Nghiên cứu thành công luận văn „„Tìm hiểu sự nghiệp giáo dục ở các tỉnh miền núi phía Bắc trong mười năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội (1954 - 1964)”, chúng tôi hy vọng sẽ góp một phần[r]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- DUY THỊ HẢI HƯỜNG
TÌM HIỂU SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC Ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC TRONG MƯỜI NĂM ĐẦU XÂY DỰNG
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI (1954 - 1964)
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam cận hiện đại
Mã số: 60 22 54
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Thị Nguyệt Quang
Hà Nội – 2009
Trang 21.1 Điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến quá trình
xây dựng và phát triển giáo dục miền núi
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
1.2 Khái quát về giáo dục các tỉnh miền núi phía Bắc trước năm 1954
1.2.1 Giáo dục các tỉnh miền núi phía Bắc dưới thời Pháp thuộc
1.2.2 Chủ trương của Đảng về xây dựng nền giáo dục Việt Nam, giáo dục
Chương 2 Xây dựng và phát triển giáo dục các tỉnh miền núi phía Bắc trong
giai đoạn khôi phục kinh tế và cải tạo xã hội chủ nghĩa (1954 - 1960)
Trang 32.1 Vài nét về kinh tế - xã hội các tỉnh miền núi phía Bắc sau hòa bình lập
2.3 Những thành tựu bước đầu của ngành giáo dục các tỉnh miền núi phía
Bắc trong những năm khôi phục kinh tế và cải tạo xã hội chủ nghĩa (1954 -
1960)
2.3.1 Giáo dục bình dân
2.3.2 Giáo dục phổ thông
Chương 3 Phát triển giáo dục các tỉnh miền núi phía Bắc trong những năm thực hiện
kế hoạch năm năm lần thứ nhất (1961 - 1964)
3.1 Tình hình kinh tế - xã hội ở các tỉnh miền núi phía Bắc sau giai đoạn
khôi phục kinh tế và cải tạo xã hội chủ nghĩa
3.2 Đường lối xây dựng nền giáo dục xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, trong đó
có miền núi, vùng cao
3.2.1 Đường lối xây dựng nền giáo dục xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc
3.2.2 Chủ trương phát triển giáo dục của Đảng và Nhà nước đối với miền
Trang 43.3 Giáo dục các tỉnh miền núi phía Bắc trong những năm thực hiện kế
hoạch năm năm lần thứ nhất (1961 - 1964)
1 Bảng 2.1 Bảng thống kê số học sinh biết đọc, biết viết trên địa bàn nông
thôn trong sáu tháng cuối năm 1954
2 Bảng 2.2 Số người biết đọc, biết viết so với kế hoạch 6 tháng đầu năm
1956
3 Bảng 2.3 Số cán bộ được đào tạo qua các trường bổ túc văn hóa của Khu
từ năm 1959 đến năm 1960
4 Bảng 2.4 Bảng thống kê tình hình vỡ lòng trong năm học 1959 - 1960
5 Bảng 2.5 Bảng thống kê trường và học sinh phổ thông của sáu tỉnh miền
núi phía Bắc từ năm 1955 đến năm 1960
6 Bảng 2.6 Bảng thống kê học sinh dân lập các lớp 1, 2, 3 của các tỉnh miền
núi trong năm học 1960 - 1961
7 Bảng 3.1 Bổ túc văn hóa các cấp của các tỉnh trong năm 1963
8 Bảng 3.2 Bảng thống kê tỷ lệ học sinh vỡ lòng trong năm học 1961 - 1962
9 Bảng 3.3 Bảng thống kê số lớp học và học sinh vỡ lòng năm học 1964
Trang 510 Bảng 3.4 Bảng so sánh trường học, lớp học và học sinh phổ thông cấp 1
trong năm học 1959 - 1960 và 1964 - 1965
11 Bảng 3.5 Bảng thống kê trường học, lớp học và học sinh cấp 1 của tỉnh
Cao Bằng từ năm 1960 đến năm 1964
12 Bảng 3.6 Bảng thống kê học sinh người dân tộc thiểu số học cấp 2 trong
hai năm học 1960 - 1961 với 1963 - 1964
13 Bảng 3.7 Bảng thống kê trường học, lớp học và học sinh cấp 3 của Khu
trong hai năm học 1960 - 1961 và 1963 - 1964
14 Bảng 3.8 Số học sinh học xen kẽ hai thứ chữ quốc ngữ và chữ Tày -
Nùng từ năm 1962 đến năm 1965
15 Bảng 3.9 Bảng thống kê tỷ lệ học sinh lên lớp ở trường học xen kẽ với
trường học thẳng chữ quốc ngữ từ năm 1962 đến năm 1965
16 Bảng 3.10 Bảng thống kê số lượng học sinh người dân tộc thiểu số
theo học tại các trường thiếu nhi vùng cao từ năm 1961 đến năm
1964
17 Bảng 3.11 Bảng thống kê trường học, học sinh người dân tộc thiểu
số trong hai năm 1960 và 1963
18 Bảng 3.12 Bảng thống kê số giáo sinh cấp 2 được đào tạo tại các
trường
19 Bảng 3 13 Tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số so với dân số
20 Bảng 3.14 Bổ túc văn hóa các cấp của các tỉnh trong năm 1963
