1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Ảnh hưởng kinh tế các nước giàu tới việt nam

11 427 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng kinh tế các nước giàu tới việt nam
Tác giả Giáo Sư David O. Dapice
Trường học Đại học Harvard
Chuyên ngành Chương trình Việt Nam
Thể loại bài luận
Năm xuất bản 2002
Thành phố Cambridge
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 246,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ảnh hưởng kinh tế các nước giàu tới việt nam

Trang 1

Tháng 8 năm 2002

Tel: (617) 495-1134 Fax: (617) 496-5245 e-mail: david_dapice@harvard.edu

TRUNG TÂM DOANH NGHIỆP VÀ CHÍNH PHỦ

79 John F Kennedy Street, Cambridge, MA 02138

TÌNH HÌNH BẤT ỔN Ở NHỮNG NỀN KINH TẾ GIÀU:

LIỆU CÓ ẢNH HƯỞNG XẤU RA SAO ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN?

Giáo sư David O Dapice Đại học Tufts

Chương trình Việt Nam Trường Quản lý Nhà nước John F Kennedy

Đại học Harvard

Trang 2

Lời mở đầu

Trong số ba khu vực kinh tế giàu có quan trọng, mỗi khu vực đều gặp vấn nạn Rõ

nhất là Nhật, với tỉ lệ tăng trưởng bình quân đầu người trung bình từ năm 1998 đến

2002 bằng 0, và tỉ lệ tăng trưởng lao động đã ở mức âm kể từ năm 1994 Những ngân

hàng yếu kém, thâm hụt ngân sách cao, và dân số đang lão hóa của Nhật gây ra những

thách thức kinh tế mà nếu càng tồn tại dai dẳng thì sẽ càng khó mà đương đầu nổi

Khu vực dùng đồng euro (bao gồm phần lớn Liên hiệp châu Âu trừ Vương quốc Anh,

Đan Mạch và Thụy Điển) liên tục có tỉ lệ thất nghiệp cao, các phúc lợi xã hội như trợ

cấp hưu trí ở mức không bền vững, và tỉ lệ sinh sản thấp hơn nhiều so với mức đủ

thay thế lực lượng lao động Những mức thuế cao đánh vào người lao động có việc

làm vĩnh viễn đã hạn chế tạo ra việc làm trong khu vực tư nhân, và góp phần làm tăng

thâm hụt ngân sách Mỹ đạt kết quả tốt hơn một chút so với khu vực dùng đồng euro

xét về mặt tăng trưởng GDP bình quân đầu người, và tốt hơn nhiều xét về khía cạnh

lao động, nhưng cán cân thanh toán của Mỹ dường như bị thâm hụt triền miên, và

những vấn nạn đã được bàn tán rất nhiều về bong bóng công nghệ và kế toán doanh

nghiệp đã tăng khả năng bị suy thoái nặng

Khi các nền kinh tế quá độ đang tìm cách để phát triển, ít ra ta cũng cảm thấy bất an

khi mỗi nền kinh tế trong ba khối kinh tế lớn dường như đều vướng vào những vấn

nạn trầm trọng Cũng có thể đầy rủi ro cho một quốc gia muốn theo chân những nước

khác trên con đường tăng trưởng dựa vào xuất khẩu nếu những thị trường lớn trở nên

bất ổn Nếu những nước nhập khẩu lớn lâm vào cảnh đình trệ kinh tế quá lâu, lượng

nhập khẩu sẽ tăng không bao nhiêu và các thế lực bảo hộ có thể thúc giục các chính

khách dựng lên những rào cản thương mại Vì thế, khả năng của những nước giàu

trong việc giải quyết những vấn nạn của họ cũng có ý nghĩa đối với những nước

nghèo hy vọng dùng hội nhập toàn cầu để phát triển Liệu những vấn nạn của họ có

cơ may khắc phục hay không?

Những vấn nạn mang tính chu kỳ và mang tính cơ cấu

Điều quan trọng là phải phân biệt giữa những biểu hiện của chu kỳ kinh tế, hiện vẫn

còn hiện diện dù thường dễ chịu hơn nhiều so với thời kỳ ban đầu, và những vấn nạn

mang tính cơ cấu đã ăn sâu Kinh tế thị trường đôi khi cũng có sai sót Có thể họ xây

dựng quá dư thừa nhà cửa cơ ngơi hoặc đầu tư quá nhiều vào một số năng lực sản

xuất Nếu lượng xây dựng dư thừa chiếm tỉ lệ cao so với tổng sản lượng, thì kết quả

thường là suy thoái Đây là sự giảm sút tạm thời1 về sản lượng giúp cho những lượng

dư thừa được tái định giá, khấu hao hoặc tìm hướng sử dụng khác Khi những sai lầm

này được chỉnh sửa, kinh tế sẽ tăng trưởng bình thường trở lại Phần lớn các đợt suy

thoái chấm dứt trong vòng một năm Các khoản trợ cấp thất nghiệp giảm bớt khó

khăn trong khi người lao động tìm việc làm mới Một đợt suy thoái là một cách để

vốn và lao động được tái phân bổ đến những nơi thực sự cần chúng Suy thoái không

phải là điều dễ chịu, nhưng cũng chẳng phải là sai lầm chết người Qua kinh nghiệm

1 Một định nghĩa phổ biến của suy thoái, dù không phải là định nghĩa chính thức, là sản lượng tính theo

giá không đổi giảm sút trong ít nhất hai quý liên tiếp Gần đây nhất vào năm 2001, Mỹ có ba quý sụt

giảm sản lượng, và khoảng chừng một năm sụt giảm lao động Nhật có năm năm giảm sút lao động

(1998-2002), và hai năm liên tiếp sụt giảm sản lượng bình quân đầu người vào năm 2001 và 2002

