1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự biến đổi các hình thức cưới hỏi trong hôn nhân việt nam xưa và nay

19 148 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 828,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho tới ngày nay, lễ cưới vẫn là không thể thiếu khi hai người tiến tới hôn nhân, nhưng do đất nước có nhiều biến chuyển, hòa mình với quá trình hội nhập với các nước bên ngoài, đặc biệt là sự du nhập của văn hóa phương Tây khiến cho người ta có tư tưởng cởi mở, thoải mái hơn trước kia. Vì vậy mà các thủ tục trong lễ cưới đã được đơn giản hóa đi nhiều mà vẫn không làm giảm đi ý nghĩa thiêng liêng, trọng đại của ngày cưới.bên cạnh những nét đẹp của phong tục cưới hỏi vẫn được gìn giữ thì hiện nay đã có những biến đổi tiêu cực có thể làm mất đi những nét đẹp văn hóa truyền thống trong phong tục này của người Việt.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Từ xa xưa, hôn nhân đã được coi là một vấn đề trọng đại trong cuộc đời của mỗi người khi trưởng thành "tậu trâu, lấy vợ, làm nhà", đó là sự gắn kết giữa hai con người lại với nhau để xây dựng một gia đình mới ấm no hạnh phúc…

Để hai người có thể chính thức trở thành vợ, thành chồng thì việc cưới hỏi được xem là một hình thức vô cùng quan trọng nhằm công bố,thông báo cho họ hàng, bạn bè, láng giềng biết việc kết hôn và chung vui với đôi trẻ cùng gia đình Lễ cưới gồm nhiều thủ tục được ông bà ta coi trọng, vì vậy mà có nhiều thủ tục còn

có nhiều bất cập Cho tới ngày nay, lễ cưới vẫn là không thể thiếu khi hai người tiến tới hôn nhân, nhưng do đất nước có nhiều biến chuyển, hòa mình với quá trình hội nhập với các nước bên ngoài, đặc biệt là sự du nhập của văn hóa phương Tây khiến cho người ta có tư tưởng cởi mở, thoải mái hơn trước kia Vì vậy mà các thủ tục trong lễ cưới đã được đơn giản hóa đi nhiều mà vẫn không làm giảm đi ý nghĩa thiêng liêng, trọng đại của ngày cưới.bên cạnh những nét đẹp của phong tục cưới hỏi vẫn được gìn giữ thì hiện nay đã có những biến đổi tiêu cực có thể làm mất đi những nét đẹp văn hóa truyền thống trong phong tục này của người Việt Vì vậy tôi đã quyết định lựa chọn vấn đề nghiên cứu :" sự biến đổi các hình thức cưới hỏi trong hôn nhân Việt Nam xưa và nay " với mong muốn là đưa ra được chi tiết những biến đổi trong hình thức cưới hỏi, nêu ra được những nét đẹp và những gì còn hạn chế trong hình thức cưới hỏi, đưa ra phương hướng của vấn đề

Trang 2

NỘI DUNG

1 Tổng quan tài liệu

Đã có rất nhiều bài viết nói về sự khác nhau giữa hình thức cưới hỏi xưa và nay, tuy nhiên lại không có nhiều bài nghiên cứu về vấn đề này Chính vì vậy

mà bài làm chủ yếu tham khảo từ một số bài viết trên các trang mạng điện tử vì những nghiên cứu chính thức chưa có nhiều

Tuy vậy, qua đó chúng ta vẫn có thể hình dung một cách dễ dàng về những hình thức cưới hỏi xưa và nay có sự khác nhau như thế nào và ý nghĩa của những hình thức này qua một số bài viết của Nguyễn Thanh Phong với bài

“phong tục cưới xưa và nay” trên trang web của Cục Văn hóa cơ sở, bài viết của tác giả Ngô Phú ở mục KẾT NỐI XƯA & NAY báo Pháp luật số 44 ( 23/7/2012 ) và bài viết “lễ cưới hỏi xưa và nay” trên trang web cuộc sống việt…

