- Mâu thuẫn về sự chênh lệch vùng, miền do điều kiện địa lý nước ta, đó là sự phân chia khá rõ nét về điều kiện kinh tế, đời sống, văn hóa, xã hội… giữa các đô thị, thành phố lớn và các
Trang 1TR ƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-
LƯU THÁI CHẤN
NGHIÊN CỨU YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TÌNH TRẠNG BỎ HỌC CỦA SINH VIÊN ĐÀO TẠO TỪ XA TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM
Chuyên ngành : Qu ản trị kinh doanh
Mã số : 60.34.04.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NG ƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN VĂN SĨ
TP H Ồ CHÍ MINH – NĂM 2015
Trang 2Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh sách các từ viết tắt
Danh mục các bảng biểu
CHƯƠNG I : GIỚI THIỆU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.4 Giới hạn nghiên cứu 4
1.5 Kết cấu luận văn 4
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ ĐÀO TẠO TỪ XA 6
2.1 Các định nghĩa 6
2.1.1 Đào tạo từ xa 6
2.1.2 Bỏ học 9
2.2 Các mô hình sinh viên bỏ học 11
2.2.1 Mô hình lý thuyết về đầu tư giáo dục 11
2.2.2 Mô hình hai giai đoạn nhu cầu giáo dục 14
2.3 Các nghiên cứu trước đây 16
2.3.1 Nhiều yếu tố kết hợp 19
2.3.2 Yếu tố thời gian 20
2.3.3 Lý do cá nhân 20
2.3.4 Hỗ trợ nhà trường 21
2.3.5 Khoảng cách đi học xa 21
Trang 33.1 Thực trạng về Đào tạo từ xa trong hệ thống giáo dục 22
3.1.1 Giáo dục từ xa trong hệ thống giáo dục Việt Nam 22
3.1.2 Phương thức ĐTTX tại Trường ĐH Mở TPHCM 22
3.1.4 Các văn bản pháp lý 24
3.2 Thực trạng 10 năm ĐTTX (2004-2013) tại trường ĐH Mở TP HCM 24
3.2.1 Thống kê theo khu vực 24
3.2.2 Thống kê theo ngành học 28
3.2.3 Thống kê về tuyển sinh và bỏ học từ 2010 – 2013 29
3.3 Những giải pháp chính hạn chế tình trạng bỏ học của trường ĐH Mở TP HCM đã thực hiện 29
CHƯƠNG IV: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 32
4.1 Phương pháp nghiên cứu 32
4.1.1 Mô hình phân tích 32
4.1.2 Phương pháp thống kê mô tả 33
4.1.3 Phương pháp định lượng 34
4.2 Cơ sở dữ liệu 34
4.3 Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 35
4.4 Giải thích các biến 38
4.5 Phân tích kết quả nghiên cứu 39
4.5.1 Mô tả và phân tích số liệu thống kê 39
4.5.1.1 Theo giới tính 40
4.5.1.2 Theo độ tuổi 42
4.5.1.3 Theo ngành học 44
4.5.1.4 Theo năng lực học tập 47
Trang 44.5.2.1 Kết quả hồi quy 48
4.5.2.2 Kiểm định tổng quát mô hình nghiên cứu 49
4.5.2.3 Kiểm định mức độ dự báo chính xác của mô hình 50
4.5.2.4 Giải thích các biến trong mô hình hồi quy 51
4.5.2.5 Phân tích mức độ tác động đến tình trạng bỏ học của từng yếu tố 53
CHƯƠNG V : GIẢI PHÁP HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG BỎ HỌC 56
5.1 Định hình phát triển đào tạo từ xa của Đại học Mở TP HCM 56
5.2 Giải pháp chính hạn chế tình trạng bỏ học của nhà trường 59
5.3 Gợi ý từ phân tích mô hình 60
5.3.1 Giải pháp có liên quan đến học lực 61
5.3.2 Giải pháp có liên quan đến hỗ trợ học tập 62
5.3.3 Giải pháp có liên quan đến tư vấn và quản lý sinh viên 62
5.3.4: Giải pháp tin học hóa quản lý đào tạo 62
Kết luận 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC
Trang 5Bảng 3.1: TỔNG HỢP TUYỂN SINH ĐTTX 10 NĂM TỪ 2004 ĐẾN 2013 25 Bảng 3.2: BẢNG THỐNG KÊ SỐ LƯỢNG ĐĂNG KÝ THEO NGÀNH HỌC
TỪ NĂM 2004 ĐẾN 2013 28
Bảng 3.3: BẢNG THỐNG KÊ SỐ LƯỢNG SINH VIÊN TỪ XA ĐĂNG KÝ
VÀ BỎ HỌC TỪ NĂM 2010 ĐẾN 2013 29
Bảng 4.1: BẢNG TỔNG HỢP CHI TIẾT KẾT QUẢ THĂM DÒ 36
Bảng 4.2: BẢNG TỔNG HỢP SINH VIÊN ĐTTX BỎ HỌC PHÂN THEO GIỚI
Trang 6Phụ lục 1: MÔ HÌNH CỦA TINO (1987) VỀ HÒA NHẬP CỦA SINH VIÊN
Phụ lục 2: MÔ HÌNH CỦA BEAN VÀ METZER (1985) VỀ SINH VIÊN
BỎ HỌC
Phụ lục 3: MÔ HÌNH TỔNG HỢP CỦA ROVAI (2003)
Phụ lục 4: MÔ HÌNH TỔNG HỢP CỦA PART VÀ HEE JUN (2009)
Phụ lục 5: QUY MÔ ĐẠI HỌC MỞ VÀ TỪ XA MỘT SỐ QUỐC GIA
Phụ lục 6: THỐNG KÊ SỐ LIỆU TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÓ ĐÀO TẠO TỪ XA
Phụ lục 7: PHIẾU PHỎNG VẤN SINH VIÊN ĐÀO TẠO TỪ XA BỎ HỌC
Phụ lục 8: TỔNG HỢP TUYỂN SINH ĐTTX TỪ NĂM 2004 ĐẾN 2013
Phụ lục 9: BẢNG THỐNG KÊ SỐ LƯỢNG ĐĂNG KÝ THEO NGÀNH HỌC
Trang 7CHƯƠNG I : GIỚI THIỆU
Hòa trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đang tham gia mạnh
mẽ tiến trình hòa nhập khu vực, tiến tới việc hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2015, nhiều hiệp định tự do thương mại khác cùng với việc nâng cao năng lực cạnh tranh trở thành vấn đề sống còn của quốc gia, đây cũng là những trăn trở hiện nay của các nhà làm chính sách Theo đó, con đường phát triển của Việt Nam cũng có những đặc điểm riêng trong xu thế phát triển chung của thời đại,
và thực hiện bằng cách áp dụng các chính sách làm thúc đẩy nhanh quá trình Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa nhằm đuổi kịp các quốc gia tiên tiến trong khu vực và trên thế giới Muốn được như thế, một trong những biện pháp hữu hiệu nhất là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, bởi vì đầu tư nhiều vốn cho máy móc, thiết bị không phải lúc nào cũng đem lại hiệu quả phù hợp theo tỉ lệ
do đầu tư, mà ngược lại nó sẽ làm sụt giảm tăng trưởng khi quy mô tăng đến một chừng mực nào đó Hiện nay, theo các nhà kinh tế hàng đầu trên thế giới thì việc đầu tư cho nguồn nhân lực có chất lượng cao là yếu tố quyết định tối ưu cho sự tăng trưởng nhanh chóng và có tính chất ổn định lâu dài Sự thành công của các quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Ấn Độ…đã là sự minh chứng hữu hiệu về sự rút ngắn quá trình công nghiệp hóa đất nước trong thời đại
ngày nay mà nước ta cần học hỏi
Muốn thực hiện thành công mục tiêu đó, điều trước tiên là phải giải quyết những mâu thuẫn phát sinh nội tại như:
- Mâu thuẫn giữa chênh lệch trình độ phát triển về nguồn nhân lực chất lượng cao của nước ta so với các nước tiên tiến
- Mâu thuẫn giữa nguồn ngân sách quốc gia hạn hẹp và việc đầu tư cho giáo dục đào tạo trải rộng
Trang 8- Mâu thuẫn về sự chênh lệch vùng, miền do điều kiện địa lý nước ta, đó
là sự phân chia khá rõ nét về điều kiện kinh tế, đời sống, văn hóa, xã hội… giữa các đô thị, thành phố lớn và các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo…
- Mâu thuẫn giữa quỹ thời gian dành cho công việc, lao động và thời gian dành cho việc học tập nâng cao kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp…
Giải quyết những mâu thuẫn nêu trên cũng là giải quyết được bài toán đã đặt ra là giải quyết nguồn nhân lực cho phát triển đất nước theo yêu cầu trước mắt mà công cụ hữu hiệu để đáp ứng được yêu cầu trên chính là phát triển đào tạo từ xa bởi vì hình thức đào tạo từ xa là một loại hình đào tạo mới và tiên tiến
đã được áp dụng thành công ở nhiều nước trong khu vực và trên thế giới
1.1 Lý do chọn đề tài:
Khi bàn về đào tạo từ xa, có rất nhiều thuật ngữ liên quan và tương tự Ở một số nước, người ta đã sử dụng các khái niệm như: Giáo dục từ xa (Distance education), đào tạo mở (Open learning), đào tạo lấy người học làm trung tâm (Student-centred learning), đào tạo trực tuyến (E-learning hay online – learning) để phân biệt phương pháp sư phạm mới này với phương pháp giảng dạy truyền thống trực tiếp – phương pháp “phấn bảng – trò chuyện”, “mặt đối mặt” (face to face)
Ở Việt Nam, đào tạo từ xa được hiểu là một quá trình giáo dục, trong đó phần lớn có sự gián cách giữa người dạy và người học về mặt không gian và thời gian Người học theo hình thức đào tạo từ xa chủ yếu là tự học, tự nghiên cứu qua giáo trình in, băng hình, băng tiếng, CD-ROM, giáo trình điện tử, đa phương tiện, Đào tạo từ xa đòi hỏi người học phải tự lực, tự giác, kiên trì và quyết tâm cao mới có thể hoàn thành chương trình học tập của mình (Nguyễn Hồng Sơn, 2009)
Trường Đại học Mở TP Hồ Chí Minh là một trong hai trường trọng điểm của quốc gia có chức năng và nhiệm vụ tổ chức, thực hiện phát triển đào tạo từ
xa Trường được thành lập năm 1990, trải qua hơn 20 năm hình thành và phát
Trang 9triển, đến nay quy mô đã có trên 50 ngàn sinh viên đang học tại trường và 32 cơ
sở liên kết đào tạo ở các tỉnh, thành Tuy chỉ sau vài năm thành lập, hiệu quả của loại hình đào tạo từ xa đã chứng minh được định hướng đúng đắn và kết quả là
số lượng sinh viên đăng ký ngày càng tăng, quy mô càng được mở rộng về số lượng, thúc đẩy nhà trường phải luôn luôn nỗ lực nhiều hơn nhằm mục tiêu phát triển ổn định và nâng cao chất lượng đào tạo
Theo chức năng, nhiệm vụ được giao của Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng với định hướng phát triển nhà trường thì việc tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến việc bỏ học của sinh viên hình thức đào tạo từ xa tại Trường nói chung là việc làm hết sức cần thiết và cấp bách vì đây là nguồn sinh viên từ xa chiếm tỉ lệ cao nhất trong các hình thức đào tạo của Trường Hơn nữa, nghiên cứu sinh viên bỏ học là mối quan tâm hàng đầu của các nhà nghiên cứu giáo dục, tìm ra những nguyên nhân tác động đến việc bỏ học của sinh viên được xem là hành động tích cực trong công tác củng cố và nâng cao chất lượng đào tạo, dựa vào kết quả thu thập và phân tích, nhà trường mới kịp thời có các biện pháp khắc phục, giúp hạn chế nguy cơ tiếp tục bỏ học trong thời gian sắp tới, giúp ổn định chất lượng và sỉ
số sinh viên và phát triển quy mô
Ngoài ra, nghiên cứu này đi sâu vào phân tích các nguyên nhân bỏ học của sinh viên hình thức đào tạo từ xa bằng phương pháp phân tích thống kê mô
tả và kết hợp phân tích mô hình hồi quy (binary logistic) mà trước nay chưa có
nghiên cứu liên quan
Mục đích của tác giả trong luận văn này là không có tham vọng nhằm lôi kéo tất cả sinh viên bỏ học trở lại Trường đầy đủ, bởi vì điều này còn tùy thuộc vào nhiều nguyên nhân tác động khách quan và chủ quan của môi trường xung quanh và bản thân người học
Với ý nghĩa đó, đề tài “Nghiên cứu yếu tố tác động đến tình trạng bỏ
học của sinh viên đào tạo từ xa Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh” được tác giả chọn làm luận văn thạc sĩ kinh tế
Trang 101.2 Mục tiêu nghiên cứu:
Nghiên cứu này mong muốn tìm hiểu những nguyên nhân sâu xa, tập trung vào phân tích các nguyên nhân chính có tác động trực tiếp đến tình trạng sinh viên bỏ học trong 4 năm (2010-2013) để trả lời hai câu hỏi nêu trên Ngoài
ra, nghiên cứu thực sự muốn tìm ra các yếu tố tác động thuộc chủ quan hay khách quan để từ đó đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm cải thiện tình hình trước mắt và phục vụ lâu dài cho mục tiêu chiến lược của Nhà trường
1.3 Câu hỏi nghiên cứu:
Nghiên cứu này nhằm mục đích trả lời hai câu hỏi sau:
- Những yếu tố nào có ảnh hưởng đến tình trạng bỏ học của sinh viên?
- Các biện pháp nào để khắc phục làm giảm tỉ lệ bỏ học của sinh viên tại trường Đại học Mở TP HCM trong thời gian sắp tới?
1.4 Giới hạn nghiên cứu:
Hiện nay, hình thức đào tạo từ xa đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều trường, theo thống kê đến nay hiện đã có trên 20 trường được phép đào tạo từ xa trong cả nước Nghiên cứu này chỉ tóm gọn trong phạm vi sinh viên bỏ học của Trường đại học Mở với nội dung như sau:
- Đối tượng nghiên cứu: Sinh viên bỏ học 3 kỳ liên tiếp gần nhất
- Phạm vi nghiên cứu: Tại trường Đại học Mở TP HCM và các đơn vị liên kết từ Bình Định đến Cà Mau, giai đoạn 2010 - 2013
1.5 Kết cấu luận văn:
Luận văn được chia thành 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu Nội dung chương này trình bày cơ sở chọn đề tài,
câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu và giới hạn nghiên cứu,
Chương 2: Cơ sở lý thuyết Giới thiệu các định nghĩa, các mô hình, tổng
quan học thuật có liên quan đến đề tài nghiên cứu
Trang 11Chương 3: Tổng quan và thực trạng về đào tạo từ xa Trình bày tổng
quan về thực trạng đào tạo từ xa ở Việt Nam cùng với các văn bản pháp lý có liên quan Đồng thời thống kê, phân tích chung về tuyển sinh và bỏ học của sinh viên trong khung phân tích
Chương 4: Thiết kế nghiên cứu và phân tích dữ liệu Phân tích kết quả
nghiên cứu Phân tích, diễn giải các dữ liệu, phân tích kết quả hồi quy Binary logistic
Chương 5: Giải pháp hạn chế tình trạng bỏ học Gợi ý từ kết quả phân
tích hồi quy ở chương 4, từ đó đưa ra một số giải pháp và kết luận
Trang 12CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ ĐÀO TẠO TỪ XA
- Giảng viên và sinh viên ở một khoảng cách xa (tức là có sự ngăn cách
về mặt không gian: khoảng cách này là tương đối, có thể là cùng trường học nhưng khác phòng học hoặc khác nhau về vị trí địa lý, có thể vài kilomet hoặc hàng ngàn kilomet)
- Nội dung dạy học trong quá trình dạy học được truyền thụ, phân phối tới cho sinh viên chủ yếu thông qua các hình thức thể hiện gián tiếp như: văn bản in, âm thanh, hình ảnh, máy tính, online
- Sự liên hệ, tương tác giữa giảng viên và sinh viên (nếu có) trong quá trình dạy học có thể được thực hiện tức thời hoặc trễ sau một khoảng thời gian nào đó (có sự ngăn cách về mặt thời gian)
Các chương trình ĐTTX ngày càng hoàn thiện, bổ sung kịp thời những biện pháp nâng cao hiệu quả đào tạo như việc gia tăng và đa dạng hóa các hoạt động hỗ trợ học tập cho sinh viên Giảng viên ngày càng được huấn luyện và trở nên có kinh nghiệm hơn với việc giảng dạy từ xa Kỹ thuật và công nghệ đã giúp tạo nên quá trình tương tác giữa thầy và trò như những gì trong lớp học thật vẫn xảy ra Sinh viên ngày càng quen với máy tính, internet và học trực tuyến Tất cả các yếu tố trên tạo nên việc gia tăng hiệu quả của ĐTTX trong thời gian qua
