1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nguyên nhân, điều kiện của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh tây ninh từ góc độ nhân thân người phạm tội tu goc do nhan than nguoi pham toi

85 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 879,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn xác định các nhiệm vụ sau: - Phân tích, so sánh, tổng hợp và phát triển các kết quả nghiên cứu lý luận về nh

Trang 1

VÕ THỊ MỸ LỆ

NGUYÊN NHÂN, ĐIỀU KIỆN

CỦA TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TÂY NINH TỪ GÓC ĐỘ NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

TP.HỒ CHÍ MINH, NĂM 2012

Trang 2

o0o

VÕ THỊ MỸ LỆ

NGUYÊN NHÂN, ĐIỀU KIỆN

CỦA TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TÂY NINH TỪ GÓC ĐỘ NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Hình sự

Mã số: 60.38.40

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HOA

TP.HỒ CHÍ MINH, NĂM 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn “Nguyên nhân, điều kiện của tội trộm cắp tài

sản trên địa bàn tỉnh Tây Ninh từ góc độ nhân thân người phạm tội” là công

trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, dữ liệu và một số kiến thức của các tác giả khác trong Luận văn này được sử dụng trung thực, có dẫn chiếu, tham chiếu đầy đủ nguồn theo quy định của một công trình khoa học Kết quả nghiên cứu được trình bày trong Luận văn này chưa từng được công bố tại bất kỳ công trình khoa học nào khác

Tác giả

Võ Thị Mỹ Lệ

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLTTHS Bộ Luật tố tụng hình sự CSĐT Cảnh sát điều tra TTATXH Trật tự an toàn xã hội

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 Thống kê số vụ xâm phạm sở hữu trên địa bàn tỉnh Tây Ninh 37 Bảng 2 Thống kê số vụ xâm phạm sở hữu và kết quảđiều tra trên địa bàn tỉnh Tây Ninh 39 Bảng 3 Thống kê các vụ án điểm và xét xử lưu động tội trộm cắp tài sản 41 Bảng 5 Thiệt hại do tội phạm trộm cắp tài sản gây ra 44 Bảng 6 Đặc điểm về giới tính của người phạm tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Tây Ninh 46 Bảng 7 Độ tuổi của người phạm tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tinh Tây Ninh 47

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Hình 1 Biểu đồ thống kê số vụ xâm phạm sở hữu trên địa bàn tỉnh Tây Ninh 38 Hình 2 Biểu đồ thống kê số vụ xâm phạm sở hữu và kết quả điều tra trên 39 địa bàn tỉnh Tây Ninh 39 Hình 4 Biểu đồ tỷ trọng của tội trộm cắp tài sản trong nhóm tội xâm phạm sở hữu 42 Hình 7 Đồ thị tỷ lệ trung bình người phạm tội trộm cắp tài sản trên địa bàn 48 tỉnh Tây Ninh từ năm 2006 đến 2010 48 Hình 7 Đồ thị độ tuổi của người phạm tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Tây Ninh 48

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 1

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu luận văn 3

3.1 Mục đích 3

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 3

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3

4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

4.2 Phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu luận văn 4

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 4

7 Bố cục của luận văn 5

CHƯƠNG 1 : NHẬN THỨC VỀ NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI VÀ NGUYÊN NHÂN, ĐIỀU KIỆN CỦA TỘI PHẠM 6

1.1 Khái niệm nhân thân con người, nhân thân người phạm tội 6

1.1.1 Khái niệm nhân thân con người 6

1.1.2 Khái niệm “nhân thân người phạm tội” 9

1.2 Các đặc điểm đặc trưng của nhân thân người phạm tội 13

1.2.1 Nhóm dấu hiệu xã hội – nhân khẩu 14

1.2.1.1 Đặc điểm về giới tính 15

1.2.1.2 Đặc điểm về độ tuổi 16

1.2.1.3 Đặc điểm về trình độ học vấn 17

1.2.1.4 Đặc điểm về nghề nghiệp và thành phần xã hội 18

Trang 8

1.2.1.5 Đặc điểm về nơi cư trú 20

1.2.2 Nhóm dấu hiệu đạo đức tâm lý – xã hội 21

1.2.3 Nhóm dấu hiệu pháp lý hình sự 24

1.2.3.1 Động cơ, mục đích thực hiện tội phạm 25

1.2.3.2 Tái phạm, tái phạm nguy hiểm 26

1.3 Nguyên nhân, điều kiện của tội phạm từ góc độ nhân thân người phạm tội 27

1.3.1 Khái niệm nguyên nhân, điều kiện của tội phạm 27

1.3.2 Vai trò của nhân thân người phạm tội trong nguyên nhân, điều kiện của tội phạm 27

CHƯƠNG 2 : TÌNH HÌNH TỘI PHẠM TRỘM CẮP TÀI SẢN VÀ ĐẶC ĐIỂM NHÂN THÂN CỦA NGƯỜI PHẠM TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TÂY NINH 30

2.1 Tình hình tội phạm trộm cắp tài sản trên địa bàn Tỉnh Tây Ninh 30

2.1.1 Đặc điểm pháp lý hình sự của tội phạm trộm cắp tài sản theo Luật hình sự hiện hành của Việt Nam 30

2.1.2 Một số đặc điểm của tình hình tội phạm trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Tây Ninh 35

2.2 Đặc điểm nhân thân của người phạm tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Tây Ninh 45

2.2.1 Nhóm dấu hiệu sinh học, xã hội – nhân khẩu 45

2.2.3 Nhóm dấu hiệu pháp lý hình sự 54

CHƯƠNG 3: NGUYÊN NHÂN, ĐIỀU KIỆN CỦA TỘI PHẠM TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TÂY NINH TỪ ĐẶC ĐIỂM NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI VÀ CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA 55

3.1 Nguyên nhân, điều kiện của tội trộm cắp tài sản từ đặc điểm nhân thân người phạm tội 55

3.2 Các biện pháp phòng ngừa tội trộm cắp tài sản từ góc độ nhân thân người phạm tội 59

3.2.1 Biện pháp phòng ngừa chung 59

Trang 9

3.2.2 Biện pháp phòng ngừa cụ thể 61

3.2.2.1 Các biện pháp phòng ngừa dựa trên đặc điểm sinh học, xã hội – nhân khẩu của người phạm tội 61 3.2.2.2 Các biện pháp phòng ngừa dựa trên đặc điểm đạo đức, tâm lý – xã hội của người phạm tội 62 3.2.2.3 Các biện pháp phòng ngừa dựa trên đặc điểm pháp lý hình sự của người phạm tội 64

KẾT LUẬN 67 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHIẾU TỔNG HỢP ĐIỀU TRA XÃ HỘI HỌC

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Tội phạm là hiện tượng xã hội tiêu cực, nhưng hiện tượng này không phải do thiên nhiên tạo nên mà do chính con người cụ thể - một thực thể sống trong chính xã hội gây nên thông qua các hành vi cụ thể Vậy vấn đề ở chỗ phải làm rõ: tại sao một người lại thực hiện tội phạm? Con người sinh ra để trở thành người phạm tội hay do những yếu tố tác động nào nhất định làm cho một người cụ thể thực hiện tội phạm Tội phạm học tập trung nghiên cứu các yếu tố bên trong và bên ngoài tác động đến việc thực hiện tội phạm: các yếu tố thuộc về phẩm chất cá nhân của người phạm tội, quá trình hình thành những đặc điểm tiêu cực ở người phạm tội và các đặc điểm thuộc

về môi trường xã hội Tổng hợp các đặc điểm đó chính là nhân thân người phạm tội Nhân thân người phạm tội là một trong những trọng tâm nghiên cứu của tội phạm học để phòng ngừa tội phạm Trong hoạt động thực tiễn, để tiến hành đấu tranh phòng ngừa tội phạm, giáo dục người phạm tội, những người thi hành nhiệm vụ trong các cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Tòa án, các cơ quan Nhà nước khác và các tổ chức xã hội cần có nhận thức đúng đắn về nhân thân người phạm tội Vì vậy, việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội có ý nghĩa to lớn về mặt khoa học cũng như thực tiễn Tỉnh Tây Ninh là một đơn vị hành chính mà trong nhiều năm qua số người phạm tội trộm cắp tài sản ngày càng tăng Vì vậy phòng, chống tội phạm trộm cắp tài sản đã

và đang được các ngành chức năng đầu tư nghiên cứu nhằm tìm ra các giải pháp để phòng ngừa với hiệu quả thiết thực hơn Để góp phần tìm kiếm các giải pháp phòng ngừa hiệu quả tội phạm trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Tây Ninh thông qua việc

nghiên cứu nhân thân của người phạm tội, tác giảđã chọn nghiên cứu đề tài “Nguyên

nhân, điều kiện của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Tây Ninh từ góc độ nhân thân người phạm tội”

Trang 11

cạnh luật hình sự, xã hội học Nhiều công trình khoa học đã ra đời, phát triển và làm phong phú thêm học thuyết Mác – Lê Nin về nhân thân người phạm tội Ở Liên Xô

cũ, nhiều nhà khoa học đã gắn tên tuổi của mình với các công trình nghiên cứu khoa học về tội phạm học nói chung và nhân thân người phạm tội nói riêng như Xa – Kha – Rốp A.B, Lây – Ki – Na N.X, Min – Kốp – Xki G.M …

Ở nước ta, tình hình nghiên cứu tội phạm học mà đặc biệt là nghiên cứu về nhân thân người phạm tội trong tội phạm học vẫn còn là vấn đề phức tạp và mới mẻ Qua nghiên cứu, trên thực tế hiện có một số sách báo, tài liệu đề cập đến vấn đề nhân thân người phạm tội như: giáo trình tội phạm học của trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân Hà Nội năm 2008 (chương VI); tập bài giảng tội phạm học của khoa luật hình sự trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh năm 2008-2009 (chương V); giáo trình tội phạm học của TS Dương Tuyết Mai-TS Nguyễn Văn Nam, Nxb Giáo dục Việt Nam năm 2010; giáo trình tội phạm học của GS.TS Đỗ Ngọc Quang – khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội năm 1999; giáo trình tội phạm học của trường Đại học Luật Hà Nội năm 2006; tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm của GS.TS Nguyễn Xuân Yêm, Nxb Công an nhân dân năm 2001; nhân thân người phạm tội trong tội phạm học của Th.s Nguyễn Thị Thanh Thủy – trường Đại học Luật Hà Nội năm 1996; nhân thân người phạm tội trong tội phạm học của Th.s Lương Ngọc Trâm – viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp

luật năm 1998; đấu tranh phòng, chống tội phạm trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Bình Phước của Th.s Trần Văn Nhum – trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh năm 2009 (chương III); đấu tranh phòng chống tội phạm trộm cắp tài sản công dân tại nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào – trường Đại học Luật thành phố