Bài viết của tác giả Nguyễn Thanh Phong đã chỉ ra những khó khăn, phiền

hà gây tốn kém trong việc xây dựng hạnh phúc cho con cái trong giai đoạn xưa

và ngày nay lấy ví dụ điển hình ở nhiều nơi trong nước Bài viết được bố cục theo sự phát triển của dòng lịch sử từ xa xưa tới từng thời kì từ trước, sau cách mạng tháng Tám, trong giai đoạn 1957-1958 tới khi hòa bình thống nhất (1975)

và ngày nay Tác giả đã chỉ ra những biến đổi trong hình thức cưới xin và chủ yếu đề cập tới những hình thức gây phiền hà, tốn kém trong việc dựng vợ gả chồng cho con cái mình của nhiều gia đình mà chủ yếu là “ tình trạng một số cán

bộ, Đảng viên có chức, có quyền từ trên xuống dưới chưa thật sự gương mẫu chấp hành Chỉ thị, Nghị quyết của cấp trên Vẫn còn tình trạng “vụ lợi” trong việc cưới Họ mời tràn lan tất cả các đại diện cơ quan, Ban, Ngành, đoàn thể và bạn bè người thân đến chúc mừng.” trong giai đoạn hiện nay, gây ra nhiều lời bàn tán không hay và suy nghĩ tiêu cực về lễ cưới-ngày lễ thiêng liêng của những đôi vợ chồng trẻ

Còn với bài viết của tác giả Ngô Phú, chúng ta có thể hình dung ra được sự thay đổi của hình thức cưới xin từ xưa tới nay, những hình thức cưới xin, các thủ tục rườm rà gây phiền hà đã được cắt giảm đi cho phù hợp với lối sống hiện đại

Trang 3

ngày nay mà vẫn đảm bảo tính nguyên vẹn và thiêng liêng của lễ cưới Việt Nam, cùng với đó tác giả đi giải thích một số hình thức được thực hiện trong ngày cưới từ xưa mà ngày nay người ta vẫn còn lưu giữ như thủ tục mẹ chồng đón con dâu hay “vì sao mẹ đẻ cô dâu không tiễn con về nhà chồng?”

Một bài so sánh khác trên trang Cuộc sống Việt đã chia sẻ đó là những nghi thức cưới hỏi xưa và nay được tác giả lấy ví dụ điển hình tại Hà Nội như một minh chứng sinh động và chân thực về nghi thức cưới hỏi và sự biến đổi so với trước kia của người dân ở đây

Như vậy, chỉ với một vài bài viết các tác giả đã chỉ ra được những biến đổi của hình thức cưới hỏi trong hôn nhân của người Việt từ xưa tới nay Tuy nhiên, các bài viết mới chỉ đề cập tới sự biến đổi trong một vài khía cạnh khác nhau mà chưa đưa ra những lí giải cho sự thay đổi đó Chính vì vậy mà bài nghiên cứu này sẽ làm rõ hơn “sự biến đổi các hình thức cưới hỏi trong hôn nhân ở Việt Nam xưa và nay”

2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu tư liệu, phân tích tổng hợp các công trình liên quan của các tác giả đi trước

Phương pháp phỏng vấn sâu

Câu hỏi phỏng vấn:

Bạn thấy hôn nhân hiện nay có sự thay đổi so với trước kia không? Nếu có thì thay đổi như thế nào?

Theo bạn nguyên nhân nào dẫn đến sự biến đổi đó? Theo bạn những biến đổi trong hôn nhân hiện nay có những điểm tích cực và hạn chế như thế nào? Đối tượng phỏng vấn: tập trung phỏng vấn những người đã kết hôn

Tiến hành phỏng vấn tại công viên Cầu Giấy( 1 số địa điểm khác: quanh tổ dân phố, tại nhà, )

Phương pháp quan sát: kết hợp với phương pháp phỏng vấn sâu

Trang 4

3 Những kết quả chính thu được

3.1 Một số khái niệm cơ bản

Trước hết, để thấy được sự biến đổi trong hình thức cưới hỏi thì phải hiểu những khái niệm quan trọng về vấn đề này như “hôn nhân” và “lễ cưới” là gì? Dưới đây là những khái niệm mà bài làm xin được chỉ ra

3.1.1 Hôn nhân

Hôn nhân là sự kết hợp đặc biệt giữa một nam và một nữ dựa trên nguyên tắc bình đẳng, tiến bộ, một vợ một chồng nhằm xây dựng gia đình hòa thuận ,hạnh phúc và bền vững Hôn nhân được khởi đầu bằng một sự kiện pháp lý là kết hôn và kết thúc bằng một sự kiện pháp lý là li hôn (hoặc một trong hai người chết) Trước đây, hôn nhân của đôi trai gái chủ yếu là do cha mẹ sắp đặt dựa trên những cơ sở về đạo đức, môn đăng hộ đối về tuổi, nhà trai muốn chọn vợ cho con thì xem chỗ nào môn đăng hộ đối, tuổi không xung khắc nhau mới mượn người mối Mối lái nói với cha mẹ người con gái nếu họ bằng long gả thì nhà trai mới đem trầu cau đến dạm Quan niệm “môn đăng hộ đối” được dựa theo nguyên tắc địa vị xã hội và điều kiện kinh tế của nhà gái có thể thấp hơn nhà trai nhưng không có chuyện ngược lại

