Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một quan điểm thống nhất về doanh nghiệp xã hội, mỗi quốc gia, mỗi tổ chức lại có cách định nghĩa khác nhau về khái niệm này, chẳng hạn: Ở Anh, tại Chiến l
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn theo đúng quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Hồng Nhã
Trang 3Luận văn này được thực hiện tại trường Đại học Mở Hà Nội Để hoàn thành được luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ của các thầy cô giáo trong trường
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Bùi Ngọc Cường đã hướng dẫn tôi thực hiện nghiên cứu của mình
Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hải Phòng đã cung cấp thông tin, số liệu để tôi viết luận văn
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày 09 tháng 04 năm 2020
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Hồng Nhã
Trang 4DNXH Doanh nghiệp xã hội
CSIP Trung tâm hỗ trợ Sáng kiến Cộng đồng
OECD Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế
EMES Mạng lưới nghiên cứu Châu Âu về các vấn đề
của khu vực thứ ba
CSR Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Trang 5MỞ ĐẦU 1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI VÀ PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI 7
1.1 Khái quát về Doanh nghiệp xã hội 7
1.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của Doanh nghiệp xã hội 7
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của Doanh nghiệp xã hội 8
1.1.3 Phân biệt DNXH với một số loại hình tổ chức khác và với khái niệm “trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” 13
1.1.4 Vai trò của Doanh nghiệp xã hội 19
1.2 Khái quát về Pháp luật Doanh nghiệp xã hội 21
1.2.1 Khái niệm, nội dung của Pháp luật về Doanh nghiệp xã hội 21
1.2.2 Ý nghĩa của việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với doanh nghiệp xã hội 23
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 26
2.1.Thực trạng pháp luật về doanh nghiệp xã hội trước khi Luật Doanh nghiệp 2014 được ban hành 26
2.2 Thực trạng pháp luật về doanh nghiệp xã hội theo Luật Doanh nghiệp 2014 28
2.2.1.Quy định về đặc trưng pháp lý của DNXH 30
2.2.2 Quy định về hình thức pháp lý và quản trị Doanh nghiệp xã hội 35 2.2.3 Quy định về thành lập, tổ chức lại và chấm dứt hoạt động của Doanh nghiệp xã hội 37
2.2.4 Quy định về quyền và nghĩa vụ của Doanh nghiệp xã hội 42 2.2.5 Quy định về quản lý, giám sát hoạt động của doanh nghiệp xã hội
Trang 6Chương 3 THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DOANH
NGHIỆP XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 59
3.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội và phát triển doanh nghiệp xã hội tại Hải Phòng 59
3.1.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội của thành phố Hải Phòng 59
3.1.2 Khái quát tình hình phát triển Doanh nghiệp xã hội tại thành phố Hải Phòng 61
3.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về doanh nghiệp xã hội tại Hải Phòng 67 3.2.1 Thực hiện các quy định về thành lập, tổ chức lại Doanh nghiệp xã hội 67
3.2.2 Thực hiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của Doanh nghiệp xã hội 69
3.2.3 Thực hiện các quy định về giám sát hoạt động Doanh nghiệp xã hội 73
3.2.4 Một số nhận xét 76
3.3 Một số giải pháphoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về doanh nghiệp xã hội qua thực tiễn ở thành phố Hải Phòng 78
3.3.1 Giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về doanh nghiệp xã hội 78
3.3.2.Giải pháp nâng coa hiệu quả thực hiện pháp luật về DNXH 84
KẾT LUẬN 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay phát triển bền vững là mục tiêu hàng đầu của mỗi quốc gia Bên cạnh việc thúc đẩy kinh tế phát triển, các quốc gia phải nỗ lực tìm ra giải pháp để cân đối hài hòa giữa mục tiêu phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, ổn định xã hội Tuy nhiên với thực trạng xã hội ở Việt Nam hiện nay để thực hiện được mục tiêu trên không dễ dàng: Các doanh nghiệp ở Việt Nam chủ yếu tập trung phát triển kinh tế, việc thực hiện trách nhiệm
xã hội còn rất hạn chế, thậm chí nhiều doanh nghiệp vì lợi nhuận mà bất chấp lợi ích xã hội, môi trường; Các tổ chức xã hội tuy nỗ lực hoạt động bảo vệ môi trường, xã hội nhưng lại thiếu tiềm lực tài chính bền vững nên hoạt động thường mang tính tự phát Trong khi đó, hoạt động an sinh xã hội, cung cấp dịch vụ công của Nhà nước còn hạn chế và bị quá tải Trong bối cảnh ấy, Doanh nghiệp xã hội là một giải pháp phù hợp cho bài toán khó về giải quyết những vấn đề xã hội, môi trường hướng tới sự phát triển
ổn định và bền vững Có thể nói Doanh nghiệp xã hội chứa đựng sự linh hoạt, sáng tạo và phù hợp với cộng đồng, mang đến sự đa dạng nguồn vốn, khả năng độc lập về tài chính, đáp ứng nhu cầu của xã hội về kinh doanh
và quan trọng hơn là cung cấp những dịch vụ, hoạt động cần thiết cho xã hội - vốn ít người dám làm vì lợi nhuận thấp hoặc hầu như không có lợi nhuận
Mô hình Doanh nghiệp xã hội đã được phổ biến rộng rãi và phát triển ở nhiều quốc gia trên Thế giới Ở Việt Nam, những mô hình mang
“dáng dấp” của Doanh nghiệp xã hội cũng đã manh nha xuất hiện từ những năm cuối của Thế kỷ XX, lúc này khái niệm Doanh nghiệp xã hội chưa được biết đến ở Việt Nam nên các tổ chức trên không nhận thức được mình
là một Doanh nghiệp xã hội Mãi cho đến những năm đầu thập niên thứ hai
Trang 8của Thế kỷ XXI, thông qua hoạt động nghiên cứu, truyền bá của các tổ chức xã hội như Trung tâm hỗ trợ sáng kiến cộng đồng (CSIP), Trung tâm tia sáng (Spark), Hội đồng Anh tại Việt Nam (British Council) , khái niệm Doanh nghiệp xã hội mới bắt đầu xuất hiện và được biết đến ở Việt Nam Tuy nhiên, khái niệm Doanh nghiệp xã hội lúc này mới chỉ được nhìn nhận dưới khía cạnh khoa học và thực tiễn chứ chưa được thừa nhận
về mặt pháp lý, nên, mô hình Doanh nghiệp xã hội vẫn chưa có cơ sở pháp
lý để chính thức thành lập và hoạt động tại Việt Nam
Trước yêu cầu phát triển, hội nhập, Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 đã được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2014 và có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2015 (sau đây gọi là Luật Doanh nghiệp 2014) đã đem đến nhiều sự đổi mới Một trong những điểm mới nổi bật của Luật Doanh nghiệp 2014 là sự công nhận và khuyến khích phát triển của Nhà nước đối với một mô hình doanh nghiệp mới - Doanh nghiệp xã hội Tuy mới chỉ dành 01 điều luật để quy định về Doanh nghiệp xã hội, song Luật Doanh nghiệp 2014 đã chính thức thừa nhận tư cách pháp lý của Doanh nghiệp xã hội, bước đầu đặt nền móng cho việc xây dựng hệ thống pháp luật về Doanh nghiệp xã hội Tuy vậy, cho đến nay, hệ thống pháp luật về Doanh nghiệp xã hội của Việt Nam vẫn còn hạn chế Thực tiễn cho thấy việc thực hiện pháp luật Doanh nghiệp xã hội vẫn còn khó khăn, và thực trạng thực hiện các quy định về Doanh nghiệp xã hội tại Hải Phòng - địa phương có số lượng Doanh nghiệp xã hội vẫn còn khiêm tốn, là sự thể hiện tương đối rõ cho hiện thực này Với nhận thức đó, học viên quyết định
chọn đề tài: “Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn
thực hiện tại thành phố Hải Phòng” làm đề tài luận văn Thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về Doanh nghiệp xã hội dưới khía cạnh kinh tế, pháp lý được công bố trong thời gian gần đây
Trang 9Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như:
- Công trình nghiên cứu “Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam: Khái niệm, bối cảnh, chính sách” năm 2012 của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), Hội đồng Anh tại Việt Nam (British Council) và Trung tâm hỗ trợ sáng kiến cộng đồng (CSIP)
- Báo cáo kết quả khảo sát Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam năm
2017 được thực hiện bởi Trung tâm hỗ trợ sáng kiến cộng đồng (CSIP), Hội đồng Anh tại Việt Nam (British Council) và Trung tâm tia sáng (Spark)