Khu vực dùng đồng euro có mức tăng trưởng sản lượng và lao động trải đều hơn tuy thấp hơn, ít nhất là

so với Mỹ Tỉ lệ thất nghiệp của khu vực này xê dịch từ 8% đến 11%, so với 4%-6% của Mỹ và Nhật

trong những năm gần đây

Trang 3

đau thương, những nền kinh tế giàu sẽ tìm ra những cách sử dụng chính sách tiền tệ

và thu chi ngân sách, cùng với những chính sách bình ổn khác, để giảm bớt tác động

của suy thoái và rút ngắn thời gian suy thoái trong khi chúng vẫn hoàn thành những

chức năng kinh tế của mình

Khác với một chu kỳ kinh tế bình thường, một vấn nạn mang tính cơ cấu là vấn nạn vẫn

diễn ra triền miên trong thời kỳ tăng trưởng kinh tế nhanh cũng như tăng trưởng chậm

Tỉ lệ thất nghiệp cao ở khu vực dùng đồng euro là một ví dụ Một ví dụ khác là Nhật

thất bại không tạo ra được việc làm mới hoặc không giải quyết được các khoản nợ vay

ngân hàng khó đòi (hiện đã lên đến hơn 1000 tỉ đô-la) trong suốt nhiều năm Thâm hụt

cán cân thanh toán triền miên của Mỹ là ví dụ thứ ba Cần phải nói là thâm hụt cán cân

thanh toán không nhất thiết luôn là một vấn nạn Nếu các dòng nhập vốn để trang trải

cho khoản thâm hụt được dùng để đầu tư vào hàng xuất khẩu hoặc hàng thay thế nhập

khẩu hiệu quả tạo ra thu nhập để trả nợ cho nhà đầu tư nước ngoài, thì chẳng có vấn đề

gì cả Tuy nhiên, thâm hụt của Mỹ trong những năm gần đây không thuộc loại “vô hại”

này, bởi bong bóng công nghệ của Mỹ đã thu hút những nhà đầu tư cổ phiếu và công ty

nước ngoài Những nguồn vốn này đã đẩy giá trị của đồng đô-la lên đến mức không

bền vững, mà từ đó giá trị đồng đô-la đang giảm xuống

Khi một vấn nạn kéo dài dai dẳng, thường là do người ta chẳng làm gì để giải quyết

nó và những cơ chế chỉnh sửa “tự nhiên” khác thì yếu kém hoặc không được phép

hoạt động Đây chính là điều được gọi là một vấn nạn mang tính cơ cấu Nó thường

là do thất bại thể chế - một tình huống trong đó chính phủ, các ngân hàng, các công

ty, và những nhóm khác không làm đúng vai trò của họ Tất cả các hệ thống thỉnh

thoảng cũng gặp thất bại thể chế Câu hỏi lý thú là một hệ thống nên giải quyết nó

như thế nào Đôi khi vấn nạn được xác định khá nhanh, các biện pháp khắc phục

được áp dụng, và tổn thất được hạn chế Trong những trường hợp khác, việc giải

quyết vấn nạn gây ra tổn thương quá lớn – ít ra là đối với một số nhóm quyền lợi nào

đó – đến nỗi người ta liên tục trì hoãn hành động Khi đó, vấn nạn trở nên trầm trọng

hơn, và việc điều chỉnh cuối cùng có thể rất đau đớn

Các thất bại thể chế làm phức tạp hơn việc bình ổn hóa các chu kỳ kinh tế

Cũng nên hiểu rằng một thất bại thể chế có thể gây cản trở cho khả năng của chính

phủ trong việc bình ổn hóa nền kinh tế vĩ mô Ta có thể thấy điều này rõ nhất ở Nhật,

dù nó chí ít cũng là một nỗi lo ở Mỹ và khu vực dùng đồng euro Hãy xét đến một

nước đang bị suy thoái Phản ứng “bình thường” là hạ lãi suất và giảm thuế, và/hoặc

tăng chi tiêu chính phủ để tổng chi tiêu tăng lên (Lãi suất thấp khuyến khích đầu tư;

còn giảm thuế giúp cho các hộ gia đình có thu nhập sau thuế cao hơn nên cũng có thể

chi tiêu nhiều hơn) Nhưng nếu các ngân hàng yếu kém, và có nhiều nợ khó đòi, thì

dù lãi suất có giảm các ngân hàng cũng không tăng lượng cho vay Thay vì thế, họ

dùng nguồn vốn để nuôi sống những doanh nghiệp “đã chết”, và không chịu cấp vốn

vay cho những công ty có thể làm ăn tốt hơn Để tránh công nhận những khoản nợ

khó đòi, họ làm cho kênh tiền tệ trở nên chậm chạp hoặc vô dụng Tương tự, nếu một

chính phủ tích lũy gánh nặng nợ vay khổng lồ, người dân bắt đầu thắc mắc liệu họ sẽ

có khả năng trả nợ hay không, hoặc trang trải những khoản trợ cấp hưu trí công cộng

mà họ đã được hứa hay không Như vậy, giảm thuế hay tăng chi tiêu chỉ khiến cho họ

càng thêm lo lắng Họ tiết kiệm nhiều hơn phòng khi thuế sẽ tăng lên hoặc các khoản

trợ cấp sẽ bị cắt giảm trong tương lai Kết quả là nợ vay của nhà nước chèn ép bất lợi

đối với cầu tư nhân, nhưng lại không làm tăng tổng cầu Những cơ chế này giải thích

Trang 4

tại sao Nhật có tỉ lệ tăng trưởng thấp như thế dù đã có lãi suất rất thấp và thâm hụt

chính phủ rất cao trong nhiều năm.2

Làm sao để xác định được thất bại thể chế? Về cơ bản, nếu một vấn nạn trầm trọng

được phép tồn tại mà không ai quan tâm đến, ta có thể đoán rằng có thất bại thể chế