Hồ Chí Minh năm 2010

Mặc dù đã có một số công trình đề cập đến vấn đề nhân thân người phạm tội nhưng đa số mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu khái quát nội dung của vấn đề, xem xét nhân thân người phạm tội trong tội phạm học nói chung hoặc khía cạnh Luật hình sự nói riêng

Trên thực tế, về nhân thân người phạm tội trộm cắp tài sản vẫn chưa có công trình

Trang 12

khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu và giải quyết một cách có hệ thống toàn bộ nội dung của vấn đề, với đầy đủ các phương diện, các mặt cơ bản của nguyên nhân, điều kiện của tội trộm cắp tài sản từ góc độ nhân thân người phạm tội

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu luận văn

3.1 Mục đích

Về mặt thực tiễn, mục đích nghiên cứu của luận văn là tìm kiếm những giải pháp phòng ngừa có hiệu quả đối với tội phạm trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Tây Ninh

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn xác định các nhiệm vụ sau:

- Phân tích, so sánh, tổng hợp và phát triển các kết quả nghiên cứu lý luận về nhân thân người phạm tội dưới góc độ tội phạm học; làm sáng tỏ sự khác nhau về việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội trong tội phạm học với các ngành khoa học khác và khái niệm nhân thân người phạm tội với các khái niệm liên quan; nghiên cứu vai trò của nhân thân người phạm tội trong nguyên nhân, điều kiện của tội phạm Khảo sát, điều tra và tổng hợp số liệu về nhân thân người phạm tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Tây Ninh từ năm 2006 đến năm 2010

-Nghiên cứu nguyên nhân, điều kiện của người phạm tội trộm cắp tài sản trên địa

bàn tỉnh Tây Ninh trên cơ sở những số liệu, thông tin đã thu thập được và những vấn

đề lý luận chung

-Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Tây Ninh từ các kết quả phân tích nguyên nhân, điều kiện của tội phạm ở góc độ nhân thân người phạm tội

4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Để giải quyết nhiệm vụ về mặt lý luận, đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các

Về mặt lý luận, mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về nhân thân người phạm tội, vai trò của nhân thân người phạm tội trong nguyên nhân, điều kiện của tội phạm

Trang 13

công trình khoa học liên quan đến nhân thân người phạm tội Đối với những vấn đề thực tiễn, đối tượng nghiên cứu của luận văn là đặc điểm nhân thân của những người phạm tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Tây Ninh

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi này, luận văn sẽ phân tích nhân thân người phạm tội ở góc độ tội phạm học Đối với các số liệu về đặc điểm nhân thân của người phạm tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Tây Ninh, luận văn giới hạn giai đoạn nghiên cứu từ năm 2006 đến 2010

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu luận văn

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, luận văn cũng dựa vào các quan điểm của Đảng và Nhà nước CHXHCN Việt Nam về công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, chính sách hình sự của Nhà nước CHXHCN Việt Nam như những tư tưởng nền tảng, chủđạo đểđánh giá, phân tích vấn đề

Đồng thời luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích, tổng hợp, so sánh, điều tra xã hội học, nghiên cứu hồ sơ vụ án, phương pháp chuyên gia (trao đổi chuyên môn với phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an tỉnh Tây Ninh và Trại giam Cây Cầy trực thuộc Bộ Công an tại tỉnh Tây Ninh về nhân thân người phạm tội trộm cắp tài sản)

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn là công trình chuyên khảo nghiên cứu một cách có hệ thống và tương đối toàn diện về nhân thân người phạm tội trong nguyên nhân, điều kiện của tội phạm

và thực trạng của tỉnh Tây Ninh Nên theo tác giả, kết quả nghiên cứu của luận văn có

ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao

Về ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần từng bước hoàn thiện lý luận của khoa học

tội phạm học về nhân thân người phạm tội nói chung, nhân thân người phạm tội trộm cắp tài sản nói riêng

Về ý nghĩa thực tiễn: Những biện pháp nêu trong luận văn có ý nghĩa tham khảo

cho hoạt động phòng ngừa tội trộm cắp tài sản từ góc độ nhân thân người phạm tội và

Trang 14

có thể được vận dụng trong quá trình nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Tây Ninh và các địa phương có điều kiện kinh tế, xã hội tương tự

7 Bố cục của luận văn

Bên cạnh phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn được chia làm ba chương:

Chương 1: nhận thức về nhân thân người phạm tội và nguyên nhân, điều kiện của tội phạm

Chương 2: tình hình tội phạm trộm cắp tài sản và đặc điểm nhân thân của người phạm tội trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Tây Ninh

Chương 3: nguyên nhân, điều kiện của tội phạm trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Tây Ninh từ đặc điểm nhân thân người phạm tội và các biện pháp phòng ngừa

Trang 15

CHƯƠNG 1 NHẬN THỨC VỀ NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI VÀ

NGUYÊN NHÂN, ĐIỀU KIỆN CỦA TỘI PHẠM

Vấn đề nhân thân người phạm tội đã và đang được các nhà tội phạm học nghiên cứu nhằm phục vụ tốt hơn cho công tác phòng ngừa tội phạm trong thực tiễn Khi nghiên cứu về nhân thân người phạm tội, vấn đề quan trọng đầu tiên là phải xác định được khái niệm nhân thân người phạm tội và các đặc điểm nhân thân của người phạm tội Khái niệm nhân thân người phạm tội sẽ được làm rõ thông qua khái niệm nhân thân con người nói chung

1.1 Khái niệm nhân thân con người, nhân thân người phạm tội

1.1.1 Khái niệm nhân thân con người

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin thì “Con người là sản phẩm của tự

nhiên và xã hội Con người được tự nhiên sinh ra cho nên trước tiên mang đặc tính của sinh vật Cái sinh học trong con người quy định sự hình thành những hiện tượng

và quá trình tâm lý của con người” 1

Khái niệm “Con người” thể hiện đầy đủ các đặc trưng khác nhau trong bản chất

của nó: xã hội, sinh học, đạo đức, tinh thần, lịch sử - văn hóa Con người do tự nhiên sinh ra nên mang đặc điểm sinh học như là một tất nhiên, giống như một thực thể sinh vật tồn tại đòi hỏi con người có quá trình hoạt động để phục vụ cho cuộc sống của bản thân nhưăn, uống, nghỉ ngơi v.v Nhưng con người không phải là những động vật thuần túy mà là động vật mang tính chất xã hội Con người là sản phẩm của xã hội, mang bản tính xã hội và là tổng hòa các mối quan hệ xã hội

Những đặc điểm xã hội của con người thể hiện trong quá trình sống nhằm thỏa mãn những nhu cầu sinh học của mình Điều đó không chỉ giúp con người tồn tại

mà còn đưa con người trở thành cá nhân trong xã hội, là chủ thể của những mối quan hệđa dạng trong xã hội Tồn tại trong quá trình phát triển xã hội, con người không chỉ có mối quan hệ với nhau trong xã hội mà còn là tổng hòa các mối quan

1 Nguyễn Thị Thanh Thủy (1996), Nhân thân người phạm tội trong tội phạm học, trường Đại học Luật Hà

Nội, Tr.10

Trang 16

hệ xã hội trước đó; biểu hiện là thế hệ sau đã kế thừa một lực lượng sản xuất và di sản văn hóa của thế hệ trước

Nếu khái niệm “Con người” mang những dấu hiệu nhưđã phân tích thì nhân thân

– chính là những đặc trưng cụ thể hơn của con người Nhân thân là những tính chất, đặc điểm nhất định của con người được đúc kết từ những môi trường xã hội Trong nhân thân tập trung các phẩm chất và dấu hiệu xã hội đặc thù chứ không phải các dấu hiệu sinh học Các đặc điểm nhân thân chủ yếu xác định mối quan hệ giữa con người với những người khác, với toàn thể xã hội, xác định vị trí, vai trò của con người trong

hệ thống quan hệ xã hội Nhân thân không phải là một chỉnh thể được thiết định một cách có di truyền, nhân thân không phải do sinh ra đã có mà là do trưởng thành mà có Một con người không lập tức trở thành một cá nhân có nhân cách xã hội ngay sau khi lọt lòng mẹ Họ chỉ có thể có được những tính chất đó trong quá trình hoạt động

xã hội và trong đời sống xã hội Như C.Mác đã từng nói: thực chất của nhân thân

“Không phải ở bộ râu, ở dòng máu, ở các thể chất trừu tượng của nó mà là ở tính chất

xã hội của nó” 2

Do vậy khái niệm “Nhân thân” được sử dụng để nhấn mạnh các tính chất xã hội

của con người, còn khái niệm “con người” được sử dụng với ý nghĩa rộng hơn Nhân thân là một phạm trù mang tính xã hội – lịch sử, nó sẽ không thể được làm sáng tỏ nếu xem xét nó với tư cách là một hiện tượng tách biệt và khép kín, tách rời nó với hiện thực xã hội và các điều kiện lịch sử cụ thể đặc trưng cho hiện thực đó Nhân thân là tổng hợp đặc điểm của một cá nhân chứ không phải mỗi cá nhân là

một nhân thân,“Mỗi cá nhân có một nhân thân”; song khái niệm nhân thân đồng thời

bao hàm cả con người với tư cách là một thành viên của xã hội, là một công dân, là đại diện của các giai cấp, các nhóm xã hội nhất định là người mang trong mình một số

đặc điểm xã hội điển hình “Bản chất của con người không phải là cái gì trừu tượng

sẵn có trong từng cá nhân riêng biệt Bản chất của con người thực tế là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” 3

Trang 17

Khác với quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin, các nhà tư tưởng tư sản không nghiên cứu mối liên hệ giữa nhân thân con người với xã hội, tách rời nó ra khỏi quá

trình phát triển của xã hội, đặt nó “Lên trên xã hội” Theo họ, nhân thân là những đặc

điểm và phẩm chất riêng của một cá nhân cho phép phân biệt với mọi người khác, đứng trên mọi người, có khả năng quyết định tiến trình phát triển của lịch sử

Các đặc điểm quan trọng nhất của nhân thân được coi là tài sản, quyền lực, sức mạnh, sự độc lập với những người khác Mục đích của quan điểm như vậy nhằm biện minh cho sự bất bình đẳng xã hội của con người trong xã hội tư bản chủ nghĩa Ngoài ra, xã hội học tư sản hiện đại còn có các quan niệm đa dạng khác về nhân thân như các trào lưu triết học tư sản tâm – sinh học, Phrơt, Phrơt mới, chủ nghĩa hành

vi, duy tâm chủ quan Song, chúng đều giống nhau ở một điểm là xem xét nhân thân con người trong sự tách biệt với các điều kiện xã hội cơ bản, với tư cách là một thực thể tách rời khỏi xã hội