- Bài viết “Hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về Doanh nghiệp xã hội” của Thạc sĩ Vũ Thị Hòa Như, đăng trên Tạp chí Luật học số 03/2015;
- Bài viết “Những vấn đề pháp lý về Doanh nghiệp xã hội theo Luật Doanh nghiệp 2014” của Tiến sĩ Phan Thị Thanh Thủy, đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 06/2015;
- Bài viết “Doanh nghiệp xã hội và giải pháp phát triển Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam” của Tiến sĩ Nguyễn Thị Yến, đăng trên Tạp chí Luật học số 11/2015;
- Bài viết “Đánh giá khả năng thực thi pháp luật hiện hành về Doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam” của Tiến sĩ Nguyễn Thị Dung, đăng trên Tạp chí Luật học số 01/2017;
- Luận văn Thạc sĩ “Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam”, năm 2015 của Trần Thị Minh Hiền - Đại học quốc gia Hà Nội
Tuy nhiên, trong số các công trình nghiên cứu về Doanh nghiệp xã hội, có rất ít các công trình nghiên cứu về khía cạnh pháp lý của Doanh nghiệp xã hội một cách toàn diện Phần lớn là những bài viết tạp chí có dung lượng nhỏ, đi vào phân tích một số ít vấn đề pháp lý về Doanh nghiệp
xã hội Tuy đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu cấp Thạc sĩ, song
Trang 10nội dung nghiên cứu chưa cập nhật đủ thực trạng pháp luật về Doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài có đối tượng nghiên cứu là các quy phạm pháp luật quy định
về Doanh nghiệp xã hội được quy định trong Luật Doanh nghiệp 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp 2014 Thực tiễn thực hiện tại thành phố Hải Phòng
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các quy định của pháp luật về bản chất của DNXH, về thành lập, quyền , nghĩa vụ, ưu đãi, hỗ trợ DNXH, giám sát DNXH, được quy định trong Luật Doanh nghiệp 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp 2014 Về địa bàn nghiên cứu
đề tài nghiên cứu tập trung trên địa bàn thành phố Hải Phòng, thời gian nghiên cứu từ năm 2016 đến hết 2019
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục tiêu nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài trên nhằm thực hiện mục tiêu: Hệ thống hoá, làm rõ hơn những vấn đề lý luận về Doanh nghiệp xã hội.Thực trạng pháp luật về DNXH ở Việt nam Thực tiễn thực hiện tại thành phố hải Phòng, từ
đó, đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về Doanh nghiệp xã hội
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu nói trên, Luận văn tập trung đi vào giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu làm rõ khái niệm và đặc điểm của Doanh nghiệp xã hội Từ đó phân biệt Doanh nghiệp xã hội với các mô hình khác để nhận
Trang 11diện Doanh nghiệp xã hội
- Nghiên cứu làm rõ khái niệm, nội dung cơ bản của Pháp luật về Doanh nghiệp xã hội và ý nghĩa của việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với Doanh nghiệp xã hội
- Nghiên cứu về thực trạng những quy định của pháp luật về Doanh nghiệp xã hội theo Luật Doanh nghiệp 2014 từ đó đánh giá sự phù hợp của những quy định hiện hành về Doanh nghiệp xã hội
- Nghiên cứu tình hình thực hiện pháp luật về Doanh nghiệp xã hội trên địa bàn thành phố Hải Phòng Đánh giá những kết quả đạt được và những khó khăn còn tồn tại trong thực tiễn thực hiện pháp luật về Doanh nghiệp xã hội trên địa bàn thành phố Hải Phòng, từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về Doanh nghiệp xã hội
Luận văn được thực hiện trên cơ sở nền tảng là phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về Nhà nước và pháp luật
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê khảo cứu thực tiễn
Về mặt khoa học, thông qua việc nghiên cứu đề tài, luận văn đã giải quyết những nội dung cơ bản xung quanh vấn đề lý luận về Doanh nghiệp
xã hội và thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về Doanh nghiệp xã hội như: Khái niệm Doanh nghiệp xã hội; Đặc điểm của Doanh nghiệp xã hội; Phân biệt Doanh nghiệp xã hội với các mô hình khác; Khái niệm, đặc điểm, nội dung cơ bản về Pháp luật về Doanh nghiệp xã hội Trên cơ sở đó, luận văn đi vào nghiên cứu thực trạng các quy định của pháp luật hiện hành, có
Trang 12cập nhật các quy định mới so với một số công trình nghiên cứu trước đây (tập trung vào Luật Doanh nghiệp 2014 cùng văn bản hướng dẫn thi hành) Đặc biệt, luận văn đi vào nghiên cứu cụ thể tình hình thực hiện các quy định của pháp luật hiện hành về Doanh nghiệp xã hội trên địa bàn thành phố Hải Phòng Từ việc nghiên cứu thực trạng pháp luật, đánh giá tình hình thực tiễn, nhận thấy một số hạn chế, bất cập, luận văn cũng đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện quy định của pháp luật về Doanh nghiệp xã hội
Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến việc thành lập DNXH, Các cơ quan quản lý có liên quan
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 03 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về Doanh nghiệp xã hội và pháp luật về Doanh nghiệp xã hội
Chương 2: Thực trạng pháp luật về Doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam hiện nay
Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật về doanh nghiệp xã hội trên địa bàn thành phố Hải Phòng và một số kiến nghị
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI VÀ
PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI
1.1 Khái quát về Doanh nghiệp xã hội
1.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của Doanh nghiệp xã hội
Khái niệm “Doanh nghiệp xã hội” (DNXH) (Social Enterprise - SCE) là một khái niệm vẫn còn khá mới mẻ ở Việt Nam Tuy nhiên, trên phạm vi Thế giới, mô hình DNXH đã ra đời từ khá lâu và có lịch sử phát triển qua bốn thế kỷ
Trong lịch sử phát triển DNXH, nước Anh được xác định là quốc gia
đi đầu và cũng là cái nôi cho sự ra đời của DNXH Theo nghiên cứu của MacDonald M & Howarth c (2008), mô hình DNXH đầu tiên xuất hiện tại London vào năm 1665, với việc Thomas Firmin đã đứng ra thành lập một
xí nghiệp sản xuất bằng nguồn tài chính cá nhân và duy trì việc làm cho 1.700 công nhân trong bối cảnh nơi này đang ở trong tình trạng thất nghiệp bao trùm vì Đại dịch Điều đặc biệt là ngay từ khi mới thành lập, Thomas
đã tuyên bố xí nghiệp của ông sẽ không theo đuổi mục tiêu lợi nhuận mà lợi nhuận thu được sẽ chuyển cho các quỹ từ thiện1 Như vậy, với tuyên bố thành lập doanh nghiệp trên của Thomas, mầm mống đầu tiên của DNXH
đã ra đời
Sang đến cuối thế kỷ XVIII, các loại hình hoạt động mang hơi hướng DNXH đã bắt đầu phát triển, gia tăng về mặt số lượng tại Anh Thời điểm
này, mô hình DNXH chủ yếu phát triển dưới hai hình thức cơ bản: Một là,
các trung tâm, chương trình do những “người giàu” thành lập để hỗ trợ hoặc cung cấp việc làm, tạo ra công việc, thu nhập ổn định, giúp đỡ những
1
Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (2012), Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam: Khái niệm, bối cảnh, chính sách, Hà Nôi, tr.01
Trang 14đối tượng nghèo khó hoặc có hoàn cảnh đặc biệt, giúp họ trở thành “những thành viên hữu ích của quốc gia” (ví dụ như Quỹ tín dụng vi mô ở Bath,
hay mô hình các trường đào tạo nghề ); Hai là, việc thành lập các mô hình
mà ở đó có sự tham gia của một nhóm người và thực hiện trao quyền quản
lý tổ chức kinh doanh cho tất cả thành viên để giúp họ có khả năng làm chủ kinh doanh và phân phối lợi nhuận (như Hợp tác xã (Co-op), Hội ái hữu, Làng nghề .) Song sau đó vì ảnh hưởng của cuộc Đại suy thoái năm 1929-1933 dẫn đến gia tăng sự can thiệp của Nhà nước vào đời sống kinh
tế, kéo theo sự sụt giảm trong hoạt động của các mô hình DNXH nói trên2
Chỉ khi Thủ tướng Anh Margaret Thatcher lên nắm quyền, DNXH mới hoạt động mạnh mẽ trở lại và không ngừng phát triển cho đến hiện nay Vì cho rằng bộ máy công quyền luôn tồn tại hạn chế cố hữu là quan liêu, tham nhũng, việc giải quyết các vấn đề xã hội do đó kém hiệu quả hơn
