thế trên trường quốc tế
Sự ra đời của Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) là sự tiếp nối của AFTAnhằm tiến tới một mức độ hội nhập kinh tế cao hơn trong sự phát triển khôngngừng của khối Các quốc gia thành viên đã và đang có được những lợi ích như tăngtrưởng kinh tế nhanh hơn, tạo ra nhiều việc làm hơn, thu hút đầu tư nước ngoàinhiều hơn, phân bổ nguồn lực tốt hơn, tăng cường năng lực sản xuất và tính cạnhtranh Tuy nhiên cũng chính AEC tạo ra cho các quốc gia những thách thức trongviệc hội nhập như vấn đề năng lực cạnh tranh quốc gia và của các doanh nghiệp,đặc biệt là trong thương mại hàng hóa khi mà thuế và các rào cản phi thuế quanđược loại bỏ
Đối với CHDCND Lào, Đảng và nhà nước Lào đã xác định ASEAN là đối tácchiến lược – một trong những trụ cột quan trọng trong tiến trình thực hiện đường lối đốingoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, chủ động hội nhập khu vực vàquốc tế Bên cạnh đó, ASEAN cũng là một trong các đối tác thương mại quan trọnghàng đầu và là động lực quan trọng giúp nền kinh tế Lào duy trì tốc độ tăng trưởng trongnhiều năm qua
Doanh nghiệp là hạt nhân cho sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia ViệcCHDCND Lào tham gia và phát triển trong AEC nhằm tạo điều kiện cho các doanhnghiệp trong nước phát triển
Tuy nhiên, hiện nay rất ít các doanh nghiệp tại Lào, đặc biệt là các doanh
Trang 13nghiệp tư nhân có hiểu biết rõ và có quan tâm tới vấn đề này Vậy, liệu các doanhnghiệp có nhận thức được những cơ hội và thách thức của việc tham gia vào AEC?Khi mà AEC đã chính thức được thành lập và đi vào hoạt động được hơn một năm.Làm thế nào để các doanh nghiệp Lào có đủ sức cạnh tranh và phát triển trong mộtthị trường chung 600 triệu dân? Đây là những câu hỏi đang được đặt ra.
Thấy rõ được tầm quan trọng của vấn đề này, tác giả chọn đề tài: “Thách
thức và cơ hội đối với nền kinh tế Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào khi cộng đồng kinh tế Asean (AEC) đi vào hoạt động” làm đề tài luận văn của mình với
mục đích nhằm nghiên cứu và đánh giá về sự chuẩn bị và tiếp cận của doanh nghiệpLào và đưa ra những giải pháp giúp các chính phủ và doanh nghiệp thích ứng hơntrong xu thế tự do hóa và hội nhập kinh tế hiện nay
2 Đối tượng và mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu bao gồm những chính sách, nội dung, kế hoạch thực hiệnAEC, các cam kết thực hiện của Lào, năng lực cạnh tranh và những cơ hội, thách thứccho chính phủ và doanh nghiệp Lào khi AEC đã chính thức đi vào hoạt động
Mục đích nghiên cứu là để đưa ra các giải pháp trong phát triển kinh tế nhằmgiúp chính phủ và các doanh nghiệp Lào tăng cường khả năng cạnh tranh, thu hútvốn đầu tư FDI, phát triển kinh tế đặc biệt là từ khi AEC đi vào hoạt động ngày31/12/2015 thông qua các câu hỏi sau:
- Vị trí của Lào trong Cộng đồng kinh tế Asean đang ở đâu?
- Lào có cơ hội và thách thức gì khi AEC đi vào hoạt động?
- Làm thế nào để doanh nghiệp và chính phủ Lào thu hút được nhiều vốn FDI, tăngcường được năng lực cạnh tranh và phát triển kinh tế tốt hơn?
3 Phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Là các cam kết nội khối của ASEAN và của Lào
Về thời gian: Các mốc thời gian, văn kiện kể từ khi ASEAN đi vào hoạt động
từ 31/12/2015 đến nay
Trang 14Về không gian: Là Lào theo phạm vi địa lý mở rộng, tức là không chỉ bó hẹp ởLào mà không gian có thể là các quốc gia ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế Làonhư các quốc gia ASEAN, Trung Quốc.
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn:
- Phương pháp tổng hợp: Tổng hợp các số liệu từ các báo cáo, văn bản, vănkiện từ nhiều lĩnh vực khác nhau để đưa ra một kết luận chung nhất Phương pháptổng hợp được sử dụng trong chương 2 và chương 3 của luận văn để đưa ra nhữngkết luận sự ảnh hưởng của AEC đến CHDCND Lào từ khi AEC đi vào hoạt động
- Phương pháp liệt kê: Liệt kê và chỉ ra các số liệu thực hiện tương ứng với
mỗi nội dung cụ thể Phương pháp này được sử dụng trong chương của luận văn
như liệt kê ra năng lực canh tranh của Lào trong Asean, vốn đầu tư trực tiếp (FDI)vào Lào qua các năm từ 2011-2016, cơ cấu kinh tế của CHDCND Lào từ đó đưa rakết luận về kinh tế Lào so với các nước trong Asean
- Phương pháp so sánh: so sánh sự tương đồng của các nội dung tại các đốitượng khác nhau để đưa ra nhận xét Phương pháp so sánh được sử dụng trongchương 3, so sánh nền kinh tế Lào với Việt Nam, Thái Lan là những quốc gia tiếpgiáp với Lào
- Phương pháp đánh giá: dựa trên những số liệu và kết quả đạt được để đưa rađánh giá một cách khái quát về những gì đã đạt được và chưa đạt được Phươngpháp đánh giá được sử dụng trong cả 3 chương của luận văn Chương 1 đã đưa ranhững kết quả đạt được của WTO, EU để đánh giá về hiệu quả của hội nhập kinh tếquốc tế, chương 2 đã đưa ra những kết quả đạt được của AEC để đánh giá hiệu quảcủa các chính sách, đưa ra các số liệu để đánh giá về vị trí của Lào trong Asean,chương 3 đưa ra mô hình SWOT của Lào từ khi AEC đi vào hoạt động đến này đểđánh giá về cơ hội, thách thức của CHDCND Lào
Trang 154 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Tình hình nghiên cứu ngoài nước: Trong khu vực ASEAN và trên thế giới đã
có nhiều công trình nghiên cứu về tác động của các tác giả về Cộng đồng kinh tếASEAN Một số sách về AEC được xuất bản tại Việt Nam như: Nguyễn Hồng Sơn
(chủ biên): Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC): nội dung và lộ trình, Nhà xuất bản
Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2009 PGS.TS Nguyễn Hồng Sơn và TS Nguyễn Anh
Thu: Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC): bối cảnh và kinh nghiệm quốc tế, NXB Đại
học Quốc gia Hà Nội, 2015 Ngoài ra trên thế giới cũng đã có rất nhiều công trìnhnghiên cứu về AEC nhưng phần lớn nghiên cứu về lộ trình hoạt động của AEC cácchính sách của AEC chứ không nghiên cứu cụ thể về tác động đến một quốc gia
Tình hình nghiên cứu trong nước: Một số hội thảo quốc tế được tổ chức tại
Vientiane nói về AEC như: Hội thảo quốc tế “Bối cảnh quốc tế mới và tác động đối
với Cộng đồng Kinh tế ASEAN” tổ chức tháng 10/2014, tại thủ đô Vientiane; Hội thảo quốc tế “Hướng tới Cộng đồng kinh tế ASEAN và một số gợi ý chính sách đối với Lào” tổ chức tháng 10/2015, tại thủ đô Vientiane Nhưng các hội thảo quốc tế
trên diễn ra trước khi Cộng đồng kinh tế ASEAN đi vào hoạt động nên chưa thể đưa
ra những tác động và phân tích chính xác về tác động của AEC tới CHDCND Lào
5 Nguồn tài liệu
Luận án dựa trên nguồn tài liệu gốc là những thông tin chính thức lấy từnhững văn kiện, thỏa thuận, quyết định của Cộng đồng kinh tế ASEAN, văn kiệnđường lối, chính sách của Lào khi AEC đi vào hoạt động Ngoài ra luận án cũng sửdụng các tài liệu tìm đọc, công trình khoa học viết về Cộng đồng kinh tế ASEANcủa các tác giả trong và ngoài nước
6 Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn có kết cấu gồm 4 chương Cụ thể là:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Tổng quan về Cộng đồng Kinh tế ASEAN
Chương 3: Cơ hội, thách thức đối với CHDCND Lào khi Cộng đồng Kinh tếASEAN đi vào hoạt động và một số khuyến nghị
Trang 16CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HỘI
NHẬP QUỐC TẾ1.1 Hội nhập kinh tế quốc tế và tác động của hội nhập quốc tế đến các quốc gia
1.1.1 Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế có thể được hiểu một cách đơn giản là sự gắn kết nềnkinh tế của một nước vào các tổ chức hợp tác kinh tế khu vực và toàn cầu, trong đócác thành viên quan hệ với nhau dựa trên các nguyên tắc, quy định chung giúp cácquốc gia tăng lợi thế cạnh tranh với các quốc gia, khu vực khác và phát triển bềnvững hơn Sau chiến tranh thế giới thứ hai đã xuất hiện các tổ chức như Liên MinhChâu Âu (EU), Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT), tổ chứcthương mại thế giới (WTO)
Trước kia, khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế chỉ được hiểu đơn thuần lànhững hoạt động giảm thuế, mở rộng thị trường Chẳng hạn, Hiệp định chung về thuếquan và thương mại (GATT) suốt 38 năm, qua 7 vòng đàm phán cũng chỉ tập trungvào việc giảm thuế Hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay được hiểu là việc một quốc giathực hiện chính sách kinh tế mở, tham gia các định chế kinh tế-tài chính quốc tế, thựchiện tự do hoá và thuận lợi hoá thương mại, đầu tư bao gồm các lĩnh vực:
- Đàm phán cắt giảm thuế quan, tiến tới thực hiện thuế suất bằng 0% đối vớihàng hoá xuất nhập khẩu