Như vậy, chỉ có học thuyết của chủ nghĩa Mác – Lênin mới đem lại một giải pháp khoa học thực sự cho việc tìm hiểu vấn đề nhân thân Giá trị chân chính của nhân thân không phải do địa vị xã hội, tài sản hay sự hiểu biết tri thức quyết định mà là xuất phát

từ quan điểm xã hội, những giá trị xã hội mà con người đã đóng góp vào

Theo tác giả, một trong những thành phần quan trọng nhất tạo thành nhân thân là

sự nhận thức về mặt xã hội của con người về ý nghĩa xã hội của hành vi do mình gây

ra Ý thức của con người, nội dung của nhân thân hoàn toàn được quyết định bởi các quan hệ xã hội như quan hệ kinh tế, quan hệ chính trị, pháp luật, tư tưởng v.v…Nhân thân được hình thành và phát triển từ những mối quan hệ trên

Bên cạnh đó, một bộ phận khác của nhân thân là những nhu cầu và tính cách của con người với tư cách là một cơ cấu sinh học Đó chính là khía cạnh tâm lý – xã hội, khía cạnh tinh thần trong cấu tạo của nhân thân Chính quá trình hoạt động của con người nhằm thỏa mãn các nhu cầu này xác định được phạm vi nhận thức, xác định tâm trạng, quy định khuynh hướng của con người

Vì vậy, mặc dù từ lâu khoa học đã cho thấy rằng ảnh hưởng mang tính quyết định tới xử sự của con người là các điều kiện xã hội và định hướng xã hội của ý thức con

Trang 18

người, nhưng khi nghiên cứu về nhân thân không nên “xã hội hóa” quá mức khái niệm đó, tức là chỉ căn cứ vào địa vị xã hội, các quan hệ xã hội mà không tính đến thế

giới tinh thần phong phú của con người, đồng thời cũng không thể “tâm lý hóa” một

chiều khái niệm nhân thân, tức là có ý định xem nhân thân chỉ là một tổng thể những thuộc tính, những đặc điểm tâm lý, trạng thái tinh thần mà không xuất phát từ địa vị

xã hội, vai trò xã hội của nhân thân

Việc đối lập như vậy về nguyên tắc là sai lầm, vì các hiện tượng tâm lý vừa có những mặt tự nhiên cụ thể, đồng thời về cơ bản lại được thiết định về mặt xã hội và chúng đặc trưng cho con người chính là với tư cách một thực thể xã hội, một nhân thân Một dấu hiệu quan trọng khác của nhân thân là thái độ của cá nhân đối với các giá trị xã hội, tức là thái độ đối với những người xung quanh, đối với gia đình, đối với bố

mẹ, con cái, vợ chồng, anh em, thái độ đối với tài sản, đối với lao động Từ những thái

độ như vậy mà có những khuynh hướng, những ý định, quan niệm và quan điểm và cách xử sự

Trên cơ sở quan điểm lý luận chung về nhân thân con người như đã phân tích ở trên, tội phạm học nghiên cứu khái niệm nhân thân người phạm tội

1.1.2 Khái niệm “Nhân thân người phạm tội”

Xét về mặt thuật ngữ, khái niệm nhân thân người phạm tội được hình thành từ hai

khái niệm: “Nhân thân” và “Người phạm tội” Nói đến nhân thân người phạm tội là

đề cập đến các đặc điểm dấu hiệu cá nhân của người thực hiện tội phạm Đây là cơ sở đầu tiên cho việc xác định khái niệm nhân thân người phạm tội

Dấu hiệu đặc trưng trong nhân thân người phạm tội khác với nhân thân con người nói chung trước hết ở chỗ họđã thực hiện hành vi phạm tội, có nghĩa là họ trở thành chủ thể của tội phạm theo quy định của Luật hình sự Sự việc phạm tội cho thấy tính chất nguy hiểm của nhân thân được xác định không chỉ bằng tính chất nguy hiểm cho

xã hội của hành vi do người này gây nên mà còn do vị trí của sự trái pháp luật, động

cơ của nó trong hệ thống bản chất đạo đức, tính chất thuộc về nhân thân, mối tương quan giữa bản chất tốt, xấu trong nhân thân người đó.4

4

Lý Văn Quyền (2008), Giáo trình tội phạm học, Nxb CAND, trường Đại học Luật Hà Nội, Tr.183

Trang 19

Tóm lại, nhân thân người phạm tội những đặc điểm, dấu hiệu đặc trưng nhất phản ánh bản chất của người phạm tội Những đặc điểm, dấu hiệu này tác động với những tình huống, hoàn cảnh khách quan khác đã tạo ra xử sự phạm tội.5

Như vậy, chỉ có việc thực hiện hành vi phạm tội mới cho phép phân biệt nhân thân của người phạm tội với nhân thân của con người nói chung Ngoài ra, dù con người có chứa đựng các đặc điểm tiêu cực giống với các đặc điểm đặc trưng cho người phạm tội đến đâu đi nữa thì cũng không được phép coi người đó là người phạm tội trước khi họ thực hiện hành vi phạm tội;

Cũng xuất phát từ tính tất yếu cho rằng cá nhân này hay cá nhân khác là phải phạm tội Tuy nhiên, ngay cả hành vi phạm tội đặc trưng đó cũng không bao hàm hết

và không làm sáng tỏ được toàn bộ nhân thân của người phạm tội Sự ảnh hưởng môi trường chung đối với việc hình thành nhân cách con người như đã nêu cụ thể ở phần trên giúp chúng ta xác định được quy luật của việc một con người từ chỗ không phạm

tội bước vào con đường phạm tội Mác“Một cái gì đó lớn hơn ở trong con người kẻ

phạm pháp…chẳng phải là mỗi người công dân đã gắn liền với Nhà nước bằng hàng nghìn sợi dây thần kinh sống đó sao, và lẽ nào Nhà nước lại có quyền cắt đứt toàn bộ các sợi dây thần kinh đó chỉ vì người công dân đã tự ý cắt đi một sợi dây thần kinh nào trong số đó? Nhà nước cần phải thấy rằng kẻ phạm pháp đó cũng là một con người, một tế bào sống của xã hội mà trong đó có quả tim đang đập và dòng máu đang chảy; là một người lính mà có trách nhiệm phải bảo vệ tổ quốc, là một người làm chứng mà lời khai của họ làm Tòa án phải chú ý lắng nghe; là một thành viên trong tập thể đang thực hiện các chức năng của xã hội; là một người chủ gia đình mà

sự tồn tại của họ là thiêng liêng; và cuối cùng, điều quan trọng nhất – là một công dân của Nhà nước”.6

Xét về góc độ tội phạm học, khái niệm “Nhân thân” trong tội phạm học nghiên

cứu khác với các khái niệm nhân thân bị can, bị cáo, chủ thể của tội phạm được các khoa học Luật Tố tụng Hình sự và Luật Hình sự nghiên cứu

5 Khoa Luật hình sự (2008-2009), Tập bài giảng Tội phạm học, trường Đại học Luật Tp.HCM, Tr.88

6 Nguyễn Thị Thanh Thủy (1996), Nhân thân người phạm tội trong tội phạm học, trường Đại học Luật Hà

Nội,Tr.19

Trang 20

Khác biệt cơ bản xuất phát từ mục đích nghiên cứu của mỗi ngành khoa học, cụ thể:

- Luật Tố tụng Hình sự nghiên cứu về nhân thân bị can, nhân thân bị cáo nhằm xác định quyền và nghĩa vụ của người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong từng giai đoạn Tố tụng cụ thể để từđó có thể giải quyết đúng đắn vụ án hình sự (như: việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, …)

- Khoa học Luật Hình sự thì nghiên cứu về chủ thể của tội phạm cũng như nhân thân người phạm tội nhằm xác định căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự, định tội danh và quyết định hình phạt

- Tội phạm học nghiên cứu nhân thân người phạm tội nhằm xác định nguyên nhân, điều kiện phạm tội, dự báo tình hình tội phạm và từ đó phòng ngừa tội phạm Tội phạm như mọi hành vi khác của con người, là kết quả của quá trình tác động qua lại giữa cá nhân với môi trường xã hội Vì vậy, nguyên nhân, điều kiện của việc thực hiện tội phạm một mặt thể hiện sự tổng hợp hoàn cảnh khách quan bên ngoài tác động đến việc hình thành động cơ và quyết tâm thực hiện tội phạm, nhưng mặt khác nguyên nhân, điều kiện của việc thực hiện tội phạm còn thể hiện trong chính đặc điểm của người phạm tội - chính đặc điểm này đóng vai trò quyết định đối với sự lựa chọn

xử sự chống đối xã hội của cá nhân

*Ý nghĩa của việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội

Vấn đề nhân thân con người là vấn đề trọng tâm của khoa học hiện đại, nhất là của các ngành Luật học, Triết học và Xã hội học nói chung Vấn đề đó còn được mọi người thuộc mọi tầng lớp quan tâm, bởi vì nó liên quan khắng khít với quá trình đấu tranh của nhân loại tiến bộ vì hòa bình và an ninh trên thế giới Các khoa học pháp lý như Luật Hình sự, Luật Tố tụng Hình sự, Luật Lao động.v.v cũng rất cần có quan niệm đúng đắn về con người và nhân thân con người Điều đó giúp cho việc giải quyết các vấn đề có liên quan đến nhân thân và con người Chẳng hạn, đối với môn lý luận chung về pháp luật, quan niệm đúng đắn về con người cho phép xác định được các dấu hiệu của con người với tư cách là chủ thể có năng lực pháp lý và năng lực hành vi,

có các quyền và nghĩa vụ cụ thể Còn đối với luật hình sự, quan niệm đúng đắn về nhân thân sẽ cho phép nghiên cứu được chính xác và đầy đủ về chủ thể trách nhiệm

Trang 21

hình sự và khách thể bảo vệ của pháp luật hình sự

Nghiên cứu nhân thân người phạm tội nhằm giải quyết vấn đề tội phạm trong xã hội là trách nhiệm tham gia của nhiều ngành khoa học, trong đó tội phạm học giữ vai trò đặc biệt quan trọng Dù thuộc bất kỳ trường phái nào, mỗi nhà nghiên cứu tội phạm học đều không thể bỏ qua các vấn đề có liên quan đến nhân thân người phạm tội khi phân tích về mặt lý luận tội phạm, các nguyên nhân dẫn đến việc phạm tội, cũng như khi nghiên cứu để đưa ra các giải pháp khoa học nhằm đấu tranh và phòng ngừa tội phạm

Bên cạnh đó, việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội còn có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định nguyên nhân của tội phạm Nguyên nhân thực hiện tội phạm

cụ thể là những đặc điểm thể hiện tính chống đối xã hội của con người đó, trước hết là động cơ trong cách xử sự của con người dưới sự tác động qua lại với điều kiện dễ dẫn đến phạm tội là môi trường và hoàn cảnh cụ thể

