HLU BTHK Luật tài chính đề 4
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
I Đặc trưng của thuế tiêu thụ đặc biệt 4
1 Khái niệm 4
2 Đặc trưng của thuế tiêu thụ đặc biệt 4
a Thuế TTĐB có tính chất gián thu 4
b Thuế TTĐB có phạm vi hẹp 5
c Thuế suất thuế TTĐB có thể là thế suất cố định hoặc thế suất tỉ lệ 5
d Mức thuế suất của thuế TTĐB 6
e Thuế TTĐB chỉ thu một lần ở khâu sản xuất hoặc nhập khẩu, cung ứng hàng hóa dịch vụ 6
3 Những điểm tương đồng và khác biệt giữa thuế TTĐB và thuế GTGT 6
a Những điểm tương đồng 6
b Những điểm khác biệt 7
II Sự thay đổi của danh mục hàng hóa chịu thuế TTĐB từ Luật Thuế TTĐB năm 1990 cho đến nay 9
1 Quá trình hình thành và phát triển luật thuế tiêu thụ đặc biệt Việt Nam 9
2 Sự thay đổi của danh mục hàng hóa thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt 10
a Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1990 10
b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật thuế tiêu thụ đặc biệt 1993 10
c Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật thuế tiêu thụ đặc biệt 1995 11
d Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1998 12
e Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật thuế tiêu thụ đặc biệt 2003 12
f Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008 13
g Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật thuế tiêu thụ đặc biệt 2014 (gọi tắt Luật năm 2014) 14
KẾT LUẬN 15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 2MỞ ĐẦU
Thuế tiêu thụ đặc biệt được áp dụng phổ biến ở các nước trên thế giới Thuế TTĐB được đánh vào một số hàng hóa, dịch vụ đặc biệt nhằm điều tiết, hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng Ở Việt Nam, Luật thuế TTĐB ban hành lần đầu tiên vào năm 1990, ban đầu chỉ nhằm vào 6 mặt hàng Từ khi ban hành đến nay, luật thuế TTĐB đã trải qua nhiều lần bổ sung, sửa đổi để phù hợp với chính sách kinh tế và tình hình xã hội của nước ta, trong đó có sự thay đổi về đối tượng chịu thuế theo danh mục hàng hóa chịu thuế TTĐB quy định trong Luật Thuế TTĐB Sau nhiều năm thực hiện, luật thuế TTĐB đã đem lại những kết quả nhất định trong việc định hướng sản xuất, tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ đặc biệt, điều tiết thu nhập Đồng thời cũng góp phần đáng kể vào việc tăng nguồn thu ngân sách nhà nước, tác động tích cực đến tình hình kinh tế-xã hội
đất nước Để tìm hiểu hơn về vấn đề này, em xin chọn đề bài số 04 là “Phân
tích những đặc trưng của thuế tiêu thụ đặc biệt (trong đó có so sánh với thuế gtgt) Cho biết sự thay đổi của danh mục hàng hóa chịu thuế TTĐB từ Luật Thuế TTĐB năm 1990 cho đến nay”
Trang 3I Đặc trưng của thuế tiêu thụ đặc biệt
1 Khái niệm
Thuế TTĐB là loại thuế được áp dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới Ở mỗi quốc gia, tùy thuộc điều kiện cụ thể về kinh tế xã hội, phong tục tập quán, chính sách,… mà mỗi nước đều có những quy định riêng về danh mục mặt hàng chịu thuế, mức thuế suất, phương thức tổ chức quản lý thu Có thể thấy, không phải tất cả hàng hóa, dịch vụ đều là đối tượng chịu thuế TTĐB, thuế TTĐB thường đánh vào những hàng hóa, dịch vụ không được khuyến khích tiêu dùng, có thể do hàng hóa, dịch vụ ấy có ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe của người tiêu dùng (bia, rượu, thuốc lá, ); hàng hóa chỉ được sử dụng bởi những người có thu nhập cao hoặc rất cao (tàu bay, ô
to, du thuyền ); hoặc dịch vụ không cần thiết cho xã hội (sân golf, vũ trường, casino, ) Việc thu thuế TĐB giúp Nhà nước có thể định hướng tiêu dùng xã hội theo hướng tích cực hơn, bên cạnh đó còn có thể huy động một bộ phận thu nhập của những người có thu nhập cao và có khả năng tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ không thiết yếu, không khuyến khích tiêu dùng vào ngân sách nước Như vậy, thuế tiêu thụ đặc biệt là loại thuế đánh vào một số loại hàng hóa, dịch vụ đặc biệt, cần điều tiết mạnh mẽ nhằm hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng đồng thời tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước
2 Đặc trưng của thuế tiêu thụ đặc biệt
a Thuế TTĐB có tính chất gián thu
Thuế TTĐB đánh vào thu nhập của người tiêu dùng hàng hóa và dịch
vụ chịu thuế TTĐB một cách gián tiếp thông qua giá cả của hàng hóa, dịch
vụ mà người đó tiêu dùng Người sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế TTĐB là người nộp thuế cho Nhà nước thay cho người tiêu dùng; người sản xuất, người kinh doanh hàng hóa dịch vụ chịu thuế TTĐB sẽ nộp thuế TTĐB và khoản thuế này sẽ được chuyển vào giá bán sản phẩm, khi mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ đó người tiêu dùng sẽ phải chịu thuế TTĐB
Trang 4b Thuế TTĐB có phạm vi hẹp
Thuế TTĐB có đội tượng chịu thuế hẹp, chỉ bao gồm một số hàng hóa, dịch vụ mà Nhà nước cần điều tiết Các loại hàng hóa, dịch vụ chịu thuế TTĐB được pháp luật thuế các nước quy định hầu như giống nhau gồm: rượu, bia, thuốc lá, Nhìn chung, các quốc gia thường đánh thuế tiêu dùng vào một số những hàng hóa, dịch vụ được coi là cao cấp, không thiết yếu, không được Nhà nước khuyến khích tiêu dùng hoặc cần có định hướng sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng do việc tiêu dùng có ảnh hưởng tiêu cực đến con người nhưng không thể cấm tiêu dùng
c Thuế suất thuế TTĐB có thể là thế suất cố định hoặc thế suất tỉ lệ
Thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt có thể là thuế suất cố định hoặc thuế suất tỉ lệ tùy theo quan điểm của luật pháp mỗi quốc gia Những nước như
Mỹ, Nhật Bản, một số nước châu Âu, và Philipines áp dụng biểu thuế suất
cố định, mức thu được ấn định bằng một lượng tuyết đối trên đơn vị hàng hóa chịu thuế Ví dụ như ở Mỹ, mức thu thuế tiêu thụ đặc biệt với thuốc lá
là 39 xen/bao1 Đối với thuế suất cố định, việc điều chỉnh mức thu thường phụ thuộc vào chủ trương thay đổi chính sách của nhà nước, khi cần động viên và ngân sách nhà nước Đặc biệt, thếu suất cố định còn chịu ảnh hưởng của mức độ lạm phát, sự biến động của đồng tiền khiến các nhà làm luật phải thường xuyên chỉnh sửa mức thu thuế suất cố định
Thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt cũng có thể là thuế suất tỉ lệ Mức thu được quy định bằng một tỉ lệ phần trăm tính trên giá tính thuế hàng hóa, dịch vụ Việt Nam là một trong những quốc gia áp dụng biểu thuế suất tỉ lệ cho thuế tiêu thụ đặc biệt Đối với thuế suất tỉ lệ, khi nhà nước chủ trương thay đổi chính sách hoặc khi cần thay đổi tỉ lệ động viên vào ngân sách nhà nước thì khi đó việc điều chỉnh mức thu thường được đặt ra
1 Đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình Luật Thuế VN, Nxb Công an nhân dân, tr 118
Trang 5Cũng có những quốc gia sử dụng cả thuế suất cố định và thuế suất tỉ lệ đối với một số mặt hàng đặc biệt Thái Lan là một ví dụ; theo đó, rượu, các
đồ uống không cồn, thuốc lá, xăng là những mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt theo thuế suất cố định còn bài lá, diêm và xi măng lại chịu thuế theo mức thuế suất tỉ lệ2
d Mức thuế suất của thuế TTĐB
Thuế TTĐB thường có mức thuế suất cao nhằm điều tiết sản xuất và hướng dẫn tiêu dùng hợp lý, thông qua đó điều tiết một phần thu nhập của những người tiêu dùng các hàng hóa, dịch vụ nà Do thuế TTĐB có phạm vi điều chỉnh hẹp, chỉ điều chỉnh một số hàng hóa và dịch vụ mà nhà nước không khuyến khích sản xuất, tiêu dùng nên việc áp dụng mực thuế cao chính là nhằm hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng và điều tiết thu nhập Ví dụ như thuế TTĐB đối với ô tô dung tích từ 6l trở lên chịu mức thuế suất là 150% (áp dụng từ 1.1.2017)
e Thuế TTĐB chỉ thu một lần ở khâu sản xuất hoặc nhập khẩu, cung ứng hàng hóa dịch vụ