Trang 13Mặc dù ĐTTX vẫn dùng để dạy cho học sinh tiểu học hay trung học phổ thông, nhưng người học từ xa chủ yếu là người lớn theo học các chương trình đại học Sinh viên người lớn thường chọn học từ xa để mong có đủ bằng cấp để làm việc và thăng tiến, cũng như để có thể học tập suốt đời mà vẫn không bị ràng buộc bởi trách nhiệm của việc học toàn thời gian hay không bị hạn chế bởi khoảng cách xa với nơi mình cần đến học (Columbaro & Monaghan, 2009)
Tùy theo phương thức phân phối các nội dung dạy học, sự liên hệ, tương tác giữa giảng viên và sinh viên mà có các hình thức tổ chức, thực hiện khác nhau Đào tạo từ xa chia ra: Đào tạo từ xa tương tác và đào tạo từ xa không tương tác
- ĐTTX tương tác: Phương thức đào tạo này có sự tương tác theo thời
gian thực, trực tiếp giữa giảng viên và sinh viên trong quá trình dạy học Trong ĐTTX tương tác, có một số phương thức tổ chức đào tạo sử dụng công nghệ điển hình như radio hai chiều, hội nghị trực tuyến bằng âm thanh, cầu truyền hình Giá thành của công nghệ này đắt, thường chỉ sử dụng cho nghiên cứu, cho các hoạt động cần có chất lượng âm thanh và hình ảnh rất cao
- ĐTTX không tương tác: Phương thức đào tạo này không có sự tương tác
theo thời gian thực, trực tiếp giữa giảng viên và sinh viên trong quá trình dạy học Trong ĐTTX không tương tác có các phương thức được sử dụng điển hình như tài liệu, bài giảng in ấn Đây là công nghệ cổ điển, truyền thống nhất, dễ thực hiện nhất và đặc biệt là rẻ tiền nhất Ngoài ra còn có phương tiện phát thanh, truyền hình, băng/đĩa hình, băng/đĩa tiếng, các phần mềm dạy học, các công cụ mô phỏng, mạng, internet Ưu điểm của phương thức này là cùng một lúc có thể giảng dạy cho số lượng lớn sinh viên Khả năng tiếp cận của người học cũng rất phong phú, tiện lợi
Lợi ích của ĐTTX ngày càng được xác lập rõ rệt Thứ nhất, ĐTTX thúc đẩy sự cởi mở của nền giáo dục quốc dân, tạo cơ hội cho các đối tượng gặp khó khăn về thời gian, địa điểm, hoàn cảnh kinh tế, tuổi tác, trình độ tiếp cận tri thức Hình thức đào tạo mềm dẻo, linh hoạt này tạo điều kiện cho việc học tập suốt
Trang 14đời và giáo dục cho mọi người Thứ hai, đối với cá nhân người học, ĐTTX giúp cho sinh viên tiết kiệm thời gian vì họ không cần di chuyển đến trường; sinh viên được học theo thời gian biểu tự chọn phù hợp với hoàn cảnh của mình Ngoài ra, với việc kiến thức và thông tin thay đổi nhanh chóng, các nhà chuyên môn có thể luôn cập nhật kiến thức mới mà không cần di chuyển xa đến nơi cung cấp các khóa bồi dưỡng chuyên môn Với những môn học trên mạng, giảng viên cũng không cần di chuyển và có thể giảng dạy tại nhà Lợi ích thứ ba của hình thức đào tạo này là tiết kiệm chi phí Chi phí đi lại của sinh viên cũng như của giảng viên có thể được tiết kiệm Các cơ sở học khác nhau có thể có cùng một giảng viên, với những môn học trên mạng giảng viên có thể giảng dạy cho nhiều người hơn
Bên cạnh những ưu điểm trên, ĐTTX cũng có những hạn chế nhất định Thứ nhất là về chất lượng giảng dạy từ xa Chất lượng giảng dạy tùy thuộc vào thái độ quản lý và giảng viên Thường thái độ của người quản lý xem ĐTTX như một loại hình đào tạo hạng hai và giảng viên cho rằng chất lượng lớp dạy từ
xa thấp hơn hoặc bằng chất lượng của lớp học truyền thống, nên họ không cố gắng để điều chỉnh chương trình đào tạo hay bài giảng cho phù hợp với giảng dạy từ xa và chấp nhận sự dễ dãi trong đào tạo Bên cạnh đó, khi giảng dạy giảng viên cũng khó điều chỉnh bài giảng kịp thời tùy vào tình hình do không tiếp xúc trực tiếp với sinh viên, và điều này có thể ảnh hưởng đến kết quả học tập Chính vì điều không thật sự gắn kết này sẽ ảnh hưởng xấu đến quá trình học tập của sinh viên (Valentine, 2002)
Thứ hai là vấn đề liên quan đến người học Không phải tất cả sinh viên đều phù hợp với loại hình học tập này Theo Hanny và Newvin (2006), khi học
từ xa sinh viên có thể tiếp nhận khó khăn kiến thức liên quan đến kỹ thuật, khoa học hay định lượng Người học từ xa muốn thành công cần có một số tính cách như khả năng chấp nhận sự mơ hồ, nhu cầu tự chủ và khả năng mềm dẻo, linh hoạt So với sinh viên chính quy, học từ xa đòi hỏi người học phải tập trung hơn, quản lý thời gian tốt hơn, biết sử dụng công nghệ, có khả năng làm việc độc lập
Trang 15và làm việc nhóm Môi trường học tập độc lập có thể làm người học thiếu tập trung và ngại học Việc trao đổi thông tin với thầy, bạn chủ yếu qua mạng, điện thoại có thể làm cho người học hiểu bài không thấu đáo và có cảm giác buồn chán Trạng thái đơn độc này cũng làm cho người học dần trở nên thiếu năng động, thiếu tự tin và suy giảm động lực học tập (Tạ Thị Hồng Hạnh, 2009)
2.1.2 Bỏ học
Theo định nghĩa của đa số các nhà nghiên cứu thì một học sinh (sinh viên) gọi là bỏ học khi họ dừng lại không đến các lớp học trước khi họ hoàn thành khóa học của họ
Theo Bean (1980), sinh viên bỏ học (drop-out) là sinh viên rời trường trước khi đạt được mục đích, ở đây có thể hiểu là trước khi tốt nghiệp đại học vì đối tượng nghiên cứu là những sinh viên theo học các chương trình dẫn đến cấp bằng cử nhân từ xa
Theo Quy chế tổ chức đào tạo, đánh giá kết quả học tập, cấp văn bằng tốt nghiệp, chứng chỉ, chứng nhận theo hình thức giáo dục từ xa Trường Đại học
Mở TPHCM số 1198/QĐ-ĐHM, ngày 26/11/2010, mỗi học kỳ sinh viên phải đăng ký khối lượng học tập tối thiểu là một môn học Trong thời gian đào tạo chính thức của khóa học, nếu sinh viên không đăng ký môn nào thì nhà trường xem như sinh viên tự ý nghỉ học tạm thời Sinh viên chỉ được phép học lại khi hoàn thành thủ tục đăng ký học lại Thời gian học tập một khóa đại học được quy định từ 5-7 năm, và thời gian học tập được kéo dài thêm tối đa là 6 năm Như vậy, thời gian tối đa để một sinh viên hoàn thành khóa học là từ 11-13 năm
Do vậy, nghiên cứu này sử dụng khái niệm sinh viên từ xa đang theo học
là sinh viên có điểm thi cuối học kỳ tối thiểu một môn học Trong quá trình học, sinh viên không làm bài tập mà chỉ dự thi kết thúc môn học mà thôi Như thế chỉ xác định được sinh viên có chính thức học hay không học vào cuối học kỳ, khi sinh viên thi kết thúc môn mà thôi
Trang 16Do quy định thời gian tối đa hoàn thành khóa học từ xa là 11-13 năm, nên trong vòng thời gian này sinh viên có thể nghỉ học một thời gian dài và trở về học hoàn tất những môn học cần thiết để tốt nghiệp Nên sau khi tham khảo thực
tế và kế thừa các nghiên cứu trước, tác giả chọn đối tượng nghiên cứu sinh viên
bỏ học là sinh viên không học 3 học kỳ liên tiếp gần nhất trong nghiên cứu này,
vì theo kết quả của nhiều nghiên cứu cho thấy thời gian ngưng học càng dài càng khẳng định thêm quyết định ngừng học tập của sinh viên
Liên quan đến vấn đề bỏ học, một số nhận định khác lại cho rằng bỏ học