Vì vậy, thực chất của việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội là nhằm đáp ứng yêu cầu nghiên cứu tình hình tội phạm, từ đó đưa ra những giải pháp kiến nghị giải quyết vấn đề tội phạm trong xã hội Bản thân việc đánh giá thực trạng, diễn biến của tình hình tội phạm, dự đoán hướng phát triển và quy mô ảnh hưởng của nó đến các hiện tượng và quá trình xã hội khác phụ thuộc vào những số liệu đã được tổng kết về nhân thân người phạm tội nói chung và các loại tội phạm khác nhau Đó là các số liệu

về đặc điểm theo giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, điều kiện và hoàn cảnh sinh sống, các đặc điểm về đạo đức, tâm lý, về vai trò, địa vị của con người trong xã hội…7

Như vậy, nghiên cứu nhân thân người phạm tội cần tổng hợp các dấu hiệu, đặc điểm ở người phạm tội; mặt khác để đánh giá đúng về nhân thân của người phạm tội cũng phải dựa trên cơ sở của tất cả các đặc tính xã hội quan trọng và các biểu hiện của các đặc điểm nhân thân, nội dung và mối tương quan giữa chúng, cụ thể là “tỷ lệ” giữa các dấu hiệu và biểu hiện tiêu cực của nhân thân trong mối liên hệ qua lại giữa chúng

Từ tổng thể các đặc tính và dấu hiệu xã hội, cấu trúc và mối tương quan những biểu hiện hành vi của con người sẽ cho chúng ta một quan niệm đầy đủ về người

7 Nguyễn Thị Thanh Thủy (1996), Nhân thân người phạm tội trong tội phạm học, trường Đại học Luật Hà

Nội, Tr.22

Trang 22

phạm tội và hiểu được cách xử sự phạm tội, nguyên nhân và động cơ của người phạm tội Trên kết quả đánh giá đó, chúng ta có cơ sở đảm bảo cho đấu tranh phòng ngừa tội phạm, đảm bảo cho chính sách hình sự và cho việc lựa chọn các biện pháp cần thiết, thích hợp nhằm giáo dục, cải tạo nhân thân và phòng ngừa đối với từng trường hợp cụ thể

1.2 Các đặc điểm đặc trưng của nhân thân người phạm tội

Nghiên cứu nhân thân người phạm tội là xác định những dấu hiệu, đặc điểm đặc trưng của người phạm tội, xác định được những yếu tố, điều kiện, môi trường đã hình thành nên nhân thân người phạm tội từđó xây dựng những biện pháp phòng ngừa tội phạm phù hợp Do vậy, khi nghiên cứu nhân thân người phạm tội cần lưu ý rằng mỗi nhân thân người phạm tội cụ thể đều có những dấu hiệu đặc trưng, từng loại người phạm tội có những dấu hiệu nhân thân đặc trưng, và có những dấu hiệu phản ánh đặc điểm đặc trưng của nhân thân người phạm tội nói chung

Với tư cách là một dạng của nhân thân con người, nhân thân người phạm tội, trước hết bao hàm các đặc điểm, dấu hiệu chung của nhân thân con người Tuy nhiên, tội phạm học khi nghiên cứu về vấn đề này đã cho thấy rằng các đặc điểm, dấu hiệu chung đó có nội dung và ý nghĩa nhất định trong cấu trúc của nhân thân người phạm tội, bằng cách này hay cách khác thì chúng đều có liên quan đến sự chống đối xã hội của con người phạm tội Ngoài ra, trong cấu trúc của nhân thân người phạm tội còn có đặc điểm, dấu hiệu vốn đặc trưng cho chính nhân thân đó mà trong một con người bình thường không có được Các đặc điểm, dấu hiệu này quy định và thể hiện mối nguy hiểm cho xã hội của nhân thân người phạm tội

Cũng cần lưu ý rằng sự khác nhau về chất giữa nhân thân người phạm tội và nhân thân người không phạm tội được quy định không phải bởi các dấu hiệu riêng biệt

(trình độ học vấn thấp, lợi ích hẹp hòi, thái độ không tốt đối với lao động, nghiện rượu, thuốc v.v…) bởi vì các dấu hiệu này không đặc trưng cho tất cả những người

phạm tội, đồng thời chúng còn thể hiện ở cả những con người không phạm tội Cái quan trọng phản ánh khác nhau được xem xét trong tổng thể các đặc điểm, dấu hiệu nhất định của nó.8

8

Nguyễn Thị Thanh Thủy (1996), Nhân thân người phạm tội trong tội phạm học, trường Đại học Luật Hà

Trang 23

Với một hệ thống các đặc điểm, dấu hiệu đặc trưng như vậy, cấu trúc của nhân thân người phạm tội không những phản ánh sựđa dạng của các đặc điểm, dấu hiệu cấu thành nó mà còn phản ánh tính chất khác nhau, vai trò khác nhau của các đặc điểm, dấu hiệu đó trong hành vi phạm tội; đồng thời cũng phản ánh mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa chúng

Như vậy, trong tội phạm học nhân thân người phạm tội là một hệ thống các đặc điểm, dấu hiệu mà trong tổng thể của mình đặc trưng cho chính cá nhân con người đã thực hiện hành vi phạm tội này hay hành vi phạm tội khác, đặc trưng cho các phương diện và biểu hiện khác nhau của sự tồn tại trong xã hội và thực tiễn sinh hoạt của con người phạm tội Và các đặc điểm, dấu hiệu đặc trưng này trực tiếp hoặc gián tiếp có liên quan đến hành vi chống lại xã hội của con người đó, đến việc thực hiện tội phạm; hoặc là cho phép hiểu được các nguyên nhân dẫn đến việc phạm tội của người đó

Hệ thống các đặc điểm của nhân thân người phạm tội có thể chia thành ba nhóm sau đây: Nhóm dấu hiệu xã hội – nhân khẩu;

Nhóm dấu hiệu đạo đức - tâm lý xã hội;

Nhóm dấu hiệu pháp lý hình sự

1.2.1 Nhóm dấu hiệu xã hội – nhân khẩu

Nhóm dấu hiệu xã hội – nhân khẩu bao gồm: giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp và thành phần xã hội, nơi cư trú và một số dấu hiệu khác như đời sống vật chất, điều kiện nhà ở v.v… Các dấu hiệu này có tác động qua lại trong việc hình thành nhân cách của một con người, quan điểm sống với những nhu cầu và lợi ích, vị trí xã hội và những mối quan hệ giao tiếp của người đó trong xã hội Khi kết hợp với các đặc điểm khác thì những đặc điểm xã hội nhân khẩu học cho phép chúng ta hiểu trọn vẹn về nhân thân người phạm tội và có ý nghĩa quan trọng trong việc đề ra và thực hiện các biện pháp cải tạo người phạm tội, phòng ngừa tình hình tội phạm Tuy nhiên, đối với cá nhân đã phạm tội, chúng cho thấy “bước ngoặt” quan trọng đặc trưng của chính cá nhân đó, có nghĩa là bản thân các dấu hiệu này đem lại các thông tin tội phạm học có ý nghĩa khoa học và thực tế rất quan trọng Chẳng hạn như

Nội, Tr.46

Trang 24

: các dấu hiệu về giới tính của người phạm tội đặc trưng cho “tỷ lệ” giữa nam giới và

nữ giới trong việc phạm tội Qua đó xác định được mức độ phạm tội chiếm ưu thế đáng kể và ổn định của nam giới, đồng thời báo động cho thấy đặc điểm của nam giới

dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường và điều kiện sống mà hình thành những đặc điểm tâm

lý tiêu cực hoặc dễ bị tiêm nhiễm thói xấu trong xã hội Ngoài ra các dấu hiệu về giới tính còn chỉ ra tỷ lệ nữ giới phạm tội nhiều hơn ở loại tội phạm nào v.v…9

Sự hiểu biết về các dấu hiệu này giúp làm sáng tỏ nguyên nhân, điều kiện có ảnh hưởng đến quá trình phát triển của tội phạm và giúp đưa ra các biện pháp nhằm loại trừ sự phát triển của tội phạm

Tuy nhiên, khi nghiên cứu nhóm xã hội- nhân khẩu cũng cần lưu ý là tội phạm trên phạm vi lãnh thổ mang tính phổ biến không đồng đều do các xu hướng chuyển biến và cơ cấu của tình hình tội phạm phụ thuộc vào sự khác biệt về tính chất và cường độ hoạt động của các quá trình và sự kiện nhân khẩu, kinh tế, tâm lý – xã hội ở khu vực này hay khu vực khác Đây là nhóm đặc trưng chung cho những người phạm tội, là sự phân chia có điều kiện các nhóm người phạm tội ở đó thống kê tội phạm học

đã chỉ ra được những quy luật xã hội – nhân khẩu nhất định

Bên cạnh đó, khi đề cập đến sự ảnh hưởng mang tính phát sinh tội phạm của quá trình di dân, đô thị hóa v.v…chúng ta chỉ hàm ý nói đến một số hậu quả phụ kèm theo các sự kiện này Do đó, cần phải xác định các hướng phòng ngừa cụ thể đối với tác động phát sinh tội phạm của quá trình và hiện tượng này hay hiện tượng khác Đó chính là biện pháp phòng ngừa đa mục đích cũng như các biện pháp chuyên dùng hoặc chủ yếu dùng để phòng ngừa tội phạm trộm cắp tài sản

9 Lương Ngọc Trâm (1998), Nhân thân người phạm tội trong tội phạm học, viện nghiên cứu Nhà nước và

pháp luật, Tr.48

Trang 25

Theo số liệu thống kê được thì nữ giới phạm tội ít hơn nam giới Nữ giới phạm tội chiếm tỷ lệ 6-10% trong tổng số người phạm tội Thời gian gần đây, nữ giới phạm tội

có xu hướng tăng lên và các loại tội phạm do nữ giới thực hiện ngày càng đa dạng Nhìn chung, các tội phạm do nữ giới thực hiện xảy ra phổ biến ở lĩnh vực thương nghiệp, tài chính, ngân hàng, y tế, xây dựng, nông nghiệp Các tội phạm chủ yếu là trộm cắp tài sản, lừa đảo, đầu cơ, buôn bán hàng cấm, làm hàng giả, buôn bán hàng giả, cố ý gây thương tích và trốn ra nước ngoài, chứa gái mại dâm, hành nghề mê tín,

dị đoan.10

Phải xác nhận một điều rằng, dù ở chừng mực nào đó có thểảnh hưởng đến các đặc điểm hành vi thực hiện các loại tội phạm bằng vũ lực nhưng cũng không nên giải thích các đặc điểm hành vi phạm tội của nam giới và nữ giới bằng sự khác biệt sinh lý

mà vấn đề là ở chỗ khác nhau vềđiều kiện giáo dục, lĩnh vực nhu cầu, lợi ích Đồng thời, sự khác biệt về môi trường vi mô, về quan hệ với những người xung quanh, về vai trò và vị trí của cá nhân trong xã hội và các điều kiện hình thành nhân cách của giới tính