so với các tổ chức dân sự và tư nhân Nên, Thủ tướng Thatcher chủ trương thu hẹp vai trò của Nhà nước trong việc cung cấp phúc lợi xã hội, đồng thời khuyến khích các tổ chức xã hội dân sự tham gia, chia sẻ việc giải quyết các vấn đề xã hội, nhờ đó các DNXH phát triển mạnh mẽ ở Anh3
Trong khoảng ba thập niên trở lại đây, DNXH không chỉ là loại hình phát triển trong phạm vi của một quốc gia mà còn lan rộng ra nhiều quốc gia, “trở thành một vận động xã hội có quy mô và tầm ảnh hưởng toàn cầu”4, không chỉ ở Châu Âu mà còn cả Châu Á, Châu Mỹ Ngày nay, tuy chưa có quan niệm thống nhất về DNXH, song loại hình này đã được thừa nhận rộng rãi và có xu hướng ngày càng phát triển, có vai trò tích cực trong việc góp phần giải quyết các vấn đề xã hội của mỗi quốc gia và cộng đồng quốc tế
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của Doanh nghiệp xã hội
2 Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, tlđd chú thích 1, tr.01
3 Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, tlđd chú thích 1, tr.02
4
Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, tlđd chú thích 1, tr.02
Trang 15Vào cuối những năm 70, đầu những năm 80 của Thế kỷ XX, với sự
mở cửa trong chính sách của Thủ tướng Anh Thatcher, sự tham gia của các doanh nghiệp vào việc giải quyết các vấn đề xã hội ở Anh ngày càng nhiều,
từ đây, thuật ngữ “doanh nghiệp xã hội” bắt đầu được sử dụng để gọi những doanh nghiệp như vậy Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một quan điểm thống nhất về doanh nghiệp xã hội, mỗi quốc gia, mỗi tổ chức lại có cách định nghĩa khác nhau về khái niệm này, chẳng hạn:
Ở Anh, tại Chiến lược phát triển DNXH năm 2002 đã định nghĩa
“Doanh nghiệp xã hội là một mô hình kinh doanh được thành lập nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội, và sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư cho mục tiêu đó hoặc cho cộng đồng, thay vì tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”5 Định nghĩa này nhìn chung có tính bao quát, xác định phạm
vi DNXH tương đối rộng với ba đặc điểm cơ bản gồm: Một là, DNXH chỉ
là một mô hình kinh doanh - tức DNXH không bị ràng buộc vào một loại hình công ty cụ thể, mà đây chỉ là tên gọi cho một phương án, cách thức tiến hành hoạt động kinh doanh, thông qua hoạt động kinh doanh để thực
hiện mục tiêu của mình; Hai là, mô hình kinh doanh DNXH được lập ra vì mực tiêu xã hội; Ba là, trong DNXH, lợi nhuận phải được tái phân phối lại
cho tổ chức, cộng đồng, không phải cho cá nhân hay chủ sở hữu Nói cách khác, Anh xây dựng quan điểm không chú trọng về hình thức cụ thể mà nhấn mạnh vào tính xã hội của chủ thể của DNXH
Trong khi đó, Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) lại phát triển và định nghĩa DNXH như sau:
Doanh nghiệp xã hội là những tổ chức hoạt động dưới nhiều hình thức pháp lý khác nhau, vận dụng tinh thần doanh nhân nhằm theo đuổi
5 UK Government, A Guide to Legal Form for Social Enterprise 2013, trích trong tài liệu: “Phan Thị Thanh
Thủy (2015), “Hình thức pháp lý của Doanh nghiệp xã hội: Kinh nghiệm nước Anh và một số gợi mở cho Việt
Nam”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, 31 (04), tr 56-64
Trang 16cùng lúc cả hai mục tiêu xã hội và kinh tế DNXH thường cung cấp các dịch vụ xã hội và việc làm cho các nhóm yếu thế ở cả thành thị và nông thôn Ngoài ra, DNXH còn cung cấp các dịch vụ cộng đồng, trên các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, môi trường6
Định nghĩa này của OECD tuy thiếu tính học thuật, nhưng lại chứa đựng tính thực tiễn cao bởi đã chỉ ra những đặc điểm cũng như hoạt động đặc trưng của DNXH Trên cơ sở tổng hợp những đặc điểm đa dạng của các DNXH của các nước thành viên nên OECD cũng giống như Anh, không định hình DNXH dưới một hình thức pháp lý cụ thể Tuy nhiên định nghĩa của OECD không đề cập rõ ràng đến vấn đề lợi nhuận và định nghĩa theo hướng liệt kê chi tiết các hoạt động của một DNXH nên vô hình chung
đã thu hẹp khả năng hoạt động của DNXH
Một tổ chức khác là Mạng lưới nghiên cứu Châu Âu về các vấn đề của khu vực thứ ba (EMES) cũng đưa ra quan điểm của riêng mình về khái niệm DNXH Theo đó, EMES cho rằng: “Doanh nghiệp xã hội là các tổ chức với mục tiêu rõ ràng là mang lại ích lợi cho cộng đồng, được sáng lập bởi một nhóm các công dân và mức độ quan tâm đến lợi nhuận vật chất của các nhà đầu tư là không nhiều”7 Cũng tương tự như hai định nghĩa nêu trên, EMES xác định đặc điểm cơ bản của DNXH là phải có mục tiêu mang lại lợi ích cho cộng đồng; ít quan tâm đến lợi nhuận vật chất Song định nghĩa này giới hạn hình thức pháp lý của DNXH là tổ chức do một nhóm các công dân thành lập nên lại hẹp hơn định nghĩa của Chính phủ Anh và OECD
Ngay tại Việt Nam, hiện nay vẫn còn tồn tại các quan điểm xung quanh khái niệm DNXH Có quan điểm hiểu DNXH theo nghĩa rộng, xác
6
Xem thêm tại: Viện Nghiên cứu, Quản lý Kinh tế Trung ương, tlđđ chú thích 1, tr.4
7 Phạm Mỹ Hạnh (2013), “Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam: Nỗ lực khẳng định vai trò của mình trong cơ chế thị trường”, Tạp chí Cộng sản, tại địa chỉ: http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Viet-nam-tren- duong-doi-
Trang 17định “DNXH là một mô hình kinh doanh, đem lại lợi nhuận, bề ngoài hoạt
động như doanh nghiệp truyền thống khác, chỉ yêu cầu một điều kiện duy nhất là đặt sứ mệnh xã hội ở vị trí trung tâm, trong khi mục tiêu lợi nhuận đóng vai trò hỗ trợ” 8 ; Ngược lại cũng có quan điểm hiểu DNXH theo
nghĩa hẹp, cho rằng DNXH về bản chất chỉ là doanh nghiệp nhưng có mục
tiêu, sứ mệnh hoạt động vì xã hội nên “DNXH phải đăng ký dưới hình thức
công ty, cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp khác” 9 Tuy nhiên,
các quan điểm trên về DNXH đều chưa chặt chẽ, thấu đáo Quan điểm thứ nhất theo nghĩa rộng có ưu điểm khi xác định bản chất của DNXH là “mô hình kinh doanh” không bị bó hẹp hình thức pháp lý và xác định rõ các mục tiêu của DNXH Nhưng bản thân cách định nghĩa về DNXH nói trên lại chứa đầy mâu thuẫn bởi cách xác định mập mờ rằng DNXH có “bề ngoài hoạt động như doanh nghiệp truyền thống”, dẫn đến giới hạn hình thức tồn tại của DNXH Cách hiểu này cũng không đề cập đến vấn đề phân chia lợi nhuận nên chưa có căn cứ để nhận diện tính “vì xã hội” hay “vì lợi nhuận” của DNXH Quan điểm thứ hai về DNXH cũng còn hạn chế khi khẳng định bản chất của DNXH là doanh nghiệp và xác định hình thức tồn tại của DNXH dưới các hình thức công ty là rất hạn hẹp, không phù hợp với thực tế tồn tại của DNXH Cũng giống như cách định nghĩa theo nghĩa rộng, quan điểm này không đề cập đến vấn đề phân phối lợi nhuận nên gây khó khăn trong việc nhận diện DNXH
Qua việc phân tích một số khái niệm nêu trên có thế thấy, xung quanh việc xác định “thế nào là Doanh nghiệp xã hội” vẫn có những quan điểm chưa thống nhất Do cách tiếp cận khác nhau dẫn đến mỗi quốc gia, tổ chức có quan điểm về DNXH khác nhau, có quan điểm chú trọng vào mục tiêu, sứ mệnh của DNXH, có quan điểm lại muốn thể hiện tổ chức, hoạt
Trang 18động của DNXH Tuy có những điểm khác biệt, song qua thực tiễn phát triển cũng như từ chính những định nghĩa trên có thể thấy DNXH có một
số đặc điểm cơ bản như sau:
DNXH luôn hướng đến mục tiêu giải quyết vấn đề xã hội như là sứ mệnh hoạt động tối thượng của mình Xác định mục tiêu xã hội là mục tiêu cao nhất ngay từ khi thành lập cũng như xuyên suốt quá trình hoạt động của DNXH Do đó, mỗi DNXH khi thành lập và hoạt động đều hướng đến mục tiêu giải quyết một vấn đề xã hội, môi trường cụ thể Tuy DNXH có thực hiện hoạt động kinh doanh, có thể có lợi nhuận, nhưng hoạt động kinh doanh đó chỉ là một công cụ để DNXH thực hiện mục tiêu xã hội của mình, DNXH hoạt động và tồn tại không “vì lợi nhuận” mà “vì xã hội” Đây là đặc trưng cơ bản nhất tạo nên tính xã hội của DNXH, khiến DNXH trở nên khác biệt so với các doanh nghiệp thông thường