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thời đại nào cũng vậy, giáo dục luôn có vị trí quan trọng và là nhân tố để thúc đẩy sự phát triển của mỗi quốc gia Vì vậy, trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, ông cha ta sớm có ý thức về vai trò của giáo dục - đào tạo và quan niệm rằng muốn xây dựng đất nước, mở mang kinh tế thì phải đào tạo
và bồi dưỡng người tài, bởi „„hiền tài là nguyên khí của quốc gia‟‟
Kế thừa, phát huy truyền thống trọng giáo dục, trọng nhân tài của ông cha, ngay từ khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được thành lập vào tháng 9 năm 1945 cho đến nay, Đảng và Nhà nước ta cũng luôn quan tâm chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục, luôn coi phát triển giáo dục, đầu tư cho giáo dục - đào tạo, coi giáo dục là quốc sách trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước
Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (năm 1991), Đảng ta đã
khẳng định: "Khoa học và giáo dục đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, là một động lực đưa đất nước thoát
ra khỏi nghèo nàn, lạc hậu, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới» [41, tr 106]
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cũng nhấn mạnh: «Giáo dục và đào tạo phải được xem là quốc sách hàng đầu» [41, tr 139] Trong bài phát biểu tại Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, ngày 19 - 1 - 1996, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười nói rõ: «Đảng và Nhà nước ta luôn luôn coi đầu tư vào con người là đầu tư cơ bản nhất; đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển» [1,
tr 3]
Là một khu vực rộng lớn, nơi sinh sống của nhiều tộc người thiểu số với trình độ phát triển khác nhau, các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam có vị trí quan trọng trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nơi đây vừa là căn cứ địa vừa là nơi diễn ra nhiều chiến dịch lớn góp phần quyết định đến thắng lợi của cuộc
Trang 8kháng chiến, như Chiến dịch Việt Bắc năm 1947, Chiến dịch Tây Bắc năm
1952, Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, v.v Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cùng với nhân dân miền Bắc, đồng bào các dân tộc miền núi đã đóng góp sức mình vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà Thành tựu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa ở miền Bắc bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của nền giáo dục miền Bắc xã hội chủ nghĩa nói chung và giáo dục ở các tỉnh miền núi nói riêng Vì vậy, nghiên cứu giáo dục ở các tỉnh miền núi phía Bắc trong thời kỳ 1954 - 1975 nói chung và giai đoạn 1954 - 1964 nói riêng có
ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn Nghiên cứu thành công vấn đề này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước; hiểu rõ được tầm quan trọng cũng như mối quan hệ của phát triển văn hóa - giáo dục
ở miền núi với việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước, với việc gìn giữ an ninh biên giới và bảo vệ chủ quyền quốc gia Không những thế, nghiên cứu giáo dục ở các tỉnh miền núi phía Bắc còn góp phần giúp chúng ta rút ra những bài học kinh nghiệm cho việc phát triển giáo dục ở miền núi, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay
Từ trước đến nay, mặc dù đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục trong giai đoạn 1954 - 1964 nhưng vẫn chưa có một công trình sử học nào nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về sự lãnh đạo của Đảng, về quá trình xây dựng và phát triển cũng như vai trò, vị trí của giáo dục các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam trong giai đoạn này
Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài «Tìm hiểu sự nghiệp giáo dục ở các tỉnh miền núi phía Bắc trong mười năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội (1954 - 1964)» để làm luận văn thạc sỹ khoa học lịch sử của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trang 9Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1964 là giai đoạn đầu Việt Nam thực hiện hai nhiệm vụ cách mạng là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh chống đế quốc Mỹ cùng tay sai ở miền Nam, thực hiện mục tiêu thống nhất đất nước
