Đến khi liên ngành Trung ương ban hành Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNN-VKSNDTC ngày 02/8/2013 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và phát
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu độc lập của tôi với
sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn khoa học Các nội dung, số liệu nêu trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI
QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO VỀ TỘI PHẠM VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ 5
1.1 Nhận thức chung về các khái niệm tố giác, tin báo về tội phạm và
kiến nghị khởi tố 5
1.1.1 Khái niệm về tố giác, tin báo về tội phạm 5
1.1.2 Khái niệm về kiến nghị khởi tố 13
1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố 18
1.2 Công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố 19
1.2.1 Nhiệm vụ tiếp nhận và thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm và kiến nghị khởi tố 19
1.2.2 Trình tự tiếp nhận và giải quyết tố giác tin báo về tội phạm và kiến
nghị khởi tố 23
1.3 Nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân đối với công tác tiếp nhận, giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố 28
1.3.1 Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tiếp nhận giải quyết tố giác,tin
báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố 28
1.3.2 Nội dung công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố 34
Kết luận Chương 1 40
CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN THỰC HIỆN NHIỆM VỤ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI
QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO VỀ TỘI PHẠM VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ 41
2.1 Thực trạng công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và
kiến nghị khởi tố 41
Trang 42.3 Những giải pháp và kiến nghị nhằm thực hiện có hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố 61
2.3.1 Về giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả trong công tác kiểm sát 61 2.3.2 Các kiến nghị hoàn thiện về cơ sở pháp lý và trong công tác tổ chức thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm sát 64
Kết luận Chương 2 68 KẾT LUẬN 70 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm khách thể được Bộ luật Hình sự bảo vệ, nên khi có tội phạm xảy ra thì tất yếu phát sinh trách nhiệm của Nhà nước trong việc phát hiện kịp thời, xử lý tội phạm và người phạm tội để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, xã hội và công dân
Trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là nguồn căn
cứ để xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để xem xét quyết định việc khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự Nhận thức rõ tầm quan trọng của khâu công tác này trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, các Nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Nghị quyết của Quốc hội về cải cách tư pháp đều đặt ra yêu cầu phải “thực hiện tốt công tác tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo tội phạm…”1
Để thực hiện yêu cầu bảo đảm “Mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo pháp luật”2, “Không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội”3 thì hoạt động kiểm sát việc giải quyết
tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Viện kiểm sát là rất cần thiết, có vai trò quan trọng, thực hiện tốt công tác này ngay từ khi tội phạm xảy ra nhằm góp phần bảo đảm việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi
tố đúng pháp luật, có căn cứ, khách quan và triệt để, khắc phục việc bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội
Thực hiện chủ trương về cải cách tư pháp, yêu cầu phải tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra, công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đã có nhiều chuyển biến tích cực, tuy nhiên công tác này vẫn còn những hạn chế và vướng mắc, bất cập dẫn đến hiệu quả công tác chưa cao Trong tiếp nhận, phân loại, thụ lý giải
1 Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới” Nghị quyết số 37/2012/QH13 về công tác phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án năm 2013
2 Khoản 1, Điều 3 Bộ luật Hình sự
3 Khoản 3, Điều 23 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trang 6quyết còn vi phạm phổ biến như: không thụ lý đầy đủ, thực hiện không đúng trình tự, thủ tục quy định, giải quyết quá hạn chiếm tỷ lệ cao; một số tố giác, tin báo về tội phạm giải quyết không đúng thẩm quyền, giải quyết không chính xác, trình trạng
“khép kín” từ việc tiếp nhận thông tin và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm vẫn còn xảy ra, do cơ chế trách nhiệm cung cấp giữa cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết và Viện kiểm sát không rõ ràng, chưa đầy đủ; việc nắm, quản lý tố giác, tin báo về tội phạm ở nhiều Viện kiểm sát là không đầy đủ, kịp thời; Viện kiểm sát là cơ quan được giao chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp nhưng lại thiếu các cơ chế pháp luật để Viện kiểm sát thực hiện trách nhiệm này, thiếu các cơ chế bảo đảm cho mọi yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát
về chứng minh tội phạm được thực hiện đầy đủ… từ đó chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát còn hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của xã hội, sự mong đợi của nhân dân: Việc giải quyết, xử lý tin báo về tội phạm chưa kịp thời, tội phạm còn bị bỏ lọt, chưa được phát hiện nhanh chóng, xử lý nghiêm minh
Để góp phần khắc phục những tồn tại và vướng mắc, bất cập trong hoạt động kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi
tố, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác kiểm sát lĩnh vực này cần nghiên cứu thực trạng về thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Ngành Kiểm sát, rút ra nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc bất cập, từ đó đề ra những giải pháp và kiến nghị nhằm thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ công tác kiểm sát trong thời gian tới
Từ lý do trên, tác giả chọn vấn đề “Kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm và kiến nghị khởi tố trong tố tụng hình sự Việt Nam” làm đề tài
nghiên cứu luận văn cao học của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay, theo chúng tôi được biết, đã có các bài viết đăng trên tạp chí
Kiểm sát đề cập vấn đề này, cụ thể: bài Thực trạng và kiến nghị nhằm nâng cao chất
lượng, hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến
Trang 7nghị khởi tố của tác giả Bùi Mạnh Cường đăng trên tạp chí số 1/2011; Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của tác giả Đỗ Mạnh Quang đăng trên tạp chí số 11/2011
Ngoài ra, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có các báo cáo chuyên đề về công tác này vào năm 2010, 2014 Các bài viết, báo cáo chuyên đề đã nêu thực trạng những vướng mắc, bất cập, những kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của Viện kiểm sát Tuy nhiên, chưa có luận văn nghiên cứu đề tài: "Kiểm sát việc giải quyết việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố" để lý giải toàn diện những vấn đề đặt ra về lý luận và thực tiễn, nên việc nghiên cứu đề tài này là vấn
đề mới có ý nghĩa thiết thực trong việc hoàn thiện về mặt lý luận, cũng như phương diện pháp luật, giải quyết những yêu cầu thực tiễn đòi hỏi để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát
3 Mục tiêu, đối tượng nghiên cứu và giới hạn phạm vi nghiên cứu
a Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ lý luận về kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, đồng thời làm rõ những bất cập trong áp dụng các quy định giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố từ đó đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công tác kiểm sát
b Đối tượng nghiên cứu
Đề tài luận văn nghiên cứu về vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn hoạt động công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của ngành Kiểm sát nhân dân
c Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, trong đó tập trung
đi sâu về kiểm sát việc giải quyết của Cơ quan điều tra đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Trang 8Về thời gian: Khảo sát thực trạng công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố từ năm 2009 đến năm 2014 trên phạm vi toàn quốc (Theo Báo cáo hàng năm của Viện kiểm sát nhân dân tối cao)
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác – Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống quan điểm của Đảng, Nhà nước về đấu tranh phòng, chống tội phạm, luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích;
- Phương pháp tổng hợp;
- Phương pháp so sánh;
- Phương pháp tiếp cận hệ thống
5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm sáng tỏ, bổ sung hoàn thiện
cơ sơ lý luận, pháp lý của hoạt động kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm và kiến nghị khởi tố của ngành Kiểm sát nhân dân, có thể nghiên cứu để nhận thức và vận dụng trong hoạt động thực tiễn công tác kiểm sát nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong thời gian tới
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, bố cục của luận văn gồm hai chương, có nội dung như sau:
Chương 1 Những vấn đề lý luận về kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Viện kiểm sát nhân dân
Chương 2 Thực trạng thực hiện nhiệm vụ của Viện kiểm sát và những giải pháp, kiến nghị để nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Trang 9CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI
QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO VỀ TỘI PHẠM VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ
1.1 Khái niệm tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố là những cơ sở xác định dấu hiệu của tội phạm, mà dấu hiệu tội phạm là căn cứ để khởi tố vụ án hình sự Như vậy, tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố có vai trò đặc biệt quan trọng, nó giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, đồng thời phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý kịp thời mọi hành vi phạm tội Tuy nhiên, Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành chỉ quy định về nhiệm vụ giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của các cơ quan có thẩm quyền, không định nghĩa thế nào là
tố giác về tội phạm, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Hiện nay, có nhiều cách hiểu, nhận thức chưa thống nhất về các khái niệm này dẫn đến việc vận dụng vào thực tiễn khác nhau Do đó, việc làm rõ nội hàm và đưa ra các khái niệm “tố giác về tội phạm”, “tin báo về tội phạm” và “kiến nghị khởi tố” có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn
1.1.1 Khái niệm về tố giác, tin báo về tội phạm
Dưới góc độ ngôn ngữ học, thì các thuật ngữ: tố cáo, tố giác, tin báo được hiểu là:
Tố cáo: 1 Báo cho mọi người hoặc cơ quan có thẩm quyền biết người hoặc hành động phạm pháp nào đó 2 Vạch trần hành động xấu xa hoặc tội ác cho mọi người biết nhằm lên án, ngăn chặn
Tố giác: Báo cho cơ quan chính quyền biết người hoặc hành động phạm pháp nào đó
Tin: 1.Điều được truyền đi, báo đi cho biết về sự việc, tình hình xảy ra 2.Sự truyền đạt, sự phản ánh dưới các hình thức khác nhau, cho biết về thế giới xung quanh và những quá trình xảy ra trong nó
Trang 10Báo: 1.Cho biết việc gì đó đã xảy ra 2.Cho người có trách nhiệm nào đó biết về việc xảy ra có thể hại đến trật tự an ninh chung… là dấu hiệu cho biết trước4.