Tuổi tác cũng được xem là một tiêu chuẩn quan trọng (tuổi tác bố mẹ cô dâu chú rể) vì khi quan hệ thông gia đã được xác lập thì sẽ thay đổi cách xưng

hô giữa hai gia đình và tộc họ Nếu như cách biệt tuổi quá lớn thì người ta cũng không làm thông gia với nhau Ngoài những tiêu chí trên thì người ta còn chú trọng đến tình trạng sức khỏe của gia đình, anh em trong gia đình, vấn đề dòng

họ như thế nào?

Các tiêu chuẩn này được đúc kết lại trong quan niệm “lấy vợ xem tông, lấy chồng xem giống” Hợp tuổi là tiêu chuẩn quan trọng thứ hai sau ‘môn đăng hộ đối” trong việc kén rể, chọn dâu của các cụ ngày xưa Việc xem tuổi ở đây không phải là sự chênh lệch tuổi tác giữa hai người mà quan trọng là tuổi cầm tinh con gì ở mỗi người tính theo hệ can chi của âm lịch (12 con giáp- xem có hợp nhau không, ví dụ nếu chồng tuổi chuột, vợ tuổi mèo thì họ sợ sau này “mèo

Trang 5

vồ chuột” người chồng sẽ bị vợ lấn át,…) Hơn nữa, nếu tuổi hai người hợp nhau thì đồng nghĩa với việc gia đình hòa thuận, thậm chí ảnh hưởng tới đường con cái, tính mạng của nhau… Quan niệm “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, con cái phải nghe theo sự sắp đặt của bố mẹ từ ngày xưa dường như đã trở thành nếp suy nghĩ ở trong đầu con cái chính vì vậy mà hầu hết các cuộc hôn nhân ngày xưa được áp đặt theo hình thức này mà không nhận được sự phản kháng nào từ con cái dù cho có những cuộc hôn nhân mà cô dâu cho tới ngày cưới mới biết mặt chồng mình Chỉ có một số gia đình tại thành phố con cái được học tập và sống trong môi trường hiện đại hơn so với nông thôn thì có những đôi trẻ tự tìm được người chồng, người vợ cho mình nhưng phải thông qua sự đồng ý của cha

mẹ Ngày nay, việc kết hôn của con cái chủ yếu là do đôi trẻ tự tìm hiểu kĩ càng sau đó mới đưa về ra mắt bố mẹ và xin cưới Tuy vậy, việc nghe theo sự sắp xếp của cha mẹ vẫn còn nhưng không còn khắt khe như trước bởi cha mẹ sắp xếp nhưng phải có sự vui vẻ chấp thuận của con cái khi cuộc hôn nhân đó mới thành…

3.1.2 Lễ cưới

Lễ cưới hay đám cưới là một phong tục văn hóa trong hôn nhân nhằm thông báo rộng rãi về sự chấp nhận của xã hội và các bên thành hôn về cuộc hôn nhân Với ý nghĩa này, lễ cưới còn được gọi là lễ thành hôn Trước đây, người Việt gọi lễ này là lễ rước dâu Ngày nay, trong ngôn từ của đời sống thường ngày người ta gọi là lễ cưới, hôn lễ Đây là hình thức liên hoan mừng hạnh phúc

cô dâu chú rể và hai gia đình Đây là nghi lễ được xã hội quan tâm và thường chỉ được tổ chức sau khi đã được chính quyền cấp giấy chứng nhận đăng kí kết hôn ( theo từ điển Bách khoa toàn thư) Trong tâm thức người Việt thì lễ cưới có giá trị cao hơn cả giấy chứng nhận kết hôn Bởi lễ cưới là hình thức công bố, ra mắt, tất cả những người xung quanh như họ hàng, làng xóm, bạn bè, cả cộng đồng đều chứng kiến, minh chứng cho cuộc hôn nhân này và chỉ thông qua lễ cưới người ta mới biết và công nhận đôi trẻ đã là vợ chồng Còn trong giấy đăng kí kết hôn thì chỉ có đôi trẻ và chính quyền là người chứng kiến, những người xung