1.2.1.2 Đặc điểm về độ tuổi

Độ tuổi của người phạm tội có ảnh hưởng không nhỏ đến tính chất, mức độ, loại tội phạm và những người có độ tuổi khác nhau thì thực hiện các tội phạm khác nhau Quá trình diễn ra sự thay đổi của bản thân người phạm tội và môi trường xung quanh gắn liền với sự biến đổi của độ tuổi người phạm tội Do vậy, các giai đoạn phát triển khác nhau của cá nhân phụ thuộc không những vào các đặc điểm của độ tuổi mà chủ yếu còn vào các hình thức hoạt động hiện thực có nội dung cụ thể của con người Việc xác định độ tuổi của người phạm tội cho chúng ta thấy tính chất, mức độ, đặc điểm tội phạm của từng lứa tuổi, ảnh hưởng của lứa tuổi đến việc thực hiện tội phạm Theo thống kê cho thấy tội phạm do người có độ tuổi từ 18-30 tuổi thực hiện chiếm tỷ lệ cao nhất Sau đó là những người có độ tuổi từ 30-45 tuổi và những người chưa thành niên (từ 14-18 tuổi), cuối cùng là những người trên 45 tuổi Đối với lứa tuổi khác nhau thì cơ cấu tội phạm được thực hiện cũng khác nhau Chẳng hạn, phần

10

Lý Văn Quyền (2008), Giáo trình tội phạm học, Nxb CAND, Trường Đại học Luật Hà Nội,Tr.194

Trang 26

lớn những người chưa thành niên phạm tội thì thực hiện loại tội phạm xâm phạm sở hữu công dân mà chủ yếu là tội trộm cắp tài sản công dân, còn các tội nghiêm trọng như giết người, cố ý gây thương tích, hiếp dâm chiếm tỷ lệ không cao.11

Các tội có sử dụng bạo lực do những người có độ tuổi từ 18-30 tuổi thực hiện là chính, còn những người từ 30 tuổi trở lên lại hay phạm vào tội kinh tế và tội về chức

vụ Đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia đặc biệt nghiêm trọng thì người chưa thành niên phạm tội rất ít, ngược lại thì người có độ tuổi từ 30-45 tuổi thì phạm loại tội này chiếm tỷ lệ cao.12

Sự khác nhau trong cơ cấu tội phạm do những người phạm tội có độ tuổi khác nhau trong chừng mực nhất định có liên quan đến việc xã hội hóa con người, vị trí xã hội đặc trưng cho mỗi giai đoạn phát triển của nhân thân Mỗi giai đoạn có liên quan đến những trở ngại của việc xã hội hóa và đặc điểm của độ tuổi phản ánh lên nó Chẳng hạn, đối với người chưa thành niên có liên quan đến việc hình thành nhân cách chưa ổn định và phụ thuộc vào vị trí của họ trong xã hội như nhiều người chưa có việc làm, chưa xây dựng gia đình sống vẫn phụ thuộc vào cha mẹ v.v…còn những người

có độ tuổi trên 45 tuổi sở dĩ ít phạm tội hơn bởi vì ở họ đã hình thành quan điểm vững chắc, có kinh nghiệm trong cuộc sống và khả năng tự kiềm chế bản thân cao, có vị trí trong xã hội tương đối ổn định

1.2.1.3 Đặc điểm về trình độ học vấn

Trình độ học vấn là sự phát triển của trí tuệ con người có ảnh hưởng đến nhu cầu

và lợi ích của người đó, ảnh hưởng đến cách sử dụng thời gian và cách xử sự của con người nói chung và hành vi phạm tội nói riêng Đặc điểm này liên quan chặt chẽ đến nhận thức cá nhân, ảnh hưởng đến nhu cầu, lợi ích, sở thích cũng như những định hướng giá trị của người đó Nó tác động đến cách sử dụng thời gian, đến xử sự của con người nói chung và hành vi phạm tội nói riêng Nghiên cứu đặc điểm này giúp chúng ta xác định được sự phân bổ của tội phạm theo trình độ học vấn và cơ cấu của tội phạm theo trình độ học vấn

Nghiên cứu trình độ học vấn của người phạm tội cho thấy trình độ học vấn của

11 Lý Văn Quyền (2008), Giáo trình tội phạm học, Nxb CAND,Trường Đại học Luật Hà Nội, Tr.195

12

Khoa Luật hình sự (2008-2009), Tập bài giảng Tội phạm học, Trường Đại học Luật Tp.HCM,Tr 98

Trang 27

những người phạm tội thường thấp hơn so với trình độ học vấn của những người không phạm tội trong cùng một lứa tuổi 13 Tuy nhiên, chỉ nên xem xét ý nghĩa của điều đó trong mối liên hệ qua lại với các điều kiện hình thành đạo đức khác của nhân thân bởi trình độ học vấn nói riêng, trình độ văn hóa nói chung là một trong những yếu tố cấu thành của các điều kiện hình thành đạo đức của nhân thân

Cần phải lưu ý rằng với tư cách là một bộ phận quan trọng trong trình độ văn hóa chung của nhân thân, học vấn góp phần hình thành lĩnh vực lợi ích, nhu cầu, thói quen, quy tắc ứng xử sao cho phù hợp với các yêu cầu của xã hội, cho phép tạo ra các phương tiện và hình thức phản ứng thích hợp đối với các tình huống xung đột và hoàn cảnh bất lợi, và ngược lại trình độ học vấn thấp thường không góp phần hoặc cản trở việc hình thành các lợi ích, nhu cầu, thói quen, quy tắc ứng xử phù hợp với lợi ích xã hội và góp phần làm xuất hiện các tình huống xung đột, cản trở việc lựa chọn phương

án xử sự đúng

Vấn đề là khi nghiên cứu đặc điểm nhân thân về trình độ học vấn thì không nên chỉ hạn chế nghiên cứu phân tích thành phần người phạm tội nói chung và đem so sánh với trình độ học vấn của dân số mà cần phải nghiên cứu trình độ học vấn của từng nhóm và người phạm tội riêng biệt, đồng thời phải chỉ ra được các mối liên hệ phụ thuộc giữa trình độ học vấn và khuynh hướng phạm tội của các nhóm, loại người phạm tội đó

Thực tế cho thấy giữa những người phạm tội ở các nhóm, loại người phạm tội khác nhau thì trình độ học vấn cũng khác nhau Những người có trình độ học vấn thấp thường phạm các tội có tính chất bạo lực, côn đồ (trộm cắp tài sản, giết người, cướp tài sản…) hoặc các tội xâm phạm trật tự an toàn xã hội (gây rối trật tự công cộng); đối với các loại tội phạm về kinh tế, tội phạm về chức vụ hoặc có động cơ vụ lợi thì do những người có trình độ học vấn cao hơn thực hiện

1.2.1.4 Đặc điểm về nghề nghiệp và thành phần xã hội

Địa vị xã hội và nghề nghiệp phụ thuộc nhiều vào trình độ học vấn Thông

13 Khoa Luật hình sự (2008-2009), Tập bài giảng Tội phạm học, Trường Đại học Luật Tp.HCM,Tr 103

Trang 28

thường, người có trình độ học vấn thấp cũng thường là những người không có nghề nghiệp hoặc không có việc làm và do đó kéo theo là họ cũng không có địa vị trong xã hội Thống kê tội phạm học khi phản ánh địa vị xã hội và nghề nghiệp của những người phạm tội là công nhân, viên chức, nông dân, học sinh, những người có khả năng lao động mà không chịu lao động và học tập, người về hưu, nội trợ, người không

có khả năng lao động phải sống dựa vào người khác, đã chỉ ra đa số những người phạm tội là thuộc loại có khả năng lao động nhưng lười lao động, học tập, chỉ muốn

ăn bám hoặc muốn kiếm tiền một cách nhanh chóng mà không phải vất vả Đa số họ cũng chính là những người không có nghề nghiệp ổn định và không có địa vị trong xã hội, đặc biệt là những người phạm tội thuộc loại tái phạm hay tái phạm nguy hiểm Qua nghiên cứu cho thấy những người thực hiện tội phạm không có nghề nghiệp trong số những người có việc làm chiếm tỷ lệ khá cao Đặc biệt đối với bọn tái phạm chỉ số này cao hơn Đối với những người phạm tội có nghề nghiệp thì phần lớn rơi vào trường hợp lao động chân tay nặng nhọc và lao động giản đơn như nông dân, công nhân xây dựng, giao thông vận tải, nông, lâm nghiệp; còn viên chức và người về hưu phạm tội ít hơn, không đáng kể.14

Mặt khác, do đặc thù của từng ngành trong nền kinh tế quốc dân mà loại tội phạm phổ biến thường xảy ra ở mỗi ngành nghề cũng có sự khác nhau Ví dụ: đối với ngành Tài chính ngân hàng thì những tội phạm phổ biến là tham ô, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cố ý làm trái các qui định của Nhà nước trong lĩnh vực Tài chính ngân hàng gây hậu quả nghiêm trọng Trong ngành hải quan thì lại thường xảy ra các tội phạm như buôn lậu, nhận hối lộ Đối với ngành tư pháp thì nhóm tội phổ biến và đặc thù là các tội xâm phạm hoạt động tư pháp.15

Nghiên cứu đặc điểm nghề nghiệp và thành phần xã hội của những người phạm tội giúp chúng ta nhận thức được ở lĩnh vực nào của đời sống xã hội, ở ngành nào của nền kinh tế loại tội phạm nào thường xảy ra; đồng thời, cho chúng ta hiểu đặc thù của tầng lớp xã hội, từng ngành sản xuất Nghề nghiệp và thành phần xã hội đóng vai trò

Trang 29

quan trọng trong việc lựa chọn phương thức, thủ đoạn, công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm, nó ảnh hưởng đến cơ chế của hành vi phạm tội Những nghiên cứu này là cơ

sở để đưa ra những phương hướng và giải pháp phòng ngừa tội phạm Bên cạnh đó đã cho thấy cần phải gắn liền và giải quyết vấn đề tội phạm trong xã hội với vấn đề giáo dục và đào tạo nghề nghiệp cho người lao động, tạo cho họ có khả năng lao động để thỏa mãn các nhu cầu của bản thân Mặt khác, trong công tác phòng ngừa tội phạm cần tập trung vào những loại nghề nghiệp nhất định, vào từng loại người nhất định để

có biện pháp phòng ngừa thích hợp

1.2.1.5 Đặc điểm về nơi cư trú

Địa vị xã hội của người phạm tội có liên quan mật thiết với nơi cư trú của họ, do

đó nơi sinh sống có ảnh hưởng đến tình trạng phạm tội nói chung và tội phạm cụ thể nói riêng