Trên bình diện pháp lý, theo quy định tại Khoản 1, Điều 2 của Luật Tố cáo năm 2011 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2012) thì “Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe đọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức”
Tố cáo ở đây là khái kiện chung, là việc công dân thực hiện quyền của mình báo tin về tất cả các hành vi vi phạm pháp luật nói chung cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết Tùy theo lĩnh vực pháp luật bị vi phạm mà phân biệt các loại tố cáo khác nhau Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tái phạm cho cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết theo qui định của pháp luật về tố tụng hình sự (khoản 3 Điều 31 Luật Tố cáo) Việc tố giác và tin báo về tội phạm được thực hiện theo qui định của pháp luật về tố tụng hình sự (Khoản 2 Điều 3 Luật Tố cáo)
Như vậy, trong tố tụng hình sự, tố cáo hành vi phạm tội được gọi là tố giác về tội phạm Đây chính là việc thuộc nội dung khái niệm tố giác, tin báo về tội phạm
Tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật và tố giác về tội phạm có những điểm khác biệt nhất định Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật, không phân biệt tính chất, mức độ vi phạm, còn tố giác về tội phạm chỉ bao gồm hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm, có thể cấu thành tội phạm đã được qui định trong Bộ luật hình sự
Do đó, có thể nói, khái niệm tố cáo rộng hơn và cơ bản đã bao hàm cả khái niệm tố giác tội phạm theo luật tố tụng hình sự Điểm khác biệt cơ bản giữa hai khái niệm này là: Tố cáo là quyền công dân, còn tố giác về tội phạm vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của công dân Quan hệ pháp luật về tố cáo hành vi vi phạm pháp luật chỉ phát sinh sau khi công dân thực hiện quyền tố cáo, còn quan hệ pháp luật về tố giác tội phạm thì phát sinh ngay sau khi công dân biết về tội phạm Công dân có quyền quyết định việc mình sẽ tố cáo hay không một hành vi vi phạm pháp luật, nhưng bắt buộc phải tố
4 HoàngPhê (Chủ biên) (1992), Từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội
Trang 11giác nếu đã biết rõ về một tội phạm đang chuẩn bị hoặc sẽ được thực hiện Công dân
có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Không tố giác tội phạm” theo qui định tại Điều 314 Bộ luật hình sự, nếu biết mà không tố giác tội phạm
Khái niệm tố giác, tin báo về tội phạm, theo từ điển luật học giải thích: “Tố giác về tội phạm là báo cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền biết hành vi phạm tội của một người nào đó”5; “Tin báo về tội phạm là thông tin về tội phạm do cơ quan, tổ chức cung cấp dùng làm cơ sở để khởi tố vụ án hình sự”6
Thực trạng lập pháp tố tụng hình sự qui định về tố giác, tin báo về tội phạm từ năm 1988 đến nay cho thấy:
Theo Điều 83 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 và Điều 100 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 qui định: Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định dấu hiệu tội phạm Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những cơ sở sau đây: 1.Tố giác của công dân; 2 Tin báo của cơ quan, tổ chức; 3.Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng…”, tại Điều 101 Bộ luật Tố tụng hình sự qui định: “Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác,
tổ chức… cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được đơn tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra…”
Tại Thông tư liên ngành số 03/TT-LN ngày 15/5/1992 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) - Bộ Quốc phòng - Bộ lâm nghiệp - Tổng cục Hải Quan (Sau đây viết tắt là Thông tư liên ngành số 03) hướng dẫn thi hành các quy định của Luật Tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm đã nêu:“Tin báo và tố giác về tội phạm
là những thông tin về tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự do công dân, cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (gọi tắt là người, cơ quan, tổ chức) cung cấp cho cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết;
do các phương tiện thông tin đại chúng nêu lên hoặc cho người phạm tội tự thú” Khái niệm này có những điểm chưa phù hợp, chưa nêu và phân biệt giữa
5Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2006), Từ điển luật học, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr 785 và 765.
6Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2006), Từ điển luật học, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr 785 và 765
Trang 12tố giác và tin báo về tội phạm Trong khi đó, Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành không quy định thế nào là tố giác, tin báo về tội phạm
Đến khi liên ngành Trung ương ban hành Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNN-VKSNDTC ngày 02/8/2013 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố (sau đây gọi tắt là Thông tư liên tịch 06/2013/TTLT), tại Điều 3 về giải thích từ ngữ, các khái niệm tố giác về tội phạm và tin báo về tội phạm được hiểu như sau:
1- Tố giác về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm do
cá nhân có danh tính, địa chỉ rõ ràng cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận giải quyết
2- Tin báo về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc do cơ quan, tổ chức cung cấp cho cơ quan,
cá nhân có trách nhiệm giải quyết
Từ những quy định của pháp luật tố tụng hình sự, có thể thấy rằng về hình thức của khái niệm tố giác về tội phạm, tin báo về tội phạm đều là những nguồn thông tin thuộc một trong những nội dung quan trọng để xác định dấu hiệu tội phạm, mà các cơ quan tiến hành tố tụng nắm được thông tin qua các chủ thể khác nhau Chúng còn giống nhau ở chỗ đều là những nguồn thông tin ban đầu về tội phạm mang tính chủ quan theo suy nghĩ của chủ thể đưa ra thông tin, tức là họ cho rằng, có hành vi nào đó đã xảy ra, đang xảy ra, sắp xảy ra có dấu hiệu tội phạm, hay có người nào đó đã thực hiện, đang thực hiện hoặc sẽ thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm Những nguồn thông tin này hầu hết chưa được kiểm chứng về tính xác thực và khách quan, những chứng cứ đưa ra chưa mang tính pháp lý, cần phải qua quá trình tiến hành kiểm tra, xác minh, thu thập chứng cứ của cơ quan có thẩm quyền thì mới có
cơ sở kết luận hành vi nào có dấu hiệu tội phạm và người thực hiện hành vi
đó có dấu hiệu phạm tội hay không, hay chỉ là quan hệ hành chính, quan hệ
Trang 13kỷ luật hoặc quan hệ dân sự Ngoài ra, tố giác và tin báo về tội phạm đều có chung trình tự, thủ tục giải quyết theo Điều 103, Bộ luật Tố tụng hình sự Vậy, vì sao Bộ luật Tố tụng hình sự lại đặt tên gọi khác nhau và phân biệt thành các khái niệm khác nhau là dựa vào tiêu chí nào và nhằm mục đích gì?