- Giảm thiểu, tiến tới loại bỏ các hàng rào phi thuế quan gây cản trở đối vớihoạt động thương mại Những biện pháp phi thuế phổ thông (như giấy phép, tiêuchuẩn chất lượng, vệ sinh kiểm dịch ) cần được chuẩn mực hoá theo các quy địnhchung của WTO hoặc các thông lệ quốc tế và khu vực khác theo các quy địnhchung của WTO hoặc các thông lệ quốc tế và khu vực khác
- Giảm thiểu các hạn chế đối với thương mại, dịch vụ, tức là tự do hoá hiệnnay có khoảng 12 nhóm dịch vụ được đưa vào đàm phán, từ dịch vụ tư vấn giáodục, tin học đến các dịch vụ tài chính, ngân hàng, viễn thông, giao thông vận tải
- Giảm thiểu các hạn chế đối với đầu tư để mở đường hơn nữa cho tự do hoáthương mại
Trang 17- Điều chỉnh chính sách quản lý thương mại theo những quy tắc và luật chơichung quốc tế, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến giao dịch thương mại, như thủtục hải quan, quyền sở hữu trí tuệ, chính sách cạnh tranh Tại các diễn đàn quốc tế
và khu vực hiện nay, việc điều chỉnh và hài hoà các thủ tục hành chính liên quanđến giao dịch thương mại được gọi là hoạt động thuận lợi hoá thương mại
- Triển khai các hoạt động hợp tác kinh tế, văn hoá, xã hội nhằm nâng caonăng lực của các nước trong quá trình hội nhập
Như vậy, có thể thấy vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh hiện naykhông chỉ đơn thuần là giới hạn trong phạm vi cắt giảm thuế quan mà đã được mởrộng cho tất cả các lĩnh vực liên quan đến chính sách kinh tế-thương mại, nhằm mụctiêu mở rộng thị trường cho hàng hoá và dịch vụ, loại bỏ các rào cản hữu hình và vôhình đối với trao đổi thương mại quốc tế
1.1.2 Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến các quốc gia
Hợp tác kinh tế giữa các quốc gia xuất hiện khi lực lượng sản xuất và phâncông lao động đã phát triển đến một trình độ nhất định Ban đầu chỉ là những hìnhthức buôn bán song phương, sau đó mở rộng, phát triển dưới dạng liên kết sản xuấtkinh doanh Trong thời đại ngày nay, lực lượng sản xuất và công nghệ thông tin đã
và đang phát triển với một tốc độ nhanh chóng chưa từng thấy Tình hình đó vừa đặt
ra yêu cầu vừa tạo ra khả năng tổ chức lại thị trường trong phạm vi toàn cầu Cácquốc gia ngày càng có nhiều mối quan hệ phụ thuộc nhau hơn, cần sự bổ trợ cho nhau,đặc biệt là các mối quan hệ về kinh tế thương mại cũng như đầu tư và các mối quan hệkhác như môi trường, dân số…Chính đây là những căn cứ thực tế để đi tới cái đíchcuối cùng của quá trình toàn cầu hoá hướng tới đó là một nền kinh tế toàn cầu thốngnhất không còn biên giới quốc gia về kinh tế ấy Cụ thể những căn cứ đó là:
- Mỗi quốc gia dù ở trình độ phát triển đến đâu cũng tìm thấy lợi ích cho mìnhkhi tham gia hội nhập quốc tế Đối với các nước phát triển họ có thể đẩy mạnh hoạtđộng thương mại, đầu tư và chuyển giao công nghệ ra nước ngoài, mở rông quy môsản xuất, tận dụng và khai thác được các nguồn lực từ bên ngoài như tài nguyên, laođộng và thị trường…cũng như gia tăng các ảnh hưởng kinh tế và chính trị của mình
Trang 18trên trường quốc tế Còn đối với các nước đang phát triển Có thể nói nhu cầu tổchức lại thị trường thế giới trước hết bắt nguồn từ những nước công nghiệp pháttriển, do họ ở thế mạnh nên họ thường áp đặt các quy tắc, luật chơi Bên cạnh đó, cácnước đang phát triển khi tham gia hội nhập quốc tế vừa có yêu cầu tự bảo vệ, vừa cóyêu cầu phát triển nên cũng cần phải tham gia vào để bảo vệ và tranh thủ lợi ích chomình, nhất là các nước đang tiến hành quá trình công nghiệp hoá (như Việt Nam,Lào) Lợi ích ở đây là mở rộng thị trường cho hàng hoá xuất khẩu, tiếp nhận vốn,tranh thủ được kỹ thuật, công nghệ tiên tiến thông qua đầu tư trực tiếp, nhờ đó sẽ tạo
ra công ăn việc làm, đảm bảo tăng trưởng kinh tế, học tập được trình độ và kinhnghiệm quản lý Đây chính là lý do đầu tiên mà một quốc gia hội nhập quốc tế
- Một nền công nghệ toàn cầu đang xuất hiện: Nền công nghệ cơ khí về cơ bảnvẫn là một nền công nghệ có tính quốc gia, vì nó luôn phải lấy thị trường trong làmchính, một khi chi phí vận chuyển, liên lạc còn quá đắt đỏ thì việc sản xuất, vậnchuyển, tiêu thụ các loại hàng hoá ở thị trường bên ngoài luôn có nhiều rủi ro bấttrắc và có lợi thế so sánh hạn chế Nhưng trong những thập kỷ gần đây công nghệthông tin và vận tải đã có những tiến bộ vượt bậc, đã làm giảm chi phí vận tải quốc
tế xuống cả chục lần và giảm chi phí liên lạc viễn thông xuống tới vài trăm lần Tiến
bộ công nghệ này đã có tác động cực kỳ quan trọng đến toàn bộ các quan hệ kinh tếquốc tế, nó đã biến các công nghệ có tính quốc gia thành công nghệ toàn cầu Ta cóthể nêu ra một ví dụ về công nghệ may mặc Một cái máy may dù có hiện đại cũngchỉ có thể làm ra quần áo bán trong một địa phương hay một quốc gia, và có thểvươn tới một vài nước gần gũi, chúng không thể được bán ở các thị trường xa xôi vìchi phí vận tải và liên lạc cao làm mất hết lợi thế so sánh Nhưng nhờ có tiến bộtrong công nghệ liên lạc và vận tải nên công ty NIKE chỉ nắm hai khâu: sáng tạo,thiết kế mẫu mã và phân phối toàn cầu (còn sản xuất do các công ty ở nhiều nướclàm), nhưng đã làm cho công nghệ may mặc có tính toàn cầu Các công nghệ sản xuất
xe máy, máy tính, ô tô, máy bay đã ngày càng có tính toàn cầu sâu rộng Tính toàncầu này đã thể hiện ngay từ khâu sản xuất (được phân công chuyên môn hoá ở nhiềunước) đến khâu phân phối (tiêu thụ trên toàn cầu) Những công nghệ ngay từ khi rađời đã có tính toàn cầu như công nghệ vệ tinh viễn thông đang bắt đầu xuất hiện
Trang 19Chính công nghệ toàn cầu này là cơ sở quan trọng đặt nền móng cho sự đẩymạnh quá trình toàn cầu hoá Nhờ có công nghệ toàn cầu hoá phát triển, sự hợp tácgiữa các quốc gia, các tập đoàn kinh doanh có thể mở rộng từ sản xuất đến phân phốitrên phạm vi toàn cầu, những quan hệ này tuỳ thuộc lẫn nhau cùng có lợi phát triển
- Các quan hệ kinh tế toàn cầu ngày càng phát triển: Một nền công nghệ toàncầu xuất hiện đã là cơ sở cho các quan hệ kinh tế toàn cầu phát triển Đầu tiên là cácquan hệ thương mại Chi phí vận tải liên lạc càng giảm đi, thì khả năng bán hàng đicác thị trường xa càng tăng lên, thương mại toàn cầu càng có khả năng phát triển.Đồng thời với quá trình phân công, chuyên môn hoá sản xuất càng có thể diễn ragữa các quốc gia và châu lục Các linh kiện của máy bay Boing, của ô tô, của máytính đã có thể được sản xuất ở hàng chục nước khác nhau Các quan hệ sản xuất,thương mại có tính toàn cầu, đã kéo theo các dòng tiền tệ, vốn, dịch vụ vận độngtrên phạm vi toàn cầu Công nghệ thông tin đã làm cho các dòng vận động này thêmchôi chẩy Ngày nay lượng buôn bán tiền tệ toàn cầu một ngày đã vượt quá 1500 tỷUSD Thương mại điện tử xuất hiện vơi kim ngạch ngày càng tăng và đang trởthành một loại hình buôn bán toàn cầu đầy triển vọng Sự phát triển của công nghệtoàn cầu và các quan hệ kinh tế toàn cầu đang ngày càng xung đột với các thể chếquốc gia, với các rào cản quốc gia Sự phát triển của lực lượng sản xuất và các quan
hệ kinh tế toàn cầu đang xâm nhập qua biên giới các quốc gia Bước vào thập kỷ 90các rào cản này đã bị phá vỡ ở các quốc gia trong Liên Minh Châu Âu, và ở Bắc Mỹvới mức độ thấp hơn Các quốc gia ASEAN đã cam kết giảm bớt rào cản quốc gia,các rào cản thuế quan và phi thuế quan, vừa ký kết thành công cộng đồng kinh tếASEAN (với các thể chế kinh tế quốc tế đã được đàm phán và đi vào hoạt động).Các nước thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO cũng đã cam kết một lộtrình giảm bỏ hàng rào này Nhưng phải thừa nhận các rào cản này vẫn còn rấtmạnh ở nhiều nước và ngay cả ở Liên Minh Châu Âu với những hình thức biếntướng đa dạng Chính chúng đang cản trở quá trình toàn cầu hoá
- Những vấn đề kinh tế toàn cầu ngày càng xuất hiện nhiều, trở nên bức xúc vàcàng đòi hỏi phải có sự phối hợp toàn cầu của các quốc gia: Người ta có thể kể rangày càng nhiều các vấn đề kinh tế toàn cầu như: thương mại, đầu tư, tiền tệ, dân
Trang 20số, lương thực, năng lượng, môi trường Môi trường toàn cầu ngày càng bị pháhoại, các nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng bị cạn kiệt, dân số thế giới đanggia tăng nhanh chóng trở thành một thách thức toàn cầu, các dòng vốn toàn cầu vậnđộng tự do không có sự phối hợp điều tiết đã làm nảy sinh các cuộc khủng hoảngliên tiếp ở Châu Âu, Châu Mỹ, và Châu Á, vừa rồi là sự kiện Brexit (nước Anh rờikhỏi liên minh châu Âu) cũng gây tác động không nhỏ đến kinh tế thế giới và tạomột làn sóng bất ổn với các quốc gia và các tổ chức kinh tế quốc tế khác Cần có sựphối hợp toàn cầu để đối phó với những thách thức đó "Bàn tay hữu hình" của cácchính phủ chỉ hữu hiệu ở các quốc gia, còn trên phạm vi toàn cầu chúng nhiều khilại mâu thuẫn đối lập nhau, chứ chưa có một "bàn tay hữu hình" chung làm chứcnăng điều tiết toàn cầu.