Trang 6

quanh(họ hàng, làng xóm, bạn bè) không biết đến Lễ cưới từ xưa tới nay chỉ được tiến hành khi đã được xem xét kĩ ngày giờ sao cho phải là “ngày lành, tháng tốt” có như vậy thì lễ cưới mới diễn ra thuận lợi và quan trọng hơn cả là cuộc sống về sau của cô dâu, chú rể mới may mắn, bình yên và hạnh phúc… Họ nhà trai sẽ phải chuẩn bị đầy đủ lễ vật (bánh phu thê, rượu, trầu câu, trái cây ) và sang nhà gái đúng ngày giờ đã xem Trong lễ cưới Việt Nam, thông thường sẽ

có một bữa tiệc tổ chức tại gia đình(nhà hàng) để mời họ hàng, bạn bè tới chung vui Những người tới chung vui sẽ đem tặng các đồ mừng đám cưới hoặc là tiền mừng(chủ yếu)

3.2 Lí thuyết áp dụng

Để giải thích cho nguyên nhân sự biến đổi của hôn nhân ở Việt Nam, bài làm sẽ áp dụng lý thuyết để giải thích cho sự biến đổi này

3.2.1 Lý thuyết trao đổi xã hội

Nguyên tắc của thuyết trao đổi là con người từ chối những hành vi phải chi phí (trả giá) và tìm kiếm những thiết chế trong đó phần thưởng nhiều hơn chi phí Con người đã chọn phương án có hiệu quả nhất trên cơ sở nhận thức phần thưởng và chi phí.Theo StevenL.Nock, thuyết này tập trung vào xem xét vấn đề cho và nhận trong quá trình tương tác Theo quan điểm của lý thuyết này, các cá nhân hành động tuân theo nguyên tắc trao đổi các giá trị vật chất, tinh thần, sự ủng hộ, tán thưởng, danh sự Nói tóm lại, lý thuyết này cho rằng, con người luôn hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được kết quả tối đa và chi phí tối thiểu Hành động có xu hướng lặp lại nếu nó từng được thưởng trong quá khứ, ngược lại không có xu hướng lặp lại những gì được phát hiện không có phần thưởng Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, việc áp dụng các định đề cũng có phần hạn chế, định đề được áp dụng để giải thích đó là sự lựa chọn giữa phần thưởng và chi phí “Một điểm đáng chú ý là con người luôn có xu hướng nhân bội giá trị của kết quảhành động với khả năng hiện thực hóa hành động đó Có nghĩa là con người sẽ quyết định lựa chọn một hành động nào đấy ngay cả khi giá trị của nó

Trang 7

thấp nhưng được bù lại, họ chọn hành động đó vì tính khả thi của nó rất cao” (tr

366, Lịch sử và lý thuyết xã hội học, Lê Ngọc Hùng)

3.2.2 Áp dụng lý thuyết trao đổi xã hội để lí giải sự chuyển biến của hình thức hôn nhân ở Việt Nam

Thuyết trao đổi xã hội cho rằng Cá nhân luôn luôn có sự tính toán giữa phần thưởng và chi phí Mỗi một cá nhân khi lựa chọn một hành động luôn có

sự tính toán giữa chi phí mình bỏ ra và phần thưởng mình đạt được Họ luôn hướng đến việc thực hiện hành động sao cho đạt được phần thưởng tối đa và chi phí tối thiểu Bởi vậy, trước khi đưa ra quyết định về một thủ tục nào đó hay hủy

bỏ nó người ta phải tính toán kĩ xem những gì mà họ sẽ nhận được

Sự tính toán của các cụ ngày xưa với ngày nay có sự khác nhau cũng bởi môi trường sống của hai thời đại là khác nhau Một bên chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo, bởi một hệ thống các thủ tục nghi lễ nên việc áp dụng nhiều thủ tục khác nhau là cần thiết, đúng với lễ giáo được coi là chuẩn mực thì ngày nay,