Một là, tiêu chí để phân biệt khái niệm tố giác về tội phạm và tin báo về tội
phạm là yếu tố chủ thể
Về khái niệm “tố giác tội phạm” chủ thể của tố giác là “công dân” (Khoản
1, Điều 100 và Điều 101 Bộ luật Tố tụng hình sự), nhưng tại Khoản1, Điều 103 và Khoản 3, Điều 108, Bộ luật Tố tụng hình sự thì lại qui định là “cá nhân” Theo chúng tôi thì luật cần phải qui định thống nhất bởi hai khái niệm này có nội hàm khác nhau, khái niệm “công dân” theo Hiến pháp và Luật Quốc tịch là người có quốc tịch Việt Nam, còn khái niệm “cá nhân” tuy chưa định nghĩa trong văn bản quy phạm pháp luật nhưng theo cách hiểu truyền thống và trong giáo trình giảng dạy môn Luật Hành chính của các cơ sở đào tạo luật trong nước, cũng như trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành đều hiểu và sử dụng khái niệm “cá nhân” theo nghĩa bao gồm: công dân (người có quốc tịch Việt Nam), người nước ngoài (người không có quốc tịch Việt Nam, nhưng có một hoặc nhiều quốc tịch nước khác), người không quốc tịch (không có quốc tịch bất cứ một nước nào) Như vậy, khái niệm “cá nhân” có nội hàm rộng hơn khái niệm “công dân”, ở Việt Nam, ngoài công dân Việt Nam, còn có
cả người nước ngoài, người không quốc tịch sinh sống, học tập và làm việc, họ cũng
có quyền phát hiện và tố giác những hành vi vi phạm pháp luật mà họ cho là dấu hiệu tội phạm để bảo vệ quyền và lợi ích của chính mình, cũng như của các chủ thể khác
Do đó, luật nên sử dụng khái niệm “cá nhân” là hợp lý nhất, tránh tình trạng có ý kiến cho rằng chỉ có “công dân” tức người có quốc tịch Việt Nam mới có quyền tố giác tội phạm Có thể khẳng định, chủ thể của “tố giác tội phạm” chỉ là “cá nhân”; người tố giác về tội phạm có thể với bất cứ cơ quan, tổ chức nào; việc tố giác có thể thực hiện bằng miệng (trong trường hợp này cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản có chữ ký người tố giác), qua điện thoại, mạng Internet hoặc gởi đơn thư dưới dạng trình báo, phản ánh, phát giác…
Trang 14Về khái niệm “tin báo về tội phạm” theo quy định tại Khoản 23 Điều 100 Bộ luật Tố tụng hình sự thì chủ thể của tin báo về tội phạm chỉ là “cơ quan, tổ chức” mà không quy định cá nhân là chủ thể của tin báo về tội phạm, mặc dù trong thực tiễn cá nhân vẫn có thể cung cấp thông tin dưới dạng là tin báo cho cơ quan pháp luật hoặc
cơ quan nhà nước khác, nhưng ở đây cần hiểu bản chất của tin báo do cá nhân cung cấp là tố giác tội phạm Như trên đã nêu, chủ thể của tin báo về tội phạm là “cơ quan,
tổ chức”; “cơ quan, tổ chức” ở đây cần được hiểu là bất cứ cơ quan, tổ chức nào, có thể là cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, chính trị xã hội, xã hội nghề nghiệp …; chủ thể là cơ quan, tổ chức có thể trực tiếp phát hiện tội phạm hoặc việc tiếp nhận tố
giác của cá nhân và phải báo tin đến Cơ quan điều tra theo hai hình thức: bằng văn
bản (Đoạn 2 Điều 101 Bộ luật Tố tụng hình sự) hoặc có thể đăng tải trên các phương
tiện thông tin đại chúng nếu là cơ quan báo chí
Theo quy định tại Khoản 4, Điều 7 Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT thì các
cơ quan, tổ chức gồm: Công an xã, phường, thị trấn, đồn, trạm Công an; Tòa án; Cơ quan báo chí; các cơ quan tổ chức khác sau khi nhận được tố giác về tội phạm có trách nhiệm báo ngay tin đã nhận được cho Cơ quan điều tra bằng văn bản Trường hợp khẩn cấp có thể báo tin trực tiếp hoặc qua điện thoại và các hình thức liên lạc khác nhưng sau đó phải thể hiện bằng văn bản
Như vậy, đối với tin báo được các cơ quan báo chí đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng do có nhược điểm là không phải lúc nào Cơ quan điều tra cũng biết được, nếu biết thì cũng không thể hoặc không buộc phải thụ lý, giải quyết
vì chưa thể xác định đây có phải là tin báo về tội phạm hay không, hay chỉ là những bài báo phản ánh các vụ việc trong xã hội nói chung; trừ trường hợp cơ quan báo chí chủ động liên hệ với Cơ quan điều tra cung cấp thông tin về vụ việc có tội phạm thì những thông tin là tin báo về tội phạm và cơ quan điều tra buộc phải thụ lý giải quyết
Hai là, mục đích của việc phân biệt trên là để xác định rõ quyền, nghĩa vụ và
trách nhiệm pháp lý của các chủ thể tương ứng với mỗi khái niệm
Tố giác tội phạm vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ buộc phải thực hiện của bất cứ công dân hoặc cá nhân nào, có nghĩa là, khi công dân hoặc cá nhân biết rõ hành vi
Trang 15hoặc người thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm thì không ai có quyền cấm họ không được tố giác, nhưng nếu họ không thực hiện nghĩa vụ tố giác thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “không tố giác tội phạm” theo Điều 314, Bộ luật Hình
sự Người tố giác tội phạm có quyền khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án của
Cơ quan điều tra (Khoản 2, Điều 108 Bộ luật Tố tụng hình sự); người tố giác tội phạm không đúng sự thật cũng không phải chịu trách nhiệm pháp lý, tức là họ có thể báo những thông tin chủ quan, nhất thời, thiếu căn cứ, thậm chí là thông tin thất thiệt, nhưng pháp luật không buộc họ phải chịu trách nhiệm
Gửi tin báo vê tội phạm là nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức (Điều 101 Bộ luật Tố tụng hình sự), nhưng nếu cơ quan, tổ chức không thực hiện nghĩa vụ này thì luật chưa quy định trách nhiệm pháp lý mà các chủ thể này phải gánh chịu Chỉ riêng đối với chủ thể là cơ quan nhà nước thì “Thủ trưởng cơ quan nhà nước phải chịu trách nhiệm
về việc không thông báo hành vi phạm tội xảy ra trong cơ quan và trong lĩnh vực quản lý của mình” (Khoản 1, Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự) Đây là quy định chung mang tính nguyên tắc, cơ quan, tổ chức báo tin về tội phạm cũng có quyền khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án (Khoản 2, Điều 108 Bộ luật Tố tụng hình sự)
Ba là, xét về bản chất, tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo
hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền, tin báo về tội phạm là việc
cơ quan, tổ chức thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm với các cơ quan có thẩm quyền hoặc cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận được các thông tin về tội phạm từ các phương tiện đại chúng Như vậy, tố giác và tin báo về tội phạm đều là những hành vi, việc làm mang tính tích cực của các cá nhân, cơ quan, tổ chức, thể hiện trách nhiệm của các chủ thể trong đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, không thể xem đây là những “thông tin đơn thuần” theo Điều 3 Thông tư liên tịch 06/2013/TTLT giải thích
tố giác về tội phạm và tin báo về tội phạm đều là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm”, nên chưa nêu rõ bản chất hành vi của các chủ thể thực hiện việc tố giác, tin báo về tội phạm Đối với khái niệm tố giác về tội phạm thông tư quy định điều kiện về chủ thể thực hiện là “cá nhân đối với danh tính, địa chỉ rõ ràng” điều này
Trang 16có thể hiểu đối với cá nhân mà không có ghi danh tính, địa chỉ rõ ràng thì những thông tin của họ về hành vi có dấu hiệu tội phạm thì không được xem là tố giác về tội phạm Việc quy định này tạo nên cách hiểu máy móc trong thực tiễn, không phù hợp
và tương đồng với nhiều đạo luật khác, khi quy định việc thực hiện quyền của cá nhân thì không có quy định về các điều kiện mang tính hạn chế việc thực hiện quyền của chủ thể
Từ những phân tích trên, chúng tôi đưa ra khái niệm về tố giác và tin báo về tội phạm như sau:
-Tố giác tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm hoặc người phạm tội với cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự
-Tin báo về tội phạm là việc cơ quan, tổ chức thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết hoặc cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận được các thông tin về tội phạm từ các phương tiện thông tin đại chúng
Ngoài ra, cần phải phân biệt nguồn thông tin về tội phạm và nguồn tố giác tin báo về tội phạm Trong tố tụng hình sự, những thông tin về tội phạm được tiếp nhận, thu thập ở các giai đoạn từ các nguồn và bằng những biện pháp theo luật định Nguồn tố giác, tin báo về tội phạm là một trong những nguồn thông tin chính, đầu tiên về tội phạm được một quy định là cơ sở và căn cứ khởi tố vụ án Trên cơ sở, các đặc điểm của tố giác, tin báo về tội phạm đã phân tích, theo chúng tôi, có thể xác định các nguồn thông tin về tội phạm sau đây được gọi là nguồn tố giác, tin báo về tội phạm: 1- Do cá nhân trực tiếp đến Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra để tố giác và báo tin về tội phạm, 2- Tin báo của cơ quan nhà nước, tổ chức; 3- Tin báo qua phản ánh trên các thông tin đại chúng như báo, đài …; 4- Người phạm tội tự thú
Đối với nguồn thông tin về tội phạm, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án,
Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm, theo chúng tôi, đây chính