(ii) DNXH phải có hoạt động kinh doanh
Khác với các tổ chức có cùng mục tiêu vì xã hội khác như Tổ chức phi chính phủ, tổ chức từ thiện, quỹ xã hội , DNXH phải có hoạt động kinh doanh một cách thường xuyên, liên tục Hoạt động kinh doanh vừa là mục tiêu vừa là động lực đồng thời là điều kiện đảm bảo sự tồn tại cho DNXH, là phần không thể thiếu của mô hình này Để thực hiện hoạt động kinh doanh, phần nhiều DNXH lựa chọn cách thức tổ chức như một doanh nghiệp thông thường, tham gia vào thị trường và cạnh tranh với các doanh nghiệp thông thường Tuy nhiên, việc thực hiện hoạt động kinh doanh của DNXH không nhằm tối ưu hóa lợi nhuận cho chủ sở hữu mà chỉ là một công cụ nhưng có tính độc lập, tự chủ và bền vững để tạo điều kiện thực hiện hoạt động xã hội, hướng đến thực hiện mục tiêu xã hội
Trang 19(iii) DNXH phải thực hiện tái phân phối lợi nhuận
DNXH được thành lập và hoạt động vì mục tiêu xã hội Nhưng việc thực hiện mục tiêu xã hội đó không phải chỉ là lời tuyên bố của DNXH, điều đó còn được cụ thể hóa, hiện thực hóa bằng việc các DNXH đều phải tái phân phối lợi nhuận để thực hiện mục tiêu xã hội Các DNXH đều phải thực hiện hoạt động kinh doanh nên sẽ có lợi nhuận, nhưng phần lớn lợi nhuận có được của DNXH không được dùng để phân phối cho các cổ đông hay chủ sở hữu mà phải tái đầu tư cho mục tiêu xã hội hoặc phân phối cho cộng đồng Như vậy, DNXH luôn phải chi trả đồng thời chi phí kinh doanh
và chi phí xã hội Ngoài ra, tùy thuộc pháp luật của mỗi quốc gia mà DNXH có thể để lại một phần lợi nhuận nhất định để chia cho các chủ sở hữu, nhưng phần lợi nhuận này không được chiếm quá nửa tổng số lợi nhuận của DNXH
Nhìn chung, trong số rất nhiều quan điểm khác nhau về DNXH, cách định nghĩa của Chính phủ Anh về DNXH là định nghĩa có tính khoa học và bao quát hơn cả Vì vậy, trên cơ sở những phân tích trên, có thể hiểu về Doanh nghiệp xã hội như sau: “Doanh nghiệp xã hội là một mô hình kinh doanh thực hiện cả hai mục tiên xã hội và kinh tế Trong đó mục tiêu xã hội
là mục tiêu cao nhất, phần lớn lợi nhuận phải được sử dụng để tái đầu tư cho mục tiêu xã hội đó hoặc cho cộng đồng, thay vì tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”
1.1.3 Phân biệt DNXH với một số loại hình tổ chức khác và với khái niệm “trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp”
Doanh nghiệp xã hội như đã nói ở trên là một mô hình đặc biệt, mô hình này tuy thực hiện hoạt động kinh doanh nhưng mục tiêu cuối cùng không phải là lợi nhuận mà là các mục tiêu xã hội Việc sử dụng hoạt động kinh doanh như một công cụ, phương tiện để thực hiện mục tiêu xã hội đã
Trang 20khiến DNXH trở thành mô hình có sự giao thoa và dễ gây nhầm lẫn với một số mô hình hoạt động khác như doanh nghiệp thông thường, Tổ chức phi chính phủ (NGO), doanh nghiệp công ích, doanh nghiệp quốc phòng,
an ninh hay các quỹ từ thiện Song xem xét đến cùng, về bản chất, DNXH vẫn là một mô hình độc lập, phân biệt với các loại hình trên ở một
số điểm khác biệt cụ thể
- Phân biệt giữa DNXH với doanh nghiệp thông thường
Tuy DNXH chỉ là một thuật ngữ mang tính khái niệm chứ chưa thể khái quát toàn bộ hình thức pháp lý của mô hình này nhưng vì DNXH luôn cần phải thực hiện hoạt động kinh doanh để thực hiện mục tiêu xã hội nên DNXH có nhiều điểm tương đồng với doanh nghiệp thông thường Thậm chí hiện nay vẫn có những luồng quan điểm rằng DNXH là một hình thức khác của doanh nghiệp thông thường Tuy nhiên, xét về bản chất, DNXH
có những khác biệt căn bản so với doanh nghiệp thông thường Doanh nghiệp thông thường ngay từ khi thành lập và trong suốt quá trình hoạt động luôn hướng đến mục đích lợi nhuận, tối đa hóa lợi nhuận Trong khi
đó, DNXH lại có mục tiêu cao nhất là mục tiêu xã hội, ngay từ khi thành lập và trong suốt quá trình hoạt động, DNXH luôn hướng đến giải quyết các vấn đề xã hội Chính sự khác biệt căn bản về mục đích thành lập, hoạt động dẫn đến sự khác biệt trong hàng loạt các vấn đề khác giữa hai mô hình này như hình thức pháp lý, cách sử dụng lợi nhuận hay hiệu quả tác động
Về hình thức pháp lý: Từ thực tiễn hình thành và phát triển của DNXH đã ghi nhận DNXH tồn tại và hoạt động dưới nhiều hình thức rộng hơn, linh hoạt hơn so với doanh nghiệp thông thường, đó có thể là hình thức công ty, doanh nghiệp hoặc tổ chức xã hội dân sự Còn các doanh nghiệp thông thường chỉ có thể hoạt động dưới các loại hình công ty theo
Trang 21luật định như công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hay công ty hợp danh
Về sử dụng lợi nhuận: Do mục tiêu hướng đến khác nhau nên việc sử dụng, phân phối lợi nhuận của DNXH và doanh nghiệp thông thường cũng khác nhau Doanh nghiệp thông thường hướng đến lợi nhuận nên lợi nhuận (cổ tức) của doanh nghiệp được chia cho chủ sở hữu, cổ đông Còn DNXH lại đặt mục tiêu xã hội lên hàng đầu, việc tìm kiếm lợi nhuận nhằm phục vụ cho việc thực hiện mục tiêu xã hội nên lợi nhuận thu được của DNXH không được chia cho chủ sở hữu hay cổ đông mà lại được tái đầu tư cho việc thực hiện mục tiêu xã hội hoặc phân phối cho cộng đồng
Về hiệu quả tác động: Doanh nghiệp thông thường chủ yếu tạo ra giá trị kinh tế, còn DNXH chủ yếu tạo ra giá trị xã hội Song việc đánh giá hiệu quả tác động như trên chỉ mang tính tương đối, bởi thực tế, một doanh nghiệp thông thường bên cạnh những giá trị kinh tế, đôi khi cũng đem đến những hiệu quả xã hội nhất định Ngược lại, DNXH dù tập trung vào mục tiêu xã hội nhưng trong quá trình hoạt động, DNXH cũng góp phần tạo ra hiệu quả kinh tế
- Phân biệt DNXH với Tổ chức phi chính phủ (NGO)
Doanh nghiệp xã hội và NGO là những mô hình tương đối gần gũi
Cả hai đều có mục tiêu hàng đầu là hướng đến giải quyết những vấn đề xã hội, song cách thức hoạt động của hai loại hình này có nhiều điểm khác biệt DNXH dù được thành lập dưới hình thức nào cũng đều phải thực hiện hoạt động kinh doanh để nhằm thu lợi nhuận và dùng chính lợi nhuận đó để tái đầu tư cho mục tiêu xã hội hoặc tái phân phối cho cộng đồng Vậy nên, bên cạnh mục tiêu cao nhất là giải quyết các vấn đề xã hội, các DNXH còn
có mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận để phục vụ mục tiêu xã hội So với NGO, nguồn vốn của DNXH đa dạng hơn, gồm cả nguồn vốn chủ sở hữu, vốn thu
Trang 22được từ hoạt động kinh doanh và vốn viện trợ
Còn NGO có cách thức giải quyết các vấn đề xã hội khác NGO không thực hiện hoạt động kinh doanh (nếu có, chỉ là trong một chương trình, dự án chứ không phải là hoạt động thường xuyên) để thu lợi nhuận tái đầu tư lại cho mục tiêu xã hội mà phần lớn lấy vốn hoạt động từ các nhà tài trợ, tổ chức các chương trình, dự án cụ thể Nói cách khác, hoạt động của NGO không hướng đến mục tiêu xã hội và kinh tế như DNXH mà chỉ
có mục tiêu xã hội thuần túy
- Phân biệt DNXH với các doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích và doanh nghiệp quốc phòng an ninh
Doanh nghiệp công ích là doanh nghiệp sản xuất, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích (sản phẩm, dịch vụ công ích là sản phẩm, dịch vụ thiết yếu đối với đời sống kinh tế - xã hội của đất nước, cộng đồng dân cư của một khu vực lãnh thổ mà Nhà nước cần bảo đảm vì lợi ích chung hoặc bảo đảm quốc phòng, an ninh và việc sản xuất, cung ứng theo cơ chế thị trường không có khả năng bù đắp chi phí, đồng thời được cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền đặt hàng, giao kế hoạch, tổ chức đấu thầu theo giá hoặc phí
do Nhà nước quy định)10;
Doanh nghiệp quốc phòng, an ninh là doanh nghiệp nhà nước được thành lập hoặc tổ chức lại để thực hiện các nhiệm vụ mang tính ổn định, thường xuyên trong những ngành, lĩnh vực, địa bàn trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh hoặc bảo đảm bí mật và an ninh quốc gia11
Như vậy, có thể thấy, doanh nghiệp công ích và doanh nghiệp quốc phòng an ninh cũng có hoạt động hướng đến xã hội, cộng đồng Tuy nhiên,