Thuế TTĐB thường chỉ thu một lần ở khâu sản xuất, nhập khẩu hàng hóa hay kinh doanh các dịch vụ chịu thuế TTĐB Khi cùng một mặt hàng này chuyển qua khâu lưu thông thì không thuộc diện chịu thuế TTĐB
3 Những điểm tương đồng và khác biệt giữa thuế TTĐB và thuế GTGT
a Những điểm tương đồng
Thuế TTĐB và thuế GTGT đều là thuế tiêu dùng, đánh vào hàng hóa dịch vụ, nên hai loại thuế này có những điểm tương đồng của loại thuế tiêu dùng
Đối tượng chịu thuế đều là hàng hóa và dịch vụ
Về bản chất, thuế TTĐB và thuế GTGT đều là thuế gián thu Các nhà sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ là người nộp thuế nhưng người
2 Đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình Luật Thuế VN, Nxb Công an nhân dân, tr 119
Trang 6tiêu dùng lại thực chất là người chịu thuế thông qua giá cả hàng hóa, dịch
vụ
Đối tượng tính thuế TTĐB và thuế GTGT chính là phần thu nhập của người chịu thuế được mang vào tiêu dùng vào thời điểm chịu thuế Dù giữa những người chịu thuế có mức thu nhập và khả năng trả thuế là khác nhau nhưng nếu cùng tiêu thụ một lượng hàng hóa và dịch vụ thì số thuế phải nộp
là như nhau
Bởi vì thuế TTĐB và thuế GTGT là thuế gián thu, chủ thể chịu thuế thực chất là người tiêu dùng Thuế TTĐB và thuế GTGT là loại thuế đánh vào người tiêu dùng, được áp dụng rộng rãi đối với mọi tổ chức, cá nhân khi
họ có hành vi tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ thuộc diện chịu thuế
b Những điểm khác biệt
Về mục đích: Thuế GTGT có mục đích nhằm góp phần thúc đẩy sản
xuất phát triển, mở rộng lưu thông phân phối hàng hóa
Thuế TTĐB có mục đích chính là nhằm hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng hàng hóa dịch vụ được coi là đặc biệt, điều tiết thu nhập của tầng lớp dân cư có thu nhập cao Thực hiện điều phối thu nhập công bằng hợp lý: ai tiêu dùng nhiều hàng hóa, dịch vụ chịu thuế TTĐB thì phải nộp thuế nhiều hơn người tiêu dùng ít hoặc không phải nộp thuế nếu không tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ thuộc diện chịu thuế TTĐB
Phạm vi áp dụng: Thuế TTĐB có diện đánh thuế rất hẹp, trong khi
thuế GTGT lại có đối tượng chịu thuế rộng rãi Thuế GTGT đánh thuế đối với hầu hết các mặt hàng và dịch vụ sử dụng cho sản xuất, hàng hóa, kinh doanh và tiêu dùng, được tiêu thụ trong nền kinh tế Thuế TTĐB chỉ đánh thuế đối với một số loại hàng hóa, dịch vụ mang tính chất xa xỉ, không thiết yếu, ảnh hưởng đến sức khỏe con người như rượu, bia, không được Nhà nước khuyến khích sản xuất và tiêu dùng
Thuế suất: Thuế GTGT chỉ có mức thuế suất là 0%, 5% và 10%.
Trong đó, mức thuế suất 10% áp dụng cho hàng hóa, dịch vụ thông thường;
Trang 7mức thuế suất 5% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ ưu đãi, khuyến khích phát triển và đầu tư; mức thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, không phân biệt đối tượng và hình thức xuất khẩu So với mức thuế suất thuế GTGT, mức thuế suất thuế TTĐB là rất cao Đối với từng loại hàng hóa, dịch vụ khác nhau thuộc diện chịu thuế TTĐB được áp dụng mức thuế suất là khác nhau Thuế suất TTĐB có thể chịu mức thuế suất lên đến 150% (đối với ô tô dung tích từ 6l trở lên) Sở dĩ có sự khác biệt này là
do mục đích của hai loại thuế này là khác nhau, như đã phân tích ở phần trên
Trong khi thuế GTGT được thu qua mỗi khâu của quá trình sản xuất, lưu thông và tiêu dùng, thì thuế TTĐB thường chỉ thu một lần ở khâu sản xuất, nhập khẩu hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ đối với những hàng hóa dịch vụ thuộc diện chịu thuế TTĐB Theo Điều 4 Thông tư 195/2015/TT-BTC, thì người nộp thuế tiêu thụ đặc biệt bao gồm các đối tượng như sau:
“Tổ chức, cá nhân có sản xuất, nhập khẩu hàng hóa và kinh doanh dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt.