là một sự thất bại của cá nhân người học vì họ đã không vượt qua các thử thách, trở ngại khó khăn… để đạt đến đích cuối cùng mà họ đã dự tính cho tương lai Ngược lại, một số nhà nghiên cứu cũng đã có cái nhìn tích cực khi cho rằng bỏ học lại là một điều tốt, bởi vì việc từ bỏ một khóa học không chỉ là “ quyết định trong một đêm “, mà là cả quá trình cân nhắc các yếu tố thuộc chủ quan và khách quan của người học, họ cân nhắc tính hiệu quả giữa công việc, thời gian, thu nhập… trong hiện tại và lợi ích của việc học mang lại cho họ trong tương lai Nếu buộc phải bỏ học thì đây là một quyết định rất khó khăn do điều này đi ngược lại những ước muốn và suy nghĩ của họ, làm họ cảm thấy thất vọng khi phải quyết định bỏ học
Ngoài ra, còn các nghiên cứu khác xung quanh vấn đề sinh viên bỏ học:
- Nghiên cứu sinh viên bỏ học là mối quan tâm lớn đối với các nhà nghiên cứu giáo dục từ xa, bởi vì sinh viên bỏ học cao là một trong những chỉ số
về chất lượng giảng dạy (Dest, 2005)
- Trường hợp khác, bỏ học có thể được xem như là một hành động tích cực Nghiên cứu tại Đại học Mở của Anh cho thấy sinh viên sử dụng nghiên cứu
ở Đại học Mở của họ để bổ sung kiến thức cho khóa học toàn thời gian ở trường khác (Ashby, 2004)
- Hầu hết mọi người nghĩ rằng bỏ học là xấu Đây là một quan niệm sai lầm rất phổ biến…,bỏ học thực sự là một điều khá thông minh để làm vì bạn có thể ngăn chặn lãng phí thời gian đi học (Urban dictionary)
Trang 172.2 Các mô hình sinh viên bỏ học:
2.2.1 Mô hình lý thuyết về đầu tư giáo dục:
Trong mô hình này, chủ hộ được xem là yếu tố “nhất thể” xác định việc con cái đi học và quyết định cấp bậc học mà con của họ có thể đạt được Cha mẹ được xem như sống trong hai giai đoạn Trong đó, tổng số lợi ích và chi tiêu bao gồm tổng số chi phí của họ trong giai đoạn đầu và giai đoạn thứ hai Trong giai đoạn đầu tiên, họ kiếm được tiền để chi tiêu thức ăn cho con cái của họ và chi tiêu cho con cái họ đi học Do đó, chi tiêu trong giai đoạn này bao gồm chi tiêu
cá nhân và thức ăn cho con cái của họ, nó sẽ được tính bằng tổng thu nhập trong giai đoạn đầu tiên loại bỏ chi tiêu của họ cho con đi học Tổng chi phí trong giai đoạn thứ hai sẽ phụ thuộc vào chuyển thu nhập cho người con Mặt khác, chuyển thu nhập cho con cái phụ thuộc vào việc đầu tư trở lại cho giáo dục của người con Chi tiêu ở hiện tại của phụ huynh giảm so với mức chi tiêu trong tương lai của họ và sự giàu có của con họ
Hộ gia đình được xem là “nhất thể” bao gồm cha mẹ, số N trẻ em (bao gồm cả n bé trai và m bé gái) Hữu dụng của cha mẹ được tính bởi công thức hữu dụng như sau:
U=U (C1, C2, Yd1, , Ydm, Ys1, , Ysn) Trong đó, C1, C2 biểu diễn tương ứng với mức chi tiêu của cha mẹ trong giai đoạn 1 và giai đoạn 2 Ydi với i=1,…, m biểu diễn thu nhập của người con trong giai đoạn 2
Như vậy, mô hình này có thể được viết lại như sau:
U = F (C1) +G (C2, Yd,1… Yd,m, Ys,1… Ys,m) Giả định rằng, trong giai đoạn 1 cha mẹ muốn con của họ được đi học Họ gửi con họ đi học mà không phân biệt trình độ, (hoặc cấp bậc học) và không có
sự phân biệt giữa con trai và con gái Thu nhập của người con được chuyển từ cha mẹ sẽ là khác nhau Chúng ta có biểu thức:
Trang 18G Y
G Y
Và giả sử rằng sự hiệu quả của việc giáo dục và tỷ lệ thừa hưởng từ cha
mẹ là ngang nhau giữa con trai và con gái Thu nhập và sự giàu có của người con không chỉ phụ thuộc vào trình độ học vấn trong giai đoạn đầu tiên mà còn phụ thuộc các yếu tố khác như giới tính, dư lượng, và khu vực, dân tộc Chúng
ta có thể biểu diễn tiêu dùng giai đoạn thứ hai của cha mẹ như sau:
di
iY
C2 Với i là tỷ lệ chuyển thu nhập của đơn vị của người con thứ ith
Thu nhập của người con phụ thuộc vào trình độ học vấn trong giai đoạn đầu tiên cũng như khả năng đặc biệt của người con và do đó, nó có thể được viết lại như sau:
di i
Trong đó Sdi với i = 1 m; b là lãi suất thu được khi đầu tư vào người con
Sự đầu tư trở lại vào việc học cũng có thể ảnh hưởng từ các biến khác của học
sinh
Nó cũng được chỉ ra rằng trong giai đoạn đầu tiên, cha mẹ dành tổng thời gian của họ để kiếm trong khi trẻ em sử dụng thời gian của họ để làm việc và học tập Chúng ta có biểu thức diễn đạt thu nhập đầy đủ của gia đình như sau:
Trong đó V biểu hiện cho thu nhập khác như là thừa kế, Tm, Tf là tổng thời gian làm việc của mẹ và cha tương ứng Tdi là tổng thời gian của người con,
tdi là thời gian mà các em dành cho việc học, do đó (Tdi - tdi) là thời gian mà họ dành cho các hoạt động tạo thu nhập Wm, Wf, Sdi là mức lương của cha, mẹ,
di di
di di f
f m
m W T W T t W C P t T
Trang 19người con thứ i tương ứng C1 là tổng mức chi tiêu của cha mẹ trong giai đoạn đầu tiên P là chi phí giáo dục trực tiếp như học phí, lệ phí, v.v…
Trong phương trình này, nó được cho thấy rằng chi phí của giáo dục bao gồm hai thành phần: đầu tiên là chi phí trực tiếp (P) và thứ hai là chi phí gián tiếp rằng trẻ em đã bị bỏ khi đi học (tdi*Wdi)
Cha mẹ chọn tdi để tối đa hóa hữu dụng của họ với thu nhập hiện có và
hạn chế tiêu dùng dành cho việc học của con cái
2.2.2 Mô hình hai giai đoạn nhu cầu giáo dục :
Các chi phí và lợi ích có thể được phân tích theo những cách tương tự được tính toán cho các dự án loại khác Trong giáo dục, chi phí xảy ra trong quá trình đi học, và lợi ích thu được chỉ khi họ tốt nghiệp
Hơn nữa, ở hầu hết các nước, học sinh tiểu học có không đặt nặng việc kiếm tiền trong suốt thời gian đi học (Psacharopoulos G.1995) Vì vậy, sau khi hoàn thành tiểu học, họ tiếp tục đi học hoặc dừng lại và bắt đầu làm việc
Theo lý thuyết vốn con người, chỉ tập trung vào mối quan hệ giữa thu nhập và vốn nguồn nhân lực thể hiện ở mối quan hệ giữa lương và học
di di di di
di f
f m
T
Trang 20Theo hai mô hình hai giai đoạn, trong giai đoạn đầu ở trẻ em được đầu tư vào giáo dục với thời gian t và vốn nguồn nhân lực sẽ tăng lên thời gian theo thời gian Trong giai đoạn thứ hai, thu nhập của họ sẽ tăng lên vì vốn nguồn nhân lực là kết quả của đầu tư trong giai đoạn đầu tiên
Theo Psacharopoulos G.(1995), để đưa ra quyết định liệu cha mẹ nên đầu
tư vào giáo dục cho con em mình? Họ sẽ so sánh giữa chi phí với lợi ích Các chi phí phát sinh của cá nhân là thu nhập của họ bị bỏ qua trong khi học tập, cộng với phí giáo dục hoặc chi phí phát sinh cá nhân phải gánh chịu trong thời gian đi học (c) Lợi ích bao gồm lợi ích cá nhân và xã hội Tỉ lệ đầu tư vào cá nhân ở một cấp học nhất định trong trường hợp này có thể được ước tính bằng cách tìm các suất chiết khấu làm quân bình các dòng lợi ích giảm đi cho các chi
phí tại một điểm nhất định trong tương lai
t u
l t
t l u
r C
W r
W W
( )
1 (
) (
Với (Wu-Wl) là thu nhập khác nhau giữa việc hoàn thành các lớp học cao hơn và các lớp thấp hơn Cu đại diện cho chi phí trực tiếp và gián tiếp khi các em
đi học, bao gồm học phí, lệ phí, sách và Wl biểu thị thu nhập khi các em học xong các lớp thấp hơn, Wu có nghĩa thu nhập khi trẻ em học xong các lớp cao hơn Lợi ích xã hội bao gồm các hiệu quả không để tính bằng tiền hay các hiệu quả khác của giáo dục