Trang 23hai loại hình này lại có sự khác biệt căn bản với DNXH ở phương thức hoạt động DNXH được thành lập và hoạt động trên tinh thần tự nguyện của các nhà sáng lập, hoạt động như một doanh nghiệp thông thường Trong khi đó,
cả doanh nghiệp công ích và doanh nghiệp quốc phòng, an ninh hoạt động theo yêu cầu của Nhà nước, được Nhà nước “đặt hàng” hoặc “giao nhiệm vụ” Do đó, các DNXH vẫn phải tham gia thị trường và cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp khác; còn các doanh nghiệp công ích, doanh nghiệp quốc phòng an ninh về cơ bản được Nhà nước trợ giá, hưởng các ưu đãi đặc biệt
Bên cạnh đó, mục tiêu của các mô hình này không hoàn toàn đồng nhất với nhau Mục tiêu của DNXH là hướng đến giải quyết các vấn đề xã hội - những hiện thực xã hội mang hướng tiêu cực, khó khăn cần được khắc phục, giải quyết Trong khi đó, mục tiêu của các doanh nghiệp công ích là nhằm cung ứng các sản phẩm, dịch vụ để đáp ứng nhu cầu sử dụng thiết yếu, buộc phải có của cộng đồng Còn doanh nghiệp quốc phòng, an ninh được thành lập chỉ nhằm thực hiện nhiệm vụ trực tiếp phục vụ quốc phòng,
an ninh hoặc bảo đảm bí mật và an ninh quốc gia Tuy nhiên, hiện nay, ngoại trừ lĩnh vực an ninh quốc phòng, việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ công ích thông thường sẽ được xã hội hóa Trong tương lai, một số lượng lớn các doanh nghiệp công ích đang hoạt động có thể chuyến thành DNXH
để bảo đảm sự cạnh tranh lành mạnh cho nền kinh tế nước ta
- Phân biệt DNXH với tổ chức từ thiện
Tổ chức từ thiện cũng gần tương tự như NGO và DNXH là tổ chức hoạt động với mục đích xã hội, không vì lợi nhuận Tuy nhiên, so với DNXH, tổ chức từ thiện có nhiều điểm khác biệt Đều là mô hình hoạt động vì xã hội, nhưng phạm vi hoạt động của DNXH có phần rộng hơn Trong khi DNXH có mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường nói
Trang 24chung tương đối đa dạng, thì tổ chức từ thiện chủ yếu là thực hiện các hoạt động mang tính trợ giúp xã hội, đặc biệt là các nhóm đối tượng yếu thế, dễ
bị tổn thương, mang tính bù đắp Cũng tương tự như NGO, tổ chức từ thiện cũng không buộc phải thực hiện kinh doanh như DNXH, do đó, tổ chức từ thiện khác với DNXH, họ không có lợi nhuận và nguồn vốn tiến hành hoạt động xã hội là từ sự quyên góp, tài trợ của các tổ chức, cá nhân khác
Doanh nghiệp xã hội còn hay bị nhầm lẫn với Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corperate Social Responsibilities - CSR) Tuy nhiên, cả
về lý thuyết và thực tiễn, hai khái niệm này là khác nhau
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) là “một phong trào tự vận động, tự nâng cao nhận thức của các doanh nghiệp để ràng buộc các hoạt động kinh doanh của mình theo các tiêu chuẩn đạo đức kinh doanh”12 Tuy nhiên, hiện nay cũng có nhiều quan điểm khác nhau về việc định nghĩa khái niệm “trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” Một trong những định nghĩa được biết đến rộng rãi là định nghĩa của Nhóm phát triển kinh tế tư nhân của Ngân hàng Thế giới, theo đó: CSR có thể hiểu là: “sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động
và các thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội, theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội”13
Như vậy, có thể thấy bất kỳ doanh nghiệp nào cũng đều phải có CSR
và các doanh nghiệp cam kết CSR vẫn có thể là những doanh nghiệp thông thường, nên có nhũng trường họp thực hiện CSR nhưng mục tiêu tối đa hóa
Trang 25lợi nhuận vẫn là chủ đạo, những tác động xã hội khi thực hiện CSR không phải là mục tiêu cao nhất mà là cách ứng xử mang tính nghĩa vụ đối với cộng đồng, với các chủ thể, đối tượng có liên quan
Còn DNXH lại là một mô hình kinh doanh nhưng không vì lợi nhuận
mà luôn hướng đến việc giải quyết các vấn đề xã hội Mục tiêu xã hội là mục tiêu cao nhất, gắn liền và xuyên suốt trong quá trình tồn tại và hoạt động của doanh nghiệp Nói cách khác, trong khi DNXH là một mô hình kinh doanh vì xã hội thì CSR là cách ứng xử của doanh nghiệp nên rõ ràng không thể đồng nhất hai khái niệm này với nhau
1.1.4 Vai trò của Doanh nghiệp xã hội
Không theo đuổi mục tiêu kinh tế mà luôn hướng đến mục tiêu giải quyết vấn đề xã hội, hoạt động của DNXH luôn có ý nghĩa vô cùng quan trọng:
Thứ nhất, DNXH giúp khắc phục, giải quyết các vấn đề xã hội, từ đó
giúp cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân Ngay trong lịch sử phát triển của DNXH đã cho thấy, mô hình này ra đời cũng từ chính nhu cầu giải quyết các vấn đề xã hội sao cho hiệu quả Sau này, khi phát triển, DNXH lại càng cho thấy ưu thế của mình trong việc góp phần giải quyết các vấn đề xã hội Từ trước khi thành lập mô hình, các nhà sáng lập DNXH
đã hình thành và xác định sứ mệnh, mục tiêu của mình là giải quyết một hoặc một vài vấn đề xã hội nhất định và theo đuổi mục tiêu đó trong suốt quá trình hoạt động của DNXH Những hiệu quả mà DNXH đạt được dù ít
dù nhiều sẽ luôn có tác động đến xã hội, đem lại những tầng lớp giá trị nhất định Một cách trực tiếp nhất, khi một mô hình DNXH được thành lập sẽ tạo nên công ăn việc làm cho một bộ phận Người lao động, từ đó góp phần tạo việc làm, giảm bớt gánh nặng thất nghiệp, tạo nguồn thu nhập để Người lao động cải thiện cuộc sống Sau một thời gian hoạt động, DNXH sẽ tạo ra
Trang 26những ảnh hưởng nhất định đến vấn đề xã hội đã được doanh nghiệp định hướng, góp phần giải quyết những vấn đề xã hội nhất định trong một phạm
vi nhất định Sâu xa hơn, khi quyết định theo đuổi một mục tiêu xã hội nào
đó, DNXH sẽ góp phần định hướng, nâng cao nhận thức của cộng đồng về thực trạng xã hội, từ đó thúc đẩy giải quyết vấn đề xã hội từ bên trong
Thứ hai, DNXH giúp chia sẻ gánh nặng cho chính quyền và xã hội
trong việc giải quyết các vấn đề xã hội Khi đã xuất hiện một vấn đề xã hội, điều đó cho thấy có một số quyền lợi của một nhóm người đã bị ảnh hưởng
và cần khắc phục Vì một vấn đề xã hội luôn có phạm vi ảnh hưởng sâu rộng, nếu không giải quyết, tháo gỡ kịp thời sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của quốc gia và xã hội Nên đứng trước mỗi vấn đề xã hội, mỗi quốc gia và cộng đồng quốc tế luôn cố gắng đưa ra những chính sách, giải pháp để giải quyết Song bản thân xã hội luôn vận động không ngừng, các vấn đề xã hội cũng “biến hóa” ngày càng đa dạng, phức tạp, nên nếu để một mình Nhà nước đứng ra giải quyết sẽ càng gia tăng gánh nặng cho xã hội Do đó, việc xã hội hóa chức năng giải quyết các vấn đề xã hội, thậm chí cả một số lĩnh vực công ích sẽ giúp san sẻ gánh nặng cho nhà nước và giảm áp lực lên vấn đề an sinh xã hội
Thứ ba, việc phát triển DNXH cũng góp phần tạo ra môi trường kinh
tế năng động, thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển Tuy DNXH không đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu, nhưng các DNXII vẫn phải tiến hành hoạt động kinh doanh để phục vụ cho việc thực hiện các hoạt động xã hội vậy nên họ vẫn phải tham gia vào đời sống kinh tế, phần nào chịu tác động của môi trường kinh doanh Bên cạnh đó, các sản phẩm kinh doanh của DNXH thường chứa đựng những yếu tố đặc biệt vì hướng đến xã hội nên góp phần tăng tính cạnh tranh, thúc đẩy sự năng động, sáng tạo của nền kinh tế
Trang 271.2 Khái quát về Pháp luật Doanh nghiệp xã hội
1.2.1 Khái niệm, nội dung của Pháp luật về Doanh nghiệp xã hội
Pháp luật được hiểu là “hệ thống những quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích định hướng của Nhà nước”14 Do đó, có thể hiểu “pháp luật về doanh nghiệp xã hội” là hệ thống những quy tắc xử sự chung về thành lập, tổ chức và hoạt động của những mô hình kinh doanh hướng đến mục tiêu xã hội, được Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện Nói một cách cụ thể hơn, đó là tổng hợp tất cả các quy định của pháp luật điều chỉnh các vấn đề liên quan đến việc thành lập, tổ chức và hoạt động của DNXH như quy định về thủ tục thành lập, các quy định về đầu tư,