Trang 17là nguồn thông tin về tội phạm nói chung và cũng là một trong những nguồn thông tin đầu tiên về tội phạm được quy định là cơ sở và căn cứ khởi tố vụ án Nguồn thông tin này thường có tính chất bí mật nghiệp vụ, thuộc về các chuyên án của Cơ quan điều tra trong giai đoạn chưa phá án (nhất là loại án an ninh quốc gia, ma túy,…) cho nên, Viện kiểm sát phải phối hợp chặt chẽ với Cơ quan điều tra để kiểm sát việc xử lý thông tin này, đảm bảo việc chuyển hóa các tài liệu trong giai đoạn điều tra trinh sát,
bí mật sang tài liệu, chứng cứ của giai đoạn điều tra công khai đúng luật định Việc phân biệt như trên có ý nghĩa quan trọng trong công tác kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
1.1.2 Khái niệm kiến nghị khởi tố
Dưới góc độ ngôn ngữ học, thuật ngữ “kiến nghị” được hiểu là: “nêu ý kiến đề nghị một việc chung để cơ quan có thẩm quyền xét”; “yêu cầu” là: “nêu ra điều gì với người nào đó, tỏ ý muốn người ấy làm, biết rằng đó là việc thuộc nhiệm vụ, trách nhiệm hoặc quyền hạn, khả năng của người ấy”7 Hai thuật ngữ này đều có chung là
đề nghị một cơ quan, một người nào đó làm một việc thuộc nhiệm vụ và trách nhiệm, khả năng của họ
Trên bình diện pháp lý, khái niệm kiến nghị khởi tố mới được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, mà trước đó pháp luật tố tụng hình
sự chưa đề cập Theo chúng tôi, kiến nghị khởi tố là quyền của cơ quan nhà nước, tổ chức thể hiện bằng văn bản kiến nghị gửi đến Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, yêu cầu khởi tố vụ án hình sự để điều tra, xử lý tội phạm và người phạm tội nào đó Kiến nghị khởi tố là một dạng đặc biệt của tin báo về tội phạm (tuy nhiên kiến nghị khởi tố không quy định là cơ sở xác định dấu hiệu tội phạm tại Điều 100 Bộ luật Tố tụng hình sự) Bộ luật Tố tụng hình sự quy định tất cả cơ quan nhà nước đều có quyền kiến nghị khởi tố: “Các cơ quan Nhà nước phải thường xuyên kiểm tra, thanh tra viên thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; phát hiện kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật
để xử lý và phải thông báo ngay cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát mọi
Trang 18
hành vi phạm tội xảy ra trong cơ quan và trong việc quản lý của mình; có quyền kiến nghị và gửi các tài liệu có liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát xem xét, khởi tố đối với người có hành vi “phạm tội” (Khoản 1, Điều
26 Bộ luật tố tụng hình sự)
Về chủ thể của quyền kiến nghị khởi tố hiện nay có những quan điểm khác nhau Có quan điểm cho rằng: “kiến nghị khởi tố là việc các cơ quan nhà nước qua công tác kiểm tra, thanh tra phát hiện có hành vi phạm tội, hành vi có dấu hiệu tội phạm và có văn bản, kèm theo tài liệu liên quan, kiến nghị đến cơ quan có thẩm quyền để xem xét, khởi tố đối với người có hành vi phạm tội”8 Quan điểm này xác định chủ thể của kiến nghị khởi tố là tất cả cơ quan nhà nước và qua công tác kiểm tra, thanh tra phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm mới có kiến nghị khởi tố Quan điểm khác cho rằng: Ngoài cơ quan nhà nước thông qua công tác kiểm tra, thanh tra, còn cơ quan Tòa án thông qua công tác xét xử cũng có quyền kiến nghị khởi tố9; bởi
vì đối với Tòa án kiến nghị khởi tố được thể hiện bằng văn bản “Yêu cầu khởi tố” của Hội đồng xét xử Khoản 1, Điều 104 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: “Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra” Quy định này là sự thay đổi cách xử lý thông tin của cơ quan xét xử, thể hiện ở chỗ không phải Tòa án nói chung mà chính là Hội đồng xét xử thông qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện tội phạm thì có hai cách xử lý: ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT ngày 2/8/2013 về hướng dẫn thi hành quy định Bộ luật tố tụng hình sự , tại Khoản 3, Điều 3 quy định như sau: kiến nghị khởi tố
là việc các cơ quan nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ của mình phát hiện sự việc có dấu hiệu tội phạm và có văn bản kiến nghị Cơ quan điều tra xem xét khởi tố vụ án hình sự” Theo quy định này thì xác định chủ thể của thực hiện việc kiến nghị khởi tố
tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan điều tra VKSNDTC.
9 Lê Ra (2012), “Cần thống nhất nhận thức về các khái niệm tố giác tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố”,
Tạp chí Kiểm sát, (20), tr36.
Trang 19là tất cả cơ quan nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ của mình phát hiện sự việc có dấu hiệu tội phạm thì có quyền kiến nghị khởi tố vụ án hình sự
Theo quan điểm chúng tôi cho rằng, căn cứ quy định tại Khoản 1 và Khoản 3 Điều 103 Bộ luật Tố tụng hình sự thì chủ thể có quyền kiến nghị khởi tố là “cơ quan nhà nước”, nhưng không phải cơ quan nhà nước nào cũng có quyền này, đây chỉ là một quy định mang tính nguyên tắc chung Theo quy định tại Khoản 2, Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự và Thông tư liên tịch số 03/2006/TTLT-VKSTC-TTrCP-BCA-BQP ngày 23/5/2006 giữa Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Thanh tra Chính phủ, Bộ công an và Bộ quốc phòng, Thông tư này hiện nay được thay thế bằng Thông tư số 02/2012/TTLT-VKSTC-TTCP-BCA-BQP ngày 22/3/2012, quy định về mối quan
hệ phối hợp giữa Cơ quan thanh tra, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc phát hiện, điều tra, xử lý các vụ việc có dấu hiệu tội phạm do Cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố (Sau đây gọi tắt là Thông tư liên tịch số 03) thì chỉ có cơ quan thanh tra trong các cơ quan nhà nước mới có quyền “kiến nghị khởi tố” Sở dĩ luật quy định như vậy là vì quyền thông tin về tội phạm theo kiến nghị khởi tố của cơ quan thanh tra thường là có cơ sở hơn, do đã qua quá trình xác minh, làm rõ theo những trình tự, thủ tục, chặt chẽ của pháp luật về thanh tra; chính vì thế mà đối với “kiến nghị khởi tố”, ngoài những quy định mang tính nguyên tắc chung về nhiệm vụ giải quyết theo Điều 103 Bộ luật Tố tụng hình sự, thì còn được quy định riêng trong Thông tư liên tịch về mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan có thẩm quyền trong việc phát hiện, điều tra, xử lý các vụ có dấu hiệu tội phạm cho Cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố Như vậy, những kiến nghị xử lý về tội phạm của các “cơ quan nhà nước” mà không phải
là trên cơ sở do hoạt động thanh tra việc thực hiện chức năng nhiệm vụ được giao mà phát hiện các hành vi có dấu hiệu tội phạm và kiến nghị Cơ quan có thẩm quyền xử
lý thì không phải là “kiến nghị khởi tố”, mà được coi là việc báo tin về tội phạm và được hiểu đồng nghĩa với khái niệm “lên báo về tội phạm” Điều này cho phép phận định rõ chủ thể của kiến nghị khởi tố là cơ quan nhà nước trong tố tụng hình sự Kiến nghị khởi tố là quyền và nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước; trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thanh tra mà phát hiện dấu hiệu tội phạm thì cơ quan đó
Trang 20phải kiến nghị khởi tố, nếu không thực hiện thì Thủ trưởng cơ quan, Trưởng đoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật (Điều 7, Luật Thanh tra), đây là quy định mang tính nguyên tắc; nếu không đồng ý với quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, thì cơ quan thanh tra có quyền kiến nghị lên Viện kiểm sát cấp trên (Khoản 1, Điều 6 Thông tư liên tịch 2)
Ngoài công tác thanh tra trong các cơ quan nhà nước, thì công tác kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ trong mỗi cơ quan nhà nước và tổ chức là việc làm thường xuyên, nên khi phát hiện sự việc có dấu hiệu tội phạm qua kiểm tra kết luận thì Thủ trưởng cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét,
xử lý theo pháp luật
Về lý luận, cần phải phân biệt chủ thể của quyền kiến nghị khởi tố và tin báo về tội phạm Chủ thể của quyền kiến nghị khởi tố không phải bất kỳ là các cơ quan nhà nước và tổ chức nói chung đều có quyền kiến nghị khởi tố, bởi vì các cơ quan nhà nước, tổ chức có thể là chủ thể của tin báo về tội phạm hoặc của kiến nghị khởi tố10, cần phân biệt là: cơ quan nhà nước, tổ chức là chủ thể của kiến nghị khởi tố trong trường hợp qua công tác kiểm tra, thanh tra việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm thì thu thập hồ sư, tài liệu liên quan, kèm theo văn bản kiến nghị khởi tố gởi đến Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp đề nghị khởi tố vụ án, cơ quan nhà nước là chủ thể tin báo về tội phạm trong trường hợp thông qua công tác quản lý hoặc công tác khác, phát hiện vi phạm có dấu hiệu tội phạm trong lĩnh vực mình quản lý thì cung cấp thông tin cho cơ quan có thẩm quyền để xem xét giải quyết
Sự phân biệt này là tương đối rõ ràng, có căn cứ thuyết phục bởi lẽ các tiêu chí đưa ra với nội hàm, mang tính chất cụ thể Do đó, phân biệt trường hợp nào cơ quan nhà nước, tổ chức là chủ thể kiến nghị khởi tố, trường hợp nào là chủ thể của tin báo về tội phạm Điều này cũng phù hợp theo Điều 26
Bộ luật Tố tụng hình sự, về sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước với các cơ
10Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2010), Báo cáo công tác kiểm sát việc giải quyết của Cơ quan điều tra đối
với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, tr.9.