Chúng ta đều biết, lối sống của mỗi nơi đều có những nét đặc trưng riêng biệt, chẳng hạn như cách sống thành thị khác cách sống ở nông thôn Thành thị là nơi tập trung các cơ sở văn hóa và giáo dục cơ bản, các điều kiện lao động và sinh hoạt, mọi vấn đề về nếp sống cá nhân với trật tự xã hội và mọi tác động có ý nghĩa xã hội đến từng cá nhân với trật tự xã hội và mọi tác động có ý nghĩa xã hội đến từng cá nhân đều mạnh hơn, căng thẳng hơn so với các điều kiện sống ở nông thôn

Đối với một số cá nhân thì điều kiện sống ở thành thị tạo khả năng cho cách xử sự buông thả của họ Còn ở nông thôn thì mọi người đều biết nhau và điều này tự nó đã

là một yếu tố giám sát xã hội, buộc cá nhân phải tính đến thái độ và xử sự của mình, điều này khác với thành thịở chỗ sự giám sát của thành thị dựa vào quan hệ sinh hoạt

xã hội tại nơi cư trú như vậy là rất hạn chế

Tuy nhiên, các đặc điểm về điều kiện đời sống thành thị cũng xác định tính phổ biến khá cao của một số loại tội phạm Nhưng cũng cần phải nhấn mạnh rằng sự gia tăng dân số ở thành thị không tạo ra sự tăng trưởng của tội phạm ở nơi đó, mọi vấn đề phức tạp của điều kiện giám sát xã hội, đặc thù của loại dân cư ở thành thị mới xây dựng đều có thể bị “vô hiệu hóa” nếu xác định đúng phạm vi của công việc phòng ngừa trong sự xem xét đến hiển diện của chúng

Trang 30

Ngoài những dấu hiệu chính kể trên thì những dấu hiệu khác thuộc nhóm các đặc điểm dấu hiệu xã hội – nhân khẩu như: vai trò trong tổ chức xã hội của người phạm tội, điều kiện về nhà ở của người phạm tội, phương tiện sinh hoạt trong gia đình của người phạm tội v.v…cũng đều có ý nghĩa khi nghiên cứu về nhân thân người phạm tội Việc chia càng nhỏ những dấu hiệu liên quan đến người phạm tội để có biện pháp phòng ngừa thích hợp hơn

Nhìn chung qua những điều xem xét ở trên, chúng ta có thể khẳng định trên thực

tế có qui luật thống kê nhất định đặc trưng cho nhân thân người phạm tội trong quan

hệ với các dấu hiệu xã hội – nhân khẩu nhưng vai trò của chúng là không giống nhau Việc đề cập đến các quan hệ và sự phụ thuộc đó với tội phạm là điều kiện quan trọng

để nâng cao hiệu quả của kế hoạch hóa xã hội trong lĩnh vực đấu tranh phòng ngừa tội phạm có hiệu quả cao

Nhóm xã hội – nhân khẩu là đặc trưng giai cấp của một tầng lớp xã hội hay một nhóm người được phân chia cùng với địa vị xã hội của họ trong hệ thống quan hệ xã hội, có mối liên hệ với cơ cấu kinh tế và xã hội trong cộng đồng, có cùng chung tính tâm lý văn hóa, còn đối với những người phạm tội thì không tồn tại một điều gì tương

tự, họ không được hợp nhất bởi nhóm xã hội, thống nhất về mặt giai cấp, từ kinh tế -

xã hội, họ không có tầng lớp dân cư khác nhau, mặc dù có thể tạo thành các nhóm nhỏ biệt lập

1.2.2 Nhóm dấu hiệu đạo đức tâm lý – xã hội

Có thể gọi các phẩm chất đạo đức và các đặc điểm tâm lý của người phạm tội là đặc trưng đạo đức tâm lý – xã hội, đây là một phần không thể thiếu trong tập hợp các điểm, dấu hiệu của nhân thân Đặc trưng đó là sự tổng hợp các đặc điểm bên trong của nhân thân và một số biểu hiện bên ngoài của nó Như vậy, chúng ta có thể gọi các đặc điểm tâm lý là việc mô tả thế giới nội tâm của nhân thân người phạm tội được hình thành trong các điều kiện nhất định Tình cảm, tâm lý tùy thuộc vào tuyến nội tiết (glandes endorines), vào thần kinh giao cảm (sympathique) và trái tim hơn là vào bộ não…Lòng nhiệt tình, sự can đảm, tình yêu và sự thù ghét đẩy chúng ta hành động mà trí tuệ đã đề ra kế hoạch Chính sự sợ hãi, sự giận dữ, sự ham mê khám phá và dám

Trang 31

làm, qua trung gian của các dây thần kinh giao cảm, tác động vào các tuyến mà sự bài tiết của các tuyến này đặt cơ thể vào trạng thái sẵn sàng hành động tự vệ, bỏ chạy hay tấn công…16

Nói đến nhân thân người phạm tội nói chung trước hết chúng ta phải tính đến tâm

lý cá nhân chủ nghĩa, vì đó là biểu hiện rõ nét nhất trạng thái tâm lý của người phạm tội Chủ nghĩa cá nhân thể hiện trước hết trong cơ cấu các nhu cầu, các hứng thú và quyền lợi cá nhân Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhu cầu và tội phạm, tội phạm học tập trung làm rõ sự ảnh hưởng của nhu cầu đối với việc phát sinh tính động cơ và ảnh hưởng của nhu cầu lên hành vi, lên cách xử sự của con vi người khi nó không được thỏa mãn Trong trường hợp nhu cầu không được thỏa mãn nó sẽ làm phát sinh mâu thuẫn giữa nhu cầu và khả năng chủ thể và điều này ảnh hưởng sâu sắc đến hành

vi của chủ thể Nhu cầu của con người bao giờ cũng có đối tượng cụ thể, trong tâm lí con người thì đối tượng của nhu cầu được nhận thức bằng một quá trình dần theo thời gian Khi đối tượng đã được nhận thức đầy đủ, tất yếu phải thực hiện thì lúc đó nhu cầu sẽ trở thành động cơ thúc đẩy con người hướng đến đối tượng.17

Con người có thể trở thành người phạm tội do có những tác động xã hội bất lợi, được người phạm tội tiếp nhận và đưa vào thế giới các quan niệm, các quan hệ, phương châm, các định hướng v.v…của người phạm tội, và sau đó được họ thực hiện thông qua hành vi phạm tội

Thói hư tật xấu thường ngăn chặn và làm ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc đời của cá nhân, hơn nữa trong gia đình và xã hội, tất cả các cá nhân đều liên quan với nhau, cho nên sự suy đồi của một con người gây thiệt hại cho cả tập thể Cũng thế, sự nâng cao đức hạnh của một cá nhân đem lại lợi ích cho cộng đồng Sự khoan dung với cái xấu, cái ác là một sai lầm nguy hiểm Mỗi người không thể tự do muốn làm gì thì làm theo

ý thích của riêng mình Và người nào tự cho phép được bừa bãi, vô độ, lười biếng, vu khống hay bất cứ một thói xấu nào khác phải được coi là một kẻ có tội đối với xã hội Còn người nào có đức hạnh thường có ảnh hưởng tốt đối với những người xung

16

Nguyễn Thừa Hiệp (2007), Con người và quy luật, Nxb Tổng hợp Tp.HCM, Tr.40

17 Vũ Gia Hiền (2005), Tâm lí học và chuẩn hành vi, Nxb Lao động, Tr.290

Trang 32

quanh và góp phần nâng cao phẩm chất của cuộc sống chung.18

Vì vậy, sự tác động của giá trị phẩm chất đạo đức và các đặc điểm tâm lý – xã hội

là một phần không thể thiếu trong tập hợp các đặc điểm dấu hiệu của nhân thân người phạm tội Hiệu quả của các biện pháp phòng ngừa tội phạm và tác động mang tính hình sự đến những người phạm tội chủ yếu phụ thuộc vào độ chính xác của quan niệm

về thế giới nội tâm của họ Quan niệm đó chỉ được hình thành khi nghiên cứu các phẩm chất đạo đức và các đặc điểm tâm lý của người phạm tội Do đó, không nên đồng nhất các đặc điểm đạo đức tâm lý của nhân thân với các hiện tượng xã hội có thể coi là nguyên nhân phạm tội Nhưng mối liên hệ qua lại giữa chúng là tất yếu, vì vốn

dĩ các đặc điểm đạo đức tâm lý tiêu cực đã được hình thành của nhân thân người phạm tội là khâu trung gian giữa các nguyên nhân xã hội nêu trên và bản thân hành vi phạm tội

Bên cạnh đó, ý thức xử sự của con người còn được xác định bởi khuynh hướng, định hướng phương châm xã hội của nhân thân Phương châm sống và định hướng của nhân thân được thể hiện qua thái độ cụ thể, khá ổn định của con người đối với các giá trị xã hội khác nhau Ý thức của con người đối với các phương diện sinh hoạt và các hoạt động khác nhau (xã hội, Nhà nước, con người, lao động, sở hữu bản thân v.v…) được thể hiện ở các động cơ xử sự cụ thể của họ)

Quá trình thực hiện các động cơ đó đến lượt mình lại củng cố, phát triển làm thay đổi thái độ của con người đối với các phương diện đời sống xã hội Trong trường hợp này, đó là các mục đích và các động cơ xử sự thường xuyên và ổn định (khác với động

cơ của một hành vi cụ thể, kể cả của tội phạm) Cùng với các nhu cầu sinh hoạt và sự mong muốn thúc đẩy, hệ thống các mục đích và động cơ này là cơ sở cho việc con người lựa chọn cách xử sự

Như vậy, chứng tỏ rằng ý thức xã hội và ý thức pháp luật có hai tác dụng đối lập nhau: nếu ý thức xã hội phát triển tốt thì đó là công cụ quan trọng để ngăn chặn mọi hành vi phạm tội Ngược lại, nó sẽ là một nguyên nhân dẫn đến việc kẻ xấu lựa chọn cho mình con đường phạm pháp

18

Nguyễn Thừa Hiệp (2007), Con người và quy luật, Nxb Tổng hợp Tp.HCM, Tr.69

Trang 33

Việc phân tích trên đem lại một quan niệm đầy đủ về nhân thân một cá nhân cụ thể Còn đối với nhân thân người phạm tội thì điều có ý nghĩa lớn nhất trong đặc điểm của nó là các đặc điểm xã hội tiêu cực như: thái độ không muốn chấp hành trật tự xã hội, thiếu tôn trọng mọi người, không muốn lao động, không thừa nhận tính bất khả xâm phạm quyền sở hữu tài sản tức là thái độ xấu đối với con người và xã hội Những

xử sự này được hình thành trên cơ sở thực tiễn sinh hoạt trong một môi trường vi mô

cụ thể như giáo dục, ảnh hưởng tác động bên ngoài và ngược lại chúng thể hiện ở các đặc điểm về nhân cách và các hành vi khác nhau của con người, kể cảở tội phạm Cũng cần phải xác định rằng, mọi nhân thân đều mang tính đa diện và đa dạng trong các biểu hiện của chính họ Vì vậy, các đặc điểm tâm lý – xã hội không thể chỉ