về thuế, quy định cụ thể về các hoạt động kinh doanh
Hiện nay, hệ thống pháp luật của các quốc gia không hoàn toàn giống nhau và quan điểm của mỗi quốc gia về DNXH là khác nhau nên việc xây dựng pháp luật điều chỉnh DNXH cũng khác nhau Có quốc gia xây dựng pháp luật DNXH như một bộ phận của pháp luật doanh nghiệp thông thường (như Anh, Italia, Việt Nam) nhưng cũng có quốc gia xác định pháp luật về DNXH là một bộ phận độc lập nên xây dựng pháp luật về DNXH dưới một đạo luật riêng (như Hàn Quốc, Phần Lan)
Tuy nhiên, dù dưới quan niệm nào, để đảm bảo việc quản lý, điều chỉnh hoạt động của chủ thể này sao cho hiệu quả, các quốc gia khi xây dựng pháp luật về DNXH đều phải đảm bảo các nội dung cơ bản sau:
pháp lý của DNXH là những đặc điểm riêng biệt của DNXH được thể hiện hoặc ghi nhận thông qua các văn bản pháp lý Trước khi ban hành các quy
14 Trường Đại học Luật Hà Nội (2016), Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, Nxb Tư pháp, Hà
Nội, tr.209
Trang 28định để điều chỉnh các hoạt động của DNXH - một đối tượng mới, pháp luật cần xác định rõ những đặc trưng pháp lý của DNXH để phân biệt với các mô hình khác, xác định được phạm vi đối tượng điều chỉnh và từ đó đưa ra những quy định phù hợp Vì vậy, đây là vấn đề đầu tiên cần được thống nhất, làm rõ khi xây dựng pháp luật về DNXH
pháp lý của DNXH là cách thức tổ chức theo quy định của pháp luật Hình thức pháp lý của doanh nghiệp có ảnh hưởng quyết định đến cấu trúc bên trong, chế độ quản trị và giới hạn trách nhiệm của doanh nghiệp Bởi lẽ đó, lựa chọn một hình thức tổ chức sao cho phù hợp với mục đích là mối quan tâm hàng đầu của những người sáng lập doanh nghiệp
- Bốn là, các quy định về quyền và nghĩa vụ của DNXH: DNXH
tham gia vào cả hoạt động kinh doanh và hoạt động xã hội, chịu sự điều chỉnh của pháp luật và được pháp luật ghi nhận và bảo hộ Nhưng DNXH không tồn tại đơn lẻ mà luôn tham gia vào các quan hệ xã hội, tương tác với nhiều chủ thể khác, bao gồm cả cá nhân, tập thể, Nhà nước, với cả những tổ chức có tư cách pháp nhân và không có tư cách pháp nhân Vì
Trang 29vậy, khi quy định về DNXH, pháp luật bắt buộc phải xác định các quyền
mà DNXH được hưởng được pháp luật ghi nhận và bảo vệ để tạo điều kiện cho DNXH tham gia vào các mối quan hệ, tồn tại và phát triển Đồng thời phải quy định các nghĩa vụ mà DNXH phải thực hiện với các chủ thể khác
để đảm bảo hoạt động của DNXH không xâm hại đến quyền lợi hợp pháp của các chủ thể đó, không xâm hại đến quyền lợi của Nhà nước
Pháp luật là công cụ để Nhà nước điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, xác lập và duy trì trật tự xã hội Do đó, khi xây dựng hệ thống pháp luật điều chỉnh về DNXH, Nhà nước buộc phải xây dựng các quy định về kiểm tra, giám sát để đảm bảo sự quản lý của Nhà nước
Đối với Việt Nam, khái niệm DNXH vẫn còn khá mới mẻ nên hệ thống pháp luật về DNXH vẫn đang tiếp tục được xây dựng và phát triển Tuy nhiên, trên cơ sở học hỏi kinh nghiệm của các nước trên Thế giới, chúng ta đã bước đầu xây dựng pháp luật về DNXH chứa đựng các nội dung cơ bản nêu trên Hiện nay, pháp luật về DNXH của Việt Nam bao gồm các quy định về doanh nghiệp nói chung và DNXH nói riêng, nằm rải rác trong các Bộ luật và đạo luật chuyên ngành như: Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, các đạo luật về Thuế, Luật Cạnh tranh Song những nội dung được xây dựng điều chỉnh cụ thể cho DNXH thì chỉ mới được xây dựng tại Luật Doanh nghiệp 2014 và một số văn bản hướng dẫn đạo luật này
1.2.2 Ý nghĩa của việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với doanh nghiệp xã hội
Thứ nhất, việc điều chỉnh bằng pháp luật tạo cơ sở pháp lý cho các DNXH thành lập và hoạt động
Mô hình DNXH thực tế đã xuất hiện ở Việt Nam từ cuối Thế kỷ XX
Trang 30và tiếp tục phát triển dưới nhiều hình thức như doanh nghiệp, Hợp tác xã, trung tâm từ thiện Thời điểm này, do DNXH chưa chính thức được pháp luật thừa nhận, chưa có quy định về DNXH nên mọi hoạt động của các tổ chức trên đều thực hiện theo quy định riêng của pháp luật chuyên ngành tương ứng với từng loại hình riêng biệt Tuy nhiên, về bản chất DNXH có nhiều điểm khác biệt so với các mô hình trên nên việc không có hành lang pháp lý riêng cho DNXH khiến việc xác định tư cách pháp lý, tổ chức và hoạt động của mô hình này không rõ ràng, còn nhiều hạn chế, không phát huy được hiệu quả của DNXH
Luật Doanh nghiệp 2014 được ban hành, chính thức thừa nhận tư cách pháp lý của DNXH đã tạo nên bước tiến mới Sự ghi nhận của pháp luật giúp DNXH có cơ sở pháp lý rõ ràng, thống nhất để thành lập và hoạt động, từ đó khẳng định vị trí riêng của mình trong xã hội
Thứ hai, việc điều chỉnh bằng pháp luật tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý nhà nước đối với DNXH
Pháp luật là công cụ để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý xã hội, duy trì trật tự, ổn định trong một xã hội hiện đại Vậy nên việc thiết lập
hệ thống pháp luật để điều chỉnh DNXH chính là sự cụ thể hóa quan điểm quản lý của Nhà nước, là cơ sở pháp lý để các cơ quan nhà nước thực hiện hoạt động quản lý đối với DNXH
Trước khi Luật Doanh nghiệp 2014 được ban hành, Nhà nước chưa thừa nhận tư cách pháp lý của DNXH, do đó, chúng ta chưa có chính sách
cụ thể thúc đẩy DNXH phát triển Kể từ khi Luật Doanh nghiệp 2014 được ban hành và có hiệu lực, DNXH chính thức được thừa nhận về mặt pháp lý
ở Việt Nam, trở thành một mô hình độc lập Trên cơ sở đó, Nhà nước xác định được đối tượng quản lý rõ ràng, đồng thời có chính sách để phát triển DNXH
Trang 31Kết luận Chương 1
Hiện nay vẫn chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm Doanh nghiệp xã hội, mỗi quốc gia, tổ chức lại có quan điểm khác nhau trong việc định nghĩa “Doanh nghiệp xã hội” Tuy vậy, một số đặc trưng cơ bản của Doanh nghiệp xã hội như có mục tiêu cao nhất là mục tiêu xã hội, có hoạt động kinh doanh và phân phối lợi nhuận vì xã hội vẫn được thống nhất ghi nhận Vì vậy, trên cơ sở tìm hiểu, phân tích một số quan điểm về Doanh nghiệp xã hội, luận văn đã đưa ra một quan điểm riêng về khái niệm Doanh nghiệp xã hội Từ nền tảng đó để phân biệt Doanh nghiệp xã hội với các
mô hình khác tương tự, dễ gây nhầm lẫn
Doanh nghiệp xã hội là một mô hình “vì xã hội”, là nhân tố quan trọng trong việc san sẻ gánh nặng an sinh xã hội cho Nhà nước, góp phần giúp đất nước phát triển bền vững Do đó, để tạo môi trường cho mô hình này phát triển, việc thiết lập hệ thống pháp luật về Doanh nghiệp xã hội là cần thiết Trên cơ sở học tập kinh nghiệm của các quốc gia khác, xuất phát
từ tình hình thực tiễn tại Việt Nam, năm 2014, Luật doanh nghiệp được ban hành chính thức ghi nhận địa vị pháp lý của Doanh nghiệp xã hội, xây dựng các quy định cụ thể về mô hình này, tạo cơ sở pháp lý cho Doanh nghiệp xã hội thành lập và hoạt động tại Việt Nam
Trang 32Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Thực trạng pháp luật về doanh nghiệp xã hội trước khi Luật Doanh nghiệp 2014 được ban hành
Như đã đề cập ở trên, khái niệm “Doanh nghiệp xã hội” vẫn còn khá mới mẻ ở Việt Nam Đến tận thời điểm Luật Doanh nghiệp 2014 được ban hành, DNXH lần đầu tiên được luật hóa theo pháp luật Việt Nam Mặc dù được luật hóa muộn, song trước khi Luật Doanh nghiệp 2014 được ban hành, Việt Nam đã ban hành một số văn bản pháp luật điều chỉnh về hoạt động của các tổ chức dân sự, các mô hình kinh doanh cụ thể, là cơ sở pháp
lý cho hoạt động của những mô hình hoạt động gần giống với DNXH trong thời kỳ này như Hợp tác xã, Quỹ từ thiện, Hiệp hội hay doanh nghiệp Cụ thể:
Năm 1998, Chính phủ ban hành Nghị định số 71/1998/NĐ-CP ngày 08/9/1998 về quy chế dân chủ ở cơ sở, đánh dấu lần đầu tiên chính thức khuyến khích sự tham gia của các tổ chức xã hội và công dân trong quá trình xây dựng, thực hiện và giám sát thực hiện chính sách tại cộng đồng Tiếp đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định 177/1999/NĐ-CP ngày 22/12/1999 của Chính phủ về quy chế tổ chức và hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện (sau đó được thay thế bởi Nghị định 148/2007/NĐ- CP ngày 25/9/2007) Đây là cơ sở pháp lý cho việc thành lập và hoạt động của các quỹ xã hội, quỹ từ thiện - một mô hình gần gũi với DNXH Đây cũng là cơ
sở để gia tăng sự tham gia của các tổ chức xã hội dân sự trong việc giải quyết các vấn đề xã hội Trong các Nghị định nói trên vai trò của các tổ chức cộng đồng được đặc biệt chú trọng trong việc cung cấp các dịch vụ cơ bản cho cộng đồng như quản lý tài nguyên nước, xóa đói giảm nghèo,
Trang 33chăm sóc y tế ban đầu, giáo dục phổ cập, bảo vệ môi trường Nhà nước đặc biệt chú trọng và khuyến khích sự hợp tác giữa các tổ chức NGOs trong nước, nước ngoài và chính quyền địa phương
Sang đầu năm 2000, Việt Nam tiếp tục ban hành, sửa đổi nhiều đạo luật cũng như văn bản pháp luật về các mô hình kinh doanh, các tổ chức chính trị, xã hội tạo cơ sở pháp lý đầy đủ hơn cho việc thành lập và thực hiện hoạt động xã hội của các tổ chức này Chẳng hạn, năm 2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 79/2003/NĐ-CP ngày 07/7/2003 về quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã đã thể chế hoá sự tham gia của người dân địa phương, của các tổ chức ở cộng đồng, các tổ chức của người nghèo trong các hoạt động phát triển ở cấp xã
Cũng trong năm 2003, Luật Hợp tác xã được ban hành, thừa nhận hợp tác xã là tổ chức tình nguyện hoạt động như một đơn vị kinh tế độc lập, tạo cơ sở cho việc thành lập các Hợp tác xã tham gia hoạt động xã hội Khi Luật Doanh nghiệp năm 2005 được ban hành thay thế Luật Doanh nghiệp năm 1999 theo xu hướng ngày càng mở rộng quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp, đạo luật này là cơ sở pháp lý quan trọng cho các doanh nghiệp thành lập và hoạt động kinh doanh, đồng thời thực hiện trách nhiệm xã hội Năm 2012, Chính phủ ban hành Nghị định số 12/2012/NĐ-
CP, quy định về đăng ký và quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam thay thế Quyết định số 340/TTg năm 1996 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế về hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam, tiếp tục củng cố cơ sở pháp lý cho việc thành lập và hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài, tạo điều kiện thực hiện các hoạt động nhân đạo, vì xã hội, chung tay giải quyết các vấn đề xã hội
Như vậy, có thể nhận thấy trong giai đoạn trước khi Luật Doanh nghiệp 2014 được ban hành, chúng ta chưa có văn bản nào quy định một
Trang 34cách “chính danh” về DNXH Nhưng một số vấn đề liên quan đến những tổ chức tương tự như DNXH đã được ghi nhận trong các văn bản pháp luật ở Việt Nam Các quy định đề cập ở trên chính là cơ sở pháp lý cho một số lượng đáng kể DNXH thực tế được thành lập và hoạt động ở nước ta
2.2 Doanh nghiệp xã hội theo Luật Doanh nghiệp 2014
Năm 2014, Luật Doanh nghiệp được ban hành với nhiều sự đổi mới Một trong những điểm mới nổi bật của Luật Doanh nghiệp 2014 là sự ghi nhận về DNXH Với quy định tại Điều 10 Luật Doanh nghiệp 2014, lần đầu tiên, DNXH được thừa nhận tại văn bản pháp luật của Việt Nam Theo
đó, Điều 10 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định:
“ 1 Doanh nghiệp xã hội phải đáp ứng các tiêu chí sau đây:
a) Là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định của Luật này;
b) Mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng;
c) Sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hằng năm của doanh nghiệp
để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký
2 Ngoài các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp theo quy định của Luật này, doanh nghiệp xã hội có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
a) Duy trì mục tiêu và điều kiện quy định tại điểm b và điểm c khoản
1 Điều này trong suốt quá trình hoạt động; trường hợp doanh nghiệp đang hoạt động muốn chuyển thành doanh nghiệp xã hội hoặc doanh nghiệp xã hội muốn từ bỏ mục tiêu xã hội, môi trường, không sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư thì doanh nghiệp phải thông báo với cơ quan có thẩm quyền để tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật;
b) Chủ sở hữu doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp xã hội được xem xét, tạo thuận lợi và hỗ trợ trong việc Cấp giấy phép, chứng chỉ
và giấy chứng nhận có liên quan theo quy định của pháp luật;
Trang 35c) Được huy động và nhận tài trợ dưới các hình thức khác nhau từ các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ và các tổ chức khác của Việt Nam và nước ngoài để bù đắp chi phí quản lý và chi phí hoạt động của doanh nghiệp;
d) Không được sử dụng các khoản tài trợ huy động được cho mục đích khác ngoài bù đắp chi phí quản lý và chi phí hoạt động để giải quyết vấn đề xã hội, môi trường mà doanh nghiệp đã đăng ký;
đ) Trường hợp được nhận các ưu đãi, hỗ trợ, doanh nghiệp xã hội phải định kỳ hằng năm báo cáo cơ quan có thẩm quyền về tình hình hoạt động của doanh nghiệp
3 Nhà nước có chính sách khuyến khích, hỗ trợ và thúc đẩy phát triển doanh nghiệp xã hội
4 Chính phủ quy định chi tiết Điều này ”
Trên cơ sở các quy định chung của Luật Doanh nghiệp, Nhà nước tiếp tục ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành trực tiếp về DNXH: Năm
2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 96/2015/NĐ-CP để quy định chi tiết một số điều của Luật doanh nghiệp (Sau đây gọi tắt là Nghị định số 96/2015/NĐ-CP); Tiếp đó, năm 2016, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng ban hành Thông tư số 04/2016/TT-BKHĐT quy định về các Biểu mẫu văn bản
sử dụng trong đăng ký DNXH theo Nghị định 96/2015/NĐ-CP (Sau đây gọi tắt là Thông tư số 04/2016/TT-BKHĐT) Ngoài ra, để hướng dẫn các quy định chung khác của Luật Doanh nghiệp 2014, các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành một số văn bản hướng dẫn khác như Nghị định của Chính phủ số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/09/2015 về Đăng ký doanh nghiệp, Thông tư số 20/2015/TT-BKHĐT ngày 01/12/2015 của Bộ Kế hoạch và đầu tư Hướng dẫn về Đăng ký doanh nghiệp hay Nghị định số 50/2016/NĐ-CP ngày 01/06/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch đầu tư Tuy Luật Doanh nghiệp
Trang 362014 không phải là đạo luật chứa toàn bộ các quy phạm điều chỉnh mọi vấn
đề của DNXH, nhưng đây là đạo luật cơ bản và quan trọng nhất trong hệ thống pháp luật về DNXH của Việt Nam hiện nay Các quy định về DNXH theo Luật Doanh nghiệp 2014 về cơ bản đã đảm bảo các nội dung chính của pháp luật về DNXH đã nêu ở phần trên
2.2.1 Quy định về đặc trưng pháp lý của DNXH
Đặc trưng pháp lý là những đặc điểm riêng biệt được pháp luật ghi nhận dùng để phân biệt chủ thể này với các chủ thể khác Trong hệ thống pháp luật về DNXH của bất kỳ quốc gia nào việc xác định các đặc trưng pháp lý luôn là vấn đề đầu tiên và quan trọng hàng đầu bởi đây là cơ sở cho việc xác định rõ đối tượng quản lý, từ đó đưa ra khung khổ pháp lý phù hợp Luật Doanh nghiệp 2014 tuy chưa đưa ra khái niệm về DNXH, nhưng
đã đưa ra các tiêu chí của một DNXH Qua đó có thể thấy các đặc trưng pháp lý cơ bản của DNXH theo Luật doanh nghiệp 2014 như sau:
(i) Doanh nghiệp xã hội là doanh nghiệp
Đặc điểm “Là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định của Luật này (tức Luật Doanh nghiệp)” là tiêu chí đầu tiên mà Luật Doanh nghiệp 2014 quy định để xác định một mô hình là DNXH Như vậy, có thể thấy pháp luật Việt Nam không coi DNXH là một mô hình kinh doanh đặc thù mà quan niệm đây là mô hình doanh nghiệp thông thường, được tổ chức và hoạt động theo một trong các loại hình doanh nghiệp như công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh hay doanh nghiệp tư nhân, chỉ phân biệt về định hướng mục tiêu và cách thức phân phối lợi nhuận Tiêu chí này cũng đã phần nào thể hiện một trong những đặc điểm cơ bản của DNXH, tương tự doanh nghiệp thông thường, là có hoạt động kinh doanh