Trang 21Tìm hiểu về mối quan hệ này, Kooreman và Wunderink (1977) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa mức lương và vốn nguồn nhân lực Họ nhận ra rằng những đứa trẻ đã trải qua hai giai đoạn: giai đoạn đầu tiên, họ đã học được và nguồn nhân lực sẽ tăng thời gian theo thời gian Ở giai đoạn thứ hai, thu nhập của họ sẽ tăng, vì vốn nguồn nhân lực do đầu tư vào giáo dục trong giai đoạn đầu tiên Các bậc cha mẹ kỳ vọng con cái của họ sẽ tăng thu nhập khi con cái của họ học càng cao
Hơn nữa, Kooreman và Wunderink khám phá vốn con người (HC) và mức lương ở giai đoạn thứ hai (W):
HC2 = (1-δ) HC1 + Δ HC (t,A) (1)
W2= w2(t,HC1, δ, A) (2) Trong đó
- HC1 là vốn con người khi trẻ em không học lên cao
- t: thời gian đi học
Trang 22W2 = h (t, A)
Mô hình hai giai đoạn về nhu cầu giáo dục cho thấy rằng càng đầu tư vào giáo dục, thì càng kỳ vọng về thu nhập cao trong tương lai Cha mẹ kết hợp với các mô hình lý thuyết về đầu tư giáo dục và mô hình hai giai đoạn, sẽ đưa ra quyết định liệu họ có nên gửi con cái của họ đi học hay không
BẢNG SO SÁNH CÁC MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ SINH VIÊN
ĐÀO TẠO TỪ XA BỎ HỌC
Bean và Metzner 1985
Các yếu tố tác động đến quyết định bỏ học: Yếu
tố thuộc về đặc điểm cá nhân, các yếu tố liên quan đến học thuật và các yếu tố thuộc về môi trường
Sự hòa nhập của sinh viên trong môi trường học tập là sự kết hợp của yếu tố: tính chất cá nhân được hình thành trên nền tảng gia đình, tố chất cá nhân
và trãi nghiệm học tập cùng với sự gắn kết nhà trường có tác động đến sự hòa nhập và hoàn thành khóa học của sinh viên
Trình bày về việc bỏ học của sinh viên đào tạo từ
xa, đặc biệt là học trực tuyến trên cơ sở tổng hợp 2
mô hình của Tinto và Bean – Metzner
Part và Hee Jun 2009
Các yếu tố tác động đến việc bỏ học, mô hình được hình thành trên cơ sở mô hình Rovai (2003), vẫn bao gồm đặc điểm người học, yếu tố nội tại và yếu tố bên ngoài nhưng có điều chỉnh
2.3 Các nghiên cứu trước đây:
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỉ lệ bỏ học của sinh viên ĐTTX thường cao hơn so với tỉ lệ bỏ học của sinh viên trong thông thường, mặt đối mặt hình thức giáo dục đại học (Barefoot, 2004; Kember, 1995; Wojciechowski & Palmer, 2005)
Trang 23Nghiên cứu sinh viên bỏ học là mối quan tâm lớn đối với các nhà nghiên cứu giáo dục từ xa, bởi vì sinh viên bỏ học cao là một trong những chỉ số về chất lượng giảng dạy (Dest, 2005)
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, sinh viên bỏ học có thể được xem như là một hành động tích cực Nghiên cứu tiến hành tại Đại học Mở của Anh cho thấy sinh viên sử dụng nghiên cứu Đại học Mở của họ để nhập học toàn thời gian ở nơi khác (Ashby, 2004) Cũng trong nghiên cứu này, mục tiêu quan trọng của chương trình cử nhân là cung cấp các cơ hội giáo dục cao hơn cho những người có thể đã bỏ lỡ giáo dục chính thức (ví dụ: người làm việc, người dân sống ở khu vực nông thôn hoặc vùng xa, các bà nội trợ, và những người có hoàn cảnh khó khăn khác…)
Tiến hành nghiên cứu tìm hiểu các nguyên nhân bỏ học từ nhiều quốc gia trên thế giới : Một số tổ chức ĐTTX đã tiến hành nghiên cứu sinh viên bỏ học Một số nghiên cứu đáng chú ý đã được thực hiện bởi trường Đại học British Open (Ashby, 2004; Kennedy & Powell, 1976; Tresman, 2002; Woodley, 2004); Đại học Athabasca của Canada (Powell, 1991); Đại học Mở quốc gia Hàn Quốc (Shin & Kin, 1999); và Đại học Deakin (Brown, 1996) của Úc Nhiều mô hình khác nhau đã được sử dụng bởi các nhà nghiên cứu mô tả các yếu tố có ảnh hưởng đến thành tích sinh viên, tỉ lệ hoàn thành khóa học, cùng với các mối quan hệ giữa các yếu tố biến Các nhà nghiên cứu Mỹ đã đi đầu trong việc phát triển một loạt các mô hình để cố gắng tìm hiểu và giải thích những yếu tố quan trọng góp phần hướng tới gọi học lại từ sinh viên giáo dục đại học (Tinto, 1975, 1993; Bean, 1980, 1983; Bean & Metzner, 1985; Astin, 1977, 1985; Braxton, 2000) Một nhà nghiên cứu người Anh, Woodley (2004), cũng đã thảo luận những điểm mạnh và điểm yếu của một số mô hình quan trọng như mô hình Tinto (Tinto, 1975), mô hình của Sweet (Sweet, 1983), và mô hình của Kember (Kember, 1995) Các mô hình được sử dụng rộng rãi bởi các nhà nghiên cứu ĐTTX để dự đoán đó sinh viên có nhiều khả năng bỏ học, và xác định các biện pháp can thiệp nhằm giảm tỉ lệ bỏ học của sinh viên (Bernard & Amundsen,
Trang 241989) Phương pháp tiếp cận lý thuyết như vậy có những hạn chế, đặc biệt là khi
áp dụng cho hoàn cảnh và các tình huống khác nhau (Woodley, 2004; Woodley, Delange, & Tanewski năm 2001; Yorke, 2004)
Theo Woodley (2004), nghiên cứu hầu hết về sinh viên bỏ học đều rơi vào một trong hai loại: khảo sát tìm kiếm để tìm hiểu lý do của sinh viên bỏ học (Davies & Elias, 2003; Woodley & Parlett, 1983; Yorke, 1999), hoặc nghiên cứu xem xét tiến bộ của sinh viên liên quan đến các biến dự đoán khả năng của sinh viên bỏ học (Johnes & Taylor, 1989)
Các mô hình phổ biến nhất được trích dẫn của các nghiên cứu sinh viên
bỏ học là một trong những phát triển bởi Tinto (1975) Theo Tinto, quá trình gọi học lại phụ thuộc vào cách sinh viên tương tác với môi trường xã hội và học tập của nhà trường
Nhiều nghiên cứu tìm hiểu các nguyên nhân bỏ học từ nhiều quốc gia trên thế giới như: trường Đại học British Open (Ashby, 2004; Kennedy & Powell, 1976; Tresman, 2002; Woodley, 2004); Đại học Athabasca của Canada (Powell, 1991); Đại học Mở quốc gia Hàn Quốc (Shin & Kin, 1999); và Đại học Deakin (Brown, 1996) của Úc
Các nghiên cứu mô tả những yếu tố ảnh hưởng đến thành tích sinh viên, tỉ
lệ hoàn thành khóa học, giảm thiểu trình trạng bỏ học, cùng với các mối quan hệ giữa các biến yếu tố, đi đầu là nước Mỹ (Tinto, 1975, 1993; Bean, 1980, 1983; Bean & Metzner, 1985; Astin, 1977, 1985; Braxton, 2000)
Khảo sát sinh viên lý do bỏ học (Woodley, 2004)
Sinh viên từ xa bỏ học các khóa học được nghiên cứu tập trung vào 4 lý
do chính: do công việc, gia đình, thiếu tài chính, thiếu kỹ năng cơ bản (Ostman
& Wagner, 1987; Thompson, 1997)
Vấn đề bỏ học trong giáo dục từ xa được công nhận rộng rãi và đã được xem là đối tượng nghiên cứu (Garrison, 1987; Cookson, 1989; Kember, 1989; Zajkowski, 1992)
Trang 25So sánh tỉ lệ bỏ học của các khóa học giáo dục từ xa thường cao hơn so với các khóa học khác (Kember, 1995)
Đề tài có nghiên cứu và kế thừa các nghiên cứu trước đây về sinh viên bỏ học, trong đó các nghiên cứu đã đưa ra rất nhiều nguyên nhân dẫn đến bỏ học,
để rút gọn có thể tạm chia ra thành các nhóm nguyên nhân chính:
2.3.1 Nhiều yếu tố kết hợp:
- Sinh viên có thể lựa chọn học theo hình thức ĐTTX, bởi vì họ nghĩ rằng những chương trình/khóa học sẽ được dễ dàng hơn (Carnevale, 2000); Tuy nhiên, đây không phải là trường hợp như mong đợi, sinh viên bị vỡ mộng khi