sự du nhập của các nền văn hóa phương Tây khiến con người có tư tưởng, suy nghĩ thoái mái hơn, chịu sự hòa nhập của một số nền văn hóa mới nhanh gọn hơn, tiện lợi hơn, và cũng bởi nền kinh tế thì trường người ta đua nhau lao vào làm ăn kinh tế, vốn thời gian dành cho các phong tục rườm rà như trước kia không còn nhiều và hơn hết là nó không còn phù hợp nên dần dần những gì không còn phù hợp với cuộc sống hiện đại sẽ được cắt giảm nhưng vẫn dựa trên những tiêu chí đánh giá, những giá trị chuẩn mực của người Việt mà tuy có cắt giảm những thủ tục rườm rà nhưng giá trị của ngày cưới vẫn được giữ nguyên,

nó vẫn mang ý nghĩa thiêng liêng, trọng đại nhưng ngày càng văn minh hơn, ít tốn kém hơn.Người Việt chịu ảnh hưởng khá sâu sắc từ Nho giáo nên bị chi phối rất nhiều bởi các hình thức lễ nghi rườm ra thậm chí là rắc rối

Theo phong tục xưa, việc làm đầu tiên trước hôn nhân của một đôi trai gái nào đó là lễ vấn danh Lễ vấn danh thực chất là việc nhà trai đến nhà gái để hỏi tuổi cô dâu tương lai rồi nhờ thầy xem xét xem có hợp tuổi chú rể không Tác giả Ngô Phú cho biết, theo quan điểm lạc hậu thời xưa ở nhiều vùng nông thôn

Trang 8

các bé gái từ khi sinh ra tới khi trở thành thiếu nữ vẫn chưa được đặt tên bởi quan niệm lạc hậu “trọng nam khinh nữ” của người xưa, “sau này làm con người khác nên không cần vào sổ họ, sổ làng, chẳng đi đâu quá lũy tre làng nên không cần thiết phải có tên”, "con gái là con người ta" Chính vì vậy mà những cái tên của các bé gái ngày xưa mà ngày nay chúng ta thường được kể lại thường thường chỉ là cái Hĩm, cái Chĩnh… một nguyên nhân các bé gái không được đặt tên tử tế nữa là do khi về nhà chồng họ sẽ được gọi theo tên chồng hoặc tên con Các ông bố bà mẹ không đặt tên con vì cái suy nghĩ như vậy đã ăn vào họ từ thời các cụ ngày xưa, theo quan điểm Nho giáo Phong kiến, việc đặt tên con gái

là không cần thiết bởi có đặt hay không thì cũng không quan trọng vì con gái không phải con mình, đã không có tên trong gia phả họ nhà mình, khi về nhà chồng lại được gọi theo tên chồng, vậy cớ gì phải mất thời gian, suy nghĩ đặt một cái tên mà chẳng được sự dụng Vì vậy mà nhiều gia đình lựa chọn cách gọi tên con gái bằng những cái tên phổ biến, dễ nhớ, những cái tên chung cho rất nhiều bé gái giai đoạn này Có như vậy mới xảy ra chuyện có nhữngngười không biết mình trong hôn thú tên là gì Ngày nay, từ khi lọt lòng, đứa trẻ đã được bố mẹ đặt cho một cái tên đước viết trong giấy khai sinh, bởi hòa với lối sống hiện đại những hủ tục, quan niệm xưa kia, quan niệm “trọng nam khinh nữ” đã được đẩy lùi đáng kể, người con gái dần có vị thế đáng kể trong xã hội, chính vì vậy cha mẹ rất quan tâm tới người con gái Vì sự thay đổi ấy nên lễ vấn danh đã được chuyển thành “dạm ngõ”, là dịp để nhà trai biết mặt cô dâu tương lai

Về tục thách cưới, vì người xưa cho rằng con gái được bố mẹ nuôi dưỡng

từ nhỏ cho tới khi trưởng thành, giờ lại gả con cho nhà người ta thì phải thách giá để nhà trai thấy được giá trị của đứa con của mình Bố mẹ mất công chăm lo, nuôi dưỡng từ khi lọt lòng, khi lớn lên không giúp đỡ bố mẹ được nhiều việc vậy nên các gia đình thường tính toán rất kĩ xem họ sẽ thách cưới như thế nào sao cho xứng với giá trị của đứa con của mình, để bố mẹ được nhận lại “phần thưởng” nào đó so với công sức mà mình bỏ ra Những thứ mà nhà gái yêu cầu như vải vóc, quần áo, rượu, bánh, trầu cau, lợn, gà,… Bên cạnh những “phần