Trang 21quan tiến hành tố tụng quy định: “Cơ quan nhà nước phải thường xuyên kiểm tra, thanh tra việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, phát hiện kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật để xử lý và phải thông báo ngay cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát mọi hành vi phạm tội xảy ra trong cơ quan và trong lĩnh vực quản lý của mình, có quyền kiến nghị và gửi các tài liệu có liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát xem xét, khởi tố đối với người có hành vi phạm tội” Quy định này phân biệt trường hợp nào cơ quan nhà nước
là chủ thể của kiến nghị khởi tố và trường hợp nào là chủ thể của tin báo về tội phạm
Theo sự phân tích trên, chúng ta thấy pháp luật quy định cơ quan nhà nước có quyền kiến nghị khởi tố là một quy định mang tính nguyên tắc chung,
mà chỉ có cơ quan nhà nước, tổ chức qua công tác kiểm tra, thanh tra việc thực hiện chức năng nhiệm vụ được giao mà phát hiện kết luận có các hành vi
vi phạm pháp luật thì có quyền kiến nghị khởi tố và gửi các tài liệu có liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát xem xét, khởi tố đối với người có hành vi phạm tội Đối với cơ quan Tòa án “yêu cầu khởi tố vụ án” của Hội đồng xét xử không được xem là văn bản kiến nghị khởi tố của cơ quan Tòa án thông qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra Ngoài ra, hiện nay Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật khác chưa có quy định rõ ràng, đầy đủ thế nào là kiến nghị khởi tố, phân biệt giữa “kiến nghị khởi tố” và “yêu cầu khởi tố” Theo chúng tôi, Bộ luật Tố tụng cần xác định tên gọi là “kiến nghị khởi tố” đối với chủ thể là cơ quan nhà nước, tổ chức, vì đây là văn bản pháp lý mang tính pháp lý, có tính về lợi ích chung, về việc chung của cơ quan, tổ chức, còn đối với cá nhân, khi có ý kiến đề nghị khởi tố thì được gọi là văn bản “yêu cầu khởi tố”, như vậy thì phù hợp với quy định tại Điều 105
Bộ luật Tố tụng hình sự khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại
Như vậy, kiến nghị khởi tố là việc các cơ quan nhà nước, tổ chức qua công tác kiểm tra, thanh tra, phát hiện và kết luận về hành vi vi phạm pháp luật có dấu diệu tội phạm và ban hành văn bản kiến nghị kèm theo hồ sơ, tài
Trang 22liệu liên quan gởi cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền yêu cầu xem xét, xử lý
1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Nguồn thông tin về tội phạm có thể hiểu là phương tiện chứa đựng, cung cấp thông tin về tội phạm Tố giác, tin báo về tội phạm thể hiện bằng các hình thức thông tin, được gọi là các nguồn tố giác, tin báo về tội phạm
Theo quy định Điều 100 Bộ luật Tố tụng hình sự của nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2003, các nguồn thông tin về tội phạm bao gồm:
-Do cá nhân trực tiếp tố giác và báo tin về tội phạm (trường hợp người bị hại gửi đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự cũng thuộc hình thức tố giác về tội phạm) -Tin báo của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội
-Tin báo qua phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng như báo, đài truyền hình, báo điện tử,…
-Do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm (những thông tin về tội phạm được phát hiện thông qua các hoạt động của cơ quan có thẩm quyền như: khám nghiệm hiện trường - tử thi; thông qua cơ sở của Cơ quan điều tra như mạng lưới bí mật …về bản chất, đây chính là nguồn thông tin về tội phạm do chính các cơ quan này thông qua hoạt động của mình mà trực tiếp phát hiện tội phạm.)
-Người phạm tội tự thú (sự tự thú của người phạm tội là một thông tin về tội phạm và cũng là cơ sở để khởi tố vụ án Sự tự thú này về bản chất chính là báo tin của một người về tội phạm do chính người đó gây ra)
Trong các nguồn thông tin nêu trên, tố giác, tin báo về tội phạm có ý nghĩa hết sức quan trọng, bởi vì đây là nguồn thông tin phổ biến nhất, và nó cũng rất quan trọng bởi xuất phát từ tính chất, đặc điểm của cuộc đấu tranh chống tội phạm Tố giác, tin báo về tội phạm thường là những thông tin ban đầu, là cơ sở để khởi các hoạt động tố tụng hình sự
Trang 23Do đặc điểm của cuộc đấu tranh chống tội phạm là cuộc đấu tranh quyết liệt, phức tạp, lâu dài Những người có hành vi phạm tội là những người “dám đứng lên” chống lại lợi ích của xã hội, hơn nữa cuộc đấu tranh chống tội phạm là cuộc chiến đấu không chiến tuyến, kẻ phạm tội luôn là chủ động “ẩn mình trong bóng tối” Do đó, dù các cơ quan tố tụng được tăng biên chế rất nhiều chăng nữa, trang bị phương tiện khoa học kĩ thuật tối tân thì cũng không thể một mình phát hiện đầy đủ thông tin về tội phạm Bác Hồ đã từng dạy: chiến sĩ cán bộ công an dù có hai tai, hai mắt, quần chúng nhân dân có trăm tai nghìn mắt, cho nên dựa vào quần chúng, được quần chúng nhân dân ủng hộ thì cuộc đấu tranh chống tội phạm mới có hiệu quả
Tố giác, tin báo về tội phạm là những nguồn tin ban đầu, mang tính chất thời sự nóng bỏng về tội phạm nếu các cơ quan chức năng xử lý không đứng đắn, ém nhẹm thông tin này sẽ gây tác hại hết sức lớn, vụ án hình sự sẽ không bị khởi tố, không điều tra xử lý theo pháp luật, người phạm tội coi thường luật pháp, quần chúng nhân dân thiếu tin tưởng đối với cơ quan tiến hành tố tụng nói riêng và làm uy tín của Đảng và Nhà nước Tố giác, tin báo về tội phạm không được xử lý đúng luật, đương nhiên sẽ triệt tiêu tinh thần đấu tranh chống tội phạm của quần chúng nhân dân, quần chúng sẽ không tiếp tục cung cấp tin tức về tội phạm cho các cơ quan chức năng Chính vì vậy, kiểm tra giám sát tố giác, tin báo về tội phạm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nâng cao trách nhiệm, tránh tùy tiện trong việc xử lý thông tin về tội phạm Đây chính là thể hiện cụ thể rõ nét nhất vai trò của Viện kiếm sát trong kiểm sát hoạt động tư pháp, thể hiện hiện rõ mối quan hệ phối hợp và chế ước giữa các cơ quan tiến hành tố tụng
1.2 Công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tình báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
1.2.1 Nhiệm vụ tiếp nhận và thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác tin báo về tội phạm phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, trong đó trước hết cần phải quán triệt các nguyên tắc cơ bản trong toàn bộ quá trình tiếp nhận, giải quyết đó là:
Trang 24-Việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố phải tuân thủ theo quy định của pháp luật không được vì bất cứ lý do gì mà từ chối việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
-Chỉ những cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố mới tiến hành giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Người làm trái pháp luật trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố tùy theo tính chất, mức vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự
-Khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, cá nhân, đơn
vị tiếp nhận không được tiết lộ nội dung,tiếp nhận được cho cá nhân, cơ quan, tổ chức không có thẩm quyền
-Cơ quan tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
có trách nhiệm trả lời cho cơ quan, tổ chức đã báo tin, kiến nghị khởi tố hoặc người
đã tố giác tội phạm Cơ quan tiếp nhận, giải quyết phải giữ bí mật cho cơ quan, tổ chức, người cung cấp tin và hướng dẫn họ biện pháp, cách thức giữ bí mật những thông tin đã cung cấp, tố giác
-Trường hợp xét thấy cần thiết, cơ quan tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố có trách nhiệm áp dụng hoặc đề nghị áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản cho cơ quan, tổ chức đã báo tin, kiến nghị khởi tố, người đã tố giác tội phạm và những người thân tính của họ
-Mọi trường hợp không làm hoặc làm trái các quy định về tố giác, tin báo
về tội phạm và kiến nghị khởi tố dẫn đến không kịp thời ngăn chặn, khắc phục hậu quả của hành vi phạm tội, người phạm tội bỏ trốn, tiêu hủy chứng cứ, xóa dấu vết phải bị xử lý theo pháp luật
Với những nội dung các nguyên tắc cơ bản, yêu cầu các cơ quan, tổ chức cá nhận có trách nhiệm, thẩm quyền phải quán triệt sâu sắc và tuân thủ thực hiện đúng đắn trong toàn bộ quá trình tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Trang 25Về trách nhiệm tiếp nhận người tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi
tố, theo quy định Điều 103 Bộ Luật tố tụng hình sự quy định “Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có trách nhiệm tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm do cá nhân,
cơ quan, tổ chức và kiến nghị khởi tố do cơ quan nhà nước chuyển đến Viện kiểm sát có trách nhiệm chuyển ngay các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố kèm theo các tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho cơ quan điều tra có thẩm quyền” Quy định này chưa bao quát đầy đủ các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, do đó Thông tư liên tịch 06/2013/TTLT quy định trách nhiệm tiếp nhận đối với tố giác, tin báo về tội phạm gồm các cơ quan, tổ chức như sau:
a Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân;
b Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân;
c Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
d Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát Quân sự Trung ương;
đ Bộ đội biên phòng;