họ nhận ra rằng chương trình/khóa học đòi hỏi những nỗ lực tương tự như các khóa học truyền thống, nếu không nói là kéo dài hơn chương trình/khóa học truyền thống (Fozdar & Kumar, 2006)
- Các nhà nghiên cứu có xu hướng nhấn mạnh thêm về sự ảnh hưởng của môi trường bên ngoài, chẳng hạn như nghề nghiệp và hỗ trợ từ gia đình của sinh viên (Kember, 1995)
- Sinh viên ghi danh trong ĐTTX thường là người lớn tuổi, tham gia bán thời gian, công chức toàn thời gian và tất cả đều đang có trách nhiệm gánh vác gia đình (McGivney, 2004) Đối với sinh viên như vậy, các yếu tố như “không
có thời gian”, “thiếu thông tin phản hồi về bài tập”, “quản lý thời gian “, “ kỳ vọng không thực tế”… tất cả đều là những nguyên nhân góp phần bỏ học (Garland, 1993; Ostman & Wagner, 1987) Các yếu tố khác bao gồm “thiếu hướng dẫn và thông tin trước khi đăng ký và ghi danh “, “ thiếu sự hỗ trợ của giảng viên, và khó khăn liên hệ với giảng viên” (Brown, 1996; Cookson, 1989; Pierrkeas, Xenos, Panagiiotakopoulos, & Vergidis, 2004; Tresman, 2002)
- Utley (2002),…chỉ có vài sinh viên tham dự các lớp học lý thuyết mặt đối mặt và tham dự là không bắt buộc Do vậy, sinh viên cảm thấy bị cô lập và quyết định bỏ học giữa chừng do thiếu thông tin về lịch trình của buổi học từ các trường đại học và khoảng cách của Trung tâm nghiên cứu từ nơi cư trú của họ
Trang 262.3.2 Yếu tố thời gian:
- Nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng ở các nước như Úc, Canada, Vương quốc Anh, và Hoa Kỳ, sinh viên thường khoảng cách đi học đại học bán thời gian, và không bao giờ có ý định nhiều để hoàn thành toàn bộ chương trình học (Ashby, 2004; Grayson, năm 1997; Yorke, 2004) Vì lý do này, các nghiên cứu về sinh viên bỏ học trong giáo dục từ xa ở những nước này thường tập trung vào tỉ lệ hoàn thành khóa học cá nhân, chứ không phải trên toàn bộ tỉ lệ hoàn thành chương trình
- Vấn đề được trích dẫn như “thiếu thời gian” là đặc biệt nghiêm trọng, đặc biệt là trong trường hợp sinh viên được tuyển dụng phải gánh vác các cam kết Đối với sinh viên như vậy, họ khó có thể cân bằng trách nhiệm cá nhân của
họ và theo đuổi việc học, và lựa chọn thường là bỏ học (Mc Givney, 2004)
- Ostman và Wagner (1987) được tìm thấy “thiếu thời gian” là phổ biến nhất được trích dẫn lý do được đưa ra bởi sinh viên giáo dục từ xa bỏ học
- Tresman (2002) đề nghị “thiếu thời gian” là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến quyết định của sinh viên để rút lui
- Garg, Vijayshri & Panda (1992) Ví dụ, nghiên cứu trước đây kiểm tra kinh nghiệm của sinh viên về một khóa học vật lý tiết lộ rằng họ dành nhiều thời
gian hơn cho nghiên cứu các tài liệu học tập
- Ashby (2004) Hơn 50 phần trăm sinh viên trong cuộc khảo sát của Anh
này cho biết rằng họ dành nhiều thời gian nghiên cứu hơn dự kiến
2.3.3 Lý do cá nhân:
- Lý do cá nhân, chẳng hạn như thay đổi trong trạng thái làm việc hoặc hoàn cảnh gia đình, đóng một vai trò quan trọng trong việc bỏ học (Brown, 1996)
Trang 272.3.4 Hỗ trợ nhà trường:
- Các bước hỗ trợ sau sẽ giúp các cho sinh viên chuẩn bị các kỳ thi cuối
kỳ và có thể cải thiện trí nhớ của họ trong hệ thống Một số nhà nghiên cứu cho rằng, ôn tập bổ sung, hỗ trợ học tập khác cũng có thể giúp ích cho sinh viên có kết quả học tập tốt hơn (Mc Cracken, 2004)
- Dịch vụ hỗ trợ sinh viên có một vai trò rất quan trọng và cần thiết để giúp sinh viên hoàn thành chương trình học của họ (Peach, 2005)
2.3.5 Khoảng cách đi học xa:
- Nhiều sinh viên phải đi một khoảng cách đáng kể để đến được Trung tâm nghiên cứu gần nhất của họ Yếu tố này trở nên quan trọng hơn, đặc biệt là
đối với nữ sinh viên (Hramiak, 2002)
- Tìm hiểu việc bỏ học của sinh viên Đào tạo từ xa trường Đại học Mở
TP HCM (Lê Thị Thanh Thu, 2013): đề tài áp dụng phương pháp thống kê mô
tả và các phương pháp kiểm định để tìm hiểu mối liên hệ có thể có giữa giới tính
và ngành học của sinh viên với tác nhân gây ra tình trạng bỏ học của sinh viên đào tạo từ xa
đề tài, làm cơ sở nghiên cứu và kế thừa cho luận văn
Trang 28CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG VỀ ĐÀO TẠO TỪ XA CỦA TRƯỜNG
ĐẠI HỌC MỞ TP HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2010-2013
3.1 Thực trạng về Đào tạo từ xa trong hệ thống giáo dục
3.1.1 Giáo dục từ xa trong hệ thống giáo dục Việt Nam:
Giáo dục từ xa xuất hiện ở Việt Nam từ những năm đầu của thập kỷ 60
dưới hình thức dạy-học hàm thụ, tài liệu in ấn được phát tới sinh viên qua hệ
thống bưu điện Trong những năm của Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất 1965) phương thức dạy-học hàm thụ đã đóng góp đáng kể cho công tác đào tạo
(1961-và bồi dưỡng cán bộ cho công cuộc phát triển kinh tế-xã hội Khi Đế quốc Mỹ gây chiến tranh bắn phá miền Bắc bằng không quân, các trường phải đi sơ tán và hình thức GDTX này bị đứt quãng
Trong những năm chiến tranh và những năm sau đó, GDTX ở Việt Nam hầu như không được tiến hành Sau khi Đảng và Nhà nước có Chủ trương Đổi mới và Chính sách Mở cửa, nhận thấy được tầm quan trọng của giáo dục Mở và
Từ xa trong mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa đất nước và nhằm giảm áp lực lên hệ thống giáo dục truyền thống đã trên đà quá tải, Đảng và Nhà nước đã có những định hướng chỉ đạo cho sự phát triển loại hình giáo dục Mở và Từ xa, xác định nó là bộ phận cấu thành trong hệ thống giáo dục quốc dân
3.1.2 Phương thức ĐTTX tại Trường ĐH Mở TPHCM:
Phương thức học tập chính đang được triển khai tại Trường ĐH Mở TPHCM cho các đối tượng sinh viên ĐTTX chủ yếu là tự học qua tài liệu in ấn như giáo trình, tài liệu hướng dẫn học tập, slide bài giảng, đề cương ôn tập và thông qua các phương tiện nghe nhìn, phát thanh hay bài giảng trực tuyến Ngoài ra, việc hướng dẫn học tập trên lớp vẫn được duy trì ở các môn học chính tại các địa điểm học tập vệ tinh của Trường Các buổi giới thiệu môn học hay ôn tập chiếm từ 15-25% tổng số tiết của môn học do giáo viên chuyên môn đảm
Trang 29nhận Giảng viên đến lớp để gặp người học, giải đáp thắc mắc, hướng dẫn cách học cũng như giảng giải những nội dung quan trọng cần nắm vững ở môn học
đó Trong quá trình tự học, nếu có thắc mắc các vấn đề về học thuật, sinh viên
có thể liên lạc với giảng viên thông qua điện thoại, Email Phương thức này kết hợp ĐTTX không tương tác và tương tác
3.1.3 Các văn bản pháp lý:
Trong định hướng chiến lược phát triển giáo dục quốc gia từ trước đến nay Đảng CSVN, Chính Phủ, đã ban hành các văn bản, quyết định cụ thể :
+ Nghị quyết Hội nghị lần 2 của Ban chấp hành Trung Ương khóa VIII
tháng 12/1996 chỉ rõ “Mở rộng các hình thức đào tạo không tập trung, hình thức
học tập thường xuyên, đặc biệt là hình thức học từ xa, từng bước hiện đại hóa hình thức giáo dục.”
+ Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX: “Xây dựng quy hoạch đào tạo nhân
lực theo phương thức kết hợp học tập trung, học từ xa, học qua máy tính” (trang
110)
+ Luật Giáo Dục (2005): “Hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính
quy và giáo dục thường xuyên” (Điều 4-khoản 4) “Các hình thức thực hiện chương trình giáo dục thường xuyên để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm: (a) vừa làm vừa học, (b) học từ xa, (c) tự học có hướng dẫn” (Điều 45-khoản 2)
+ Quyết định 112/2005/QĐ-TTg, ngày 18/05/2005: “Đẩy mạnh áp dụng
phương thức giáo dục từ xa để thực hiện các chương trình giáo dục thường xuyên…”
+ Quyết định 164/2005/QĐ-TTg, ngày14/07/2005: “Phát triển và nâng cao
chất lượng giáo dục từ xa”
+ Quyết định phê duyệt đề án “Phát triển giáo dục từ xa giai đoạn
2005-2010” QĐ số 164/2005/QĐ-TTg ký ngày 04/07/2005 Nội dung chủ yếu: “Phát
Trang 30triển phương thức giáo dục từ xa ở các trường đại học, cao đẳng Phấn đấu đến năm 2010 có ít nhất 20% sinh viên học tập theo phương thức giáo dục từ xa…”
+ Cụ thể và chi tiết trong Quyết định phê duyệt đề án “Xây dựng xã hội học
tập giai đoạn 2012-2020” QĐ số 89/QĐ-TTg của Thủ Tướng chính phủ ký ngày
09/01/2013
3.2 Thực trạng 10 năm ĐTTX (2004-2013) tại trường ĐH Mở TP HCM:
3.2.1 Thống kê theo khu vực:
Chương trình ĐTTX của Trường ĐH Mở TPHCM được thực hiện từ tháng 03 năm 1993, là nơi đầu tiên trong cả nước thực hiện loại hình đào tạo này với 1.300 sinh viên đăng ký theo học ngành Quản trị kinh doanh Năm 1998, Trường tổ chức thêm 4 ngành nữa là Xã hội học, Đông Nam Á học, tiếng Anh
và Xây dựng Đến năm 2004, Trường mở thêm ngành Tin học, Tài chính-Ngân hàng, Kế toán và Kinh tế (Hứa Văn Đức, 2010) Đến nay, Trường có tổng số 9 ngành đào tạo với 15 chuyên ngành và hiện có trên 35.000 sinh viên đang theo học
Từ năm 2004, quy mô đào tạo từ xa của Trường đã phát triển rất nhanh, là một trong những trường có lĩnh vực đào tạo rộng rãi: Đa lĩnh vực, đa ngành nghề, từng bước đáp ứng được nhu cầu thiết thực của người học tại các địa phương Tính riêng trong 10 năm gần đây, tổng số người đăng ký theo học đã lên trên 70.000 sinh viên, tại hầu hết các tỉnh thành thuộc khu vực phía Nam (số liệu của Trung tâm Đào tạo Từ xa, tính đến 3/2013)
Số liệu thống kê ở bảng 3.1 dưới đây sẽ cho ta thấy được sự phát triển từng năm và quy mô về số lượng sinh viên đăng ký học hình thức ĐTTX từ năm
2004 đến 2013, giúp cho ta có cái nhìn tổng quát hơn về tình hình tuyển sinh hình thức ĐTTX tại Trường Đại học Mở Tp Hồ Chí Minh qua 10 năm:
Trang 31BẢNG 3.1:TỔNG HỢP TUYỂN SINH ĐTTX 10 NĂM TỪ 2004 ĐẾN 2013
MIỀN TRUNG VÀ
TÂY NGUYÊN 308 332 755 1.442 1.938 1.949 1.652 1.392 1.746 989 12.503 ĐÔNG NAM BỘ 1.029 1.146 1.134 871 1.285 1.950 1.887 543 987 896 11.728
HÌNH 3.1: SỐ LƯỢNG SINH VIÊN ĐĂNG KÝ HỌC HÌNH THỨC ĐÀO
TẠO TỪ XA QUA CÁC NĂM
(Nguồn: TTĐTTX Đại học Mở TPHCM)
Tổng quát, các ngành có đào tạo từ xa của Nhà trường được chia làm 3 khối: Khối ngành kinh tế - quản trị - luật, khối ngành xã hội - nhân văn và khối ngành kỹ thuật Trong đó khối ngành kinh tế - quản trị - luật có đông đảo người theo học nhất, chiếm 81,54%, cao nhất là ngành quản trị kinh doanh, kế đến là ngành luật (luật kinh tế, luật kinh doanh và kinh tế luật), sau cùng là ngành kế
Trang 32toán và tài chính - ngân hàng; khối ngành xã hội - nhân văn chiếm 8,48% và khối ngành kỹ thuật chiếm 9,97% Tuy nhiên, nếu thống kê riêng cho những năm gần đây thì số lượng sinh viên đăng ký và tốt nghiệp ngành luật kinh tế đã vượt trội hẳn các ngành khác do nhu cầu về thực tế phát triển xã hội
Quy mô về sinh viên đăng ký tại Trường trong thời gian 10 năm từ 2004 đến 2013 là 72.987 sinh viên, đây là quy mô khá lớn so với các trường khác trong nước có đào tạo theo hình thức ĐTTX, số lượng sinh viên đăng ký tăng đều đặn từ 2004 đến 2009, đặc biệt tăng mạnh từ năm 2006 đến 2009, điều này
có thể giải thích là bởi vì kể từ năm 2006 trường ĐH Mở TP HCM được Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép chuyển loại hình từ trường đại học bán công sang thành đại học công lập, điều này đã thu hút người học đăng ký tăng đáng kể Kế tiếp, có sự sụt giảm từ sau 2010 được giải thích bởi nhiều nguyên nhân như sau:
- Một là, sự phát triển và mở rộng nhanh chóng của nhiều trường đại học trong cả nước tạo ra sự canh tranh khốc liệt trong việc tuyển sinh
- Hai là, sự đa dạng hóa ngành nghề, đa lĩnh vực đào tạo của nhiều trường mới ra đời nhất là các trường đại học của khu vực đã phần nào đáp ứng được nhu cầu người học tại địa phương về các lĩnh vực mà Trường ĐH Mở TP.HCM không thể đáp ứng được, thí dụ như các ngành nông lâm, thủy sản, cơ khí hóa nông nghiệp…
- Ba là, việc đào tạo của Trường trước đây đã đáp ứng được nhu cầu bổ sung nguồn nhân lực cho địa phương, đến nay nhu cầu trên gần như đã bão hòa cho nên số lượng lượng sinh viên ngày càng giảm là hợp lý
Các nguyên nhân trên chỉ là một phần trong các nguyên nhân khách quan, ngoài ra còn phải kể đến nhiều nguyên nhân khác thuộc chủ quan của nhà trường như:
- Trường hợp trước đây những sinh viên đăng ký học tự do mà không bị ràng buộc phải đóng học phí, do đó có rất nhiều sinh viên đăng ký lấy lệ nhưng không đi học, và kết quả số lượng giảm sút chỉ thể hiện qua tổng kết các kỳ
Trang 33kiểm tra cuối học kỳ Theo thống kê không chính thức năm 2010 và 2011 của Trung tâm ĐTTX cho thấy số lượng sinh viên đi học thực sự chỉ chiếm khoảng 60% đến 61% trên số lượng sinh viên đăng ký Nhận thấy được điều này, cho nên Trường đã có bổ sung thêm quy định là trong học kỳ đầu tiên sinh viên phải đăng ký đóng tiền ít nhất một môn học, do đó sinh viên thực sự muốn tham gia học họ phải cân nhắc trước khi đăng ký học, vì vậy số lượng sinh viên bị giảm sút hay nói đúng hơn số lượng đăng ký lúc này đã phản ánh đúng về số lượng nhu cầu người học thực sự
- Kế tiếp, phải kể đến nguyên nhân chủ quan thuộc công tác quản lý và đào tạo của Trường Với chủ trương xã hội hóa giáo dục đã tạo nền tảng cho sự
ra đời của nhiều loại hình đào tạo, đa dạng hóa sản phẩm đào tạo, đa lĩnh vực…
đã thúc đẩy các trường muốn tồn tại và phát triển buộc phải cạnh tranh bằng cách cải tiến và nâng cao chất lượng đào tạo Không nằm ngoài xu thế chung, Trường cũng phải xem xét lại những mặt mạnh, yếu của mình trong thời gian qua mà điều chỉnh sao cho phù hợp với môi trường cạnh tranh và yêu cầu thực
tế của xã hội
Số liệu thống kê chi tiết tổng hợp tuyển sinh từ năm 2004 – 2013 chia ra làm 4 khu vực: khu vực miền Trung và Tây nguyên, miền Đông Nam bộ, miền Nam và TP HCM - Quận, Huyện cho ta thấy khu vực miền Nam cao nhất chiếm 38,03% vì đây là khu vực có mật độ dân cư đông đảo bao gồm 11/12 tỉnh, thành thuộc đồng bằng sông Cửu Long (ngoại trừ tỉnh Sóc Trăng); kế tiếp là toàn bộ khu vực TP Hồ Chí Minh 28,77%; khu vực miền Trung và Tây nguyên 17,13% và thấp nhất là miền Đông Nam bộ 16,07% Nhìn chung, số lượng sinh viên của Trường rải khắp khu vực phía Nam từ Bình Định đến Cà Mau, đó là nhờ vào sự liên kết với các địa phương các tỉnh, thành thuộc khu vực phía Nam Bên cạnh các lớp đào tạo từ xa ngay tại TPHCM và các quận, huyện ngoại thành, Trường còn có liên kết đào tạo với hơn 32 trung tâm giáo dục thường xuyên, trường đại học địa phương, trường cao đẳng cộng đồng của các tỉnh,thành từ Bình Định đến Cà Mau, kể cả những địa bàn xa xôi như Đắc Nông,
Trang 34Đăk Lăk, Gia Lai, Phú Quốc, Côn Đảo,…việc mở rộng địa bàn và phát triển ngành học càng ngày càng đa dạng, thực tế đã đáp ứng được nhu cầu phát triển nguồn nhân lực cho các địa phương, từng bước góp phần xóa bỏ sự chênh lệch
về trình độ của người làm việc và người lao động có nhu cầu học tập và nâng cao kiến thức
Số liệu bảng 3.2 cho thấy tổng số sinh viên đăng ký qua 10 năm được