Viết về công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và cuộc đấu tranh chống Mỹ xâm lược ở miền Nam trong giai đoạn này có rất nhiều công
trình đề cập đến, như: Viện Sử học “Lịch sử Việt Nam 1954 - 1965”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996; Lê Mậu Hãn (Chủ biên) “Đại cương lịch sử Việt Nam, tập 3 (1945-1995)”, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997; Nguyễn Quang Ngọc (Chủ biên) “Tiến trình lịch sử Việt Nam”, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2000, v.v…
Riêng lĩnh vực văn hóa - giáo dục có một số tác phẩm đã xuất bản và có thể phân loại thành các nhóm công trình sau:
* Nhóm công trình của các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước bàn về giáo dục:
Bàn về giáo dục, Chủ tịch Hồ Chí Minh có những tác phẩm: Hồ Chủ tịch bàn về giáo dục, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1962 và Bàn về công tác giáo dục,
Nxb Sự thật, Hà Nội, 1972 Đây là hai tác phẩm tập hợp những bài viết và bài nói của Người từ năm 1919 đến năm 1969 về giáo dục Qua hai tác phẩm này, Người đã nêu rõ quan điểm của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa về công tác giáo dục, về xây dựng nền giáo dục nhân dân, giáo dục xã hội chủ nghĩa Người khẳng định: Mục đích giáo dục phải phục vụ đường lối chính trị của Đảng và Nhà nước, phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng; Nội dung giáo dục phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, kỹ thuật, lao động và sản xuất Trong nội dung giáo dục, Người nhấn mạnh phải đặc biệt chú trọng về mặt đức dục; Phương pháp giáo dục phải gắn liền với sản xuất
và đời sống của nhân dân, học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tế
Trang 10* Nhóm công trình chuyên khảo về lĩnh vực giáo dục:
Tiêu biểu trong nhóm công trình này là hai tác giả Nguyễn Khánh Toàn và Phạm Minh Hạc
Với tác giả Nguyễn Khánh Toàn có thể kể đến các công trình, như: Những
vấn đề về giáo dục, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1950, Giáo dục tư sản và giáo dục xã hội chủ nghĩa, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1959, Hai mươi năm xây dựng giáo dục, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1965, Sự nghiệp văn hoá, giáo dục, y tế, thể dục thể thao, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1966, Xung quanh một số vấn đề văn học và giáo dục, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1972, Nền giáo dục Việt Nam - lý luận và thực hành,
Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1991, v.v…
Với tác giả Phạm Minh Hạc có thể kể đến những tác phẩm chính sau: Sơ
thảo giáo dục Việt Nam (1945 - 1992), Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1992, Mười năm đổi mới giáo dục, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1996, Về giáo dục, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, Phát triển giáo dục phát triển con người phục vụ phát triển xã hội - kinh tế, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996, Văn hoá và giáo dục, giáo dục
Trang 11và văn hoá, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998, Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa
của thế kỷ 21, Nxb Chính trị Quốc gia, 2002, v.v…
Vấn đề giáo dục còn được nhiều tác giả, các chuyên gia, những người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa - giáo dục cũng như những người đã từng giữ chức vụ
quan trọng trong Bộ Giáo dục đề cập đến, như: Vũ Ngọc Khánh, Tìm hiểu nền giáo dục Việt Nam trước năm 1945, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1945; Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Ba mươi năm nền giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp 1945 - 1975, Hà Nội, 1975; Võ Thuần Nho, Ba mươi lăm năm phát triển sự
nghiệp giáo dục phổ thông, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1980; Vương Kiêm Toàn, Chủ
tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp chống nạn thất học, nâng cao dân trí, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1986; Trần Hồng Quân, Năm mươi năm phát triển sự nghiệp giáo dục