Phần lớn những vấn nạn đều có thể khắc phục được Nếu không, có nghĩa là có

những ưu tiên khác quan trọng hơn Trong một số trường hợp, những người ra quyết

định có thể không tập trung vào một vấn đề cụ thể, và do vậy không nhận ra ngay

chuyện gì đang xảy ra Nhưng nếu cứ tiếp tục như vậy trong nhiều năm, thì rất có thể

không phải là như thế Nếu họ thực sự nhận ra vấn nạn, nhưng vẫn không chịu giải

quyết nó, thì thường là do giải pháp sẽ gây ra những vấn nạn khác - thường mang tính

chất chính trị Trong trường hợp Nhật, nhiều công ty yếu kém cung cấp tiền cho chính

đảng cầm quyền, trong khi cử tri nông thôn có ảnh hưởng lớn hơn cử tri thành thị và

cũng nhận được những khoản trợ cấp lớn.3 Kết quả là hệ thống chính trị rất khó thay

đổi tình hình, và thay vì thực hiện những cải cách căn bản, chính phủ chỉ biết vay

mượn và chi tiêu nhiều hơn nữa Kết quả là một mức nợ chính phủ nặng nề bằng

150% GDP Những nghĩa vụ nợ khác liên quan đến những đợt bảo lãnh cứu nguy

ngân hàng trong tương lai, các chi phí trợ cấp hưu trí, và những vấn nạn của hệ thống

tiết kiệm bưu điện sẽ đòi hỏi phải có mức lạm phát rất cao hoặc những khoản thanh

toán tính theo giá không đổi thấp hơn nhiều so với những khoản hiện nay đã hứa

Chính mối nguy hiểm này đã khiến cho mức xếp hạng tín dụng dành cho nợ vay của

chính phủ Nhật bị giáng cấp nhiều lần, hiện nay còn thấp hơn cả Botswana, một nước

ở miền trung nam châu Phi Trong tất cả những phương án hiện nay, chẳng có

phương án nào dễ dàng cả Nếu cứ tiếp tục tốc độ cải cách chậm như hiện nay, có thể

sản lượng của Nhật sẽ bị giảm mạnh trong mấy năm tới (Điều này sẽ có tác động lớn

đối với Việt Nam vì Nhật là một thị trường xuất khẩu lớn và cũng là nước cung cấp

vốn.)

Tất cả các nước giàu đều gặp phải những vấn nạn thể chế, và chúng lan tràn qua biên

giới các quốc gia

Trường hợp, hay ví dụ, này minh họa làm thế nào ngay cả một nền kinh tế giàu và

thành công cũng có thể gặp thất bại thể chế trầm trọng Những tác động (của thất bại

thể chế) có thể nghiêm trọng, thậm chí vượt ra ngoài biên giới của quốc gia gặp thất

bại Ví dụ, nền kinh tế toàn cầu xưa nay quá phụ thuộc vào cầu (tiêu dùng) từ Mỹ vốn

được xem là “đầu tàu (tăng trưởng)” Nếu Nhật tăng trưởng như trước đây, hay thậm

chí nhanh bằng châu Âu, Nhật sẽ ca tụng Mỹ là nguồn cầu tiêu dùng, và nền kinh tế

toàn cầu sẽ an toàn hơn Nhật không tạo ra được một môi trường đầu tư nội địa có khả

năng sinh lợi, nên đã dẫn tới những dòng xuất vốn lớn đã góp phần tạo ra vụ bùng nổ

đầu tư gây ra cuộc khủng hoảng châu Á năm 1997 Như vậy, trong một thế giới hội

nhập kinh tế, thất bại ở nơi này thường có tác động đến những nơi khác

2 Tiếp tục nuôi sống những công ty “ốm yếu” có nghĩa là những công ty vững mạnh hơn phải cạnh

tranh với những đối thủ được trợ cấp một cách không công bằng Vì thế, ngay cả những doanh nghiệp

mạnh cũng suy yếu do các khoản trợ cấp cho những doanh nghiệp suy sụp Điều này dẫn tới tình trạng

giảm bớt những công ty vững mạnh chịu cải tiến sáng tạo và nâng cao năng suất Nguồn lực bị sử dụng

kém hiệu quả

3 Nghị sĩ được bầu cử theo một khu vực bầu cử, chứ không phải bởi số cử tri bằng nhau Các khu vực

nông thôn có thể có số cử tri chỉ bằng 1/5 so với khu vực thành thị, thế nhưng mỗi khu vực bầu một

nghị sĩ Các cử tri nông thôn được hưởng chi tiêu cao hơn dành cho các công trình công cộng, được trợ

cấp nông nghiệp nhiều hơn, và nhiều ưu đãi khác Họ cũng già và bảo thủ

Trang 5

Những vấn nạn ở khu vực dùng đồng euro ít trầm trọng hơn, và khó thấy hơn Trên

nhiều phương diện, khu vực dùng đồng euro xưa nay đã có thành quả kinh tế rất thành

công – một số khía cạnh còn ưu việt hơn cả Mỹ Khu vực này đã có tỉ lệ tăng trưởng

sản lượng bình quân đầu người khoảng 2% trong suốt hai mươi năm, và khá ổn định,

ít khi tăng vọt quá cao hay giảm xuống quá thấp Khu vực này có tài khoản nước

ngoài cân bằng, chi tiêu xã hội cao hơn, và các biện pháp bảo đảm an sinh xã hội toàn

diện hơn so với ở Mỹ Năng suất mỗi giờ làm việc nói chung tương đương với Mỹ

Tuy nhiên, GDP bình quân đầu người thấp hơn nhiều so với Mỹ vì có tỉ lệ dân số trong

độ tuổi lao động tham gia vào lực lượng lao động thấp hơn, và những ai tham gia vào

lực lượng lao động thì lại làm việc ít giờ hơn hoặc dễ bị thất nghiệp hơn Kết quả là có

số giờ làm việc ít hơn với một mức dân số nhất định trong độ tuổi lao động Điều này

có ý nghĩa quan trọng vì sẽ không thể trả những khoản trợ cấp xã hội hào phóng như

lương hưu nếu lực lượng lao động không tăng nhanh hơn Tuy nhiên, khu vực này lại

không ủng hộ cho dân nhập cư, và tỉ lệ sinh sản lại thấp hơn nhiều so với mức đủ thay

thế lao động Như vậy, dần dà, lực lượng lao động sẽ – và hiện ở Đức đã xảy ra tình

trạng này – thực sự giảm xuống Điều này có nghĩa là sẽ ngày càng có ít người lao

động hỗ trợ cho số lượng ngày càng nhiều những người hưu trí hy vọng sẽ nhận được

những khoản lương hưu cao từ chính phủ Thuế hiện đã rất cao, và tỉ lệ thất nghiệp của

những người trẻ tuổi cũng rất cao (Mức lương tối thiểu cao, cùng với thuế cao đánh

vào lao động, và khó khăn trong việc tuyển dụng khiến cho chuyện tạo thêm việc làm

mới trong khu vực tư nhân trở nên rất rủi ro.) Như vậy, hệ thống này về lâu về dài

không bền vững Giải pháp là cắt giảm mức hứa hẹn trợ cấp hưu trí, buộc thêm nhiều

người làm việc cho đến một độ tuổi già hơn, và yêu cầu bắt buộc người lao động phải

tiết kiệm cho lúc về hưu Ngoài ra, nếu luật lệ về lao động linh hoạt hơn, thì sẽ tạo

thêm được nhiều công việc hơn, và tỉ lệ thất nghiệp thấp hơn Tuy nhiên, những biện

pháp này không được công chúng ủng hộ và gặp sự phản đối kịch liệt của những ai hiện

đã hưởng trợ cấp hưu trí và các trợ cấp khác (Ở Ý, một giáo sư kinh tế ủng hộ cải cách

thị trường lao động đã bị ám sát vì những quan điểm của ông.)

Điều này thì nhiều người đã hiểu, và ta sẽ cho rằng người ta sẽ có biện pháp hữu hiệu

Điều chỉnh càng sớm thì càng ít đau đớn Một vài quốc gia, chẳng hạn như Hà Lan,

đã chuyển sang tình trạng có mức tiết kiệm hưu trí cao hơn, và tỉ lệ thất nghiệp thấp

hơn Những nước lớn trong khu vực dùng đồng euro như Pháp, Đức, và Ý thì chưa

Vẫn còn phải đợi xem liệu những liên minh ủng hộ các chính phủ khác nhau có thể

tìm ra được một cách để chuẩn y những cải cách cần thiết hay không, hay liệu họ tiếp

tục phản đối những thay đổi tất yếu Nhưng phát biểu của các chính phủ châu Âu

hiện tại cho thấy rằng họ sắp sửa công nhận một cách muộn màng rằng cần phải ra tay

giải quyết, và có thể họ sắp bắt đầu hành động Tuy nhiên, nếu để lỡ mất cơ hội, có

thể họ khó mà nắm bắt lại được vì những biện pháp cần thiết sẽ trở nên khắc nghiệt

hơn do tình hình ngân sách và dân số trở nên tồi tệ hơn

Có vẻ như là các nước nghèo chẳng cần quan tâm liệu các nước giàu có phải cắt giảm

trợ cấp hưu trí cho người già hay không Tuy nhiên, một giải pháp cho vấn nạn của

họ là cho phép nhiều người nhập cư hơn Nếu người ta làm như vậy, đó có thể là một

trong những biện pháp chính sách độc nhất, lớn nhất nhằm tạo bình đẳng thu nhập

giữa các quốc gia Những nhân công thuộc diện khiếm dụng lao động sẽ kiếm được

Trang 6

và gởi về quê hương hàng tỉ đô-la4, học hỏi được nhiều kỹ năng và tạo được nhiều

mối liên hệ, và cuối cùng quay về nước có thể mở các doanh nghiệp mới Tuy nhiên,

một phản ứng khác có thể là chống nhập cư do tình trạng thất nghiệp tạo ra bởi những

điều kiện lao động đầy hạn chế Hoặc có thể họ ra tay bảo hộ cho những ngành đang

sa sút như nông nghiệp, thép và dệt Đó là những mặt hàng mà các nước nghèo

thường có hiệu quả sản xuất rất cao – nhưng một lực lượng lao động đang lão hóa thì

thường không muốn thay đổi công việc Như vậy, một lần nữa thất bại (ở nước giàu)

cũng có thể tác động đến các nước nghèo

Tỉ giá hối đoái biến động và gây khó khăn ở nhiều nơi

Một khía cạnh khác của những thất bại chính sách kinh tế này có thể biểu hiện qua

các tỉ giá hối đoái biến động Trong những năm vừa qua, tỉ giá hối đoái giữa tiền tệ

của các khối kinh tế lớn đã dao động rất mạnh Đồng yên đã biến động từ điểm mạnh

nhất với chỉ 80 yên ăn một đô-la xuống đến điểm yếu nhất với 145 yên ăn một đô-la -

tất cả chỉ diễn ra trong năm 1995 Kể từ năm 1998, giá của đồng euro biến động từ

1,2 đô xuống còn 0,8 đô Thật đáng ngạc nhiên là những thay đổi này có tác động rất

nhỏ đối với Mỹ, nước có 80% sản lượng là dịch vụ, ngoại trừ ở hai thái cực của giá trị

