Mục tiêu nghiên cứu của luận văn này là mô tả đặc điểm lâm sàng người bệnh chấn thương sọ não tại khoa ngoại thần kinh, bệnh viện 19.8; đánh giá kết quả phục hồi chức năng, chăm sóc và một số yếu tố liên quan.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
NGUYỄN THỊ DÂN
ĐÁNH GIÁ CHĂM SÓC, PHỤC HỒI CHỨC NĂNG NGƯỜI BỆNH CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI KHOA NGOẠI THẦN KINH, BỆNH VIỆN 19.8-BỘ CÔNG AN
Chuyên ngành: Điều dưỡng
Mã ngành: 8.72.03.01
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN HỮU VINH
Trang 2
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chấn thương sọ não (CTSN) là tình trạng tổn thương não cấp tính gây ra bởi một lực cơ học bên ngoài tác động vào đầu CTSN có thể xảy ra khi đầu bị va chạm đột ngột
và mạnh vào một vật, hoặc khi một vật đâm xuyên qua hộp sọ và đi vào mô não
Chấn thương sọ não có tỉ lệ tử vong cao, trường hợp nặng nếu qua được thì cũng để lại những di chứng nặng nề cho người bệnh như liệt, sống thực vật…, chi phí chăm sóc y
tế tốn kém, giảm chất lượng cuộc sống của người bệnh Chấn thương gây ra do tai nạn giao thông được cho là nguyên nhân dẫn đến tử vong xếp hàng thứ tám trên toàn thế giới (xấp xỉ 1,24 triệu người tử vong mỗi năm do tai nạn giao thông trên toàn thế giới), gây ra hậu quả tương đương với hậu quả của các bệnh truyền nhiễm như sốt rét [6] Theo số liệu của Tổ chức Y tế thế giới hàng năm, tại Việt Nam tai nạn giao thông (4,1%) là nguyên nhân dẫn đến tử vong xếp hàng thứ tư, làm 21.000 người tử vong trong năm
2012 [15]
Chấn thương sọ não là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tử vong do tổn thương não tại các đơn vị điều trị tích cực Những nguyên nhân chính của CTSN nặng là tai nạn giao thông (tai nạn xe máy) và ngã từ trên cao xuống [17]
Tai nạn giao thông ở Việt Nam hiện đang là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong và thương tật Xe máy chiếm đến 95% tổng số phương tiện giao thông tại Việt Nam nên người đi xe máy là đối tượng có nguy cơ bị tai nạn giao thông cao nhất [15] Theo Tổ chức Y tế thế giới, CTSN là nguyên nhân chính dẫn đến tử vong và thương tật cho người đi xe máy tại Việt Nam [15] Tuy nhiên, có vẻ như những hậu quả do CTSN gây ra tại Việt Nam là rất lớn, liên quan đến số người đội mũ bảo hiểm còn hạn chế cũng như do xe máy là phương tiện giao thông chính [15]
Việc bắt buộc sử dụng mũ bảo hiểm được xem là biện pháp hiệu quả nhất để phòng ngừa CTSN ở những người điều khiển xe máy ở các nước phát triển và cả các nước đang phát triển Đội mũ bảo hiểm giảm tỷ lệ mắc mới, mức độ trầm trọng và tỷ
lệ tử vong do CTSN trong tai nạn xe máy, giảm từ 20% đến 45% chấn thương đầu nghiêm trọng và tử vong [18] Mặc dù việc tỷ lệ sử dụng mũ bảo hiểm ở Việt Nam đã tăng đều đặn trong thập kỷ qua, nhưng không phải mọi loại mũ bảo hiểm đều có chất lượng tốt và không phải mọi người đều đội mũ đúng cách
Trang 3Việc đáp ứng được nhu cầu chăm sóc của người bệnh CTSN là rất quan trọng Chăm sóc, điều trị và phục hồi chức năng (PHCN) tại cơ sở y tế cho người bệnh CTSN có ý nghĩa rất lớn
Thống kê tình hình bệnh tật tử vong của bệnh viện 19.8 – Bộ Công An hàng năm cho thấy tỉ lệ người bệnh sau điều trị ổn định ra viện tương đối cao và quan sát trên lâm sàng chúng tôi thấy người bệnh không chỉ có nhu cầu được chăm sóc mà còn
có nhu cầu PHCN Để hướng dẫn hoặc cung cấp dịch vụ chăm sóc và PHCN cho người bệnh, người điều dưỡng cần biết người bệnh có nhu cầu chăm sóc và PHCN như thế nào
Đã có nhiều nghiên cứu về chẩn đoán và điều trị CTSN nhưng có ít những nghiên cứu về kết quả chăm sóc, PHCN người bệnh CTSN nên chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài : “Phục hồi chức năng, chăm sóc người bệnh chấn thương sọ
não và một số yếu tố liên quan tại khoa Ngoại Thần Kinh, Bệnh viện 19.8-Bộ Công An”
Với hai mục tiêu:
1 Mô tả đặc điểm lâm sàng người bệnh chấn thương sọ não tại khoa ngoại thần kinh, bệnh viện 19.8
2 Đánh giá kết quả phục hồi chức năng, chăm sóc và một số yếu tố liên quan
Trang 4Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
* Chảy máu não:
1.1.4 Di chứng sau chấn thương sọ não
* Hội chứng đau đầu sau chấn thương sọ não có hai thể
* Động kinh:
* Bệnh lý cột sống cổ:
* Giảm hoặc mất trí nhớ, đau đầu dai dẳng:
* Liệt
* Rối loạn ngôn ngữ
* Suy nhược thần kinh, rối loạn tâm thần
1.1.5 Đánh giá độ nặng của chấn thương sọ não theo thang điểm Glasgow [28]
Cách tính điểm Glasgow Mức độ nặng của chấn thương sọ não được đánh giá là:
Trang 51.2.1 Triệu chứng chấn thương sọ não nhẹ
1.2.2 Triệu chứng chấn thương sọ não từ trung bình đến nặng
1.4.2 Chấn thương sọ não vừa và nặng
(I) Các rối loạn ý thức kéo dài (Prolonged Disorders of Consciousness, PDOC)
(II) Hôn mê
(III) Tình trạng thực vật kéo dài (PVS)
(IV) Chứng quên sau chấn thương (PTA)
1.5 Đánh giá tình trạng khiếm khuyết chức năng:
1.6 Chăm sóc lấy người bệnh và gia đình làm trung tâm
1.7 Quy trình điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân CTSN
1.7.1 Nhận định
1.7.2 Chẩn đoán điều dưỡng
1.8 Một số đặc điểm về cơ sở nghiên cứu
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng
2.2 Tiêu chuẩn lựa chọn
2.3.Tiêu chuẩn loại trừ
2.4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.5 Thiết kế nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.6 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu:
2.6.1 Cỡ mẫu
Trang 6- Áp dụng công thức cho nghiên cứu mô tả cắt ngang
Trong đó:
n: Cỡ mẫu tối thiểu cần cho nghiên cứu
Z: Hệ số tin cậy, với độ tin cậy 95%, Z = 1,98
p: Tỷ lệ bệnh nhân CTSN Lấy p = 0,55
q = (1- p) = 1 – 0,55 = 0,45
d = 0,08 (sai số tuyệt đối cho phép)
Áp dụng công thức ta tính được n = 195 Dự phòng mất đối tượng không phỏng vấn được hoặc không đồng ý tham gia nghiên cứu, cỡ mẫu được tăng lên 10% và làm tròn là 214 bệnh nhân
+ Chọn mẫu tại thực địa
2.6.2 Phương pháp chọn mẫu
2.7 Phương pháp thu thập số liệu
2.7.1 Công cụ thu thập số liệu
2.7.2 Xây dựng, thử nghiệm và hoàn thiện công cụ nghiên cứu
* Xây dựng công cụ:
2.7.3 Thử nghiệm và hoàn thiện bộ công cụ nghiên cứu
2.8 Các biến số nghiên cứu
thu thập
I Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
II Nhu cầu chăm sóc và phục hồi chức năng
1 Nhu cầu chăm sóc
2 Nhu cầu PHCN
III Đánh giá mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày
2.9 Các khái niệm, thước đo tiêu chuẩn đánh giá
2.9.1 Nhu cầu chăm sóc của NB
2.9.2 Nhu cầu PHCN
Trang 7*Mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày
2.9.3 Mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày
2.10 Phương pháp phân tích số liệu
2.11 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
2.12 Sai số của nghiên cứu, biện pháp khắc phục
Trang 8Chương 3 KẾT QUẢ
3.1 Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Bảng 1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo thông tin kinh tế xã hội
Ngoài độ tuổi lao động 56 26.17
Trang 9Biểu đồ 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới tính và nhóm tuổi
Bảng 2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo thông tin về bệnh tật
Trang 103.2 Nhu cầu chăm sóc và PHCN
Bảng 3 Tỉ lệ người bệnh có nhu cầu chăm sóc toàn thân và cơ xương khớp
Chăm sóc nội khí quản/mở khí quản 69 32.24
Bảng 5 Tỉ lệ người bệnh có nhu cầu chăm sóc nuôi dưỡng
Vệ sinh miệng sau khi ăn 119 55.61
Trang 11Bảng 6 Tỉ lệ người bệnh có nhu cầu chăm sóc tiêu hóa – đại tiện
Vệ sinh sau khi đại/tiểu tiện 22 10.28
Nằm đệm chống loét/chêm lót vùng tì đè 16 7.48
Bảng 8 Tỉ lệ người bệnh có nhu cầu chăm sóc tiết niệu
Có nhu cầu chăm sóc toàn thân 32 14.95
Có Nhu cầu chăm sóc nuôi dưỡng 31 14.49
Có Nhu cầu chăm sóc loét và phòng chống loét 29 13.55
Có Nhu cầu chăm sóc về tâm lý 17 7.94
Có Nhu cầu chăm sóc tiêu hóa: đại tiện 51 23.83
Có Nhu cầu chăm sóc tiết niệu 18 8.41
Có Nhu cầu chăm sóc cơ xương khớp 12 5.61
Tổng cộng
Trang 12Bảng 10 Phân bố nhu cầu PHCN chung
Trang 13Bảng 12a Phân bố nhu cầu theo từng nhu cầu PHCN (Tần số)
Nhu cầu
(Mức độ 0)
Tổng cộng
Hiểu câu nói đơn giản 54 37 14 105 109 214
Hiểu các cử chỉ và dấu hiệu khi giao
Đi bộ được ít nhất 10 bước 64 69 133 81 214
Có đau đầu, đau lưng, đau khớp 65 55 120 94 214
Tổng cộng
Trang 14Hiểu câu nói đơn giản 25.23 17.29 6.54 49.07 50.93 100 Thể hiện nhu cầu 10.75 20.56 2.80 34.11 65.89 100 Hiểu các cử chỉ và dấu hiệu khi
giao tiếp 27.57 14.95 14.49 57.01 42.99 100
Sử dụng cử chỉ, dấu hiệu để giao
tiếp mà những người khác hiểu 12.15 16.82 0.00 28.97 71.03 100
Di chuyển được bệnh phòng 29.44 25.23 0.00 54.67 45.33 100
Đi bộ được ít nhất 10 bước 29.91 32.24 0.00 62.15 37.85 100
Có đau đầu, đau lưng, đau khớp 30.37 25.70 0.00 56.07 43.93 100
3.3 Mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của NB CTSN
Bảng 14 Phân bố mức độc lập trong sinh hoạt hàng ngày
3.4 Một số yếu tố liên quan đến mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày
Bảng 15 Mối liên quan giữa kinh tế gia đình và mức độ độc lập trong sinh hoạt
hàng ngày Mức độ
Trang 15Bảng 16 Mối liên quan giữa trình độ học vấn và mức độ độc lập trong sinh hoạt
hàng ngày Mức độ
Trang 16Bảng 18 Mối liên quan giữa số lần bị CTSN và mức độ độc lập trong sinh hoạt
hàng ngày Mức độ
Bảng 20 Mối liên quan giữa tình trạng có bệnh kèm theo và mức độ độc lập
trong sinh hoạt hàng ngày Mức độ
Trang 17Bảng 21 Mối liên quan giữa rối loạn cơ tròn và mức độ độc lập trong sinh hoạt
hàng ngày Mức độ
3.5 Kiến thức của người chăm sóc chính về nhu cầu chăm sóc của NB
Bảng 22 Kiến thức của người chăm sóc chính về nhu cầu chăm sóc của NB
KT về Nhu cầu chăm sóc hô hấp 208 97.20 6 2.80
KT về Nhu cầu chăm sóc nuôi dưỡng 198 92.52 16 7.48
KT về Nhu cầu chăm sóc loét và phòng chống loét 200 93.46 14 6.54
KT về Nhu cầu chăm sóc về tâm lý 187 87.38 27 12.62
KT về Nhu cầu chăm sóc tiêu hóa 198 92.52 16 7.48
KT về Nhu cầu chăm sóc tiết niệu 210 98.13 4 1.87
KT về Nhu cầu chăm sóc cơ xương khớp 208 97.20 6 2.80
KT chung về nhu cầu chăm sóc của NB 204 95.33 10 4.67
Trang 18
độ tuổi lao động đa phần là những người cao tuổi có những hạn chế về khả năng thích nghi của cơ thể, hạn chế về sự hấp thu, sử dụng và dự trữ các chất dinh dưỡng, hạn chế về sức đề kháng của cơ thể, khả năng phục hồi của cơ thể lâu hơn ở người trẻ Do
đó, số NB này có nhu cầu chăm sóc rất lớn, cần đến những hỗ trợ tích cực từ phía nhân viên y tế và người nhà
4.1.2 Về số lần bị CTSN
Trong tổng số người bệnh CTSN mà chúng tôi nghiên cứu có 92.52% mắc CTSN lần đầu, số người bị CTSN từ hai lần trở lên chiếm 7.48% Kết quả này cao hơn kết quả nghiên cứu của Lê Thị Thảo (30,4%) [27] và cao hơn so với kết quả nghiên cứu của Đào Hữu Đường tại Bệnh viện Lão khoa Trung Ương trong 5 năm từ 1998-2002(18,8%) [16] Tác giả Nguyễn Văn Triệu theo dõi trên các người bệnh CTSN lần đầu và ghi nhận tỉ lệ tái phát là 15,1% trong vòng 1 năm sau khi bị bệnh [31] Trong nghiên cứu của chúng tôi cũng gặp những người bệnh bị CTSN tới lần thứ 3 hoặc có người bệnh bị CTSN mới ngay khi còn đang điều trị đợt cũ Như vậy người bệnh sau khi bị CTSN lần đầu nếu không được điều trị dự phòng thì vẫn có thể
Trang 19dẫn đến những hậu quả không lường những lần tiếp theo Do vậy bên cạnh việc điều trị và PHCN cho người bệnh sau CTSN cũng cần quan tâm đến việc đề phòng các bệnh khác tái phát Sự thay đổi đáng kể tỉ lệ người bệnh có tiền sử CTSN tại khoa Ngoại Thần Kinh, Bệnh viện 19.8-Bộ Công An cho thấy CTSN càng ngày càng là gánh nặng lớn cho y tế cũng như xã hội
4.1.3 Về tình trạng bệnh đi kèm
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, người bệnh bị CTSN không có bệnh
đi kèm chiếm 78.97%, chỉ 21.03% là có ít nhất 1 bệnh đi kèm Các nghiên cứu của các tác giả khác cũng cho kết quả tương tự, nghiên cứu của Đỗ Mạnh Hùng có 65.6%
có ít nhất 1 bệnh đi kèm [21]; nghiên cứu của Đào Hữu Đường có 91% có ít nhất 1 bệnh đi kèm [16] Điều này hoàn toàn phù hợp bởi theo Tổ chức Y tế thế giới có nhiều nguyên nhân gây ra CTSN, nhưng có 5 nguyên nhân chủ yếu, đứng hàng đầu là nguyên nhân do ngã, thứ hai do tai nạn giao thông, thứ ba do bạo lực, thứ tư do các chấn thương trong thể thao và thứ năm vụ nổ và các thương tích chiến đấu khác
4.1.4 Về bên liệt:
Trong số những người bệnh CTSN liệt nửa người thì tỷ lệ liệt bên phải là 37.38
% cao hơn liệt trái là 41.59% (bảng 3.2), số NB không bị liệt là 21.03% Điều này phù hợp với các nghiên cứu của Lê Thị Thảo, liệt nửa người bên phải chiếm tỷ lệ 52%, còn bên trái là 48% [27]; kết quả nghiên cứu của Đỗ Mạnh Hùng cho thấy, tỷ lệ liệt nửa người bên phải là 47,6%, bên trái là 42,4% và không liệt là 10% [21] Một số người bệnh của chúng tôi có liệt cả hai bên, đều là những người bệnh có tiền sử CTSN, đã có sẵn 1 bên liệt cũ khi nhập viện
4.1.5 Về tình trạng rối loạn cơ tròn
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 86.45% đối tượng nghiên cứu không có rối loạn cơ tròn và 13.55% đối tượng nghiên cứu có rối loạn cơ tròn Kết quả này cao hơn kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Triệu tại một số bệnh viện tỉnh Hải Dương, với tỷ lệ rối loạn cơ tròn là 51,3% và không có tỷ lệ rối loan cơ tròn là 40,4% Tình trạng rối loạn cơ tròn dẫn đến người bệnh mất khả năng tự chủ trong quá trình đại tiểu tiện làm cho quá trình chăm sóc và vệ sinh gặp nhiều khó khăn Sự khác biệt
Trang 20bệnh nhẹ hơn
4.2 Bàn luận về nhu cầu chăm sóc và PHCN
4.2.1 Về phân bố nhóm nhu cầu chăm sóc
Trong nghiên cứu của chúng tôi, nhu cầu chăm sóc tập trung vào nhóm chăm sóc về tắm với 45.79% người bệnh có nhu cầu và ít nhất là xoa bóp vùng tì đè (6.07%) Các nhóm nhu cầu chăm sóc khác là: thay quần áo có 16.82% người bệnh
có nhu cầu, 10.28% số người bệnh cần vệ sinh sau khi đại/tiểu tiện, 7.48% có nhu cầu chăm sóc nằm đệm chống loét/chêm lót vùng tì đè và 13.55% có nhu cầu chăm sóc thay băng vết loét
4.2.2 Nhóm các chăm sóc về cơ xương khớp
Đây là nhóm chăm sóc mà người bệnh có nhu cầu, trong đó 17.76% người bệnh cần vận động chủ động, 82.24% người bệnh cần vận động thụ động Tỉ lệ người bệnh
có nhu cầu chăm sóc về cơ xương khớp trong nghiên cứu của tác giả Hoàng Ngọc Thắm là 98,2% [28], cao hơn nghiên cứu của chúng tôi không nhiều Điều này cho thấy, tuy nhiên, theo các chuyên gia, khả năng phục hồi vận động của người bệnh CTSN là nhanh nhất trong thời gian đầu của bệnh, điều này lí giải sự khác biệt về tỉ lệ các mức độ cần tập luyện giữa hai nghiên cứu
4.2.3 Nhóm các chăm sóc tư thế
Có 56,54% số người bệnh vẫn cần tiếp tục chăm sóc đặt tư thế và 43.46% người bệnh phải dùng lăn trở Kết quả của tác giả Hoàng Ngọc Thắm đưa ra, có tới 92% người bệnh cần đặt tư thế [28] Sự khác biệt này phù hợp với thực tế các chuyên gia đều cho rằng, kỹ thuật vị thế cho người bệnh trong giai đoạn sớm của CTSN là rất cần thiết Các chuyên gia cũng cho rằng kỹ thuật này cần phải duy trì đến giai đoạn hồi phục và kể cả khi người bệnh đã được trở về nhà Điều này giải thích tại sao trong nghiên cứu của chúng tôi lại có hơn một nửa người bệnh vẫn cần áp dụng kỹ thuật vị thế
4.2.4 Về vấn đề nuôi dưỡng
Đa số người bệnh cần hỗ trợ về nuôi dưỡng trong đó 34.58% số người bệnh cần được bón cho ăn đường miệng, 35.05% người bệnh ăn qua sonde dạ dày, 17.76% số người bệnh ăn đường tĩnh mạch và 12.62% người bệnh có nhu cầu vệ sinh miệng sau khi ăn Các người bệnh cần bón cho ăn đường miệng có thể do tay liệt/không thành thạo nên không xúc/gắp ăn được; người bệnh cũng có thể bị liệt VII làm méo miệng
Trang 21dẫn đến ăn rơi vãi, khó nuốt; liệt hầu họng gây sặc hoặc nghẹn khi nuốt Tại khoa Ngoại Thần Kinh, Bệnh viện 19.8-Bộ Công An, ngoài quá trình tự phục hồi của cơ thể, nhiều người bệnh được hỗ trợ bằng tập phục hồi chức năng, châm cứu nên tỉ lệ cần hỗ trợ đảm bảo dinh dưỡng thấp hơn trong nghiên cứu ở giai đoạn cấp của tác giả Hoàng Ngọc Thắm (100% cần chăm sóc dinh dưỡng, 56,8% cần tránh nghẹn sặc khi
ăn, 13,8% cần cho ăn qua sonde dạ dày) [28], tác giả Nguyễn Thị Huệ (12% ăn qua sonde dạ dày) [20], tác giả Nguyễn Thị Mơ tại trung tâm đột quị bệnh viện 108 năm
2012 (31,3% người bệnh phải đặt sonde dạ dày) [25]
4.2.5 Về nhu cầu chăm sóc tiết niệu
Chúng tôi thấy có 36,6% người bệnh cần chăm sóc về đường tiết niệu với 23.83% người bệnh cần giúp vệ sinh bộ phận sinh dục hàng ngày, 7.48% người bệnh lưu thông tiểu dài ngày, 45.33% người bệnh bị bí tiểu, 11.68% người bệnh tiểu tiện dầm dề Tỉ lệ người bệnh cần chăm sóc tiết niệu trong nghiên cứu của Hoàng Ngọc Thắm [28] thấp hơn nghiên cứu này với lí do đã bàn ở phần nhu cầu chăm sóc chung Tuy nhiên, chúng tôi cũng thấy tỉ lệ người bệnh có thông tiểu của tác giả này cao hơn
do người bệnh đang trong giai đoạn cấp của bệnh Tác giả Nguyễn Thị Huệ cũng thấy
tỉ lệ bệnh nhân phải đặt thông tiểu là 16,6%, 1,1 % người bệnh thu nước tiểu bằng chụp dương vật và 18,9% người bệnh đóng bỉm, không có người bệnh thông tiểu ngắt quãng,
có 3,3% người bệnh tự đi tiểu nhưng cần kích thích, như vậy, có tới 43,3% người bệnh rối loạn tiểu tiện [20], cao hơn nghiên cứu của chúng tôi Điều này phù hợp vì nghiên cứu trên tiến hành ở các người bệnh đang trong giai đoạn sớm của bệnh
4.2.6 Về tình trạng tập phục hồi chức năng
Qua nghiên cứu từ 214 người bệnh bị CTSN cho thấy, có 41.59% được tập PHCN lần này và 58.41% không được tập PHCN Khi có đủ điều kiện, các người bệnh sẽ được đưa lên khoa Phục hồi chức năng để tập hàng ngày, nếu người bệnh chưa thể di chuyển được, một số người bệnh được điện châm và tập tại giường bởi các kỹ thuật viên PHCN Có thể lý do của tỉ lệ không nhỏ các người bệnh CTSN không tập PHCN trong thời gian điều trị là: Một số người bệnh không cần tập PHCN (ví dụ không có liệt), một số người bệnh phục hồi rất nhanh, chỉ sau 2 ngày là tình trạng đã cải thiện rất tốt, số còn lại, hoặc người bệnh bị các bệnh khác đi kèm làm tình trạng cơ thể quá nặng, không thích hợp để tập PHCN hoặc người nhà xin cho