e cơ quan Hải quan;
g cơ quan Kiểm lâm;
h lực lượng Cảnh sát biển;
i Các cơ quan khác của Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra;
k- Các cơ quan khác của Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra;
Trang 26b- Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân;
c- Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
d- Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát quân sự Trung ương;
đ- Viện kiểm sát tiếp nhận và chuyển ngay đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết
Về thẩm quyền thời hạn, trình tự thủ tục giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
và kiến nghị khởi tố Điều 103, Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố,
Cơ quan điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự Trong trường hợp sự việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố, có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa phương thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá hai tháng Kết quả giải quyết tố giác tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và thông báo cho cơ quan, tổ chức đã báo tin hoặc người đã tố giác tội phạm biết
Thông tư liên tịch 06/20013/TTLT qui định cụ thể về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo tội phạm gồm các cơ quan:
a- Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân;
b- Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân;
c- Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tôi cao;
d- Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát Quân sự Trung ương;
đ- Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan, cơ quan Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý mà tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm thuộc quyền hạn điều tra của cơ quan mình thì tiến hành giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm đó
Đối với kiến nghị khởi tố thì cơ quan có thẩm quyền giải quyết gồm:
a- Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân;
Trang 27b- Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân;
c- Cơ quan điều tra của viện kiểm sát nhân dân tối cao;
d- Cơ quan điều tra của viện kiểm sát quân sự Trung ương Thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố được xác định theo thẩm quyền điều tra
1.2.2 Hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố là một nhiệm vụ quan trọng đặt ra cho cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận, thụ lý giải quyết với những nội dung và yêu cầu cụ thể khác nhau Trước hết, Cơ quan điều tra sau khi tiếp nhận
tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố thuộc thẩm quyền của mình phải tiến hành xác minh Những tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan mình thì ngay sau khi tiếp nhận phải chuyển tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đó kèm theo các tài liệu có liên quan đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết Các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm hoặc tự phát hiện dấu hiệu của tội phạm thuộc quyền hạn điều tra của cơ quan mình thì thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp, Cơ quan điều tra có thẩm quyền và tiến hành kiểm tra, xác minh Trường hợp tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan mình thì phải chuyển ngay các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố kèm theo các tài liệu có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết Đối với Viện kiểm sát sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố phải chuyển ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết kèm theo các tài liệu có liên quan Việc quy định cho Viện kiểm sát
có nhiệm vụ tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố cũng nhằm để bảo đảm cho Viện kiểm sát thực hiện nhiệm vụ kiểm sát hoạt động tiếp nhận thông tin về tội phạm của các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
và kiến nghị khởi tố
Về công tác tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, bằng việc Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân và Viện kiểm sát các cấp tổ chức trực
Trang 28ban hình sự để tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; phân loại và chuyển ngay cho các đơn vị có thẩm quyền giải quyết, địa điểm tiếp nhận đặt ở nợi thuận tiện, có biển ghi tên cơ quan và thông báo rộng rãi để mọi người biết Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân, Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phân công cán bộ để tiếp nhận tố giác tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Các cơ quan, tổ chức khác có trách nhiệm tiếp nhận mọi tố giác về tội phạm
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhận được tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố qua đơn thư, công văn kiến nghị hoặc nêu trên phương tiện thông tin đại chúng thì phải tiếp nhận và vào sổ tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Nếu cá nhân trực tiếp đến tố giác về tội phạm hoặc đại diện cơ quan, tổ chức tiến đến báo tin về tội phạm thì lập biên bản tiếp nhận
tố giác, tin báo về tội phạm Nếu cá nhân tố giác về tội phạm hoặc đại diện cơ quan,
tổ chức báo tin về tội phạm qua điện thoại, các phương tiện thông tin khác thì phải tiếp nhận và ghi vào sổ tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, nếu là thông tin quan trọng hoặc thấy cần thiết thì có thể ghi âm, ghi hình Trường hợp người phạm tội đến tự thú thì phải lập biên bản tiếp nhận người phạm tội ra
Trang 29điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định tại Khoản 3, Điều 104 Bộ luật Tố tụng hình sự, không phải ra quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố
Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan, cơ quan Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý mà tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm thuộc quyền hạn điều tra, xác minh, quyết định khởi tố hoặc không khởi tố hình sự; đồng thời phải thông báo ngay bằng văn bản cho Viện kiểm sát có thẩm quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của cơ quan mình Trường hợp ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thì thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định tại Khoản 3, Điều 104 Bộ luật Tố tụng hình sự
Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố có thời hạn là hai mươi ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có nhiệm vụ phải tiến hành kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định khởi tố vụ án hình sự nếu đủ căn cứ xác định đã có sự việc phạm tội xảy
ra hoặc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự nếu có một trong những căn cứ quy định tại Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự11
Hoạt động kiểm tra xác minh nguồn tin để quyết định việc khởi tố hay không khởi tố được thực hiện bằng các biện pháp được quy định trong Bộ luật tố tụng hình
sự nhằm xác định tính chính xác, khách quan trong nguồn tin về tội phạm đã có Thực chất, đây là một hoạt động điều tra trước khởi tố Đối với sự việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra
trong những căn cứ sau đây:1- Không có sự việc phạm tội; 2- Hành vi không cấu thành tội phạm; 3- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; 4- Người mà hành vi phạm tội
của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; 5- Đã hết thời hiệu truy cứu trách
nhiệm hình sự; 6- Tội phạm đã được đại xá; 7- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác
Trang 30xác minh ở nhiều nơi thì luật quy định thời hạn để giải quyết, ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự có thể dài hơn nhưng không quá hai tháng
Sau khi kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố với thời hạn theo như đã quy định nêu trên, cùng với việc ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền giải quyết phải gửi cho viện kiểm sát cùng cấp những quyết định này, đồng thời thông báo cho cơ quan, tổ chức
đã báo tin, kiến nghị khởi tố hoặc người đã tố giác tội phạm biết
Trường hợp sau khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố,
cơ quan tiến hành giải quyết ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự và xác định có hành vi vi phạm pháp luật khác xảy ra thì trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ khi Viện kiểm sát có văn bản đồng ý về kết quả giải quyết, cơ quan tiến hành giải quyết sao hồ sơ để lưu và chuyển ngay hồ sơ tài liệu (bản chính) có liên quan đến cơ quan
có thẩm quyền để xử lý
Cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm đặt ra yêu cầu phải bảo đảm an toàn cho người bị hại, người làm chứng, người tố giác tội phạm… trước nguy cơ bị người phạm tội khi bị tố cáo, tố giác dùng mọi thủ đoạn đe dọa, trả thù hoặc khống chế Chính vì vậy, điều luật quy định Cơ quan điều tra có thẩm quyền phải có trách nhiệm
áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người đã tố giác tội phạm Mặc dù, điều luật không quy định cụ thể các biện pháp nào phải áp dụng, nhưng có thể hiểu cao biện pháp đó là những biện pháp hợp pháp, đủ để bảo vệ người tố giác trước các nguy hại có thể xảy ra cho người đó vì việc tố giác tội phạm
Giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố và việc chuẩn bị khởi tố của Cơ quan điều tra có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động tố tụng hình