Với những căn cứ trên đây, toàn cầu hoá đang phát triển như là một xu hướng
có tính tất yếu khách quan với những đặc trưng chủ yếu là:
- Các hàng rào thuế quan và phi thuế quan đang giảm dần và sẽ bị xoá bỏtrong một tương lai không xa theo các cam kết quốc tế đa phương và toàn cầu,nghĩa là các biên giới quốc gia về thương mại, đầu tư đang bị dần biến mất-đấy làmột tiền đề quan trọng trước hết cho sự hình thành một nền kinh tế thế giới khôngcòn biên giới quốc gia
- Các công ty của các quốc gia ngày càng có quyền kinh doanh tự do ở mọiquốc gia, trên các lĩnh vực được cam kết, không có phân biệt đối xử Đặc trưng nàyrất quan trọng, vì dù như không có các biên giới quốc gia về thuế quan, nhưng cáccông ty không được quyền kinh doanh tự do trên phạm vi toàn cầu, thì nền kinh tếthế giới khó có thể hình thành được Đặc trưng này thực chất là sự xoá bỏ các biêngiới về đầu tư, dịch vụ và các lĩnh vực kinh tế khác
Nói chung, sự hình thành các khối kinh tế khu vực đã có tác động to lớn đốivới đời sống kinh tế của các quốc gia khi tham gia Những tác động chủ yếu có thể
kể tới là:
Trang 21- Thứ nhất, thúc đẩy tự do hoá thương mại, đầu tư và dịch vụ trong phạm vikhu vực cũng như là giữa các khu vực với nhau Mức độ tự do hoá là khác nhaunhưng không một khối kinh tế nào lại không đề cập chủ trương tự do hoá này.
- Thứ hai, thúc đẩy quá trình mở cửa thị trường các quốc gia, tạo lập những thịtrường khu vực rộng lớn
- Thứ ba, thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá đời sống kinh tế thế giới Liên minhChâu Âu ra đời với chiến lược kinh tế, an ninh chung đã làm sửng sốt các cườngquốc như Mỹ, Nhật bản, họ lo ngại Liên minh Châu Âu ra đời sẽ lấn át vai trò lãnhđạo của Mỹ, gạt Nhật Bản ra khỏi thị trường Châu Âu Do vậy Mỹ đã vội lập rakhối kinh tế Bắc Mỹ; Nhật Bản đã hối thúc Diễn đàn kinh tế Châu á-Thái BìnhDương hoạt động Những diễn biến trên đây đã tạo ra một tình hình mới là: cácquốc gia hội nhập quốc tế không chỉ bằng sức mạnh của mình mà bằng cả sức mạnhcủa cả một khối kinh tế Các khối kinh tế có thể định ra những thể chế kinh tế quốc
tế, nguyên tắc, chính sách, luật lệ để xử lý các bất đồng giữa các nước thành viênmột cách tốt hơn trước Một thị trường rộng lớn, một chính sách tài chính, tiền tệ,công nghệ, thị trường thống nhất sẽ giúp cho các quốc gia thành viên tiết kiệmđược một khoản chi phí, tạo ra một môi trường kinh doanh hiệu quả hơn cho cáccông ty; các khối kinh tế sẽ trở thành những đối tác kinh tế hùng mạnh có sức cạnhtranh lớn trên thị trường quốc tế; đồng thời những vấn đề toàn cầu không chỉ dohàng chục quốc gia giải quyết một cách khó khăn mà chủ yếu sẽ được các khối kinh
tế trên thu xếp, hợp tác giải quyết một cách thuận lợi hơn
- Thứ tư, sự hình thành và phát triển của các khối kinh tế khu vực cũng gây ramột số vấn đề: khả năng bảo hộ mậu dịch của các khối kinh tế khu vực sẽ lớn vàmạnh hơn; sức mạnh cạnh tranh của nó cũng lớn hơn, đe doạ các quốc gia yếu kémkhác đồng thời tạo ra một tình thế mới đó là các khối kinh tế có thể sẽ chi phối thếgiới chứ không phải chỉ là một hay vài quốc gia
Những tác động trên đây cho ta thấy sự xuất hiện và phát triển của các khốikinh tế khu vực là một tất yếu khách quan và có tác động tích cực, là một nấc thangmới của quá trình quốc tế hoá Tuy nhiên, xu hướng khu vực hoá cũng đặt ra không
Trang 22ít vấn đề mà các quốc gia cần phải cân nhắc giải quyết, như các vấn đề về độc lập tựchủ, an ninh chính trị, văn hoá, quyền lực của các quốc gia thành viên có phụ thuộcvào sức mạnh kinh tế, quy mô của quốc gia không, các nước nhỏ và lạc hậu hơn có
bị chèn ép và bóc lột không, họ được lợi gì và phải trả giá cái gì Những vấn đề nàyluôn được đặt ra, được cân nhắc đối với mỗi quốc gia khi quyết định tham gia vàomột khối kinh tế khu vực
Chính từ những căn cứ cơ sở như vậy mà ngày nay hầu hết các nước thực hiệnchính sách hội nhập Ngay cả như Trung Quốc-một thị trường với 1,3 tỷ dân, lớnhơn bất cứ một khu vực mậu dịch tự do nào, lại có khả năng sản xuất được hầu hếtmọi thứ, từ đơn giản đến phức tạp nhưng vẫn kiên trì chủ trương hội nhập vào nềnkinh tế thế giới , điều đó thể hiện thông qua việc Trung Quốc kiên trì đàm phán gianhập WTO trong suốt 14 năm
Đương nhiên đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, Lào, kinh tế cònyếu kém, trình độ sản xuất thấp, doanh nghiệp còn bé nhỏ, sức cạnh tranh thấp,trình độ quản lý còn hạn chế thì hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực không chỉ cónhững cơ hội mà bên cạnh đó còn có nhiều khó khăn thách thức lớn, nhưng nếu cứđứng ngoài cuộc thì khó khăn, thách thức có thể sẽ dần tăng và lớn hơn nhiều.Quyết định đúng đắn của các quốc gia đó là chủ động hội nhập thêm nhiều tổ chứckinh tế quốc tế song phương cũng như đa phương gắn với chủ động điều chỉnh cơcấu kinh tế theo hướng phát huy lợi thế so sánh, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơchế quản lý, cải cách hành chính trên cơ sở đó mà phát huy nội lực, vượt qua khókhăn thách thức, khai thác triệt để các cơ hội để phát triển đất nước
Trang 231.2 Một số thể chế kinh tế quốc tế điển hình và tác động của nó đến các quốc gia khi tham gia.