đề cập đến khuynh hướng phiến diện một mặt của nhân thân Mặc dù mỗi người phạm tội với tư cách là một nhân thân có tính cách riêng biệt và được đặc trưng bởi các quan điểm tâm lý riêng của mình, song vẫn có thể quy đặc điểm chung quan trọng nhất của

họ về một số nhóm và xem xét mỗi người phạm tội như một đại diện của một nhóm nào đó

1.2.3 Nhóm dấu hiệu pháp lý hình sự

Các đặc điểm, dấu hiệu pháp lý hình sự là những đặc điểm, dấu hiệu phản ánh tính chất nguy hiểm của tội phạm và liên quan đến đặc điểm nhân thân người phạm tội Để xác định đầy đủ những đặc điểm nhân thân người phạm tội thì ngoài các dấu hiệu tất yếu thể hiện tính chủ thể pháp luật hình sự (độ tuổi, năng lực trách nhiệm hình

sự, nghề nghiệp, địa vị xã hội, hoàn cảnh gia đình v.v…) và tính có lỗi (biểu hiện lý trí

và ý chí của người phạm tội khi tự lựa chọn và thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho

xã hội), còn phải xác định khuynh hướng phạm tội, động cơ, mục đích thực hiện tội phạm của người phạm tội (đối với từng loại tội phạm), tính ổn định của hành vi chống đối xã hội (thông qua số lần người phạm tội đã bị xét xử, tái phạm) và mức độ có tổ chức của người phạm tội (theo số lần tội phạm được thực hiện có tổ chức hoặc đồng phạm)

Khi nghiên cứu những đặc điểm pháp lý hình sự trong nhân thân người phạm tội, tội phạm học chủ yếu tập trung vào những dấu hiệu sau đây:

Trang 34

1.2.3.1 Động cơ, mục đích thực hiện tội phạm

Theo khoa học Luật Hình sự thì động cơ, mục đích phạm tội được hiểu là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện tội phạm Cần phải lưu ý rằng động

cơ phạm tội khác với động cơ của xử sự (là những động cơ nhất định thúc đẩy hành vi của con người trong trạng thái tâm lý bình thường)

Động cơ và mục đích có ảnh hưởng nhất định đến mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Thực tế của cuộc đấu tranh chống tội phạm chỉ ra rằng động cơ

và mục đích của người thực hiện hành vi phạm tội càng mãnh liệt bao nhiêu thì tính chất thực hiện tội phạm càng nguy hiểm bấy nhiêu và gây nên hậu quả càng nghiêm trọng cho xã hội

Đối với nhân thân người phạm tội, động cơ phạm tội thể hiện các đặc điểm xác định của nhân thân trong một hoàn cảnh cụ thể, trong đó tội phạm được chuẩn bị và thực hiện Cũng cần phải nhấn mạnh là bên cạnh các động cơ ổn định và bền vững, còn có các động cơ do diễn biến ngẫu nhiên của tình hình mà xuất hiện

Các động cơ có thể là mâu thuẫn và không nhất quán, chẳng hạn động cơ có thể là một trạng thái nhất thời không bền vững gắn liền với phản ứng trước một hoàn cảnh sinh hoạt cụ thể Nếu tính đến điều này thì luận điểm cho rằng động cơ phạm tội bao giờ cũng là sự thể hiện lập trường xã hội của nhân thân, các quan điểm, các phương châm, các tín niệm của nó đã bị thổi phồng

Trong nhiều trường hợp thì thực sự như vậy nhưng có thể còn có các trường hợp khác Tuy nhiên, nếu tội phạm mang tính chất tình huống là chủ yếu thì động cơ có thể đã không đặc trưng cho nhân thân nói chung Như vậy, với toàn bộ ý nghĩa của động cơ của một tội phạm cụ thể, việc nghiên cứu nó không bao hàm hết vấn đề đặc trưng của nhân thân

Thực tế nghiên cứu tội phạm học cho thấy, có thể xem xét khuynh hướng phạm tội của người phạm tội trong tổng thể những người phạm tội nói chung hoặc xem xét giữa những người phạm tội nói riêng thông qua một dấu hiệu nào đó phản ánh mức độ nguy hiểm xã hội của chúng và cũng có thể xem xét bên trong các loại người phạm tội, phân biệt trên cơ sở tính chất hay động cơ của việc phạm tội Đây là cấu trúc khác

Trang 35

nhau mà có thể gọi là các cấu trúc chung, đặc biệt và trong từng loại Hiện nay, có quan điểm cho rằng có sự trùng lắp khi vừa nghiên cứu động cơ, mục đích, dấu hiệu chủ quan khi xác định các dấu hiệu cấu thành tội phạm vừa nghiên cứu động cơ, mục đích, dấu hiệu xác định nhân thân người phạm tội với tính chất là một trong những căn cứ để quyết định hình phạt đối với người phạm tội

1.2.3.2 Tái phạm, tái phạm nguy hiểm

Khuynh hướng chống lại xã hội có thể đánh giá căn cứ vào số lượng hành vi chống lại xã hội do con người thực hiện và căn cứ vào tính chất của các hành vi đó Con người càng thường xuyên thực hiện các hoạt động chống đối xã hội bao nhiêu thì các hoạt động đó càng nghiêm trọng và ý thức con người về quan niệm chống đối xã hội ngày càng sâu sắc bấy nhiêu

Tái phạm trong tội phạm học nghiên cứu là chỉ sự lặp lại của việc phạm tội được

sử dụng để đánh giá tính ổn định của hành vi chống đối lại xã hội của người phạm tội

về mặt đặc trưng hình sự

Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố

ý hoặc phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do vô ý quy định tại Điều

49 Bộ luật hình sự năm 1999 Những trường hợp sau đây được gọi là tái phạm nguy hiểm: người đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do

cố ý; đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý

So với người phạm tội lần đầu, người phạm tội bị coi là tái phạm chứng tỏ tính nguy hiểm cao cho xã hội Tính nguy hiểm đó thể hiện ở thái độ ngoan cố chống đối

xã hội trong xử sự của người phạm tội và đối phó với các hoạt động của cơ quan bảo

vệ pháp luật một cách có kinh nghiệm hơn Vì vậy, tái phạm được xem là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Tái phạm có thể có các loại như: phạm tội nhiều lần, phạm tội có hệ thống, phạm tội có tính chuyên nghiệp, tái phạm nguy hiểm và tái phạm đặc biệt nguy hiểm

Tóm lại, việc nghiên cứu để xác định những đặc điểm trong nhân thân người phạm tội phải dựa vào những sự việc thực tế của người đó, những sự việc này phải

Trang 36

đánh giá trong tập hợp nhất định như hành vi phạm tội, động cơ, mục đích phạm tội

và các dấu hiệu khác có thể tương ứng với đặc điểm đạo đức, tâm lí của người phạm tội Việc làm sáng tỏ sự phạm tội có liên quan ít nhiều đến động cơ xử sự của người

đó có ý nghĩa quan trọng trong việc xem xét nhân thân người đó và trên cơ sở này mới xác định đúng nguyên nhân đã gây ra tội phạm

1.3 Nguyên nhân, điều kiện của tội phạm từ góc độ nhân thân người phạm tội

1.3.1 Khái niệm nguyên nhân, điều kiện của tội phạm

Nguyên nhân của tội phạm là sự tác động qua lại giữa các yếu tố bên trong của người phạm tội (yếu tố tâm lí, khí chất con người) với các yếu tố bên ngoài của môi trường sống (kinh tế, xã hội, gia đình, trường học…) làm phát sinh tội phạm

Điều kiện của tội phạm là những nhân tố không có khả năng trực tiếp làm phát sinh tội phạm, không chứa đựng những mâu thuẫn và xung đột trong xã hội nhưng lại tạo ra khả năng và hoàn cảnh thuận lợi để làm phát sinh tội phạm, tạo điều kiện kích thích hoặc đảm bảo để các nguyên nhân của tội phạm được vận động một cách nhanh chóng thuận lợi

Nguyên nhân và điều kiện của tội phạm là tổng hợp những ảnh hưởng và quá

trình xã hội, đó là toàn bộ quá trình xã hội làm phát sinh tội phạm, gắn bó chặt chẽ với

các sự kiện chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và con người trong từng thời điểm nhất định Nguyên nhân, điều kiện của tội phạm luôn là những hiện tượng có nguồn gốc và bản chất xã hội, luôn thể hiện ở tính tiêu cực như sự cản trở đối lập với xu thế phát triển chung của đời sống xã hội như sự chống đối về chính trị, những chính sách phát triển kinh tế xã hội không phù hợp, trình độ dân trí thấp kém, sự vi phạm pháp luật, đạo đức

Việc nghiên cứu nguyên nhân, điều kiện của tội phạm là cơ sở để xây dựng các biện pháp phòng ngừa tội phạm một cách khoa học và hiệu quả, là cơ sở cho việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế xã hội một cách phù hợp giảm thiểu các mâu thuẫn xã hội là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm

1.3.2 Vai trò của nhân thân người phạm tội trong nguyên nhân, điều kiện của tội phạm

Tội phạm như những hành vi khác của con người, là sự tác động lẫn nhau giữa nội

Trang 37

tại bên trong của cá nhân (đặc điểm sinh học, xã hội – nhân khẩu; đạo đức - tâm lý xã hội) và hoàn cảnh khách quan bên ngoài Vì vậy, nghiên cứu nhân thân người phạm tội sẽ tạo cơ sở cho việc xác định nguyên nhân, điều kiện của tội phạm

Nguyên nhân của tội phạm là những ảnh hưởng quá trình xã hội trực tiếp tác động làm nảy sinh và tồn tại tình hình tội phạm như kết quả mang tính quy luật Chẳng hạn, trong xã hội ta hiện nay, các tư tưởng, quan điểm đối lập với tư tưởng, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chủ nghĩa xã hội, các biểu hiện tâm lý xã hội, thói quen, phong tục lạc hậu…tồn tại trong xã hội ta hiện nay hoặc trong cộng đồng hay cá nhân được coi là nguyên nhân cần xem xét khi nghiên cứu nguyên nhân của tình hình tội phạm

Do vậy, khi nghiên cứu nguyên nhân của tội phạm cần lưu ý đến sự đa dạng trong

mối quan hệ giữa tình huống xã hội và xử sự của cá nhân Trong cùng tình huống, với

những cá nhân khác nhau luôn luôn có thể dẫn đến những xử sự khác nhau Xuất phát

từ đặc điểm này mà nhiều nhà tội phạm học đã coi đặc điểm cá nhân, hoàn cảnh sống, điều kiện giáo dục v.v…nói chung là nhân thân của người phạm tội là những yếu tố chi phối rất nhiều đến nguyên nhân của tội phạm