đồng đô-la các ngành sản xuất hàng hóa có thể trao đổi ngoại thương (nông sản và

hàng chế tạo công nghiệp) sẽ được hổ trợ rất nhiều hoặc bị cản trở nhiều.5 Tuy nhiên,

những biến động về tỉ giá hối đoái có thể có tác động lớn đối với Nhật và khu vực

dùng đồng euro Khi giá trị đồng đô-la giảm nhẹ trong năm nay, triển vọng tăng

trưởng của cả hai khu vực đó đã giảm sút vì mỗi khu vực dường như đều dựa vào xuất

khẩu, nhất là xuất sang Mỹ, để đạt được mức tăng trưởng GDP thỏa đáng Đồng

đô-la không thể đủ mạnh để hỗ trợ cho tăng trưởng của khu vực dùng đồng euro và Nhật

trong khi còn yếu chưa đủ để giảm thâm hụt tài khoản vãng lai quá lớn của Mỹ, hiện ở

mức khoảng 400 tỉ đô-la hay 4% GDP Những biến động tỉ giá hối đoái này cũng có

thể gây khó khăn cho các nước nghèo, trong đó có nhiều nước đã khánh kiệt vì vay

mượn bằng loại tiền tệ này nhưng có thu nhập bằng loại tiền tệ khác Kết quả có thể

là những điều chỉnh đau đớn vì các gánh nặng nợ vay biến đổi không lường trước

được

Một số nước nghèo thậm chí ràng buộc đồng nội tệ của mình với đồng đô-la, để rồi

thấy đồng nội tệ có giá trị quá cao khi đô-la mạnh, và có giá trị quá thấp khi đô-la yếu

Một phần – nhưng chỉ là một phần thôi – trong những vấn nạn của Argentina xuất

phát từ việc gắn chặt đồng nội tệ với đô-la Một phiên bản hơi khác của việc “gắn

chặt” với đô-la – như Thái Lan và Malaysia đã làm – đã dẫn đến những kiểu vay và

cho vay không an toàn góp phần gây ra khủng hoảng châu Á Sẽ dễ dàng hơn nhiều

cho các nhà quản lý kinh tế ở các nước nghèo nếu tỉ giá hối đoái giữa các khối kinh tế

lớn ổn định hơn

4 Một ước tính cho thấy hiện nay lượng tiền gởi về các nước đang phát triển là gần 100 tỉ đô-la - gần

gấp đôi lượng viện trợ chính thức ròng đã cấp! Việc người lao động từ các nước nghèo có thể hưởng

lương tại nước giàu với mức cao ít nhất gấp năm lần (so với ở quê nhà) cho thấy ở các nước nghèo

cũng có thất bại thể chế

5 Khi đồng đô-la “mạnh”, hàng nhập khẩu rẻ, và hàng xuất khẩu của Mỹ không có lãi Điều này

thường làm tăng thâm hụt thương mại Khi đồng đô-la yếu – và nó đã yếu đi trong những tháng gần

đây – giá hàng nhập khẩu tính bằng đô-la sẽ tăng lên, làm hạn chế lượng nhập khẩu, và khả năng sinh

lợi của hàng xuất khẩu của Mỹ tăng lên

Trang 7

Các thất bại của Mỹ rất đáng kể nhưng nhanh chóng được chỉnh sửa

Các thất bại thể chế quan trọng ở Mỹ đã được nêu ra nhưng chưa được phân tích Về

cơ bản, các thị trường chứng khoán ở Mỹ đã sôi động quá mức cần thiết (overheated)

và được định giá quá cao so với thực tế (overvalued) trong giai đoạn 1998-2000 do

một nhiều kiểu thất bại Một kiểu thất bại (và là một thất bại rất đáng kinh ngạc) là

nhiều nhà quản trị, hội đồng quản trị, và các hãng kế toán không kê khai đúng sổ sách

tài khoản Tổng giám đốc và các giám đốc phụ trách tài chính trong một công ty chịu

trách nhiệm chính trong việc báo cáo trung thực kết quả tài chính cho cổ đông Hội

đồng quản trị có một ủy ban kiểm toán với nhiệm vụ giám sát họ, đó là một phần

trong bổn phận của họ đại diện cho quyền lợi của cổ đông Các hãng kế toán độc lập

có nhiệm vụ kiểm tra những tài khoản này, và chứng nhận rằng chúng đã được người

có năng lực kê khai đúng luật lệ Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch (SEC) của chính

phủ trung ương có nhiệm vụ xem xét những trường hợp gian lận TẤT CẢ các cơ

quan và cá nhân này đã thất bại vì lý do này hay lý do khác Những nhà quản trị được

hưởng các quyền chọn cổ phiếu để mua cổ phần với giá thấp Nếu có thể báo cáo kết

quả tốt, họ có thể bán cổ phần với giá thổi phồng Hội đồng quản trị thường quá tự

mãn và quá thân thiện với các nhà quản trị Các hãng kế toán thường cung cấp dịch

vụ tư vấn với lệ phí rất đáng giá đến nỗi họ miễn cưỡng phê phán những tập quán kế

toán đáng nghi ngờ SEC không có đủ kinh phí hoạt động, và bị các chính khách chỉ

trích nếu có vẻ làm mạnh tay quá Các hãng môi giới và ngân hàng đầu tư dường như

đã hợp tác trong những hoạt động này bằng cách làm ngơ trước những dấu hiệu cho

thấy hoạt động kém cỏi, và đưa ra những đề xuất “Mua” cổ phiếu của những công ty

mà họ biết là dưới mức trung bình Tất cả những cơ chế chế ngự và kiểm tra lẫn nhau