Từ đó, Luật Doanh nghiệp 2014 đã đưa ra sự phân định rõ ràng giữa DNXH với một số tổ chức có tính xã hội khác như tổ chức Phi chính phủ hay các quỹ từ thiện bởi những mô hình này tuy đều có mục tiêu xã hội
Trang 37gần gũi với DNXH, nhưng lại không có hoạt động mang tính“kinh doanh”, không phải “doanh nghiệp” nên những mô hình này đều không được thừa nhận là DNXH theo pháp luật hiện hành
(ii) Doanh nghiệp xã hội phải có mục tiêu giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng
Luật Doanh nghiệp 2014 xác định DNXH trước hết là doanh nghiệp Tuy nhiên, Luật này cũng xác định DNXH có một số điểm phân biệt với các doanh nghiệp thông thường khác, DNXH không hướng đến lợi nhuận
là mục tiêu cao nhất mà luôn theo đuổi mục tiêu cuối cùng là giải quyết vấn
đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng Theo đó, ngay từ khi thành lập
và trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp, DNXH phải luôn hướng đến mục tiêu nhằm giải quyết vấn đề xã hội và vấn đề môi trường, đồng thời phải xác định mục tiêu xã hội, môi trường là mục tiêu cuối cùng, đảm bảo việc giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng chứ không phải vì lợi nhuận Với quy định này, Luật Doanh nghiệp 2014
đã chỉ rõ và nhấn mạnh đặc điểm nổi bật nhất của DNXH, đặc điểm tạo nên tính "xã hội" cho doanh nghiệp chính là mục tiêu xã hội
(iii) DNXH sử dụng phần lớn lợi nhuận để tái đầu tư thực hiện mục tiêu xã hội
Điểm c khoản 1 Điều 10 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định DNXH phải “sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hàng năm của doanh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký” Nói cách khác, pháp luật Việt Nam quy định, DNXH phải sử dụng phần lớn lợi nhuận để tái đầu tư thực hiện mục tiêu xã hội mà mình đã cam kết chứ không được sử dụng toàn bộ lợi nhuận để phân chia cho chủ sở hữu hay các thành viên Theo đó, “phần lớn lợi nhuận” ở đây được pháp luật xác định với định mức “ít nhất là 51%” Con số 51% là nhằm mục đích tạo điều kiện, cơ hội cho DNXH vừa đảm bảo có nguồn vốn thực hiện mục tiêu
Trang 38xã hội, đồng thời huy động vốn kinh doanh từ các nhà đầu tư, thành viên,
cổ đông khác bằng việc bảo đảm có phần cổ tức nhất định cho các nhà đầu
tư này, qua đó góp phần phát triển bền vững cho DNXH15
Quy định này một lần nữa nhấn mạnh vào tính “xã hội”, góp phần định lượng rõ ràng, cụ thể mục tiêu vì xã hội của DNXH Đồng thời cũng
là định mức, căn cứ để nhà nước quản lý, đảm bảo các DNXH thực hiện đúng, có hiệu quả mục tiêu xã hội mà doanh nghiệp đặt ra Đây cũng là đặc trưng pháp lý để phân biệt DNXH với doanh nghiệp thông thường - những
tổ chức luôn hướng đến mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, lợi nhuận thu được phần lớn được phân phối cho chủ sở hữu Nếu doanh nghiệp sử dụng ít hơn 51% tổng lợi nhuận hàng năm để tái đầu tư thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký thì DNXH sẽ bị phạt tiền từ 15.000.000đ đến 20.000.000đ và bị áp dụng biện pháp buộc khắc phục hậu quả theo quy định tại Điều 40 Nghị định số 50/2016/NĐ-CP
Dù chưa đưa ra định nghĩa về DNXH, nhưng qua những quy định trên của Luật Doanh nghiệp 2014, có thể thấy các nhà làm luật đã đưa ra quan điểm của mình về DNXH, khẳng định rất rõ ràng bản chất của DNXH chính là doanh nghiệp hoạt động vì lợi ích chung cho cộng đồng, lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh phần lớn được dùng để giải quyết những vấn đề xã hội Có thể thấy Luật doanh nghiệp nhận diện DNXH theo nghĩa hẹp khi giới hạn hình thức tồn tại của mô hình này chỉ là “doanh nghiệp” chứ không thừa nhận các hình thức khác dù có tồn tại trên thực tế Tuy quan niệm trên có ý nghĩa và thuận tiện cho việc quản lý của Nhà nước, song về mặt khoa học pháp lý, cách nhận diện về DNXH nói trên còn bộc
Trang 39mâu thuẫn về bản chất Luật Doanh nghiệp 2014 khẳng định “Doanh nghiệp xã hội là doanh nghiệp”, điều đó có nghĩa một DNXH trước hết phải đảm bảo đáp ứng các đặc điểm của doanh nghiệp Trong khi đó,
“doanh nghiệp” được hiểu là “tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng kí thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”16; “Kinh doanh” là việc “thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”17 Như vậy, mục đích sinh lợi là đặc điểm nổi bật để phân biệt giữa doanh nghiệp và tổ chức nói chung Mục đích này đã được đặt ra khi các nhà đầu
tư có ý tưởng thành lập doanh nghiệp, là yếu tố căn bản, quyết định đến sự
ra đời và hoạt động của doanh nghiệp, “một thuộc tính không thể tách rời của doanh nghiệp”18 và là “đích cuối cùng của các nhà kinh doanh”19 Đến đây có thể thấy rõ, với quan điểm về “doanh nghiệp” và “kinh doanh” như trên nếu áp dụng vào DNXH sẽ không phù hợp với bản chất của mô hình này Bởi đối với DNXH, ngay từ trong ý tưởng thành lập cho đến khi thành lập và xuyên suốt quá trình hoạt động, các nhà sáng lập luôn xác định mục tiêu cao nhất là nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng Tuy là một mô hình có thực hiện hoạt động kinh doanh và có thể sinh lợi, nhưng mục đích sinh lợi cho chủ sở hữu không phải là mục đích cuối cùng của DNXH, nếu có lợi nhuận thì lợi nhuận thu được phải được tái đầu
tư, phân phối cho việc thực hiện mục tiêu xã hội nói trên
Do đó, một doanh nghiệp thông thường dù thực hiện trách nhiệm xã hội cao đến đâu cũng không thể là DNXH bởi sự khác biệt rất rõ ràng về bản chất và mục đích của chủ sở hữu doanh nghiệp khi thành lập Quy định
16 Xem tại: Khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014
17 Xem tại: Khoản 16 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014
18 Vũ Thị Hòa Như (2015), “Hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về Doanh nghiệp xã hội”, Tạp chí Luật học,
(03), tr.31-36
19 Vũ Thị Hòa Như, tlđd chú thích sổ 18, tr.31-36
Trang 40của pháp luật hiện hành đã tạo ra sự mâu thuẫn trong nội hàm khái niệm DNXH, tính chất quan trọng nhất của DNXH là phi lợi nhuận không được làm nổi bật bởi bản thân khái niệm doanh nghiệp đã chứa đựng tính chất lợi nhuận
- Hai là, quan điểm “Doanh nghiệp xã hội là doanh nghiệp” còn dẫn
đến tình trạng không đồng nhất trong hệ thống pháp luật “Doanh nghiệp” được thành lập nhằm thực hiện chức năng kinh doanh với mục tiêu chính là tạo ra lợi nhuận cho các nhà đầu tư vào doanh nghiệp nên “doanh nghiệp” được Điều 75 Bộ luật Dân sự 2015 xếp vào nhóm pháp nhân thương mại20 Trong khi đó, DNXH lại có những đặc điểm phù hợp với quy định tại Điều
76 Bộ luật Dân sự 2015 - là một pháp nhân phi thương mại, “vẫn có thể tìm kiếm lợi nhuận nhưng đó không là mục tiêu chính và điều quan trọng là nếu có lợi nhuận thì không được chia cho các thành viên” Như vậy, nếu xuất phát từ góc độ của Luật doanh nghiệp, DNXH phải là pháp nhân thương mại, nhưng nếu xuất phát từ “Luật chung” Bộ luật Dân sự, thì DNXH lại thỏa mãn là pháp nhân phi thương mại Điều này cho thấy với cách nhận diện trên của Luật Doanh nghiệp đã đưa đến sự mâu thuẫn giữa Luật Doanh nghiệp với Bộ luật Dân sự khi xác định tư cách pháp lý của DNXH, gây khó cho việc nghiên cứu cũng như quản lý
- Ba là, các tiêu chí trên của Luật Doanh nghiệp 2014 đã tạo ra
khoảng cách giữa DNXH theo luật định và DNXH trên thực tế Theo quy định của Luật doanh nghiệp 2014, để trở thành DNXH thì điều kiện đầu tiên phải là doanh nghiệp Tức hình thức pháp lí của DNXH phải là một trong các loại hình doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp 2014 Tuy nhiên, trên thực tế, những mô hình kinh doanh có đặc điểm của một DNXH còn
20 Khoản 1, khoản 2 Điều 75 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
“1 Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên
2 Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác.”