Việc nghiên cứu vai trò của nhân thân người phạm tội trong nguyên nhân, điều kiện của tội phạm có ý nghĩa quan trọng trong quá trình đưa ra các biện pháp phòng ngừa tội phạm mà các biện pháp này trong thực tiễn chỉ đạt được hiệu quả khi có sự hiểu biết đầy đủ về nguồn gốc phát sinh, tồn tại và thay đổi của nhân thân người tội

phạm Vì vậy mà phòng ngừa tội phạm không thể tách rời việc nghiên cứu nhân thân

người phạm tội trong nguyên nhân, điều kiện của tội phạm như đã phân tích trên

Bên cạnh đó, nghiên cứu nhân thân của người phạm tội trong nguyên nhân, điều kiện của tội phạm còn tạo cơ sở hoạch định các chính sách phát triển kinh tế xã hội một cách phù hợp, giảm thiểu các mâu thuẫn trong xã hội là nguyên nhân sâu xa làm phát sinh tội phạm Việc soạn thảo, ban hành và thực hiện các chính sách nhằm phát triển kinh tế - xã hội trước mắt cũng như về lâu dài rất cần thiết phải nắm bắt được kịp thời những nhân tố xã hội có khả năng làm phát sinh tội phạm, để thông qua đó các chính sách có thể can thiệp, tác động kịp thời vào những vướng mắc, những mâu thuẫn phát sinh trong xã hội, từ đó làm giảm thiểu, hạn chế mức độ căng thẳng, gay

Trang 38

gắt của chúng, kiểm soát chúng trong một giới hạn cho phép Điều này đồng nghĩa với việc kiểm soát được tội phạm trong xã hội, duy trì sự phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững Ví dụ như: xây dựng các chính sách xã hội đối với các đối tượng người có công, nhân tài, người nghèo để thực hiện công bằng xã hội, thu hẹp khoảng cách trong phân phối xã hội, từ đó làm giảm thiểu những mâu thuẫn về lợi ích có thể làm phát sinh các tội phạm về kinh tế, tham nhũng, các tội về xâm phạm sở hữu… Nghiên cứu nhân thân người phạm tội trong nguyên nhân, điều kiện của tội phạm còn giúp cho chúng ta dự liệu trước được những tác động tiêu cực từ các đặc điểm nhân thân và sự tác động bên ngoài vào người phạm tội, qua đó chủ động hạn chế những ảnh hưởng không mong muốn của chúng để không làm phát sinh tội phạm trong xã hội

Trang 39

CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH TỘI PHẠM TRỘM CẮP TÀI SẢN VÀ ĐẶC ĐIỂM NHÂN THÂN CỦA NGƯỜI PHẠM TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TÂY NINH

2.1 Tình hình tội phạm trộm cắp tài sản trên địa bàn Tỉnh Tây Ninh

2.1.1 Đặc điểm pháp lý hình sự của tội phạm trộm cắp tài sản theo Luật hình sự hiện hành của Việt Nam

Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam thì trộm có nghĩa là lấy của người khác một cách lén lút, nhân lúc không ai để ý; cắp có nghĩa là lấy của người khác một cách lén lút, vụng trộm Như vậy, trộm cắp là trộm và lấy cắp tài sản Theo từ điển pháp luật hình sự của tác giả Nguyễn Ngọc Hòa và Lê Thị Sơn thì trộm là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có người khác quản lý Như vậy, khái niệm trộm cắp tài sản không được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật, nhưng qua thực tiễn chúng ta có thể đưa ra khái niệm về trộm

cắp tài sản như sau: trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có

Nếu trong quá trình chiếm đoạt tài sản, người phạm tội có hành vi gây thương tích

19 Trần Văn Nhum (2010), Đấu tranh phòng chống tội trộm cắp tài sản trên tỉnh Bình Phước, trường Đại

học Luật Tp.HCM, Tr.6

Trang 40

cho người khác thì sẽ bị truy cứu về tội tương ứng như cố ý gây thương tích hoặc cướp tài sản

*Mặt khách quan:

Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện của tội phạm trong thế giới khách quan Mặt khách quan của tội phạm bao gồm: hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như mối quan hệ nhân quả giữa hành

vi và hậu quả, các điều kiện khác của việc thực hiện hành vi phạm tội như phương pháp, thủ đoạn, thời gian, địa điểm phạm tội v.v

Các dấu hiệu về mặt khách quan của tội phạm trộm cắp tài sản gồm có:

- Hành vi khách quan của tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang do người khác quản lý Hành vi đó thể hiện ở nội dung là chiếm đoạt tài sản và

thủ đoạn chiếm đoạt là lén lút Chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi cố ý chuyển

một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành tài sản của mình.20

Hành vi chiếm đoạt tài sản có những đặc điểm sau đây:

- Là hành vi làm cho chủ tài sản mất khả năng thực tế thực hiện quyền sơ hữu đối với tài sản, đồng thời tạo khả năng cho người phạm tội có thể thực hiện việc chiếm giữ, sử dụng, định đoạt trái phép tài sản đó;

- Tài sản là đối tượng của tội trộm cắp tài sản phải là đang có chủ

Hành vi lấy tài sản của mình hoặc đang do mình quản lý hoặc hành vi lấy tài sản không có hoặc chưa có chủ đều không phải là hành vi trộm cắp tài sản Tài sản được coi là có chủ khi: tài sản đang ở trong sự chiếm hữu của người khác, nghĩa là đang nằm trong sự chi phối về mặt thực tế của chủ tài sản hoặc người có trách nhiệm quản lý; tài sản đang còn nằm trong khu vực quản lý, bảo quản của chủ tài sản, đây là trường hợp tài sản cụ thể tuy đã thoát ly khỏi sự chi phối về mặt thực tế của chủ tài sản hoặc người có trách nhiệm như vẫn nằm trong phạm vi thuộc khu vực bảo quản

Để đánh giá người phạm tội chiếm đoạt được tài sản hay chưa, đã làm chủ được tài sản hay chưa thì phải dựa vào các đặc điểm, vị trí tài sản bị chiếm đoạt Tài sản bị coi đã bị chiếm đoạt khi: nếu vật bị chiếm đoạt nhỏ gọn thì coi là đã chiếm đoạt được

20 Lê Cảm (2003), Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Nxb Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia khoa Luật,

Tr.230

Ngày đăng: 06/05/2021, 09:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Đề án “Phòng, chống tội phạm trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đến năm 2015” ban hành theo Quyết định phê duyệt số 1182/QĐUBND ngày 18/6/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phòng, chống tội phạm trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đến năm 2015”
7. Thông tư liên tịch số 02/2011/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2011 về việc hướng dẫn một số quy định tại chương XIV “Các tội xâm phạm sở hữu” của BLHS năm 1999.Các báo cáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: C"ác tội xâm phạm sở hữu
8. Phòng CSĐTTP về TTXH và Ma túy (20062010), Báo cáo Đề án đấu tranh phòng chống tội trộm cắp tài sản, Công an tỉnh Tây Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Đề án đấu tranh phòng chống tội trộm cắp tài sản
9. Phòng CSĐTTP về TTXH và Ma túy (20062010), Báo cáo phương thức thủ đoạn tội trộm cắp tài sản, Công an tỉnh Tây Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phương thức thủ đoạn tội trộm cắp tài sản
10. Phòng CSQLHC về TTXH (2011), Báo cáo thống kê nhân hộ khẩu, Công an tỉnh Tây Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thống kê nhân hộ khẩu
Tác giả: Phòng CSQLHC về TTXH
Năm: 2011
11. Phòng thống kê (2006-2010), Báo cáo công tác xét xử, TAND tỉnh Tây Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác xét xử
13. Phòng thống kê dữ liệu (2011), Báo cáo phân loại phạm nhân, Trại giam Cây Cầy tỉnh Tây Ninh.Giáo trình, sách chuyên khảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phân loại phạm nhân
Tác giả: Phòng thống kê dữ liệu
Năm: 2011
14. Nguyễn Văn Cảnh (2001), Tổ chức hoạt động phòng ngừa, phát hiện và điều tra tội phạm cụ thể thuộc chức năng của cảnh sát hình sự, Nxb phòng QLKH&Đào tạo SĐH, Trường Đại học Cảnh sát nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động phòng ngừa, phát hiện và điều tra tội phạm cụ thể thuộc chức năng của cảnh sát hình sự
Tác giả: Nguyễn Văn Cảnh
Nhà XB: Nxb phòng QLKH&Đào tạo SĐH
Năm: 2001
15. Lê Cảm (2003), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, Nxb Quốc Gia Hà Nội, Đại học Quốc gia khoa Luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2003
16. Vũ Gia Hiền (2005), Tâm lí học và chuẩn hành vi, Nxb Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học và chuẩn hành vi
Tác giả: Vũ Gia Hiền
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2005
17. Nguyễn Thừa Hiệp (2007), Con người và quy luật, Nxb Tổng hợp, Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người và quy luật
Tác giả: Nguyễn Thừa Hiệp
Nhà XB: Nxb Tổng hợp
Năm: 2007
18. Khoa Luật Hình sự (2008-2009), Tập bài giảng Tội phạm học, trường Đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng Tội phạm học
19. Trần Văn Nhum (2010), Đấu tranh phòng chống tội phạm trộm cắp tài sản trên tỉnh Bình Phước, trường Đại học Luật Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đấu tranh phòng chống tội phạm trộm cắp tài sản trên tỉnh Bình Phước
Tác giả: Trần Văn Nhum
Năm: 2010
20. Nguyễn Thị Thanh Thủy (1996), Nhân thân người phạm tội trong tội phạm học, trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân thân người phạm tội trong tội phạm học
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Thủy
Năm: 1996
21. Lương Ngọc Trâm (1998), Nhân thân người phạm tội trong tội phạm học, Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân thân người phạm tội trong tội phạm học
Tác giả: Lương Ngọc Trâm
Năm: 1998
22. Trường Đại học Luật Hà Nội (2007), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam tập 2, Nxb CAND Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam tập 2
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb CAND
Năm: 2007
23. Đinh Văn Quế (2006), Bình luận khoa học BLHS 1999 tập 2, Nxb Tổng hợp TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học BLHS 1999 tập 2
Tác giả: Đinh Văn Quế
Nhà XB: Nxb Tổng hợp TP.Hồ Chí Minh
Năm: 2006
24. Lý Văn Quyền (2008), Giáo trình tội phạm học, Nxb CAND, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tội phạm học
Tác giả: Lý Văn Quyền
Nhà XB: Nxb CAND
Năm: 2008
25. Khoa Luật hình sự (2008-2009), Tập bài giảng Tội phạm học, Trường Đại học Luật Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: ập bài giảng Tội phạm học
5. Bộ Luật Hình sự năm 1999, được sữa đổi, bổ sung năm 2003 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm