1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo tồn và phát huy giá trị kiến trúc nghệ thuật chùa Keo Hành Thiện, Xuân Trường, Nam Định

25 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 789,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chùa Keo Hành Thiện từ lâu đã nổi tiếng bởi cảnh quan đẹp, không gian yên tĩnh. Chùa tọa lạc trên một khu đất rộng, bằng phẳng gần sông Hồng và sông Ninh Cơ. Phía trước Tam quan có hồ bán nguyệt và hòn non bộ theo thế tam sơn, long chầu hổ phục; trên bờ có đôi voi đá khổng lồ, quanh chùa là hàng cây cổ thụ có tuổi đời hàng trăm năm.

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

1.Lý do chọn đề tài 2

2 Tình hình nghiên cứu 3

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4.1/ Đối tượng nghiên cứu 3

Chùa Keo Hành Thiện 3

4.2/ Phạm vi nghiên cứu 3

Làng Hành Thiện – xã Xuân Hồng – huyện Xuân Trường – tỉnh Nam Định 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Bố cục 4

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ XUÂN TRƯỜNG VÀ LỊCH SỬ RA ĐỜI CHÙA KEO HÀNH THIỆN 5

1.1/ Xuân Trường – một vùng quê văn hiến 5

1.1.1/ Vị trí địa lý 5

1.1.2/ Lịch sử hình thành 5

1.2/ Bảo tồn phát huy di sản Văn hóa ở Xuân Trường 6

1.3/ Một số gương mặt tiêu biểu các thế hệ là người con quê hương Xuân Trường 7

Chương 2: CHÙA KEO HÀNH THIỆN 9

1.2.1/ Làng Hành Thiện – ngôi làng hình cá chép 9

1.2.2/ Lịch sử ra đời chùa Keo Hành Thiện 11

1.2.2.1/ Kiến trúc 12

1.2.2.2/ Ngôi chùa không sư 14

1.2.3/ Lễ hội chùa Keo Hành Thiện 19

1.2.4/ Bảo tồn, gìn giữ, phát huy giá trị 21

Tài liệu tham khảo 25

Trang 2

MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài

Chùa Keo Hành Thiện từ lâu đã nổi tiếng bởi cảnh quan đẹp, không gian yên tĩnh Chùa tọa lạc trên một khu đất rộng, bằng phẳng gần sông Hồng và sông Ninh Cơ Phía trước Tam quan có hồ bán nguyệt và hòn non bộ theo thế tam sơn, long chầu hổ phục; trên bờ có đôi voi đá khổng lồ, quanh chùa là hàng cây cổ thụ có tuổi đời hàng trăm năm Gác chuông trước cửa chùa là kiến trúc tam quan nội 5 gian, làm theo kiểu chồng diêm cao 7,5m gồm có 8 cột đại trụ và

16 cột quân được đặt trên đá tảng chạm khắc hoa văn, cảnh hoa sen mang đậm phong cách nghệ thuật thời Hậu Lê Sau gác chuông là cụm kiến trúc trung tâm gồm tiền đường 5 gian, tòa đệ nhị 3 gian, tòa đệ nhất 3 gian thờ Phật và Thiền sư Không Lộ Các nghệ nhân xây dựng chùa đã dồn toàn bộ trí lực tài hoa để tạo dựng và thể hiện những đường nét chạm khắc tinh vi trên các mảng đố, xà, bảy,

kẻ của từng tòa nhà Ở 3 bộ cửa ô tiền đường chùa Phật, mỗi cánh cửa được chạm gỗ với đề tài khác nhau Kỹ thuật chạm gỗ bong kênh ở mặt tiền hai gian tòa tiền đường đã đạt tới trình độ cao với đề tài vô cùng phong phú: Long cuốn thủy, ly ngậm ngọc, phượng ngậm cành hoa, tứ linh, nghê đội nóc đao… Đặc biệt hình rồng được thể hiện lúc ẩn, lúc hiện ở các trạng thái khác nhau với những đường nét khắc họa tinh vi, sắc sảo, sống động và mềm mại theo phong cách dân gian vùng châu thổ sông Hồng Sau thờ Phật là đền Thánh thờ Thiền sư Không Lộ với 3 tòa quy mô được cấu trúc theo kiểu "Thượng bò cuốn hạ kẻ bẩy

và kẻ nội đấu truyền" với trạm khắc hoa văn công phu, tỷ mỷ Cuối cùng là mười gian nhà Tổ và nhà oàn, nhà ký đồ với kiến trúc 3 gian và hai bên chùa là dãy hành lang gồm 80 gian khép kín càng tạo nên vẻ trang nghiêm, bề thế của tổng thể kiến trúc Ngoài vẻ đẹp kiến trúc, trong chùa còn lưu giữ, bảo tồn những di vật có giá trị của thời Hậu Lê như án thư, sập thờ, tượng pháp, khánh, văn bia cổ, hoành phi, câu đối, cửa hãn…

Trang 3

Nơi đây hàng năm đã đón nhiều đoàn khách và nhân dân khắp nơi về thăm quan, văn cảnh, đồng thời thăm nhà lưu niệm đồng chí Trường Chinh, nhà cách mạng suất sắc, người con ưu tú của quê hương Hành Thiện

2 Tình hình nghiên cứu

Vì chùa keo Hành Thiện là một trong những ngôi chùa cổ rất nổi tiếng và

đã được nhà nước công nhân “ di tích quốc gia” Vậy nên đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết về chùa Keo:

- Lễ hội chùa Keo Hành Thiện

http://hanhthien.net/news/view/104/Le-hoi-chua-Keo-Hanh-Thien.html

- Làng khoa bảng: Hành Thiện - vùng đất khoa danh lừng lẫy

sinh-nhieu-nhan-tai-dat-nuoc.html

http://www.tiin.vn/chuyen-muc/hoc/lang-khoa-bang-hanh-thien-noi-san Những bí ẩn quanh ngôi chùa không sư

Nguồn: VietNamNet.vn

3 Mục đích nghiên cứu

Giới thiệu về chùa Keo, lễ hôi cũng như các các giá trị đặc biệt của chùa Keo mà các ngôi chùa khác không có được

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1/ Đối tượng nghiên cứu

Chùa Keo Hành Thiện

4.2/ Phạm vi nghiên cứu

Làng Hành Thiện – xã Xuân Hồng – huyện Xuân Trường – tỉnh Nam Định

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu liên ngành: lịch sử, dân tộc học, bảo tàng hoc, văn hoá dân gian, mỹ thuật

Phương pháp nghiên cứu các nguồn tư liệu: Tìm hiểu các nguồn tư liệu liên quan đến đề tài

Trang 4

6 Bố cục

Chương 1: Tổng quan về Xuân Trường và lịch sử ra đời chùa Keo Hành Thiện

Chương 2: Chùa Keo Hành Thiện- giá trị vật chất và tâm linh

Chương 3: Bảo tồn, gìn giữ, phát huy giá trị

Trang 5

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ XUÂN TRƯỜNG VÀ LỊCH SỬ RA ĐỜI

CHÙA KEO HÀNH THIỆN 1.1/ Xuân Trường – một vùng quê văn hiến

1.1.1/ Vị trí địa lý

Xuân Trường là một huyện phía Nam của tỉnh Nam Định, Việt Nam

- Phía Bắc giáp huyện Vũ Thư (Thái Bình)

- Phía Đông Bắc giáp huyện Kiến Xương (Thái Bình)

- Phía Nam giáp huyện Hải Hậu

- Phía Đông Nam giáp huyện Giao Thủy

- Phía Tây giáp huyện Trực Ninh

Ranh giới phía Bắc với tỉnh Thái Bình là sông Hồng.Ranh giới phía Tây với huyện Trực Ninh là sông Ninh Cơ, ranh giới phía Đông Nam với huyện Giao Thủy là sông Sò Làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng nằm ở ngã ba sông Hồng và sông Ninh Cơ, tiếp giáp với huyện Vũ Thư (Thái Bình) và huyện Trực Ninh

Xuân Trường là vùng đất thuộc đồng bằng sông Hồng, được bao bọc bởi 3 con sông lớn là: sông Hồng, sông Sò, sông Ninh Cơ Vùng đất ấy là nơi “ Đất lành, chim đậu” với quá trình hình thành và phát triển gần một nghìn năm nay

1.1.2/ Lịch sử hình thành

Vùng đất Xuân Trường ngày nay, từ xa xưa là một trong những vùng đất

do biển bồi tạo nên Vào thế kỉ thứ VI, nơi đây được gọi là cửa biển “Đại Nha” Theo sử sách thì huyện Xuân Trường ngày nay vốn là một phần đất của hương Giao Thủy xưa kia, Tên “Giao Thủy” xuất hiện khoảng thế kỉ X Một số sách sử, trong đó có “Đại Việt Sử kí toàn thư”, khi chép về các sứ quân Ngô có nói rõ Ngô Nhật Khánh (Cháu Ngô Quyền) ngoài việc chiếm giữ quê hương Đường Lâm, còn xây dựng căn cứ ở vùng Giao Thủy (Thuộc Nam Định ngày nay) Đầu thế kỷ X, Giao Thủy là vùng đất cửa sông giáp biển ( Bao gồm đất từ Nam trực trở xuống)

Trang 6

Ở vùng này khi Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, đã có tả tướng tiên phong Nguyễn Công Thành lập công lớn Sau chiến thắng, Ngô Quyền đã giao cho ông trấn giữ vùng cửa sông Giao Thủy.Ông sinh năm Đinh Sửu (917) và mất năm Nhâm Thìn (992), nhiều làng ở vùng phía Nam tỉnh Nam Định đã lập đền thờ Ông

Tới thời Trần ( thế kỷ XIII) huyện Giao Thủy ( bao gồm Xuân Trường và Giao Thủy ngày nay) là một trong 4 huyện thuộc phủ Thiên Trường ( Mỹ Lộc, Thượng Nguyên, Nam Chân và Giao Thủy)

Đến thời Tự Đức (1862) Phủ Thiên Trường được đổi tên thành Phủ Xuân Trường như vậy tên Xuân Trường được xuất hiện từ thế kỷ XIX, nhưng không chỉ địa danh huyện như hiện nay mà là địa danh của một phủ Tới năm 1934 phủ Xuân Trường chỉ còn là một đơn vị hành chính cấp huyện, cùng với huyện Giao Thủy thuộc tỉnh Nam Định Cho tới năm 1948 mới chính thức đổi phủ Xuân Trường thành huyện Xuân Trường

Tháng 12/1967, theo quyết định của Chính phủ: Hai huyện Xuân Trường

và Giao Thủy hợp nhất thành huyện Xuân Thủy

Sau 30 năm hợp nhất, ngày 26/2/1997 Chính phủ có Nghị định 19/CP chính thức tách huyện Xuân Thủy thành hai huyện Xuân Trường và Giao Thủy Huyện Xuân Trường tái lập, chính thức đi vào hoạt động theo đơn vị hành chính mới từ 01/4/1997 Huyện có diện tích hơn 112km2, dân số hơn 18 vạn người trong đó 28,5% đồng bào theo đạo Thiên chúa, với các dơn vị hành chính cấp xã gồm: Thị trấn Xuân Trường, Xuân Châu, Xuân Thượng, Xuân Hồng, Xuân Thuỷ, Xuân Thành, Xuân Phong, Xuân Đài, Xuân Tân, Xuân Bắc, Xuân Ngọc, Xuân Phương, Xuân Trung, Xuân Phú, Xuân Vinh, Xuân Kiên, Xuân Hòa, Xuân Ninh, Xuân Tiến, Thọ Nghiệp

1.2/ Bảo tồn phát huy di sản Văn hóa ở Xuân Trường

Xuân Trường – Nam Định được biết đến là vùng đất “ địa linh nhân kiệt”

có từ lâu đời Trải qua trường kỳ lịch sử của đất nước và dân tộc, vùng đất này mang những tên gọi khác nhau

Trang 7

Cái tên Xuân Trường với hàm ý sức Xuân Trường tồn mãi đã có từ đầu thế

kỷ XIX

Từ xưa, Xuân Trường là nơi gặp gỡ giao hội của các mạch giao thông thủy

bộ, chủ yếu là những dòng sông hướng ra biển lớn Như sông Ninh Cơ, sông Hồng, sông Sò,…Cảnh quan sinh thái phủ Xuân Trường thật đa dạng, phong phú Những cánh đồng trải dài tít tắp với những hệ thống kênh mương ắp đầy nước mát tạo cho nơi đây sớm trỏ thành trung tâm giao thương, vừa thuận lợi cho làm ăn, vừa phát triển kinh tế - văn hóa, khiến vùng đất này có vị trí khá đặc biệt trong lịch sử dân tộc, văn hóa Việt Nam

Lịch sử đã để lại trên quê hương Xuân Trường nhiều công trình kiến trúc văn hóa tâm linh, bao gồm: 45 ngôi chùa, 245 đền, đình, miếu; 833 Từ đường;

71 nhà thờ Đến nay có 29 di tích được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hóa, trong đó 9 di tích lịch sử văn hóa được Bộ Văn hóa Thông tin và Du lịch công nhận, 20 di tích lịch sử văn hóa được UBND tỉnh công nhận

Kết quả nghiên cứu lịch sử cho thấy đây là địa bàn sinh tụ của nhiều người dân thuộc đủ các vùng miền trên phạm vi toàn quốc đến đây khai khẩn, lập làng

cư trú

Những giá trị văn hóa đó từ hàng trăm năm nay, đã được nhân dân trong vùng từ đời này qua đời khác để tôn thờ, ngưỡng vọng Hướng về một tương lai phát triển, người dân Xuân Trường luôn ý thức được rằng cần ra sức bảo tồn, phát hya những giá trị lịch sử - văn hóa

1.3/ Một số gương mặt tiêu biểu các thế hệ là người con quê hương Xuân Trường

 Đặng Xuân Khu (Hiệu: Trường Chinh): Cố Tổng Bí thư, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước CHXHCN Việt Nam

 Đặng Vũ Khiêu (tức Vũ Khiêu): Giáo sư, Anh hùng lao động

 Đặng Quân Thụy: Trung tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội

 Đặng Hồi Xuân: Cố Bộ trưởng Bộ Y tế

Trang 8

 Đặng Vũ Chư: nguyên Bộ trưởng Bộ Công nghiệp

 Đặng Vũ Hỷ: giáo sư, bác sỹ đầu ngành da liễu

 Đặng Vũ Minh: nguyên Chủ tịch Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam

 Đặng Xuân Kỳ: con trai Tổng Bí thư Trường Chinh, nguyên Viện trưởng Viện Mác-Lê nin

 Nguyễn Đăng Kính: Anh hùng lực lượng vũ trang, nguyên Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát quân sự Trung ương Việt Nam

 Đặng Quốc Bảo: UVTW Đảng PGS -Thiếu tướng, Trưởng ban khoa giáo

Trang 9

Chương 2 CHÙA KEO HÀNH THIỆN

Hành Thiện là tên một làng cổ, nay thuộc xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.Đây là một trong những ngôi làng cổ nổi tiếng có truyền thống văn hóa được nhiều người biết đến cũng như là quê hương của nhiều nhân vật được ghi nhận trong lịch sử tại Việt Nam

1.2.1/ Làng Hành Thiện – ngôi làng hình cá chép

Làng Hành Thiện nằm ở ngã ba sông Hồng và sông Ninh Cơ, tiếp giáp với huyện Vũ Thư (Thái Bình) và huyện Trực Ninh.Đất làng có hình "Lý Ngư", ở tư thế sinh động như đang vẫy vùng trong nước Đầu cá quay ra sông Ninh Cơ, đuôi quẫy về phía sông Hồng Làng chia làm 14 dong ứng với 14 xóm Các đường dong thong từ lối trước ra lối sau như chia hình cá ra làm 14 khúc.Dân cư sống tập trung hai bên đường dong đông đúc.Hành Thiện trở thành khu dân cư sầm uất đông vui từ rất lâu đời

Trang Hành Cung đến cuối thời Hậu Lê thì được nâng lên thành xã Hành Cung Năm 1823, vua Minh Mạng cho đổi tên thành Hành Thiện (chữ Hán: 行善) với ý nghĩa "nơi chỉ làm những điều lành, điều thiện" và ban cho

làng 4 chữ "Mỹ tục khả phong" (chữ Hán: 美俗可風) với hàm ý khen ngợi

Lời ban tặng này cũng hàm ý khen ngợi làng Hành Thiện nổi tiếng là làng Nho học từ xưa, đã sản sinh rất nhiều danh nhân Dân số của làng cao nhất chỉ khoảng 6.000 người nhưng đã nổi tiếng có nhiều người học hành đỗ đạt