đã thất bại Nhiều nhà đầu tư đã mất lượng tiền rất lớn khi thực trạng cuối cùng được

phơi bày

Đây là những thất bại cực kỳ trầm trọng và căn bản Nếu các công ty không báo cáo

chính xác sổ sách tài khoản, thì vốn không thể được phân bổ một cách hợp lý Toàn

bộ lý do cơ bản cho sự tồn tại của các thị trường tài chính là chúng tạo nên “bộ não”

của một nền kinh tế thị trường, đưa các nguồn vốn đến những nơi sử dụng có hiệu quả

nhất Quá trình này đòi hỏi phải có thông tin tốt Không những điều này đã không

xảy ra, mà còn có những dòng vốn quốc tế - cũng một phần dựa vào dữ liệu xấu – gây

ra những tình trạng mất cân đối kinh tế vĩ mô (một đồng đô-la quá mạnh) và đầu tư dư

thừa mà hiện nay cần phải được giải quyết để có thể tăng trưởng bình thường trở lại

Quá nhiều dòng vốn nước ngoài đổ vào Mỹ đã tạo nên thâm hụt thương mại lớn

Tính đến nay đã có nhiều phản ứng đáng kể trước các thất bại này Một vài công ty

rất lớn và một hãng kế toán lớn đã buộc phải phá sản Những nhà quản trị của một số

công ty đã bị bắt và tống giam Một số khác đã bị sa thải Quốc hội Mỹ đã thông qua

một luật mạnh tay chống gian lận nhắm vào những tập quán như thế, và tổng thống

Bush đã ký ban hành luật đó Luật mới này lập ra một ban giám sát kiểm toán độc

lập, tách biệt dịch vụ tư vấn và kiểm toán, và quy định phạt đến 20 năm tù cho hành vi

gian lận trong doanh nghiệp Luật này cũng giúp cho nhà đầu tư dễ dàng hơn trong

việc thu hồi những khoản mất mát do các nhà quản trị gian lận, và yêu cầu các nhà

quản trị phải báo cáo kịp thời những đợt bán cổ phiếu của mình

Giá cổ phiếu của những công ty chỉ mới bị nghi ngờ kế toán không minh bạch đã

giảm mạnh, khiến cho ngay cả những công ty trung thực cũng phải làm sổ sách kế

toán minh bạch hơn SEC đã yêu cầu tất cả các nhà quản trị trong 1000 công ty hàng

Trang 8

đầu phải đích thân chứng minh các tài khoản công ty của họ trước ngày 14 tháng 8

Các hãng môi giới lớn đã bị phạt những khoản tiền lớn vì đã tư vấn thiên vị, còn

những ngân hàng đầu tư lớn đang bị Quốc hội điều tra Nhiều ngân hàng và hãng môi

giới bị những nhà đầu tư phẫn nộ kiện ra tòa Các phóng viên chuyên về tài chính bây

giờ phải xác định các khía cạnh có thể có xung đột quyền lợi khi phỏng vấn một nhà

môi giới hay nguồn tin khác về một công ty.6 Những tổ chức đầu tư trung gian lớn,

chẳng hạn như các quỹ hưu bổng hay quỹ đầu tư chung, đã bắt đầu thúc giục các công

ty tính quyền chọn cổ phiếu vào chi phí kinh doanh - thể hiện chi phí của chúng khi

được cấp cho nhân viên công ty Điều này sẽ có xu hướng làm giảm số lượng quyền

chọn cổ phiếu được cấp, vì lợi nhuận báo cáo sẽ giảm khi chi phí này được ghi nhận

đúng Kinh phí hoạt động cho SEC đã được tăng lên đáng kể Tất cả những điều này

diễn ra trong vòng hai, ba quý vừa qua Chắc chắn những nhà quản trị doanh nghiệp

sẽ khó khăn hơn và sẽ nguy hiểm hơn nếu muốn lường gạt cổ đông

Xin nhắc lại là thỉnh thoảng các thể chế có thể thất bại Cơ sở để kiểm tra xem một hệ

thống có tốt hay không là những vấn nạn này được xác định, chẩn đoán, và xử lý kịp

thời và hiệu quả sao cho tác hại có thể được hạn chế và không tái diễn

Tăng trưởng kinh tế hiện đại là một hiện tượng tương đối gần đây Nó thật sự bắt đầu

cách đây hai trăm năm ở Vương quốc Anh, và từ từ lan tràn sang những vùng khác

của châu Âu, và những khu vực định cư của người châu Âu trong thế kỷ tiếp theo đó

(Nhật cũng gia nhập, bắt đầu từ cuối thế kỷ 19.) Chỉ sau Chiến tranh thế giới thứ hai

mới có một số đáng kể các nước “thế giới thứ ba” cũng bắt đầu tăng trưởng bền vững

với tỉ lệ bình quân đầu người khá cao Chúng ta biết rằng nhiều nước có thể tăng

trưởng mạnh trong một thời gian, sau đó có thể sụt giảm thê thảm, chẳng hạn như

Argentina gần đây với thu nhập bình quân đầu người gần 10.000 đô-la trước khi sụp