phân chia theo 12 ngành học cụ thể theo thứ tự từ cao đến thấp, cao nhất là ngành Quản trị kinh doanh, Kế toán…,thấp nhất là ngành Tin học và Đông Nam
Á học Tuy nhiên, nếu xét riêng cho khối ngành Kinh tế - luật là 20.057 sinh viên thì số lượng sinh viên chỉ kém ngành Quản trị kinh doanh và nếu tổng kết theo từng năm thì thực tế hiện nay số lượng đăng ký khối ngành Luật - kinh tế
Trang 35(ngành Luật kinh tế mới mở từ năm 2009) đã vượt qua ngành Quản trị kinh doanh, điều này chứng tỏ có nhu cầu thay đổi ngành học trong giai đoạn mới và sắp tới chắc sẽ còn thay đổi nhiều theo sự phát triển đa dạng của ngành nghề trong xã hội
3.2.3 Thống kê về tuyển sinh và bỏ học từ 2010 – 2013:
Mục tiêu của nghiên cứu này là tìm hiểu sinh viên ĐTTX bỏ học, tác giả
đã thu thập số liệu từ Trung tâm ĐTTX thuộc Trường Bảng 3.3, thống kê tổng
quát về số lượng sinh viên từ xa đăng ký và bỏ học từ năm 2010-2013
BẢNG 3.3: BẢNG TỔNG HỢP THỐNG KÊ SỐ LƯỢNG ĐĂNG KÝ VÀ
3.3 Những giải pháp chính hạn chế tình trạng bỏ học của trường Đại học
Mở TP HCM đã thực hiện:
Trong thời gian gần đây bằng những nỗ lực hết sức của mình, nhà trường
đã kịp thời đề ra những giải pháp thiết thực cải thiện tình hình nhằm giảm thiểu
Trang 36tình trạng bỏ học của sinh viên từ xa; nâng cao chất lượng giảng dạy hướng tới mục tiêu xa hơn trong chiến lược lâu dài của nhà trường Theo đánh giá riêng, tác giả rất đồng tình với những giải pháp mà nhà trường đã đề ra và thực hiện trong thời gian qua, bởi vì qua kết quả thực hiện nó đã chứng minh được là rất phù hợp với thực tiễn hiện nay và có ý nghĩa về tính hiệu quả, thiết thực và kịp thời Tóm tắt, Trường đã thực hiện các giải pháp như sau:
Một là, lãnh đạo Trường đã cùng phối hợp với lãnh đạo các đơn vị liên kết gặp gỡ trực tiếp với sinh viên từ xa tại các ĐVLK để lắng nghe và giải quyết những thắc mắc, tâm tư nguyện vọng của đơn vị và sinh viên; từ đó đề ra những quyết định kịp thời bằng các giải pháp linh hoạt, cụ thể nhằm tháo gỡ các khó khăn, thắc mắc chung tạo điều kiện học tập tốt nhất cho sinh viên
Hai là, nhằm thu hút sinh viên học trở lại, Trường đã khẩn trương lập danh sách những sinh viên đã bỏ học trên cơ sở thống kê về kết quả học tập và
số môn mà sinh viên đã học, thông qua điện thoại trực tiếp Trường đã tìm hiểu khó khăn mà những sinh viên này đang gặp phải, từ đó có những biện pháp hữu hiệu kêu gọi và khuyến khích sinh viên nghỉ học quay trở lại Trường
Ba là, song song với biện pháp kêu gọi sinh viên nhập học lại đối với những sinh viên đã bỏ học, cần phải có biện pháp chung để hỗ trợ cho tất cả sinh còn đang học mà nhiệm vụ chính thuộc bộ phận công tác hỗ trợ sinh viên như:
Tổ tư vấn trực tiếp, hướng dẫn kế hoạch ôn tập, in ấn tài liệu hướng dẫn học tập đầy đủ và đa dạng…
Bốn là, hiện nay để khuyến khích tất cả sinh viên tham gia đầy đủ các buổi ôn tập nhằm mục đích giúp mọi sinh viên đều có thể nắm bắt được kiến thức và vượt qua các kỳ thi kiểm tra cuối môn học, Trường đã cho thực hiện điểm thưởng chuyên cần đối với từng môn học, nếu sinh viên nào có mặt đầy đủ trong tất cả các buổi lên lớp của giáo viên thì sẽ có điểm thưởng môn học đó và
do chính giáo viên giảng dạy ghi nhận, điểm thưởng sẽ được cộng vào kết quả điểm thi cuối môn học Thực hiện thành công bước đột phá này sẽ giúp cải thiện
Trang 37kết quả học tập của tất cả sinh viên và giảm thiểu tình trạng bỏ học nếu như họ
và thực trạng về những giải pháp mà Trường đại học Mở Tp HCM đã thực hiện trong thời gian qua để làm cơ sở cho phân tích ở các chương sau
Trang 38CHƯƠNG IV: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
4.1 Phương pháp nghiên cứu:
4.1.1 Mô hình phân tích:
Như đã giới thiệu ở phần cuối Chương 2, tác giả chọn mô hình của Bean
và Metzner (1985) làm cơ sở cho việc phân tích các yếu tố tác động đến tình trạng bỏ học của sinh viên ĐTTX, mô hình này các tác giả đã phát triển một mô hình về sinh viên phi truyền thống bỏ học, theo đó sinh viên phi truyền thống có khuynh hướng bỏ học bởi ảnh hưởng của môi trường bên ngoài nhiều hơn sinh viên truyền thống Theo tác giả, mô hình trên có sự phù hợp với phương thức đào tạo của Trường hiện tại do đa số sinh viên của Trường mang đặc tính của hình thức giáo dục mở và từ xa Mặc dù có một số khác biệt nhỏ về việc Trường
có phát triển giảng dạy trực tuyến sau này, nhưng trong mô hình này cũng dựa vào nhóm các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định học hoặc bỏ học của sinh viên như: Yếu tố thuộc đặc điểm cá nhân, thói quen học tập và yếu tố môi trường Từ nhóm các yếu trên, nghiên cứu đã cho thấy có sự liên quan về kết quả học tập, kết quả tâm lý có phù hợp với môi trường học tập, cũng theo nhóm tác giả thì yếu tố về môi trường hay các tác động bên ngoài có rất nhiều ảnh hưởng đến quyết định tiếp tục học hay không của sinh viên
Qua tổng hợp mô hình của Bean và Metzner (1985) và nhiều nghiên cứu
khác, tác giả đã rút lọc ra được 9 nhóm yếu tố chủ yếu gồm: Thu nhập, thời gian, nghề nghiệp, gia đình, kết quả học tập, động lực cá nhân, sức khỏe, cơ sở đào tạo và khoảng cách của địa điểm học; trong từng nhóm được phân ra thành 24 nguyên nhân chi tiết cụ thể Từ đây, tác giả thiết lập bảng câu hỏi phỏng vấn làm
cơ sở cho phân tích dữ liệu về sau
Trang 39Mô hình của Bean và Metzner (1985) về sinh viên bỏ học
4.1.2 Phương pháp thống kê mô tả:
Sử dụng số liệu thống kê của Trung Tâm Đào tạo Từ xa qua các năm học
2010, 2011, 2012 và 2013 và số liệu thu thập riêng của tác giả qua nhiều năm, tác giả đã tổng hợp lại theo mục tiêu nghiên cứu của đề tài, lập thành các biểu phân tích chi tiết theo nội dung yêu cầu Cụ thể các bảng thống kê bao gồm:
- Thống kê tổng quát về tình hình tuyển sinh 10 năm từ 2004 đến 2013, phân chia theo khu vực và tỉnh, thành
- Thống kê tuyển sinh từ 2004 đến 2013, phân chia ngành học
- Điểm trung bình trước đây
Các yếu tố môi trường
- Tài chính
- Thời lượng phải làm việc
- Trách nhiệm với gia đình
- Khích lệ từ xã hội, bên ngoài
- Cơ hội chuyển đổi chương
trình học
Kết quả học tập
- Điểm trung bình hiện tại
Trang 40- Bảng thống kê về tình hình đăng ký và bỏ học từ 2010 đến 2013, trong
đó có phân chia theo khu vực
- Bảng thống kê sinh viên bỏ học phân theo độ tuổi từ 2010 đến 2013
- Bảng thống kê sinh viên bỏ học phân theo ngành học từ 2010 đến 2013 Tất cả đều được phân tích ở chương sau nhằm bổ sung cơ sở thực tiễn cho việc phân tích các nguyên nhân bỏ học thuộc các nhóm yếu tố có liên quan đến
cá nhân, kết quả học tập, địa phương, ngành học…
4.1.3 Phương pháp định lượng:
Căn cứ kết quả phiếu thăm dò, sử dụng mô hình hồi quy binary logistic với biến phụ thuộc là biến giả (dummy) có ảnh hưởng hay không ảnh hưởng đến tình trạng bỏ học và các biến độc lập bao gồm các biến: Thu nhập, nghề nghiệp, gia đình, thời gian, động lực, học tập, vị trí, cơ sở đào tạo, sức khỏe Việc phân tích các yếu tố có ý nghĩa thống kê tác động đến tình trạng bỏ học để tìm ra những nguyên nhân thuộc chủ quan, đề xuất ý kiến nhằm cải thiện tình hình và khắc phục những nhược điểm đã có; qua đó nhà trường có những định hướng mới giúp hoàn thiện phương thức đào tạo tốt hơn trong thời gian sắp tới
4.2 Cơ sở dữ liệu:
- Dữ liệu thứ cấp: nguồn cung cấp từ Trung tâm Đào tạo Từ xa - trường
Đại học Mở TP HCM và các số liệu thu thập riêng của tác giả
- Dữ liệu sơ cấp: Thu thập dữ liệu thông qua bảng câu hỏi điều tra bằng điện thoại phỏng vấn trực tiếp những sinh viên thuộc đối tượng nghiên cứu, kích
thước mẫu sau khi thu thập là 182 kết quả phiếu thăm dò (Phụ lục.7)
Mẫu nghiên cứu này bao gồm đầy đủ các đặc điểm của sinh viên các khóa học từ năm 2010 đến 2013 tổng cộng đăng ký là 26.503 sinh viên, đang học là 18.645 sinh viên chiếm tỉ lệ 70,35% và bỏ học 3 học kỳ liên tiếp là 7.858 sinh viên chiếm tỉ lệ 29,35%, trong đó bao gồm các thông tin: họ và tên, giới tính, năm sinh, địa chỉ, đơn vị đăng ký học, ngành học, năm nhập học, số môn đã học,