sự, vì như đã nêu trên nó là căn cứ để cơ quan tiến hành giải quyết ra quyết định khởi
tố hay không khởi tố vụ án hình sự Chính vì vậy, để bảo đảm yêu cầu khách quan, chính xác nhưng không để lọt tội phạm, cũng như không dẫn đến các hoạt động vi phạm pháp luật ảnh hưởng xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức,
cá nhân, luật quy định trách nhiệm của Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát quá
Trang 31trình này, cơ quan tiến hành giải quyết có trách nhiệm thực hiện các quyết định và yêu cầu của Viện kiểm sát theo quy định
Về quyền hạn cụ thể của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Điều 34 Bộ Luật Tố tụng quy định quyền hạn của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên trong hoạt động điều tra, không quy định quyền hạn của những người có thẩm quyền này trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, mà tại Điều 10 Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên
Thủ trưởng Cơ quan điều tra có nhiệm vụ, quyền hạn:
a- Trực tiếp tổ chức và chỉ đạo việc kiểm tra, xác minh nguồn tin;
b- Quyết định phân công Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị, khởi tố
c- Kiểm tra các hoạt động kiểm tra, xác minh nguồn tin của Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra và Điều tra viên;
d- Quyết định thay đổi Điều tra viên;
đ- Quyết định trưng cầu giám định, định giá; quyết định khai quật tử thi;
e- Giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền Cơ quan điều tra;
g- Quyết định khởi tố vụ án; quyết định không khởi tố vụ án;
h- Trực tiếp tiến hành các biện pháp kiểm tra xác minh nguồn tin;
i- Những nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định pháp luật tố tụng hình sự Khi Thủ trưởng Cơ quan điều tra vắng mặt, một Phó Thủ trưởng được Thủ trưởng ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng Phó Thủ trưởng chịu trách nhiệm trước Thủ trưởng về nhiệm vụ được giao
Khi được phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra có những nhiệm vụ và quyền hạn tại các điểm a, đ, e, g, h, i nêu trên
Điều tra viên được phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có những nhiệm vụ và quyền hạn như sau:
Trang 32a- Lập hồ sơ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố; b- Triệu tập và lấy lời khai của những người có liên quan nhằm kiểm tra, xác minh nguồn tin;
c- Tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, đối chất, nhận dạng;
d- Tiến hành các hoạt động khác thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra theo
sự phân công của Thủ trưởng Cơ quan điều tra
Thủ trưởng Cơ quan điều tra phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi và quyết định của mình Điều tra viên phải chịu trách trước pháp luật và trước Thủ trưởng Cơ quan điều tra về những hành vi và quyết định của mình
1.3 Nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân đối với công tác tiếp nhận, giải quyết
tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
1.3.1 Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Theo quy định Điều 137 Hiến pháp 1992, Điều 107 Hiến pháp 2013, Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
Trong tố tụng hình sự, Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát viên tuân theo pháp luật nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều được xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người
Trang 33- Về chủ thể, quyền công tố là quyền năng pháp lý quan trọng pháp luật giao cho một chủ thể duy nhất thực hiện đó là Viện kiểm sát nhân dân
- Về phạm vi quyền công tố, theo chúng tôi quyền công tố bắt đầu từ khi tội phạm được thực hiện và kết thúc khi xử lý hành vi phạm tội bằng bản án có hiệu lực pháp luật
- Về khái niệm, quyền công tố là quyền năng pháp lý mà nhà nước giao cho Viện kiểm sát nhân dân thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Còn thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử
- Về nội dung quyền công tố là sự buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội
Giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố là giai đoạn đầu tiên, khởi đầu quá trình điều tra hình sự Hoạt động này có ý nghĩa rất quan trọng, đảm bảo thực hiện nguyên tắc mọi tội phạm phải được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh trước pháp luật Qua đó, cơ quan có thẩm quyền xác định các căn cứ để
ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự được kịp thời khách quan, chính xác và đúng pháp luật
Từ trước đến nay, hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiệm sát trong giải quyết tố giác tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố chưa được quy định rõ ràng, cụ thể trong pháp luật tố tụng hình sự Có ý kiến cho rằng, trong giai đoạn này, Viện kiểm sát chỉ thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tiếp nhận giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Cơ quan điều tra Theo chúng tôi, trong giai đoạn này, ngoài chức năng kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát còn thực hiện chức năng thực hành công tố nhằm bảo đảm cho mọi tội phạm xảy ra đều được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh theo pháp luật
Nghiên cứu hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn tiếp nhận và giải quyết tin báo tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố, trước
Trang 34hết cần làm rõ hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự bắt đầu từ khi nào Theo
chúng tôi, hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự bắt đầu từ khi Cơ quan điều tra,
cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Bởi vì, từ lúc này Cơ quan điều tra bắt đầu tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác
minh nguồn tin, thu thập chứng cứ, áp dụng các biện pháp ngăn chặn cần thiết và tổ
chức các hoạt động điều tra khác theo quy định của pháp lệnh tổ chức điều tra hình
sự Việc kiểm tra, xác minh, điều tra, thu thập chứng cứ phải đúng trình tự, thủ tục,
thời hạn pháp luật quy định Các tài liệu, chứng cứ thu thập được từ việc giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố là căn cứ để cơ quan tiến hành giải
quyết quyết định việc khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can hoặc không khởi tố vụ án
hình sự Có thể nói rằng, quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự là kết
tinh của quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Cơ
quan điều tra và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
ban đầu Quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự chính là hình thức thể
hiện kết quả việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Quyết
định khởi tố có chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật hay không phụ thuộc
vào việc thu thập tài liệu, chứng cứ có kịp thời, đầy đủ và khách quan, đúng trình tự,
thủ tục quy định hay không
Đối với Viện kiểm sát, các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố có ý nghĩa rất quan trọng Đó
là căn cứ để Viện kiểm sát yêu cầu cơ quan có thẩm quyền khởi tố hoặc thay đổi
quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; hủy bỏ các quyết định không có căn
cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra; áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn; phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các quyết định của Cơ quan
điều tra
Ngay khi Cơ quan điều tra tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, tiến hành các
hoạt động kiểm tra, xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ chuẩn bị khởi tố vụ án hình
sự, Viện kiểm sát phải thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, đồng thời kiểm
sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
Trang 35Như vậy, thực hành quyền công tố trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
và kiến nghị khởi tố là Viện kiểm sát thực hiện các quyền năng pháp lý do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định nhằm bảo đảm mọi tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố phải được kiểm tra, xác minh và kết luận chính xác, bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện khởi tố, điều tra kịp thời, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội
Kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố là hoạt động kiểm tra, giám sát tính có căn cứ và tính hợp pháp trong quá trình tiếp nhận, thụ
lý và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, qua đó kiến nghị đối với các cơ quan này yêu cầu khắc phục vi phạm, nhằm bảo đảm cho hoạt động tiếp nhận, giải quyết đúng quy định pháp luật
Đây chính là hai chức năng cùng tồn tại một thể thống nhất trong hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân đối với công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, nó có tác động qua lại và hỗ trợ lẫn nhau nhằm mục đích chung là bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Mục đích của thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đều nhằm phát hiện nhanh chóng, xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật các hành vi phạm tội Nếu hoạt động thực hành quyền công tố là bảo đảm mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện xử lý, thì hoạt động kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố là nhằm bảo đảm quá trình xem xét, giải quyết phải đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định