đổ Nhưng ta chưa thấy trường hợp một nước đứng vào hàng “đã phát triển” trong số

những nền kinh tế hàng đầu, rồi sau đó thực sự suy sụp trong nhiều năm, trừ những

trường hợp lâm vào các cuộc chiến tranh tàn hại Đúng là bước tiến kinh tế của Anh

và Mỹ có bị chậm đi trong một số giai đoạn, nhưng họ chưa hề thoái lui lâu đến một

thập niên Tại sao như thế? Có thể là ta chưa chứng kiến đủ để thấy những kết quả

tồi tệ như vậy xảy ra Hoặc có thể những nước đã vươn lên đến hạng đầu phải xác

định và khắc phục các vấn nạn trong suốt quá trình phát triển của mình, và kỹ năng

này cũng giúp họ khắc phục những thất bại thể chế Chí ít thì nó cũng có thể giúp cho

họ ít bị thất bại hơn

Thông tin và Cạnh tranh thể chế

Cho đến đây bài viết chủ yếu nhấn mạnh đến các thất bại kinh tế và tài chính, nhưng ý

nghĩa không chỉ giới hạn trong những lĩnh vực đó Ví dụ việc quản lý điều tiết các

nhà máy điện hạt nhân, thuốc men hay các hãng hàng không cũng chịu nhiều áp lực

tương tự Thông thường ngành bị quản lý sẽ “khống chế” cơ quan quản lý và làm suy

giảm tính nghiêm khắc của việc giám sát Kết quả là hoạt động không an toàn

Tương tự, các thể chế y tế và giáo dục cũng thường bị thất bại Vì các thể chế này

thường là độc quyền hoặc gặp đối thủ cạnh tranh yếu, họ cần phải cung cấp cho người

6 Ví dụ, nếu một chuyên viên phân tích cổ phiếu làm việc cho một hãng môi giới thuộc một công ty có

ngân hàng đầu tư làm ăn với công ty mà anh ta đang phân tích, có thể anh ta sẽ bị áp lực nói những

điều tốt đẹp về cổ phiếu của công ty đó, để giữ mối kinh doanh chứng khoán cho hãng của mình

Chuyện này bây giờ đã được nêu rõ ràng, chứ không phải ngầm hiểu trong các cuộc phỏng vấn truyền

hình hay trên báo chí

Trang 9

tiêu dùng thông tin tốt về hoạt động của họ Nếu có lợi thế nhờ đạt được danh tiếng

(một cách xứng đáng), một thể chế sẽ cố gắng nhiều hơn là khi thể chế đó không chịu

áp lực phải cải tiến Điều này dẫn đến việc công bố điểm thi của các trường học hoặc

tỉ lệ bệnh nhân được cứu sống đối với các loại hoạt động khác nhau của các bệnh

viện Chừng nào các bậc phụ huynh hay học sinh chọn trường theo điểm thi, hoặc

chọn bệnh viện theo tỉ lệ thành công, thì vẫn còn áp lực buộc thể chế đó phấn đấu đạt

kết quả tốt hơn Một cách khác là cố gắng cải tiến bằng biện pháp quản lý nghiêm

ngặt hơn, nhưng cách này thường có hiệu quả kém

Một cách khác để các thể chế cải thiện thành quả của chúng là tạo ra cạnh tranh thể

chế Thoạt tiên điều này nghe có vẻ kỳ quặc Các thể chế có thể cạnh tranh như thế

nào? Chuyện đó tùy thuộc một phần vào cách ta nghĩ về một thể chế Nếu thể chế đó

là một trường đại học, thì một sinh viên có thể chọn trong số nhiều khả năng khác

nhau – mặc dù có thể có nhiều hơn nữa nếu có nhiều tiền Một lập luận tương tự có

thể áp dụng cho các bệnh viện hay bác sĩ Thậm chí tất cả các bác sĩ có thể được xem

chung như một thể chế, và họ cạnh tranh với các thầy thuốc cổ truyền, các y tá, và các

dược sĩ Chính quyền một thành phố hay tỉnh có thể cạnh tranh với các công ty để thu

hút vốn đầu tư, và có lẽ để thu hút người dân chọn đến sinh sống tại địa bàn pháp lý

đó Từ xưa đến nay Mỹ đã thu hút nhiều dân nhập cư không thích điều kiện ở nước

họ Như vậy, ngay cả các nhà nước quốc gia rốt cuộc cũng cạnh tranh với nhau dưới

hình thức này hay hình thức khác

Trở lại tình hình bất ổn và phát triển

Bây giờ ta có thể quay trở lại câu hỏi trong tựa đề: tình hình bất ổn ở các nước giàu sẽ

ảnh hưởng xấu ra sao đối với các nước nghèo đang cố gắng phát triển thông qua xuất

khẩu? Nếu chỉ dùng số đo đơn giản về tình hình bất ổn của sản lượng tính theo giá

không đổi hay thương mại, thì tất cả các bằng chứng cho thấy rằng các chu kỳ kinh tế

đang trở nên bớt trầm trọng đi, chứ không phải trầm trọng hơn Đã hơn một phần tư

thế kỷ kể từ khi GDP tính theo giá không đổi của Mỹ hay châu Âu (tuy không phải

Nhật) sụt giảm hai năm liên tiếp Thương mại trên thế giới đã tăng khá liên tục kể từ

năm 1950, ngoại trừ một vài cú sốc dầu hỏa Chắc chắn là không có gì giống với giai

đoạn đại suy thoái 1929-1939 trong nửa thế kỷ vừa qua Tuy mức tăng trưởng các thị

trường nhập khẩu ở các nước giàu có thể không đều đặn hay nhanh chóng, hiếm khi

tổng kim ngạch xuất khẩu sang những thị trường này giảm trong vòng hơn một năm,

và nếu có giảm thì không giảm bao nhiêu.7 Tất nhiên, một số loại mặt hàng cụ thể –