Xưa vùng này có câu Đông Cổ Am, Nam Hành Thiện ngụ ý phía Đông có

làng Cổ Am (nay thuộc Vĩnh Bảo, Hải Phòng), phía Nam có làng Hành Thiện có

nhiều người học hành đỗ đạt cao Hoặc câu Đậu phụ Thủy Nhai, tú tài Hành Thiện để chỉ làng Thủy Nhai, cách Hành Thiện không xa, là một làng nổi tiếng

với đặc sản đậu phụ; còn Hành Thiện, dường như gia đình nào cũng có người đỗ

tú tài

Tại làng Hành Thiện còn có câu Trai học hành, gái canh cửi để nói rằng

cái đáng trọng nhất của con trai Hành Thiện là chuyện đèn sách; cái đáng yêu

Trang 10

nhất của con gái Hành Thiện là chuyện kéo tơ, dệt vải Một câu thơ nổi tiếng của Sóng Hồng diễn tả điều này:

" Trăng xuống làm gương em chải tóc

Làm đèn anh học suốt đêm dài "

Trong suốt lịch sử của làng được ghi nhận:

Thời Nho học, làng Hành Thiện có 419 người đỗ đạt Trong đó: 7 đại khoa (3 tiến sĩ, 4 phó bảng), 97 cử nhân, 315 tú tài Người khai khoa cho làng là cụ Nguyễn Thiện Sĩ sinh năm 1501, đỗ Cử nhân năm 1522.Người đỗ cao nhất là

cụ Đặng Xuân Bảng (ông nội của ông Trường Chinh) sinh năm 1828, đỗ Tam giáp tiến sĩ đệ nhất danh năm 1856 Làng có 4 người làm Thượng thư; 4 người làm Tuần phủ; 4 người làm Tổng đốc; 23 người làm quan giúp việc triều đình;

69 người làm quan Tri phủ, Tri huyện; còn lai số người đỗ đạt trên đi làm thầy giáo, thầy thuốc ở khắp nơi

Thời học chữ Pháp, làng có 51 người đỗ đạt từ tú tài đến cử nhân, trong đó

có Đặng Xuân Khu (tức Trường Chinh) tốt nghiệp cao đẳng Thương mại Đông Dương Thời hiện đại, làng Hành Thiện vẫn là ngôi làng có nhiều người học hành giỏi giang thi cử đỗ đạt nhiều nhất so với mọi ngôi làng trong tỉnh Nam Định với 88 người được phong hàm giáo sư, tiến sĩ, phó tiến sĩ và trên 600 người có bằng cử nhân

Làng có 4 tướng lĩnh quân đội là Đặng Quốc Bảo, Đặng Kinh, Đặng Quân Thụy, Nguyễn Sĩ Quốc; 2 Anh hùng Lực lượng vũ trang là Phạm Gia Triệu, Nguyễn Đăng Kính Hàm Bộ trưởng có Đặng Hồi Xuân, Đặng Vũ Chư Tương đương hàm giáo sư có: Đặng Vũ Khiêu, Đặng Xuân Kỳ, Đặng Vũ Minh Làng có 2 người được Giải thưởng Hồ Chí Minh là ôngĐặng Vũ Hỷ (thân phụ đồng chí Đặng Vũ Minh) và ông Đặng Vũ Khiêu Nhà văn Đặng Vũ Khiêu (Vũ Khiêu) còn là Anh hùng Lao động Ngoài ra còn có giáo sư, tiến sĩ y khoa Đặng

Vũ Thiên Thanh sinh năm 1981, từng là trưởng phòng thí nghiệm chuyên khoa não Đại học Harvard Hiện là giáo sư y khoa người Việt trẻ tuổi nhất tại Montréal

Trang 11

Làng Hành Thiện còn lưu giữ được nhiều di tích lịch sử như chùa Keo Hành Thiện, chùa Đinh Lan, khu di tích nhà của cố Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Đặng Xuân Khu(tức Trường Chinh)

1.2.2/ Lịch sử ra đời chùa Keo Hành Thiện

Chùa Keo (tên chữ: Thần Quang tự 神光寺) là một ngôi chùa ở làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, Việt Nam Đây là một trong những ngôi chùa cổ ở Việt Nam được bảo tồn hầu như còn nguyên vẹn kiến trúc 400 năm tuổi

Nguyên thủy gốc tích làng Hành Thiện xuất phát từ ấp Hộ Xá, làng Giao Thủy, huyện Hải Thanh (sau được nâng thành phủ) Làng Giao Thủy, có tên Nôm là làng Keo, là một làng cổ có từ trước thế kỷ thứ X, vị trí được cho là thuộc xã Hộ Xá, huyện Giao Thủy, Nam Định ngày nay Thiền sư Dương Không Lộ là người làng, được nhà Lý phong đến bậc Quốc sư, vào năm 1061 thời Lý Thánh Tông đã cho dựng ở ven sông Hồng ngôi chùa Nghiêm Quang tự, chính là tiền thân của chùa Keo ở Hành Thiện (Nam Định) và chùa Keo ở Dũng Nhuệ (Thái Bình) ngày nay

Cuối đời Lý, phần đất của ấp Hộ Xá bị sạt lở Một bộ phận dân cư của làng Giao Thủy di cư đến phía Nam vùng Lạc Quần, lập thành làng Hộ Xá (sau đổi thành Nghĩa Xá), thuộc phủ Hải Thanh (nay thuộc huyện Nam Trực, Nam Định) Cả 2 làng cùng thờ phụng chung một ngôi chùa Keo (bấy giờ tên chữ được đổi thành Thần Quang tự) Thời nhà Trần, phủ Hải Thanh được đổi thành phủ Thiên Trường Gần làng Nghĩa Xá có một vườn kim quất (cam ngọt), được các vua nhà Trần thường hay đến chơi, nên lập thành một trang ấp có tên là Hành Cung Trang

Năm 1611, nước sông Hồng lên to, làm ngập làng Giao Thủy, gây sạt lở cả làng Nghĩa Xá Dân làng Nghĩa Xá di dời vào định cư tại trang Hành Cung cũ,

bờ ở hữu ngạn sông Hồng Dân làng Giao Thủy định cư ở bờ tả ngạn, chếch về phía Tây Bắc, lập thành trang Dũng Nhuệ Các dân làng cũng cho xây dựng các chùa Keo mới tại gần trang ấp định cư, từ đó hình thành tên gọi làng Keo

Trang 12

Thượng (hay Keo Trên) để chỉ trang Dũng Nhuệ và làng Keo Hạ (hay Keo Dưới) để chỉ trang Hành Cung Trang Dũng Nhuệ, đến thời Tự Đứcđược đổi tên thành xã Dũng Nghĩa, thuộc phủ Thái Bình, tỉnh Nam Định (nay thuộc huyện Vũ Thư, Thái Bình) Còn trang Hành Cung từ năm Minh Mạng thứ tư (1823) đã được đổi thành xã Hành Thiện, thuộc phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định

1.2.2.1/ Kiến trúc

Không nổi tiếng như chùa Keo Thái Bình, nhưng chùa Keo Hành Thiện ở Làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, lại có một kiến trúc khá thâm trầm, tĩnh tại Ngôi chùa được xây dựng ở một vùng đất Khoa Bảng

Ban đầu, chùa được xây dựng tạm trên nền đất của làng Năm Hoằng Định thứ 13 (1612), chùa được tu sửa hoàn chỉnh và có dáng dấp như ngày nay.Trong

400 năm tiếp theo, chùa nhiều lần được tu bổ lớn như vào các năm Cảnh Trị thứ

9 (1671), Chính Hoà thứ 25 (1704), Thành Thái thứ 7 (1896) và đặc biệt từ năm

1962 chùa Keo đã được nhà nước công nhận là Di tích lịch sử văn hoá, nên đã được tôn tạo nhiều lần

Được khởi công xây dựng trước, kiến trúc chùa Keo Hành Thiện có ảnh hưởng rất lớn đến chùa Keo ở Thái Bình.Phía trước chùa có hồ bán nguyệt nước trong xanh, soi bóng tháp chuông mái cong uy nghiêm, thơ mộng Không gian chùa là cả một khu kiến trúc cổ to lớn, bề thế với 13 tòa rộng gồm 121 gian nối tiếp nhau soi bóng xuống mặt hồ lung linh huyền diệu Hai bên đường kiệu lát gạch, kề liền hai dãy hành lang, mỗi dãy gồm 40 gian bề thế

Tuy không có gác chuông chồng diêm 3 tầng 12 mái đồ sộ như chùa Keo Thái Bình, gác chuông chùa Keo Hành Thiện cũng là một sự kết hợp hài hòa của kiến trúc tam quan nội 5 gian, làm theo kiểu chồng diêm, cao 7m50 Dáng vẻ thanh thoát với mái cong, bờ cánh kẻ bảy uốn lượn.Phía dưới là 8 đại trụ và 16 cột quân được đặt trên đá tảng chạm khắc hoa văn cánh hoa sen nở

Ngày đăng: 06/05/2021, 08:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w