Về căn cứ pháp luật thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị kiến tố:
- Khoản 4, Điều 103 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân đối với công tác giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố: “Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của Cơ quan điều tra đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố”
Trang 36- Điều 5 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định: Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm tiếp nhận các tin báo, tố giác về tội phạm do các cơ quan,
tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân và cá nhân chuyển đến
Viện kiểm sát nhân dân chịu trách nhiệm thực hiện việc thống kê tội phạm Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, các cơ quan tiến hành tố tụng khác có trách nhiệm phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân trong việc thực hiện nhiệm vụ này
- Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT-VKSTC-TATC-BCA-BQP ngày 01/7/2005 của Liên ngành tư pháp Trung ương hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật trong công tác thống kê hình sự, thống kê tội phạm quy định
- Cơ quan công an các cấp có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc ghi chép, tổng hợp số liệu, lập báo cáo thống kê kết quả tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm
và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát cùng cấp (điểm a Mục 1 Phần II)
- Thông tư số 06/2013/TTLT hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về cơ chế phối hợp, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát; trách nhiệm thông báo kết quả tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố cho Viện kiểm sát; văn bản ý kiến của Viện kiểm sát về kết quả giải quyết; chế độ thông tin, báo cáo việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
và kiến nghị khởi tố… tại Điều 11, 12, 13, 14 của thông tư này
- Quy chế Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự được ban hành kèm theo Quyết định số 07/2008/QĐ-VKSTC ngày 02/01/2008 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định: Kiểm sát viên được phân công phải kiểm sát chặt chẽ việc tiếp nhận và giải quyết của cơ quan điều tra cùng cấp đối với các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Hàng tuần, kiểm sát viên yêu cầu cơ quan điều tra cùng cấp thông báo đầy đủ cho Viện kiểm sát các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố mà cơ
quan điều tra đã tiếp nhận được; đồng thời phối hợp để phân loại, xử lý kịp thời Hàng tháng, Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cấp huyện, lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra cấp tỉnh chủ trì, phối hợp với Cơ quan điều tra cùng cấp nắm
số lượng, kết quả giải quyết các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đã
Trang 37tiếp nhận Nếu phát hiện có tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố chưa được giải quyết theo thời hạn luật định thì yêu cầu Cơ quan điều tra nêu rõ lý do, hướng giải quyết và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát theo quy định tại Điều 103
Bộ luật tố tụng hình sự
Với những quy định nêu trên, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân đối với công tác giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của cơ quan điều tra đã được xác định cụ thể
Cơ quan điều tra và cơ quan có thẩm quyền điều tra ban đầu theo quy định có trách nhiệm phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Còn Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của cơ quan tiến hành giải quyết đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Hoạt động kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Viện kiểm sát có vị trí, vai trò và ý nghĩa tiên quyết để bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội đều được phát hiện và xử lý kịp thời, đúng pháp luật Đây là giai đoạn kiểm tra, xác minh nguồn tin để khẳng định có hay không có hành vi phạm tội xảy ra, làm tốt công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố sẽ giúp cho việc đồng ý hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án của Viện kiểm sát đối với cơ quan tiến hành giải quyết được chính xác và có căn cứ, đúng pháp luật Như vậy, có thể khẳng định hoạt động kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố là một hoạt động quan trọng trong quá trình tố tụng hình sự, vì nó góp phần bảo đảm cho việc khởi tố, điều tra, truy tố xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không bỏ lọt tội phạm Thực tiễn cho thấy, Viện kiểm sát thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố thì công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động điều tra, truy tố, xét xử được tiến hành thuận lợi, hạn chế tối đa tình trạng oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm, hạn chế được số vụ phải trả
hồ sơ để điều tra bổ sung, cũng như số vụ Tòa án tuyên không phạm tội
Trang 381.3.2 Nội dung công tác thực hành quyền công tố kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Như đã phân tích về nhiệm vụ kiểm sát việc giải quyết của cơ quan tiến hành giải quyết đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố nhằm để bảo đảm tính khách quan, toàn diện và triệt để trong việc giải quyết của Cơ quan điều tra, tại Khoản 4, Điều 103 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định “Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của Cơ quan điều tra đối với tố giác, tin báo và tội phạm và kiến nghị khởi tố” Theo quy định này, đối tượng kiểm sát của Viện kiểm sát chính là hoạt động của cơ quan có thẩm quyền trong việc tiếp nhận, phân loại, thụ lý, phân công giải quyết, tiến hành xác minh và ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự
Từ những phân tích nêu trên cho thấy, nội dung của công tác kiểm sát việc giải quyết của cơ quan có thẩm quyền đối với tố giác, tin báo và tội phạm và kiến nghị khởi tố bao gồm các hoạt động sau:
Một là, kiểm sát việc tiếp nhận và phân loại để thụ lý
Giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm là một quá trình, bắt đầu từ khâu tiếp nhận tiến hành phân loại các tin báo để thụ lý Đây là nhiệm vụ rất quan trọng trong việc tổ chức tiếp nhận, phân loại xử lý tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi
tố Theo quy định của pháp luật về tiếp nhận, xứ lý tố giác và tin báo về tội phạm được tiến hành theo trình tự thủ tục pháp luật quy định Trước đây thông tư số 08/2007/TT-BCA (24) ngày 24/7/2007 của Bộ công an, hướng dẫn giải quyết khiếu nại, tố cáo trong Công an nhân dân quy định “Đơn tố giác tội phạm (tố cáo hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm, tố cáo hành vi phạm tội, tố giác tội phạm) thì chuyển ngay đến cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết theo quy định” Ngoài
Cơ quan điều tra, các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định tại Khoản 2 Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự bao gồm: Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện tội phạm có quyền ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự,
Trang 39các cơ quan này có thẩm quyền tiếp nhận, thụ lý, xử lý khi phát hiện dấu hiệu tội phạm trong lĩnh vực quản lý của mình
Thông tư liên tịch 06/2013/TTLT có hiệu lực thi hành từ ngày 16/9/2013 quy định về nguyên tắc, trách nhiệm, thẩm quyền, nhiệm vụ tiếp nhận tố giác tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố tại các Điều 4, 5, 6, 7 và 8
Kiểm sát việc tiếp nhận là: nhằm xem xét việc tiếp nhận của Cơ quan điều tra đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố có đầy đủ và kịp thời không, các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra thụ lý các trường hợp đúng theo quy định không; Đối với các cơ quan khác sau khi tiếp nhận có chuyển ngay cho cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết không; Kiểm sát việc phân loại
để thụ lý nhằm xem xét việc sau khi tiếp nhận Cơ quan điều tra có thẩm quyền đã kịp thời nghiên cứu nội dung tin báo để phân loại chưa, việc thụ lý có đầy đủ và đúng thẩm quyền không;
Cần lưu ý rằng, Bộ luật Tố tụng hình sự chỉ quy định Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, mà không có quy định cụ thể về kiểm sát việc tiếp nhận, thụ lý, kiểm tra xác minh tố giác tin báo về tội phạm, nhưng chúng ta biết rằng giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
là một quá trình bắt đầu từ khâu tiếp nhận, thụ lý tin báo, kiểm tra, xác minh, từ đó mới ra quyết định giải quyết nên các hoạt động của quá trình tiếp nhận, thụ lý giải quyết đều thuộc phạm vi đối tượng của hoạt động kiểm sát Bởi lẽ, nếu Viện kiểm sát không kiểm sát, nắm được số lượng đầu vào cũng như quá trình kiểm tra, xác minh tin báo của cơ quan điều tra, không làm rõ lượng thông tin tiếp nhận thì rất khó để xác định, cơ quan có kiểm tra, xác minh nguồn tin hay không; hoạt động kiểm tra, xác minh nguồn tin đó có đảm bảo tính hợp pháp và đúng thời hạn hay không, đây là những hoạt động quan trọng thuộc phạm vi kiểm sát để đem lại hiệu quả trong thực tiễn hoạt động kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Hai là, kiểm sát quá trình giải quyết và thời hạn giải quyết