1.2.1 Tổ chức thương mại thế giới WTO
Tổ chức Thương mại Thế giới (tiếng Anh: World Trade Organization, viết
tắt WTO) là một tổ chức quốc tế đặt trụ sở ở Genève, Thụy Sĩ, có chức năng giám
sát các hiệp định thương mại giữa các nước thành viên với nhau theo các quy tắcthương mại Hoạt động của WTO nhằm mục đích loại bỏ hay giảm thiểu các ràocản thương mại để tiến tới tự do thương mại Tính đến ngày 30 tháng 11 năm 2015,WTO có 162 thành viên Mọi thành viên của WTO được yêu cầu phải cấp chonhững thành viên khác những ưu đãi nhất định trong thương mại, ví dụ (với một sốngoại lệ) những sự nhượng bộ về thương mại được cấp bởi một thành viên củaWTO cho một quốc gia khác thì cũng phải cấp cho mọi thành viên của WTO
Các hiệp định của WTO mang tính chất lâu dài và phức tạp đó là vì những thểchế kinh tế quốc tế, những văn bản pháp lý bao trùm nhiều lĩnh vực hoạt động rộnglớn Các hiệp định này giải quyết các vấn đề liên quan đến: nông nghiệp, hàng dệtmay, ngân hàng, bưu chính viễn thông, mua sắm chính phủ, tiêu chuẩn công nghiệp,các qui định về vệ sinh dịch tễ, sở hữu trí tuệ và nhiều lĩnh vực khác nữa Tuy nhiên
có một số các nguyên tắc hết sức cơ bản và đơn giản xuyên suốt tất cả các hiệpđịnh Các nguyên tắc đó chính là nền tảng của hệ thống thương mại đa biên Sauđây là chi tiết các nguyên tắc đó
Nguyên tắc thứ nhất: Là thương mại không phân biệt đối xử Nguyên tắc nàyđược áp dụng bằng hai loại đãi ngộ song song, đó là đãi ngộ tối huệ quốc và đối xửquốc gia
Nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc (MFN): đối xử mọi người bình đẳng nhưnhau Theo qui định của các hiệp định WTO, nguyên tắc này được áp dụng như sau:Mỗi thành viên đối xử với mọi thành viên khác bình đẳng với nhau như là các bạnhàng được ưu đãi nhất Nếu như một nước cho một nước khác được hưởng lợi nhiềuhơn thì đối xử "tốt nhất" đó phải được giành cho tất cả các nước thành viên WTOkhác để các nước khác vẫn tiếp tục có được đối xử tối huệ quốc Nguyên tắc MFNđảm bảo rằng mỗi thành viên WTO đối xử trên 140 thành viên khác tương tự nhau
Trang 24Đối xử quốc gia (NT): đối xử người nước ngoài và người trong nước nhưnhau Hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước phải được đối xử như nhau, ítnhất là sau khi hàng hoá nhập khẩu đã đi vào đến thì trường nội địa Theo nguyêntắc này, khi áp dụng những qui chế trong nước và thuế nội địa đối với hàng nhậpkhẩu thì phải cung cấp các điều kiện tương tự như đối với sản phẩm trong nước Vìthế các thành viên của WTO không được áp dụng thuế nội địa để bảo vệ sản xuấttrong nước và không được phân biệt đối xử đối với hàng nhập khẩu từ các nướcthành viên WTO khác.
Nguyên tắc thứ hai: Thương mại phải ngày càng được tự do thông qua đàmphán.WTO đảm bảo thương mại giữa các nước ngày càng tự do hơn thông qua quátrình đàm phán hạ thấp hàng rào thuế quan để thúc đẩy buôn bán Hàng rào thươngmại bao gồm thuế quan, và các biện pháp khác như cấm nhập khẩu, quota có tácdụng hạn chế nhập khẩu có chọn lọc, đôi khi vấn đề khác như tệ quan liêu, chínhsách ngoại hối cũng được đưa ra đàm phán
Nguyên tắc thứ ba: WTO tạo ra môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng.WTO là một hệ thống các nguyên tắc nhằm thúc đẩy cạnh tranh tự do, công bằng vàkhông bị bóp méo Các quy định về phân biệt đối xử được xây dựng nhằm đảm bảocác điều kiện công bằng trong thương mại Các đều khoản về chống phá giá, trợ cấpcũng nhằm mục đích tương tự Tất cả các hiệp định của WTO như Nông nghiệp,dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại đều nhằm mục đích tạo rađược một môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng hơn giữa các nước
Nguyên tắc thứ tư: Tính tiên liệu được thông qua ràng buộc thuế Các cam kếtkhông tăng thuế cũng quan trọng như việc cắt giảm thuế vì cam kết như vậy tạođiều kiện cho các doanh nghiệp có thể dự đoán tốt hơn các cơ hội trong tương lai.Nguyên tắc thứ năm: Các thoả thuận thương mại khu vực WTO thừa nhận cácthoả thuận thương mại khu vực nhằm mục tiêu đẩy mạnh tự do hoá thương mại.Các liên kết như vậy là một ngoại lệ của nguyên tắc đãi ngộ Tối huệ quốc theonhững tiêu chuẩn nghiêm ngặt, nhằm bảo đảm các thoả thuận này tạo thuận lợi cho
Trang 25thương mại các nước liên quan song không làm tăng hàng rào cản trở thương mạivới các nước ngoài liên kết.
Nguyên tắc thứ sáu: Các điều kiện đặc biệt dành cho các nước đang phát triển.WTO là một tổ chức quốc tế với hơn 2/3 tổng số nước thành viên là các nước đangphát triển và các nền kinh tế đang chuyển đổi, vì thế một trong những nguyên tắc cơbản của WTO là khuyến khích phát triển, dành những điều kiện đối xử đặc biệt vàkhác biệt cho các nước này, với mục tiêu đảm bảo sự tham gia sâu rộng hơn của họvào hệ thống thương mại đa biên Để thực hiện được nguyên tắc này, WTO dànhcho các nước đang phát triển và các nền kinh tế đang chuyển đổi những linh hoạt vàcác ưu đãi nhất định trong việc thực thi các hiệp định, đồng thời chú ý đến việc trợgiúp kỹ thuật cho các nước này
Tổ chức thương mại thế giới WTO ra đời gây tác động vô cùng to lớn đếncác nước thành viên và đến nền kinh tế toàn thế giới Giúp cho kinh tế thế giới pháttriển bền vững, hài hòa và công bằng hơn được thể hiện rõ ở những thể chế kinh tếquốc tế được quy trịnh trong WTO Ở đây, tác giả xin phân tích rõ tác động củaWTO đến các quốc gia đang phát triển (các quốc gia được đánh giá là chịu tác độnglớn hơn sau khi WTO ra đời cũng như sau khi các nước đang phát triển được làthành viên của WTO)
- Những ảnh hưởng tích cực:
Tổ chức thương mại thế giới WTO là một tổ chức quốc tế, với các thể chếkinh tế quốc tế đa phương, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của nền kinh tế thếgiới nói chung và đến nền kinh tế của mỗi quốc gia thành viên nói riêng Đối vớicác nước đang phát triển, gia nhập WTO đã mang lại được rất nhiều lợi ích thiếtthực đối với công cuộc phát triển kinh tế của họ Cùng với quá trình toàn cầu hoákinh tế và đặc biệt là sự ra đời của WTO từ năm 1995, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế bìnhquân của các nước đang phát triển luôn đạt khoảng từ 4% đến 5% Tỷ trọng kinh tếcủa các nước này trong nền kinh tế toàn cầu đã tăng lên nhanh chóng, từ 13% năm
1995 lên 29% năm 1998 (chỉ 3 năm, sau khi WTO ra đời) Tỷ trọng trong thươngmại thế giới của các nước đang phát triển cũng tăng lên từ 11% đến 32% trong cùng
Trang 26thời kỳ Đến năm 2010, theo dự báo, tỷ lệ này có thể lên tới 45% Đặc biệt, các nềnkinh tế Đông á trong nhiều năm liền có tốc độ tăng trưởng nhanh đã đạt đến tỷ lệ7% hoặc hơn (có thể kể đến như Trung Quốc, Việt Nam) Các nước Mỹ La Tinhcũng đạt mức tăng trưởng bình quân cao; các nước Châu Phi đã dần dần bước rakhỏi tình trạng bi đát về kinh tế Năm 1999, Châu Phi đã đạt mức tăng trưởng 3,6%
là mức cao nhất từ hơn một thập kỷ qua Một số nước đang phát triển có tốc độ pháttriển cao đã trở thành một trong những động lực thúc đẩy nền kinh tế thế giới Đây
là những con số tổng quan về những thành công của hoạt động của tổ chức thươngmại thế giới đối với các nước đang phát triển, làm rõ thêm những ảnh hưởng tíchcực của WTO đến các mặt của nền kinh tế:
Thứ nhất, tất cả các hàng hoá và dịch vụ của các nước đang phát triển là thànhviên của WTO đều được đối xử theo các nguyên tắc, quy định của WTO; được đối
xử bình đẳng, không phân biệt đối với hàng hoá và dịch vụ của các nước phát triển.Các loại hàng hoá và dịch vụ này khi được xuất khẩu sang bất kỳ một thị trường củamột nước thành viên nào kể cả Mỹ hay EU đều được hưởng mọi quyền lợi mà chínhphủ nước đó dành cho hàng hoá và dịch vụ nước mình
Thứ hai, các rào cản thuế và phi thuế quan đều buộc phải cắt giảm, các biệnpháp hạn chế định lượng đều bị cấm sử dụng được áp dụng cho mọi thành viên củaWTO không loại trừ một thành viên nào của WTO Do đó cơ hội xuất khẩu của cácnước đang phát triển gia tăng rõ rệt, thị trường tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ được
mở rộng Các nước đang phát triển đã và sẽ tập trung chuyên môn hoá các mặt hàng
mà mình có lợi thế, nhằm thúc đẩy xuất khẩu ra thị trường nước ngoài
Thứ ba, sản xuất trong nước được chú trọng và thu hút được nhiều lao động,tạo được nhiều công ăn việc làm hơn cho người dân, đặc biệt là trong những ngànhnghề sản xuất phục vụ xuất khẩu làm tăng nhanh sự tăng trưởng của nền kinh tế và
xã hội của nước đó
Thứ tư, là thành viên của WTO, có nghĩa là các nước đã tạo dựng được mộtmôi trường kinh tế, chính trị ổn định, tạo được sự tín nhiệm của các nước trên thếgiới Chính vì vậy, các nước đang phát triển có thể mở rộng được thị phần của mình
Trang 27trên thị trường quốc tế, giành được nhiều ưu đãi thương mại tạo được cho mình lợithế kinh tế chính trị, thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư của nước ngoài.