Trang 9

thưởng” còn có sự “trừng phạt”, đó là những gì mà con người không mong đợi

Khi nhà gái thách cưới quá cao khiến nhà trai phải chạy ngược chạy xuôi lo cho

đủ lễ thách cưới rồi sau đó “vợ chồng son tha hồ “kéo cày trả nợ”” (theo tác giả

Ngô Phú) Việc này khiến cho nhiều đám cưới ngay từ khi thách cưới đã khiến

nghĩa vợ chồng, tình thông gia bị sứt mẻ, là mầm móng cho nhiều mâu thuẫn về

sau Ngày nay, tục thách cưới đã được giản tiện đi nhiều, không còn khắt khe

như trước nữa, vì tất cả các bố mẹ đều quan trọng hơn là sự hạnh phúc của con

cái nên việc “thách cưới” chỉ mang giá trị tinh thần chứ không nặng về vật chất

như trước kia Tục lệ này vẫn còn tới giờ mặc dù nó không mang ý nghĩa nhiều

như trước kia bởi người dân muốn giữ những nét truyền thống trong lễ cưới

"Tôi thấy giờ thách cưới cũng đơn giản hơn rồi,"ăn" cho có lệ thôi chứ

quan trọng gì đâu "

(PVS, nữ, nhân viên)

Thời xưa, chưa có đăng kí kết hôn, chưa có hôn thú thì khoản “nạp cheo” là

để thay thế cho những giấy tờ đó Tức là nhà trai sẽ phải nộp cho làng xã bên

gái, kể cả đôi trai gái ấy ở cùng làng, cùng xã thì vẫn phải “nạp cheo” Khoản

tiền ấy gần như tiền thuế nhà trai nộp để được công nhận trở thành rể trong làng

cô gái Phong tục này có rất nhiều ý nghĩa, tuy nhiên do sự nhũng nhiễu của đám

hương lí trong làng xã nên ý nghĩa của nó đã bị suy giảm đi nhiều Ngày nay

phong tục này không còn tồn tại nữa, để được công nhận thì đôi trẻ chỉ cần ra

UBND phường, xã đăng kí mà không phải mất bất kì khoản phí nào Tức là về

phía pháp luật khi đôi nam nữ có giấy đăng kí kết hôn họ sẽ được pháp luật công

nhận

" bây giờ cứ giấy trắng mực đen mà đối chiếu thôi, có cái giấy đăng kí kết

hôn cũng tốt, sau này chắc nhiều việc cũng phải dùng tới nó đấy"

(PVS, nam, công nhân)

Đăng kí kết hôn trước đám cưới chia theo thời gian kết hôn

Trang 10

KKH

trước

đám

cưới

Thời gian kết hôn

Trước

1976

1976-1986

1987-1996 Sau 1996

S

L

L

L

L

%

C

ó

1

,9

K

hông

5

7

1

00

9

9

1

00

8

8

98 ,9

5

2

9 8,1

T

ổng

5

7

1

00

9

9

1

00

8

9

10

0

5

3

1

00

(Nguồn:Bùi Thị Hương Trầm 2008 Phong tục cưới hỏi (Nghiên cứu tại Tiền

Giang))

Thế nhưng “ quan niệm chung của tất cả các cặp đôi vẫn là kết hôn phải được sự đồng ý của hai bên gia đình và thông báo tới họ hàng và bạn bè” ( Truyền thống và hiện đại trong lễ cưới ở Việt Nam, trên trang marry.vn) Như vậy, dù không phải “nạp cheo” mà chỉ cần đăng kí kết hôn là được công nhận trở thành vợ chồng nhưng ngày nay giới trẻ vẫn mong muốn phải có sự đồng ý của cha mẹ bởi họ nhận thấy rằng cuộc sống sau này của mình có hạnh phúc hay không thì phải có sự chấp thuận từ phía gia đình thì cuộc sống mới hạnh phúc lâu dài được Giữa “chi phí” bỏ ra và “phần thưởng” nhận được giới trẻ đã cân nhắc rất kĩ khi đưa ra quyết định ai sẽ là người bạn đời của mình sau này Về trang phục, trong lễ cưới ngày xưa “chàng rể mặc áo rộng xanh, bịt khăn đen, có che lộng Còn nàng dâu cũng mặc áo rộng, đội nón thúng, cũng có lộng che” (lễ cưới hỏi xưa và nay, trang Cuộc sống Việt) Cụ thể hơn nữa, các chàng rể mặc

Ngày đăng: 06/05/2021, 09:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w