và đào tạo (1945 - 1995), Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1995; Đỗ Thị Nguyệt Quang, Quá trình xây dựng và phát triển nền giáo dục Việt Nam mới từ tháng 9 năm 1945 đến tháng 7 năm 1954 (Luận án Phó Tiến sĩ Khoa học Lịch sử), Viện Sử học, Hà Nội, 1996; Nguyễn Mạnh Tùng, Công cuộc xóa nạn mù chữ và bổ túc văn hóa ở Bắc Bộ (1945 - 1954) (Luận án Phó Tiến sĩ Khoa học Lịch sử), Hà Nội, 1996; Nguyễn Quang Thắng, Khoa cử và giáo dục Việt Nam, Nxb Văn hoá, Hà Nội, 1998; Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo dục Đại học Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2004; Đào Duy Lục, Giáo dục Đại học Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2004; Nguyễn Văn Huyên Toàn tập, Văn hoá và giáo dục Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2005; Bộ Giáo dục và đào tạo, Giáo dục Việt Nam 1945 - 2005, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005; Bùi Minh Hiển, Lịch sử giáo dục Việt Nam, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2005; Phạm Thị Sửu, Sáu mươi năm giáo dục mầm
non Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2006, v.v…
Có thể nói, các công trình nghiên cứu trên đã cung cấp nguồn tƣ liệu qúy về lịch sử giáo dục Việt Nam từ chế độ phong kiến trải qua thời kỳ giáo dục của thực dân đến thời kỳ xây dựng, phát triển trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lƣợc (1945 - 1954), trong thời kỳ kháng chiến
Trang 12chống Mỹ, cứu nước ở miền Nam và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (1954 - 1975) cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay Mặc dù vậy, các công trình trên vẫn chưa nghiên cứu một cách chi tiết, có hệ
thống về giáo dục ở các tỉnh miền núi phía Bắc trong giai đoạn 1954 - 1964
* Ngoài những tác phẩm, bài viết của các các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các công trình chuyên khảo về lịch sử giáo dục kể trên, vấn đề giáo dục còn được đề cập trong nhiều công trình sử học, dân tộc học, kinh tế học, như:
Ba mươi năm phát triển kinh tế và văn hóa của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1978; Việt Bắc - Ba mươi năm chiến tranh cách mạng (1945 - 1975), tập 2, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1992; Những biến đổi về kinh tế, văn hóa ở các tỉnh miền núi phía Bắc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993; Bế Viết Đẳng, Năm mươi năm các dân tộc thiểu số Việt Nam (1945 - 1995), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995; Trần Đức Cường (Chủ biên), Lịch
sử Chính phủ Việt Nam 1955 -1976, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006,
v.v…
Những công trình trên mới chỉ trình bày những nét khái quát về tình hình xây dựng và phát triển của ngành giáo dục nước nhà như một phần của văn hóa - giáo dục nói chung, chưa đi sâu nghiên cứu vấn đề giáo dục của một vùng, một miền cụ thể, nhất là về giáo dục ở các tỉnh miền núi phía Bắc
* Nhóm công trình nghiên cứu về địa phương:
Trong nhón công trình này, có thể kể đến những tác phẩm của Hoàng
Minh Nhất (Chủ biên), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Giang, tập 1 (1939 - 1945), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995; Trương Thanh Sơn (Chủ biên), Lịch
sử Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn (1955 - 1985), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996; Địa chí Lạng Sơn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999; Lê Mậu Hãn (Chủ biên), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
Trang 132000; Phạm Văn Loan, Lịch sử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang (1940 - 1975), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000; Nông Hải Pín (Chủ biên), Địa chí Cao Bằng,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000; Ban Chấp hành Đảng bộ Cao Bằng,
Lịch sử Đảng bộ tỉnh Cao Bằng (1930 - 2000), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003; Tỉnh ủy - Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Địa chí Thái Nguyên, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009, Tỉnh ủy - Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng - Viện Sử học, Lịch sử tỉnh Cao Bằng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009, v.v…