Thứ năm, các quan hệ kinh tế, văn hoá, chính trị với các nước thành viên được
mở rộng, tiếp thu được nhiều kinh nghiệm tốt trong quản kí kinh tế, xã hội, khoahọc kĩ thuật, tiếp cận được các thành tựu KHKT tiên tiến trên thế giới, cũng nhưtiếp thu được các lối sống văn hoá của các nền văn minh khác nhau trên thế giới.Thứ sáu, hoạt động của WTO khiến cho cạnh tranh quốc tế ngày càng trở nêngay gắt, do đó các doanh nghiệp của các nước đang phát triển buộc phải tìm tòi,khắc phục những hạn chế của mình, đồng thời áp dụng công nghệ mới phát triểnbền vững hoạt động sản xuất kinh doanh, tích tụ được nhiều nguồn lực để có thểnâng cao khả năng cạnh tranh tích cực trong nước thúc đẩy nền kinh tế phát triển và
có đủ năng lực canh tranh được với nước ngoài, thích ứng với xu hướng toàn cầuhoá hiện nay Cạnh tranh với bất cứ bản chất nào thì cũng khiến cho các nước đangphát triển có tầm nhìn tốt hơn, tiếp cận được kỹ thuật công nghệ tiên tiến của cácnước phát triển, đồng thời thúc đẩy các doanh nghiệp nội địa cải tiến và chấp nhậncác tiêu chuẩn giám sát quốc tế tốt nhất, kiểm soát được rủi ro và thúc đẩy sản xuấtkinh doanh phát triển
Thứ bẩy, vấn đề di chuyển lao động giữa các nước thành viên đã trở nên dễdàng hơn Di chuyển lao động tự do đã mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho các nướcđang phát triển Cái lợi của các nước đang phát triển thường xuyên xuất khẩu laođộng là nhận được một khoản thu nhập ngoại tệ không nhỏ từ tiền lương mà nước
sở tại trả cho người lao động Xuất khẩu lao động có vị trí đặc biệt đối với các nướcđang phát triển, vừa thay đổi cán cân kinh tế vừa tăng sức mua của xã hội thúc đẩythương mại và sản xuất nội địa Thêm vào đó, các nước phát triển thường nhập khẩulao động từ các nước đang phát triển và sau thời gian làm việc cho các hãng, công
ty kinh nghiệm, tay nghề và trình độ của người lao động được nâng lên, có khả năngtiếp cận với nền công nghiệp tiên tiến, khi trở về tổ quốc, họ sẽ trở thành nguồnnhân lực quan trọng cho phát triển đất nước
- Những ảnh hưởng tiêu cực:
Trang 28Bên cạnh những ảnh hưởng tích cực, những lợi ích không nhỏ, nhận được từWTO, các nước đang phát triển phải đối mặt với những ảnh hưởng tiêu cực của nó:Thứ nhất, trong tổ chức thương mại thế giới, theo các nguyên tắc của nó, mọithành viên đều được đối xử như nhau, đều được hưởng mọi đãi ngộ MFN và NT,các hàng rào thuế quan và phi thuế quan của các nước đều được giảm dần chính vìvậy, thị trường tiêu thụ được mở rộng, các nước đều tập trung sản xuất theo địnhhướng xuất khẩu Do các nước đang phát triển chỉ sản xuất được các hàng côngnghiệp có giá trị thấp, không chú trọng được vào đầu tư và phát triển các ngànhcông nghiệp giá trị cao và phải nhập khẩu các mặt hàng này từ các nước phát triển.Công nghiệp nội địa của các nước đang phát triển do đó không có cơ hội để pháttriển Mặt khác, trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay, vai trò của các ngành côngnghiệp dịch vụ và lao động kỹ năng ngày càng tăng lên và cùng với nó là sự giảmdần tầm quan trọng của các hàng hoá sơ chế và lao động không kỹ năng Bên cạnh
đó, sự tiến bộ trong khoa học công nghệ cũng không chỉ làm thay đổi cơ cấu mà cònlàm thay đổi tầm quan trọng của các sản phẩm đầu vào Các ngành công nghiệphiện đại ngày càng ít sử dụng tài nguyên thiên nhiên, do đó chúng không còn là yếu
tố cạnh tranh quan trọng nữa Điều này đã khiến cho các nước đang phát triển vốn
là những nước xuất khẩu hàng hoá sơ chế và nguồn lao động không kỹ năng rơi vàotình trạng rất bất lợi
Thứ hai, trong lĩnh vực nông nghiệp, các nước đang phát triển cũng phải chịunhững tác động rất lớn trong quá trình điều tiết hệ thống thương mại đa biên của WTO:
Do định hướng xuất khẩu, nền nông nghiệp của các nước đang phát triển cùngchú trọng vào sản xuất các mặt hàng có giá trị xuất khẩu, đất đai ngày càng khanhiếm, vì một phần bị lấy đi để phát triển công nghiệp, thành thị Sản lượng lươngthực của nhiều nước giảm đi rõ rệt Điều đó, có nghĩa là sự sản xuất nông nghiệp tựcung tự cấp đã không thoả mãn yêu cầu của nhân dân trong nước do sự bành trướngcủa cây công nghiệp Rất nhiều nước đang phát triển, vấn đề an ninh lương thực bị
đe doạ nghiêm trọng, buộc các nước này phải nhập khẩu lương thực từ nước ngoài,mức độ lệ thuộc lương thực của các nước này ngày càng gia tăng
Trang 29Sự chênh lệch giữa khu vực thành thị và khu vực nông thôn ngày càng trở nên
rõ rệt hơn Các nước đang phát triển phần lớn đều phải gánh chịu tình trạng dù tỷ lệtăng trưởng của cả nước khá cao và ngày càng gia tăng nhưng tại các khu vực nôngthôn, tình trạng đói nghèo vẫn tồn tại, có nơi còn tăng lên Sự phồn vinh chỉ thấyđược tại các khu vực thành thị Nguyên nhân của hiện tượng này là do các nướcđang phát triển quá chú trọng vào phát triển công nghiệp, dẫn đến sự phát triển bấtcân đối, các nguồn lực ít được đầu tư cho nông nghiệp, nông dân không có đủ điềukiện để phát triển sản xuất
Thứ ba, xu hướng đô thị hoá cộng với tình trạng nguồn lực của nông thôn bịhạn chế buộc rất nhiều nông dân ra thành phố kiếm sống Nhiều thành phố vì thế đãtrở nên quá tải (có thể kể đến là thủ đô Hà Nội với dân số trên 10 triệu người lớndơn hơn cư của toàn bộ nước Lào), ngoài ra mật độ dân cư tăng lên quá nhanh, đãkhiến cho tình trạng ô nhiễm, các tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông tăng vọt
Thứ tư, để thực hiện theo quy định của WTO, các nước đang phát triển sẽ bịthúc ép, buộc phải từ bỏ ngày càng nhiều các chính sách hiện hữu đang bảo vệ vàphát triển nền kinh tế nội địa của mình cho hàng hoá và dịch vụ của nước ngoài tự
do tràn vào, gây ra các tác động xấu:
Phải mở cửa nền kinh tế khi đất nước chưa đủ tiềm lực và sự chuẩn bị đối phótrước những tác động tiêu cực của nền kinh tế thế giới Các doanh nghiệp trongnước chưa đủ mạnh và chưa chuẩn bị sẵn sàng để cạnh tranh với các tập đoàn lớn,
có thể các công ty, tập đoàn đó sẽ thế chân họ trên thị trường trong nước
Hàng hoá hoặc dịch vụ nước ngoài có thể tràn ngập thị trường, thế chỗ hànghóa và dịch vụ nội địa do chúng có sức cạnh tranh cao hơn, như giá rẻ hơn, chấtlượng tốt hơn Do vậy, các công ty nước ngoài sẽ ngày càng chiếm được nhiều thịphần của khu vực nội địa
Tình trạng chảy máu chất xám tại các nước đang phát triển gia tăng, do cácchính sách đãi ngộ cao của các nước phát triển, nhằm thu hút lao động có trình độcao sang làm việc cho họ Nguồn nhân lực tại các nước đang phát triển bị thiệt hạinặng nề, đặc biệt là nguồn nhân lực có kĩ năng cao
Trang 30Quá trình tự do hoá thương mại đã kéo theo nhiều vấn đề, ảnh hưởng xấu đếnnền văn hoá, lối sống tại các nước đang phát triển, du nhập nhiều sách báo, văn hoáphẩm không lành mạnh, làm cho nhận thức của người dân bị sai lệch, do ảnh hưởngcủa lối sống nước ngoài; tình trạng xung đột bạo lực ngày một gia tăng Môi trường
bị ô nhiễm nghiêm trọng, do tình trạng khai thác bừa bãi, các chất độc hại của cáckhu công nghiệp thải ra môi trường không kiểm soát được Trong xã hội, tình trạngbất bình đẳng ngày càng trầm trọng, người giàu càng giàu thêm, người nghèo càngnghèo đi, sự bất bình đẳng vốn đã ngấm ngầm trong xã hội về giai cấp, sắc tộc, màuda hiện nay càng trở nên rõ rệt và sâu sắc hơn
1.2.2 Liên minh châu Âu (EU)
Liên minh châu Âu hay Liên hiệp châu Âu (tiếng Anh: European Union),
cũng được gọi là Khối Liên Âu, viết tắt là EU, là một liên minh kinh tế chính trị
bao gồm 27 quốc gia thành viênthuộc Châu Âu Liên minh châu Âu được thành lập
bởi Hiệp ước Maastricht vào ngày 1 tháng 11 năm 1993 dựa trên Cộng đồng Châu
Âu (EC) với hơn 500 triệu dân, Liên minh châu Âu chiếm khoảng 22% (16,2 nghìn
tỷ đô la Mỹ năm 2015) GDP danh nghĩa và khoảng 17% (19,2 nghìn tỷ đô la Mỹnăm 2015) GDP sức mua tương đương của thế giới (PPP)
Liên minh châu Âu đã phát triển một thị trường chung thông qua hệ thống luật
pháp tiêu chuẩn áp dụng cho tất cả các nước thành viên nhằm đảm bảo sự lưu thông
tự do của con người, hàng hóa, dịch vụ và nguồn vốn EU duy trì các chính sáchchung về thương mại, nông nghiệp, ngư nghiệp và phát triển địa phương 17 nướcthành viên đã chấp nhận đồng tiền chung, đồng Euro
Các thể chế kinh tế quốc tế chủ yếu trong hiệp ước của EU được dựa trên cácnguyên tắc cơ bản sau đây:
- Lương thực chung;
- Sửa đổi Hiệp ước EEC thành EC (European Community), bao gồm liên hiệpkinh tế và tiền tệ, liên hiệp về thuế quan, thị trường đơn nhất, chính sách nôngnghiệp chung, chính sách hạ tầng và vấn đề công dân của Liên hiệp
- Chính sách về an ninh và đối ngoại (CFSP)
Trang 31- Hợp tác về các vấn đề pháp luật và nội vụ;
- Tài chính chung (sử dụng chung đồng tiền Euro);
- Nghị định thư, trong đó quan trọng nhất là mối liên kết quan hệ về kinh tế và
xã hội và các chính sách xã hội để giải thích cho sự liên hệ tới CFSP và những vănbản của các nước thành viên của Liên hiệp Tây Âu (WEU) về vai trò của họ
Đồng thời Liên minh châu Âu được quản lý bởi một loạt các thể chế sauchung Các thể chế chính bao gồm:
- Một nghị viện được bầu thông qua bầu cử tự do, nó cung cấp một diễn đàndân chủ cho việc tranh luận, mang chức năng giám hộ và giữ vai trò giám hộ trongtiến trình lập pháp;
- Hội Đồng châu Âu, bao gồm các bộ trưởng của 15 nước thành viên và là cơquan chủ yếu ra quyết định;
- Uỷ Ban châu Âu đại diện cho quyền lợi của Cộng Đồng và là cơ quan thihành chính sách của Cộng Đồng;
- Toà án Tư pháp được đặt tại Luxembourg và đảm bảo luật pháp của CộngĐồng được hiểu và thực hiện theo đúng các hiệp ước;
- Toà án Kiểm toán có vai trò kiểm tra để việc thu và chi được thực hiện “theomột cách thức hợp pháp và đúng chuẩn mực” và các vấn đề tài chính của CộngĐồng được quản lý một cách thích hợp;
- Ngân Hàng Đầu tư Châu Âu (EIB), được thành lập để giúp thực hiện các dự
án đóng góp vào sự phát triển cân bằng của EU
Việc liên minh châu Âu được thành lập, phát triển qua một thời kỳ dài(khoảng 60 năm) với một loạt các thể chế được các nước thành viên thống nhất vàban hành gây những tác động cả tích cực lẫn tiêu cực đến các nước thành viên
- Những ảnh hưởng tích cực:
Về kinh tế: Sau mấy thập niên phát triển, với số dân là 340 triệu người có
trình độ khoa học – kĩ thuật cao, chiếm 1/3 tổng sản lượng công nghiệp trên thế
Trang 32giới, EU đã tạo một cộng đồng kinh tế và một thị trường chung hùng mạnh, đủsức cạnh tranh về kinh tế, tài chính, thương mại với Mỹ, Nhật và sự phát triểnkhông ngừng của Trung Quốc
Về chính trị: Các nước thuộc liên minh châu Âu đã thống nhất chính sách đối
nội, đối ngoại, chống lại chủ nghĩa Cộng sản và phong trào công nhân ở Tây Âu Cóthể thấy Eu hiện nay giống như một liên bang, nhằm nhất thể hoá châu Âu về kinh
tế – chính trị, đã có ngân hàng chung và đồng tiền chung tạo ra một sức mạnh cộngđồng hết sức to lớn và mang lại nhiều lợi thế cho khối
- Những ảnh hưởng tiêu cực:
Có một số nước có nền kinh tế lớn mạnh hơn hẳn so với những quốc gia cònlại như Anh, Pháp sẽ bị thiệt ở một số thể chế chung cho liên minh châu Âu như sửdụng đồng tiền chung, ngân hàng chung Ngoài ra rất nhiều vấn đề được thống nhất bởi
đa phần các quốc gia trong liên minh châu Âu nhưng chống lại lợi ích của các quốc gianày Chính vì nguyên nhân đó mà năm 2016 nước Anh đã chưng cầu dân ý về việc rờikhỏi liên minh châu Âu, kết quả là nước Anh đã chính thức rời khỏi EU gây ảnh hưởng
vô cùng lớn đến chính nước Anh và cả khối EU cũng như kinh tế thế giới
Nhiều vấn đề nan giải đã nảy sinh sau khi xóa bỏ kiểm soát biên giới giữa cácnước như buôn lậu xuyên châu Âu, các bang đảng Mafia hoành hành, khủng bố đedọa toàn châu Âu trong năm 2016 vừa qua Ngoài ra còn một loạt các vấn đề chưađược giải quyết như vấn nạn nhập cư hàng loạt vào châu Âu, tệ nạn xã hội, bất ổnchính chị, khủng hoảng kinh tế ở một số quốc gia tại châu Âu cũng có một phầnnhiều là do các thể chế, quy tắc mà Liên minh châu Âu đặt ra nhưng chưa thể kiểmsoát chặt chẽ được
1.3 Một số lý thuyết về hội nhập kinh tế quốc tế.
Thời gian gần đây, có 4 cách tiếp cận khác nhau đối với vấn đề phúc lợi củahội nhập vùng và ảnh hưởng của nó đối với nền kinh tế toàn cầu Một trường pháiBhagwati và Panagariya (1996), Bhagwati và Krueger (1995), Srinivasan (1998)cho rằng hội nhập vùng là một ý tưởng tồi, làm giảm phúc lợi của các nước thànhviên và tách rời các cố gắng mở rộng tự do hoá toàn cầu của WTO Trong khi đó
Trang 33những người khác như Ethier (1998) lại lập luận rằng hội nhập vùng hỗ trợ hội nhập
đa phương và là bằng chứng cho thấy các nước nhỏ muốn tham gia vào hệ thốngthương mại đa phương hiện đang bị thống trị bởi các nước đã phát triển Xét trênkhía cạnh khoảng cách, Krugman (1993) cho rằng có khả năng có các khối thươngmại tự nhiên giữa các nước láng giềng mà trong đó chi phí vận chuyển thấp sẽ tạo
ra các lợi ích nếu các nước này thành lập khối thương mại vùng Thêm vào đó còn
có một quan điểm cho rằng các nước tìm cách tham gia vào các hiệp định thươngmại vùng vì sợ bị loại trừ, hay còn gọi là lý thuyết domino về hội nhập vùng củaBalwin và Venables (1995)
Các phân tích lý thuyết về ảnh hưởng phúc lợi tiềm năng của tự do hoá thươngmại phần lớn dựa trên các mô hình tân cổ điển chịu ảnh hưởng của Ricardo trongviệc nhấn mạnh tới lợi thế so sánh tương đối và tác dụng của thương mại quốc tếgiữa các nước Theo như khung lý thuyết của Heckscher-Ohlin-Samuelson, tự dohoá toàn cầu sẽ giúp cho các nước đạt được cấu trúc sản xuất, thương mại và phâncông lao động theo đúng lợi thế so sánh tương đối của họ, và điều này giúp tănghiệu quả của việc phân bổ nguồn lực và tăng phúc lợi toàn cầu Vì thế, việc thànhlập các khối kinh tế vùng (RTA) chỉ là lựa chọn thứ hai so với tự do hoá thương mạitoàn cầu
Lý thuyết của Viner (1950) và Meade (1955) là cơ sở cho các lý luận về việcthiết lập các khối kinh tế vào những năm 1950-1960 Lý thuyết này tập trung vàocác khái niệm tĩnh như “tạo ra thương mại” và “chệch hướng thương mại” Sự “tạo
ra thương mại” xảy ra khi một nước thành viên của khối kinh tế vùng tăng nhậpkhẩu hàng hoá từ các nước thành viên khác trong khối có chi phí sản xuất thấp hơn
so với các nước ngoài khối, và giảm sản xuất các mặt hàng có thể nhập khẩu đó ởtrong nước Người tiêu dùng sẽ được hưởng lợi do giá hàng nhập khẩu thấp hơn sovới hàng trong nước Việc hạ giá sẽ giúp tăng thu nhập thực tế, tăng nhu cầu tiêudùng và điều đó sẽ giúp tăng nhập khẩu và thương mại cho cả các nước trong vàngoài khối kinh tế vùng
Sự “chệch hướng thương mại” xảy ra khi thương mại giữa các nước thànhviên trong khối tăng lên do thuế quan ưu đãi và thay thế cho các hàng nhập khẩu
Trang 34ngoài khối có giá thành rẻ hơn “Chệch hướng thương mại” không chỉ gây tổn thấtcho các nước trong khối do phải trả giá hàng nhập khẩu cao hơn mà còn gây tổnthất cho các nước ngoài khối do không xuất khẩu được hàng hoá hoặc bị bắt buộcphải giảm giá xuất khẩu của họ để cạnh tranh.
Bhagwati và Panagariya (1996) và Panagariya (1998, 1996) lập luận rằngRTA dường như sẽ làm giảm phúc lợi của các nước thành viên và cản trở tự do hoáthương mại đa phương Do RTA tạo ra các ưu đãi đặc biệt cho các nước thành viênnên nó sẽ chuyển hướng thương mại từ các nước ngoài khối có chi phí cung cấpthấp nhất Việc chuyển hướng thương mại này dường như sẽ lấn át việc tạo rathương mại, vì thế RTA sẽ làm giảm phúc lợi của các nước thành viên Để chứngminh điều này họ sử dụng mô hình Viner về khối kinh tế trong đó 2 nước loại bỏcác hàng rào thương mại song phương Nếu các nước còn lại là nhà cung cấp có chiphí rẻ nhất và có chi phí không đổi, RTA với các nhà cung cấp có chí phí tăng sẽchỉ có thể làm chệch hướng thương mại Nước thực hiện tự do hoá sẽ bị thiệt do họ
đã bỏ đi khoản thuế thu được từ hàng nhập khẩu của đối tác mới trong khi khôngđạt được giá nội địa thấp hơn đối với các hàng nhập khẩu bởi phần còn lại của thếgiới mới là người đặt giá Trong khung phân tích này, nếu đối tác thương mại chiếm
tỷ lệ càng lớn trong hàng nhập khẩu thì sự mất mát doanh thu thuế càng lớn khiRTA được thành lập Tương tự, đối với đối tác thương mại mà có mức thuế ban đầucao thì họ cũng bị thiệt từ việc thiết lập RTA bởi vì doanh thu thuế bị phân phối lạicho người khác sẽ nhiều hơn
De Melo và các cộng sự (1993) đưa ra một quan điểm cân bằng hơn về ảnhhưởng phúc lợi của RTA trong một khung phân tích có tính tới cả sự ‘tạo ra thươngmại’ và “chệch hướng thương mại” Trong trường hợp này các nước hạ thấp hàngrào thương mại đối với các đối tác trong khối sẽ có mức giá mới trong nước thấphơn so với mức giá gồm cả thuế của các nhà cung cấp có chi phí ổn định (phần cònlại của thế giới), nhưng cao hơn so với trường hợp thương mại tự do Tác động phúclợi cho các nước giảm thuế nhập khẩu không rõ ràng: họ bị thiệt do chuyển hướngnhập khẩu ra khỏi các nhà cung cấp có chi phí thấp nhất, nhưng họ lại được lợi từviệc tổng nhập khẩu tăng lên Trong trường hợp đó: (1) mức độ thuế nhập khẩu của
Trang 35một khu vực nào càng cao thì lợi ích của RTA càng cao và chi phí của RTA càngthấp; (2) thuế suất cho các nước ngoài khối sau khi RTA được thiết lập càng thấpthì khả năng giảm nhập khẩu các hàng có giá rẻ hơn của các nước ngoàI càng thấp;(3) mức độ bổ sung của nhu cầu nhập khẩu giữa các nước thành viên trong khốicàng lớn thì việc thiết lập RTA mang lại lợi ích càng lớn, có nghĩa là lợi ích củaRTA giữa các nước đang phát triển và đã phát triển (với cấu trúc nguồn lực khácnhau) sẽ rất lớn.
De Rosa (1998) đưa ra mô hình của Meade trong đó giá tương đối ở thị trườngthế giới và nội địa đều có thể được điều chỉnh trong khung cân bằng tổng thể Mộtkết quả của mô hình này là nếu một nước tham gia vào RTA tăng lượng nhập khẩu
từ tất cả các nguồn khác nhau thì phúc lợi của nước đó sẽ tăng lên Để đảm bảo rằngkhông có “chệch hướng thương mại”, De Rosa gợi ý rằng các nước thành viên trongkhối nên cùng nhau giảm hàng rào thương mại đối với các nước ngoài khối Cónghĩa là việc thiết lập RTA trong khung cảnh tự do hoá thương mại đa phương tănglên có thể đem lại các ảnh hưởng về mặt phúc lợi khác với việc thiết lập RTA trongbối cảnh bảo hộ tăng lên
Một nhược điểm cơ bản của các lý thuyết thương mại cổ điển và tân cổ điển là
nó chỉ có thể chỉ ra chiều hướng của ảnh hưởng tuy nhiên lại không thể chỉ ra mức
độ của các ảnh hưởng đó Chính điều này thúc đẩy việc sinh ra các lý thuyết thươngmại mới (new trade theory) Các lý thuyết thương mại mới không chỉ xem xét cấutrúc thị trường theo kiẻu tân cổ điển mà còn tính tới các đặc điểm khác như tínhkinh tế theo quy mô, cạnh tranh không hoàn hảo, chuyển giao công nghệ, ngoại ứngthương mại và các ảnh hưởng động khác như quan hệ giữa tự do hoá thương mại,tăng trưởng năng suất tổng hợp của các đầu vào và tích tụ vốn Các nghiên cứu thựcchứng về RTA tính tới các yếu tố mới trong lý thuyết thương mại mới đều tìm rarằng sự “tạo ra thương mại” lấn át mạnh mẽ sự “chệch hướng thương mại”, vàdường như không có một sự “chệch hướng thương mại” nào cả vì sự tăng trưởngcủa các thành viên trong khối giúp mở rộng thương mại kể cả giữa các nước trongkhối và giữa các nước trong khối với phần còn lại của thế giới
Trang 36Một trong các hiện tượng điển hình cho việc thành lập RTA là sự tăng lênmạnh mẽ của thương mại trong cùng ngành, đặc biệt là các hàng hoá trung gian.Đây chính là yếu tố chính để “tạo ra thương mại” Nguyên nhân tiềm ẩn không thểgiải thích bằng khung lý thuyết của Ricardo theo đó thương mại chủ yếu diễn ragiữa các nước có cấu trúc nguồn lực khác nhau Chúng ta có thể phỏng đoán rằng sựtăng lên của thương mại trong từng ngành là do RTA đưa ra các thị trường mở rộng
ổn định và cho phép các hãng đạt được tính kinh tế thông qua chuyên môn hoá tốthơn – quan điểm lý thuyết đưa ra bởi Adam Smith
Khi các nước tăng cường thương mại do có các cấu trúc nguồn lực khác nhautheo kiểu Ricardo và lập ra các RTA tạo điều kiện có các thị trường ổn định và liênkết, thì nó cũng tạo ra các kích thích cho những người sản xuất tận dụng các lợi íchtheo kiểu của Smith
Ngoài ra, trong các mô hình tân cổ điển thì người ta cho rằng sẽ có nhiềuthương mại giữa các nước có cấu trúc đầu vào khác nhau, nhưng thực tế trên đây lạicho thấy phần lớn sự “tạo ra thương mại” lại xuất hiện đối với các nước có điềukiện giống nhau Vì thế chúng ta thấy rằng, sự khác biệt về các yếu tố sản xuấtkhông phải là nhân tố chủ yếu cho tăng trưởng thương mại khi thiết lập các hiệpđịnh thương mại vùng mà việc vận dụng các thể chế kinh tế quốc tế phù hợp mới làchìa khóa thành công cho các hiệp định thương mại giữa các quốc gia
Trang 37TIÊU KẾT CHƯƠNG 1
Hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình phát triển tất yếu, do bản chất xã hộicủa lao động và quan hệ giữa các quốc gia Sự ra đời và phát triển của kinh tế thịtrường cũng là động lực hàng đầu thúc đẩy quá trình hội nhập Hội nhập diễn radưới nhiều hình thức, cấp độ và trên nhiều lĩnh vực khác nhau, theo tiến trình từthấp đến cao Hội nhập đã trở thành một xu thế lớn của thế giới hiện đại, tác độngmạnh mẽ đến quan hệ quốc tế và đời sống của từng quốc gia Ngày nay, hội nhậpquốc tế là lựa chọn chính sách của hầu hết các quốc gia để phát triển
Những năm gần đây, hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành ngôn từ khá thânquen với hầu hết học sinh, sinh viên và nhân dân tại Việt Nam cũng như Lào Trongcông sở, nhà trường, trong các công trình nghiên cứu, bài báo, tạp trí, người ta đều
sử dụng nó một cách rất thông dụng Tuy vậy, nhưng không phải ai cũng thực sự hiểukhái niệm này; đặc biệt, hiểu nó một cách đầy đủ và ngọn nghành thì càng ít hơn
Để làm rõ những vấn đề được nêu ra ở trên, trong chương 1 của luận văn tácgiả đã đề cập một số khía cạnh về lý luận và thực tiễn của khái niệm hội nhập quốc