đặc biệt là hàng điện tử – đã cho thấy là có nhiều biến động Nhưng nhìn chung, khó

mà lập luận rằng tình hình bất ổn ở các nước giàu là một cản trở lớn cho việc xuất

khẩu

Một lập luận khác là các dòng vốn có tính bất ổn Đúng vậy Các dòng vốn ngắn hạn

hết sức bất ổn Các dòng vốn dài hạn nhìn chung ít dao động hơn, nhưng vẫn có thể

biến thiên rất nhiều đối với một quốc gia riêng rẽ Vì các nước nghèo chỉ thu hút

được một phần nhỏ trong lượng tiết kiệm của các nước giàu, biến số quan trọng

thường nằm ở điều kiện thay đổi ở các nước nghèo, chứ không phải những thay đổi

lớn về các nguồn vốn có thể đầu tư của các nước giàu (Các nước giàu mỗi năm tiết

7 Tăng trưởng kim ngạch nhập khẩu ở các nước giàu đạt 6-7% mỗi năm trong vòng 20 năm qua Mức

sụt giảm lớn nhất là vào năm 2001 khi kim ngạch nhập khẩu của các nước giàu giảm 1,5%, và 2,7% ở

Mỹ Theo IMF, tăng trưởng sẽ chậm nhưng sẽ là số dương trong năm 2002, và dự kiến lại vượt mức

6% vào năm 2003

Trang 10

kiệm hơn 4000 tỉ đô-la, trong khi toàn bộ các dòng vốn ròng đổ vào các nước nghèo

hiếm khi đạt đến mức 5-6% của con số đó, ngay cả vào năm 1996 trước khủng hoảng

châu Á Năm 2001, tỉ số này là 2%.) Một vấn đề ít được chú ý hơn là: thông thường

tiết kiệm chảy từ nước nghèo sang nước giàu! Điều này cho thấy là các cơ hội đầu tư

tốt không phải luôn có sẵn, dù có thể có đủ nguyên nhân từ bảo vệ tài sản kiếm được

một cách phi pháp, cho đến việc tránh thuế hay đơn giản chỉ là ẩn náu để khỏi bị tịch

thu Lượng đô-la hay vàng được cất giữ ở một nước nghèo tương đương lượng vốn di

tản ra nước ngoài, ít nhất là xét về khía cạnh kinh tế Tức là, lượng tiền tiết kiệm đó

không dùng để cấp vốn cho đầu tư trong nước Số tiền ấy cũng có thể được gởi ở

nước ngoài

Có nhiều cách để giải quyết tình trạng bất ổn tài khoản vốn Cách thứ nhất là hoàn

toàn không dựa vào vốn nước ngoài Tuy nhiên, vốn nước ngoài thường mang theo

công nghệ, kỹ năng quản trị, hay cơ hội tiếp cận các thị trường khiến cho vốn nước

ngoài trở nên hấp dẫn Những đặc tính khác này ít khi có ở các khoản vay ngân hàng

ngắn hạn, và những dòng vốn ngắn hạn như thế là những nguồn vốn biến động nhiều

nhất Tránh hay bớt sử dụng chúng sẽ làm giảm khả năng bị tác hại của tình trạng di

tản vốn Phần lớn các khoản đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là dài hạn, và nếu đầu

tư đó có khả năng cạnh tranh và chi phí thấp, thì rất có thể vừa ổn định vừa có lợi

Một chiến lược khác là phụ thuộc rất nhiều vào các dòng vốn chính thức, nhưng rất

hiếm ví dụ về những nền kinh tế đạt kết quả tốt về lâu về dài với phương pháp này

Viện trợ có ích để “làm nóng máy tăng trưởng”, nhưng không phải là một nguồn vốn

đầu tư chính về lâu về dài Các loại hình tài chính tư nhân khác, ví như đầu tư chứng

khoán, thường có vị trí đứng giữa FDI và vốn vay ngân hàng Tức là, chúng có độ

biến động vừa phải, và có khả năng mang đến những nhập lượng khác Cần phải nói

rằng thông thường các dòng vốn tư nhân nước ngoài gấp nhiều lần so với các dòng

vốn chính thức Nhưng tất cả các dòng vốn nước ngoài thường chỉ cấp vốn cho

10-20% tổng đầu tư, nếu đó là mức ở hầu hết các nước đang phát triển

Phần thảo luận tổng quát này không bàn kỹ lắm về kết quả có thể có tình trạng sụp đổ

của các ngân hàng lớn ở Nhật (không phải là có lẽ, mà là có thể) hay tình trạng bất

ngờ thẩm định lại rủi ro của nợ vay của các nước đang phát triển như vẫn thường xảy

ra – gần đây nhất là với cuộc khủng hoảng châu Á năm 1997 Một bài học rút ra từ

giai đoạn đó là sức mạnh của các hệ thống ngân hàng trong nước có ý nghĩa rất quan

trọng trong việc tránh tình trạng người dân trong nước di tản vốn ra nước ngoài Tuy

các nhà đầu cơ nước ngoài chắc chắn là đã gây ra sự mất giá ban đầu của đồng baht

Thái, chính việc người tiết kiệm và người vay tiền trong nước đổ xô chuyển đồng nội

tệ sang đô-la đã khiến cho cuộc khủng hoảng châu Á lan rộng và ăn sâu Một tỉ giá

hối đoái linh hoạt, một chính sách cẩn thận về vay nợ bằng đô-la, và việc báo cáo

trung thực các dữ liệu kinh tế vĩ mô và tài chính – tất cả các biện pháp này đã được

thực hiện sau đó – có xu hướng làm giảm các dòng vốn của người dân trong nước đổ

ra nước ngoài

Hình thành khả năng mau chóng hồi phục thể chế

Làm sao có thể thiết kế một hệ thống sao cho thất bại thể chế ít có cơ may xảy ra, hay ít

nhất là được công nhận sớm hơn và giải quyết hiệu quả hơn? Một nguyên tắc đầu tiên

là cần phải có thông tin Nếu người ta không biết chuyện gì đang xảy ra, khó mà đánh

giá được tình thế hay biết liệu có cần thay đổi hay không Những hệ thống nào cung

cấp được thông tin có chất lượng tốt một cách rộng rãi thì thường sẽ đạt kết quả tốt hơn

Ngày đăng: 09/11/2012, 11:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w