Các công trình trên đề cập tương đối toàn diện về lịch sử xây dựng và phát triển của từng địa phương trên nhiều lĩnh vực, từ vị trí, địa lý, điều kiện
tự nhiên, các vấn đề kinh tế, văn hóa và xã hội đến truyền thống đấu tranh anh dũng cách mạng qua từng giai đoạn lịch sử cũng như trong công cuộc khôi phục, phát triển kinh tế trong thời kỳ hòa bình, đổi mới hiện nay; đề cập đến sự ra đời của Đảng bộ mỗi địa phương và sự lãnh đạo của Đảng bộ đối với nhân dân các dân tộc qua các cuộc kháng chiến của dân tộc
Đây là nguồn tư liệu liên quan trực tiếp đến luận văn nên có giá trị tham khảo cao Tuy nhiên, vấn đề giáo dục trong giai đoạn 1954 - 1964 mà các tác phẩm đề cập đến mới chỉ dừng lại ở mức độ thống kê số lượng trường, lớp, học sinh, giáo viên của từng ngành học, bậc học, chưa phân tích được vị trí, vai trò, tổ chức hoạt động cũng như mối quan hệ biện chứng giữa giáo dục miền núi đối với vấn đề phát triển kinh tế, vấn đề an ninh, quốc phòng
* Các bài viết đăng trên các tạp chí khoa học:
Nguyễn Trọng Hoàng, Chính sách giáo dục của thực dân Pháp ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 96 (1967); Đỗ Thị Nguyệt Quang, Vài nét về quá trình phát triển sự nghiệp giáo dục ở các vùng dân tộc ít người thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (tháng 9 năm 1945 đến tháng 5 năm 1954),
Trang 14Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 4 (1981); Phan Trọng Báu, Vài nét về giáo dục Lạng Sơn thời thuộc Pháp, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 4 (2002); Phạm Công Đam, Phát triển giáo dục ở vùng cao Hà Giang, Tạp chí Thương mại, số 47 (2004); Phan Trọng Báu, Giáo dục vùng dân tộc ít người ở Việt Nam thời thuộc Pháp, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 7 (2005); Hà Thị Minh Hương, Giáo dục cơ bản vùng dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc, Tạp chí Khoa học về Phụ nữ, số 5 (2005); Ngọc Quang, Sở Giáo dục - đào tạo Cao Bằng những bước tiến trong sự nghiệp trồng người, Tạp chí Đông Nam Á, số 7 (2005), v.v…
Các bài viết trên đề cập khá chi tiết những khía cạnh của giáo dục ở miền núi, như: chính sách giáo dục của thực dân Pháp; quá trình xây dựng và phát triển giáo dục ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số của cả nước trong kháng chiến chống thực dân Pháp; xây dựng và phát triển giáo dục của từng tỉnh miền núi dưới thời Pháp thuộc cũng như trong giai đoạn hiện nay, v.v… Tuy nhiên, những bài viết trên chưa đề cập hệ thống, chi tiết đến giáo dục của các tỉnh miền núi phía Bắc trong giai đoạn 1954 - 1964
Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa kết quả nghiên cứu của những công trình khoa học kể trên, chúng tôi chọn vấn đề giáo dục ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam trong giai đoạn 1954 - 1964 làm luận văn nghiên cứu
3 Đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu về công tác giáo dục ở sáu tỉnh miền núi phía Bắc là: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang
và Hà Giang trong mười năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội (1954 - 1964) Nội dung mà luận văn nghiên cứu, giải quyết là việc xây dựng hệ thống giáo dục và công tác xóa mù chữ, bổ túc văn hóa và giáo dục phổ thông ở các địa phương nêu trên
Trang 153.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu giáo dục ở các tỉnh miền núi phía Bắc từ sau khi hoà bình lập lại năm 1954 đến trước khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc năm 1964 Mặc dù vậy, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi thấy có nhiều sự kiện lịch sử kéo dài đến năm 1965 mới kết thúc nên chúng tôi tìm hiểu đến năm 1965
- Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu giáo dục ở sáu tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, đó là: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang và Hà Giang Luận văn chọn sáu tỉnh này, bởi các tỉnh
đó có chung đặc điểm là trong kháng chiến chống thực dân Pháp đều thuộc khu căn cứ địa Việt Bắc nên công tác văn hóa - giáo dục có những đặc điểm chung Sau hòa bình lập lại, đến năm 1956, sáu tỉnh này được sáp nhập thành Khu Tự trị Việt Bắc Khu là một đơn vị hành chính độc lập, có bộ máy chính quyền riêng nên việc chỉ đạo công tác giáo dục sẽ thống nhất và ổn định hơn
3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu quá trình xây dựng và phát triển giáo dục của các tỉnh miền núi phía Bắc từ năm 1954 đến năm 1964, cụ thể là: Chủ trương của Đảng về xây dựng nền giáo dục xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc nói chung và giáo dục ở các tỉnh miền núi nói riêng; Quá trình xây dựng và phát triển của ngành học giáo dục bình dân (gồm hai bậc học là xóa nạn mù chữ và bổ túc văn hóa) và giáo dục phổ thông (gồm các bậc học mẫu giáo, vỡ lòng, cấp 1, cấp 2 và cấp 3); Công tác đào tạo giáo viên, biên soạn sách giáo khoa cũng như những khó khăn, hạn chế của giáo dục miền núi qua hai giai đoạn 1954 -
1960 và 1961 - 1964 Từ đó luận văn rút ra những bài học kinh nghiệm cho công tác xây dựng và phát triển giáo dục miền núi, vùng đồng bào thiểu số trong giai đoạn hiện nay
Trang 164 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu:
Để thực hiện luận văn này, bên cạnh việc tham khảo, kế thừa những công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước, chúng tôi chủ yếu dựa vào các nguồn tư liệu chính sau:
- Các văn kiện của Đảng và Nhà nước, các văn bản của Bộ Giáo dục về xây dựng nền giáo dục xã hội chủ nghĩa từ năm 1954 đến năm 1964 qua Văn kiện Đảng toàn tập và Công báo nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
- Nguồn tư liệu khai thác tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III
- Nguồn tư liệu từ sách, báo, tạp chí, luận văn thạc sỹ lịch sử, luận án tiến sĩ lịch sử
- Ngoài ra, chúng tôi còn khai thác và sử dụng các nguồn tài liệu khác
có liên quan
4.2 Phương pháp nghiên cứu:
- Về cơ sở lý luận: Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi dựa trên cơ
sở tư tưởng và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng để nghiên cứu, trong đó đặc biệt coi trọng đường lối giáo dục và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta
- Về phương pháp: Để thực hiện luận văn này, chúng tôi chủ yếu sử
dụng phương pháp nghiên cứu chuyên ngành là phương pháp lịch sử và phương pháp logíc Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, v.v…
5 Đóng góp của luận văn
Trang 17Nghiên cứu thành công luận văn „„Tìm hiểu sự nghiệp giáo dục ở các tỉnh miền núi phía Bắc trong mười năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội (1954 - 1964)”, chúng tôi hy vọng sẽ góp một phần nhỏ vào việc phục dựng bức tranh
toàn cảnh về nền giáo dục ở miền Bắc trong những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội; Làm rõ hơn đường lối, chính sách phát triển giáo dục của Đảng
và Nhà nước đối với đồng bào miền núi Trên cơ sở đó, luận văn rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm góp phần thúc đẩy sự nghiệp giáo dục các tỉnh miền núi, vùng cao hiện nay
Luận văn cũng cung cấp thêm tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập về lịch sử giáo dục, lịch sử địa phương
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, luận văn được bố cục gồm ba chương:
Chương 1 Khái quát về giáo dục các tỉnh miền núi phía Bắc trước năm 1954
Chương 2 Xây dựng và phát triển giáo dục các tỉnh miền núi phía Bắc trong giai đoạn khôi phục kinh tế và cải tại xã hội chủ nghĩa (1954 - 1960)
Chương 3 Phát triển giáo dục các tỉnh miền núi phía Bắc trong những năm thực hiện kế hoạch năm năm lần thứ nhất (1961 - 1964)
Trang 181.1.1 Điều kiện tự nhiên
Nằm ở phía Đông Bắc của Tổ quốc, sáu tỉnh miền núi Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang và Hà Giang có những đặc thù riêng, cả về điều kiện địa lý, tự nhiên cũng như về kinh tế - xã hội khác với các vùng khác của đất nước
Đặc điểm địa hình nổi bật của sáu tỉnh là đồi núi được cấu tạo từ đá phiến, đá cắt và đá biến chất Ngoài ra còn có vùng đá vôi tập trung ở một số huyện Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang); huyện Quảng Hòa (Cao Bằng) và huyện Tràng Định (Lạng Sơn) Là các tỉnh miền núi nên phần lớn các tỉnh nằm ở độ cao từ hàng trăm mét trở lên so với mặt nước biển Địa hình của vùng thấp dần theo chiều từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông
Trong sáu tỉnh đó, có những tỉnh miền núi và những tỉnh trung du với những đặc điểm cũng khác nhau Ở những tỉnh miền núi, như Cao Bằng, Hà Giang, v.v… đại bộ phận diện tích tự nhiên là núi cao, rừng rậm, trong khi đó
ở Thái Nguyên thì hầu hết là những vùng đồi trải rộng Địa hình mỗi tỉnh lại chia ra làm hai vùng rõ rệt là vùng thấp và vùng cao Vùng cao, địa hình hiểm trở, núi non trùng điệp, bốn bề là những dãy núi đá, khí hậu khắc nghiệt, giao thông khó khăn, dân cư sống phân tán Vùng thấp, thiên nhiên ưu đãi hơn so
Trang 19với vùng cao Ở đây có những ruộng bậc thang, khí hậu bớt lạnh hơn, giao thông thuân tiện, cư dân sống tập trung, quây quần hơn
Hệ thống sông, suối ở đây cũng khá dày, có độ nông, sâu không đều,
độ dốc lại lớn (do chảy theo độ nghiêng của địa hình) nên tạo thành nhiều ghềnh thác Vào mùa mưa, mưa lớn từ đầu nguồn đổ về gây lũ rất nguy hiểm, ảnh hưởng đến sản xuất, giao lưu hàng hóa cũng như các hoạt động khác của
nhân dân, trong đó có công tác giáo dục Về mùa đông, do ít mưa, các khe suối
thường khô hạn không có nước, khiến nhiều vùng cao của các tỉnh miền núi, như huyện Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang) thường xuyên thiếu nước cho sản xuất và sinh hoạt Chế độ mưa ở đây khá phong phú Trung bình lượng mưa hàng năm khoảng 2.300 - 2.400 mm Độ ẩm bình quân hàng năm đạt 85% và
sự dao động cũng không lớn
Về khí hậu Đặc điểm nổi bật là khí hậu ở đây khá khắc nghiệt Nhiệt
độ trung bình trong năm từ 21,6 0 C đến 23,9 0 C; biên độ nhiệt dao động trong năm khoảng 10 0 C và trong ngày từ 6 - 7 0 C Mùa nóng nhiệt độ cao tuyệt đối lên đến 40 0 C (thường vào các tháng 6, 7) Mùa lạnh nhiệt độ thấp tuyệt đối khoảng 2,2 0 C (thường vào tháng giêng của năm), thậm chí có năm nhiệt độ còn xuống đến không độ C Khi rét đậm, sản xuất gặp nhiều khó khăn thì cũng là thời gian nghỉ đông của các trường, trời ấm lên một chút học sinh có thể đi học tương đối dễ dàng nhưng lại là lúc nhân dân bận rộn sản xuất, vì thế người lớn ít thì giờ đi học, nhiều gia đình lại cho cả con nghỉ để sản xuất cho kịp thời vụ
1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Đây là nơi sinh sống của hơn hai mươi dân tộc thiểu số với trình độ phát triển khác nhau, trong đó đông nhất là dân tộc Tày và dân tộc Nùng còn lại là các dân tộc như Dao, H „ Mông, Cao Lan, Nhắng, Quần trắng, v.v Dù
Trang 20tiếng nói, phong tục và tập quán khác nhau, trình độ phát triển xã hội chênh lệch nhau, nguồn gốc lịch sử có chỗ khác nhau nhưng đồng bào các dân tộc đã chung sống từ lâu đời nên có tinh thần đoàn kết, thương yêu lẫn nhau Đồng bào có tinh thần yêu nước và truyền thống cách mạng Trong sản xuất, họ lao động cần cù, chịu khó
Trình độ kinh tế thấp, chủ yếu vẫn là tự cung tự cấp, công cụ sản xuất thô sơ, thậm chí ở vùng cao, hẻo lánh vẫn còn sống du canh, du cư, dựa vào thiên nhiên là chính Cây trồng chủ yếu là ngô và lúa nương còn các loại hoa màu khác thì hầu như không sản xuất vì thú rừng phá hoại, nắng hạn kéo dài
Ở vùng cao tình trạng sản xuất và đời sống của đồng bào còn khó khăn hơn
Do đặc điểm tự nhiên chủ yếu là núi đá, đất canh tác hầu như không có nên đồng bào vẫn sản xuất theo phương pháp “thổ canh hốc đá” tức là cách trồng xen kẽ cây lương thực ở núi đá Không những thế, diện tích đất canh tác theo đầu người cũng rất ít Ở vùng núi đá huyện Nguyên Bình (Cao Bằng) có 6 xã, bình quân mỗi đầu người chỉ được trên một sào “thổ canh hốc đá” Sản xuất kém phát triển nên hàng năm, đồng bào thiếu ăn thường xuyên, nhất là những hộ ở vùng cao, có gia đình thiếu ăn tới sáu, bảy tháng trong một năm
Sự phân bố dân cư quá thưa, cư trú phân tán cũng là một trong những nguyên nhân gây khó khăn cho công tác xây dựng và phát triển giáo dục Theo ước tính, mật độ dân số của các tỉnh miền núi rất thấp Ở huyện Mèo Vạc (Hà Giang) khoảng 19 người trên một kilômét vuông Một vài huyện khác, như huyện Bảo Lạc (Cao Bằng) còn thấp hơn, chỉ có 7 người trên một kilômét vuông Các gia đình sống không tập trung, nhà này cách nhà kia thường phổ biến là 3, 4 kilômét Từ làng, bản đến trung tâm huyện, xã cũng rất xa, phổ biến từ 10 đến 12 kilômét, có nơi như xã Cao Bồ, huyện Vị Xuyên (Hà Giang) cách đến 30 kilômét Từ xã lên đến huyện cũng rất xa, có nơi như huyện Nguyên Bình, Bảo Lạc tỉnh Cao Bằng; huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang
Trang 21và huyện Na Hang tỉnh Tuyên Quang xa đến 50, 60 kilômét Trong khi đó, đường giao thông từ huyện đến xã rất khó khăn, chủ yếu là đường đất, đi bộ
Gắn liền với sự lạc hậu về kinh tế là tình trạng lạc hậu về văn hóa Bên cạnh sự bần cùng là nạn thất học trầm trọng Tính đến năm 1945, có đến 95% dân số các dân tộc miền núi bị mù chữ Không những thế, đồng bào còn bị bó buộc bởi các phong tục tập quán lạc hậu và các tệ nạn xã hội khác
Những đặc điểm về điều kiện tự nhiên và xã hội trên đây gây rất nhiều khó khăn cho công tác xây dựng và phát triển giáo dục ở các tỉnh miền núi Trình độ kinh tế và dân trí thấp, sản xuất gặp nhiều khó khăn do thời tiết, khí hậu, đời sống của đồng bào còn rất thấp nên khó có điều kiện cho con em đi học Hơn nữa, trẻ em từ khi mới lớn lên đã phải tham gia lao động nương rẫy cùng với cha mẹ để đảm bảo cho gia đình có lương thực, thực phẩm Nếu để trẻ em đi học chữ thì không những gia đình phải mất một khoản kinh phí nào
đó cho việc học tập mà mất đi một lao động có khả năng sản xuất ra của cải vật chất Mật độ dân cư quá thấp, đồng bào sống phân tán, không tập trung trong một địa bàn nhất định nên việc xây dựng trường, lớp cũng như đội ngũ giáo viên đòi hỏi nhiều hơn các vùng đông dân cư Về phía chính quyền, sự phân bố dân cư không tập trung như vậy sẽ khiến cho việc quản lý, hướng dẫn công tác giáo dục khó khăn hơn, mất nhiều thời gian hơn, v.v…
1.2 Khái quát về giáo dục các tỉnh miền núi phía Bắc trước năm 1954
1.2.1 Giáo dục các tỉnh miền núi phía Bắc dưới thời Pháp thuộc
Từ giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm lược và tiến hành cai trị nước ta Mục đích của chúng là nô dịch nhân dân Việt Nam, biến đất nước ta thành một thị trường tiêu thụ hàng hóa để bóc lột và đầu tư, sản sinh lợi nhuận nhanh chóng, phục vụ cho thế lực tư bản tài chính đang thống trị nước Pháp
Trang 22Để đạt được mục đích trên, cùng với việc đẩy mạnh công nghiệp khai thác, bóc lột kinh tế, Pháp tiến hành ngay các hoạt động giáo dục Theo thực dân Pháp, muốn đô hộ một dân tộc, nhất là một dân tộc đã có một nền văn hóa lâu đời thì phải chọn giáo dục để làm công cụ chinh phục
Những văn bản dưới đây sẽ nói rõ mục đích của thực dân Pháp khi mở trường, lớp, xây dựng giáo dục ở các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam:
Năm 1906, trong Báo cáo của chính quyền thuộc địa Pháp ở Đông Dương,
đọc tại Hội nghị thuộc địa (Paris) ghi rõ: "Giáo dục là một công cụ chắc chắn và
mạnh nhất trong tay người đi chinh phục ( ) Chúng ta (tức người Pháp - TG) phải làm cho họ (tức là người bản xứ Đông Dương - TG) tiêm nhiễm tư tưởng của chúng ta, dạy cho họ biết tiếng nói của chúng ta và, do đó, phải bắt đầu làm việc
này từ nhà trường, trước hết là cho trẻ em" [84, tr 10]
Ngày 18 - 4 - 1912, trong Báo cáo của Pêran, Giám đốc Học chính Bắc kỳ gửi Toàn quyền Đông Dương cũng nói rõ mục đích việc tổ chức giáo dục ở thuộc
địa là nhằm: "Đào tạo những công chức bản xứ hạ đẳng, những giáo viên sơ cấp,
những thông ngôn và thư ký để làm cho bộ máy cai trị, cho các nhà buôn” [84, tr 10]
Ngày 10 - 10 - 1920, Toàn quyền Anbe Xarô viết trong một văn bản có đoạn như sau: "Phát triển giáo dục phải nhằm nhiệm vụ đào tạo những công chức bản xứ mà công quỹ thuộc địa phải đài thọ nhẹ hơn” [84, tr 10 - 11]
Chủ trương trên thể hiện chính sách ngu dân triệt để của thực dân Pháp đối với nhân dân ta Chính quyền thực dân hạn chế phát triển giáo dục, thu hẹp việc
mở trường lớp đến mức tối thiểu và kiểm soát gắt gao; ra sức ngăn chặn sự ảnh hưởng của tất cả các loại tư tưởng tiến bộ trên thế giới thâm nhập vào Việt Nam bằng bất cứ con đường nào Chúng cấm tất cả các loại sách báo tiến bộ, dù là theo chiều hướng tư sản, thâm nhập vào Việt Nam Không những chỉ có các tác phẩm nói về chủ nghĩa Mác - Lênin nói về Liên Xô, v.v… bị cấm mà ngay cả những tác phẩm chống chủ nghĩa phát xít, thậm chí một số tác phẩm của các nhà tư tưởng tư