tế, tập trung vào vấn đề định nghĩa và xác định bản chất, nội hàm, các hình thức vàtính chất của hội nhập quốc tế; phân tích tính tất yếu và hệ lụy của hội nhập quốc tếnhư là một xu thế lớn của thế giới hiện đại và là chìa khóa dẫn đến sự phát triển củacác quốc gia
Trang 38CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CỘNG ĐỒNG KINH TẾ
ASEAN2.1 Quá trình hình thành và phát triển của Cộng đồng Kinh tế ASEAN
2.1.1 Cơ sở hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN
2.1.1.1 Nhu cầu tăng trưởng hợp tác của ASEAN
- Bối cảnh quốc tế và khu vực:
Sau chiến tranh lạnh, toàn cầu hóa và nền kinh tế tri thức đã tạo điều kiện choquá trình sản xuất phân chia ra thành nhiều công đoạn và được tiến hành ở nhiềunơi khác nhau để tạo ra một sản phẩm cuối cùng Kết quả là có những nền kinh tếtrở thành công xưởng và có những nền kinh tế đã bị loại ra khỏi nền kinh tế toàncầu Chính vì nguyên nhân này đã buộc các nền kinh tế ASEAN vốn phụ thuộcnhiều và gia công, xuất khẩu và luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) phảiliên kết chặt chẽ hơn nữa, phát huy lợi thế về quy mô để trở thành địa chỉ đầu tư hấpdẫn đóng góp vào “chuỗi giá trị” toàn cầu
Hợp tác kinh tế là xu thế chung của các nước, của các khu vực trên toàn thếgiới Trong những thập kỷ gần đây, các vòng đàm phán đa phương về tự do thươngmại của WTO tại Seatle, Cancun, Doha thất mại đã dẫn đến sự ra đời của hàng loạtthỏa thuận tự do hóa thương mại song phương và khu vực Các nước ASEAN cũng
bị cuốn vào trào lưu này, mỗi nước thành viên đều tham gia ký kết các thỏa thuận tự
do hóa thương mại với bên ngoài Tuy nhiên, các thỏa thuận riêng rẽ này khôngmang lại lợi ích lâu dài cho các nước, nhất là trong quan hệ với các nền kinh tế lớn,
do vậy con đường để đảm bảo lợi ích lâu dài là liên kết chặt chẽ với nhau trong tổchức ASEAN để đạt được những thỏa thuận tự do hóa thương mại với bên ngoài ởcấp độ hiệp hội trong khuôn khổ AEC
- Từ bản thân các nước thành viên của AEC
Các nước thành viên ASEAN đều là các nước nhỏ, chỉ có một phương phápgiúp các quốc gia này tiến sâu hơn và cạnh tranh hơn trong sân chơi chung của thếgiới là liên kết chặt chẽ với nhau hơn Xu thế tự do hóa đang diễn ra hết sức mạnh
mẽ trong khuôn khổ APEC với sự góp mặt của các cường quốc kinh tế lớn như Mỹ,Trung Quốc, Nga và Nhật Bản Ý tưởng về việc thành lập cộng đồng kinh tế Đông
Trang 39Nam Á rộng lớn, một khu vực kinh tế phát triển năng động nhất thế giới hiện naybuộc các nước ASEAN phải đứng trước hai lựa chọn: (1) bị hòa tan trong APEC;liên kết Đông Á trong tương lai; (2) vươn lên đóng vai trò hạt nhân trong tiến trìnhhợp tác kinh tế Đông Á và để không bị nhấn chìm trong APEC Thành lập ASEANchính là con đường cho sự lựa chọn thứ hai ở trên.
ASEAN là một khu vực có nền kinh tế chưa thật sự phát triển nhưng đang diễn
ra hết sức sôi động Các nhà kinh tế thế giới đều thống nhất cho rằng Đông Nam Á
sẽ là một khu vực có nền kinh tế phát triển đặc biệt năng động trong thời gian sắptới, bởi những thế mạnh mà khu vực này có được cũng nhưng các thế mạnh riêngcủa từng quốc gia thành viên ASEAN Tuy nhiên, các quốc gia thành viên ASEANthường là các quốc gia nhỏ, nguồn vốn còn hạn chế nên việc phát huy các thế mạnh
là tương đối khó khăn Do đó, một sự liên kết giữa các nước thành viên sẽ là mộtcông cụ đắc lực hỗ trợ các quốc gia tận dung thế mạnh của nội tại và sức mạnh tổngthể để phát triển kinh tế của toàn khu vực
Từ khi hình thành cho tới nay, hợp tác kinh tế khu vực luôn được các quốc giathành viên ASEAN coi như là động lực cho sự phát triển của từng nước thành viên
và là động lực phát triển cho khu vực Điều này được thể hiện ở chỗ, các quốc giathành viên luôn thể hiện thiện chí hợp tác bằng việc thành lập các thiết chế hợp táckinh tế, xóa bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan, mở rộng khu vực mậu dịch tựdo
Cộng đồng kinh tế ASEAN lần đầu tiên được xác lập bằng một văn bản pháp
lý vào năm 2003 (Tuyên bố Balo II), điều đó có thể nói rằng sự ra đời của Cộngđồng kinh tế ASEAN chính là sự phát triển khách quan và là kết quả tất yếu của quátrình hợp tác lâu dài gần bốn thập kỷ qua của ASEAN Ý thức về việc xác lập vaitrò của ASEAN cũng như nhận thức được giá trị của những gì mà ASEAN đã làmđược mà các quốc gia đã làm được nên các quốc gia thành viên đã rút ngắn cho sự
ra đời của cộng đồng kinh tế ASEAN từ năm 2020 xuống năm 2015
Chính vì thế, Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) đã chính thức được thành lậpvào ngày 31/12/2015 ngay sau khi bản tuyên bố thành lập chính thức có hiệu lực
Trang 40Tuyên bố hòa hợp ASEAN nhấn mạnh: “Cộng đồng kinh tế ASEAN được thành lập
là để thực hiện mục tiêu cuối cùng của hội nhập kinh tế trong Tầm nhìn ASEAN
2020, nhằm hình thành một khu vực kinh tế ASEAN ổn định, thịnh vượng và cókhả năng cạnh tranh cao, trong đó hàng hóa, dịch vụ, đầu tư sẽ được lưu chuyển tự
do và vốn cũng được lưu chuyển tự do hơn, kinh tế phát triển đồng đều, đói nghèo
và chênh lệch kinh tế-xã hội được giảm bớt vào năm 2020 Chương trình hoạt động
Vientiane đã xác định rõ hơn mục đích của AEC là: tăng cường năng lực cạnh
tranh thông qua hội nhập nhanh hơn, nhằm thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh
tế của ASEAN.
2.1.1.2 Sự thay đổi của tình hình thế giới và khu vực đầu thế kỷ 21
Như đã biết , khu vực Đông Nam Á là một khu vực có địa chính trị cực kỳquan trọng trong thế giới hiện đại, do đó khu vực này luôn được các nước lớn quantâm và gây sức ảnh hưởng Đây cũng là lý do thúc đẩy các nước Đông Nam Á hìnhthành nên cộng đồng ASEAN Tuy nhiên, từ khi Liên Xô sụp đổ năm 1991, cụcdiện thế giới có nhiều thay đổi, có ảnh hưởng nhất định đến tình hình chính trị-anninh, kinh tế, văn hóa-xã hội tại khu vực này
Sức ép cạnh tranh từ nền kinh tế Trung Quốc: Là nền kinh tế lớn thứ hai thếgiới hiện nay, với lợi thế là một thị trường rộng lớn, tương đối thống nhất và thôngthoáng, lại có những lợi thế so sánh tương tự ASEAN nên Trung Quốc đang là nềnkinh tế cạnh tranh “mang tính sống còn” với ASEAN vốn vẫn đang là nơi bị chiacắt bởi các rao cản thương mại đối với hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và người lao độnggiữa các nước thành viên Thành lập AEC sẽ giúp ASEAN trở thành một thực thểthống nhất, có khả năng bổ sung lẫn nhau, khắc phục điểm yếu của từng nước riêng
lẻ trong cạnh tranh với kinh tế Trung Quốc
Tác động từ chiến lược kinh tế của các nước lớn: Ngay từ khi mới ra đời,ASEAN luôn là đối tượng lôi kéo và gây ảnh hưởng về kinh tế và chính trị từ cácnước lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản,… Các nước này đều coi ASEAN là mộtđối tác chiến lược và tích cực lôi kéo ASEAN về phía mình hoặc ít nhất cũng khôngmuốn ASEAN liên minh với nước khác làm giảm ảnh hưởng của mình trong khu