Cơ sở có hoạt động kinh doanh xuất khẩu mua hàng chịu thuế TTĐB của cơ sở sản xuất để xuất khẩu nhưng sau đó không xuất khẩu mà tiêu thụ trong nước.”
Như vậy, tổ chức hoặc cá nhận chỉ phải nộp thuế tiêu thụ đặc biệt một lần duy nhất: Chỉ bị đánh thuế TTĐB ở khâu sản xuất đối với hàng sản xuất trong nước; chỉ bị đánh thuế TTĐB ở khâu nhập khẩu đối với hàng nhập khẩu; chỉ bị đánh thuế TTĐB ở khâu cung ứng dịch vụ đối với dịch vụ chịu thuế TTĐ Trường hợp cơ sở kinh doanh xuất khẩu mua hàng để xuất khẩu nhưng lại tiêu thụ trong nước thì người nộp thuế tiêu thụ đặc biệt là cơ sở kinh doanh xuất khẩu chứ không phải là cơ sở sản xuất Trong quá trình lưu thông tiếp theo thì hàng hóa, dịch vụ sẽ không bị chịu thuế tiêu thụ đặc biệt thêm nữa
Trang 8II Sự thay đổi của danh mục hàng hóa chịu thuế TTĐB từ Luật
Thuế TTĐB năm 1990 cho đến nay
1 Quá trình hình thành và phát triển luật thuế tiêu thụ đặc biệt Việt Nam
Ở Việt Nam, từ năm 1990 luật thuế tiêu thụ đặc biệt được đưa vào áp dụng Trước năm 1990, loại thuế đánh vào những hàng hóa không thiết yếu gọi là thuế hàng hóa, được quy định trong Điều lệ hàng hóa, ban hành kèm theo Quyết nghị 487-NQ/QHK4 năm 1974 Đến năm 1990, Bộ Tài chính soạn thảo dự án luật thuế tiêu thụ đặc biệt và được Quộc hội thông qua ngày 30/06/1990 Sau đó được sửa đổi bổ sung tại kỳ họp lần thứ 3 Quốc hội khóa IX và thông qua ngày 05/07/1993 Đến tháng 10/1995, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt lại được sửa đổi bổ sung lần nữa Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt sửa đổi bổ sung năm 1995 được đánh dấu là một bước phát triển trong quá trình hoàn thiện pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt
Ngày 20/05/1998, Quốc hội thông qua Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt thay thế Luật thuế tiêu thụ đặc biệt ban hành năm 1990 và hai luật sửa đổi
bổ sung ban hành năm 1993 và 1995 Việc ban hành Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1998 dựa trên cơ sở các yếu tố khách quan tác động đến nền sản xuất trong nước và tổng thu ngân sách nhà nước; trong đó có hai yếu tố có tác động lớn là việc đưa Luật Thuế giá trị gia tăng vào áp dụng trong thực thiện và sự kiện Việt Nam tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế.Tại kì họp thứ 3, Quốc hội khóa XI, Quốc hội ban hành Luật 08/2003/QH11 sửa đổi bổ sung Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1998
Vào ngày 14/11/2008 Quốc hội ban hành luật số 27/2008/QH12 có hiệu lực từ ngày 1/4/2009 thay thế hoàn toàn luật 08/2003/QH11 và luật sửa đổi bổ sung 05/1996/QH10 Việc ban hành Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm
2008 dựa trên những nhu cầu để đảm bảo sự phát triển kinh tế - xã hội nước
ta và nhằm thực hiện các cam kết của Chính phủ Việt Nam khi gia nhập WTO cũng như đảm bảo sự phù hợp với thông lệ quốc tế
Trang 9Vào ngày 26/11/2014 Quốc hội lại tiếp tục ban hành Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008 Sau khi Luật này có hiệu lực được 3 tháng kể từ ngày 1/1/2016, Quốc hội lại thông qua luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật quản lý thuế có hiệu lực từ ngày 1/7/2016
2 Sự thay đổi của danh mục hàng hóa thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt
a Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1990
Căn cứ vào Điều 9 Luật này quy định về mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, bao gồm 6 đối tượng: thuốc hút (thuốc lá lá, thuốc lá sợi, thuốc lá điều có đầu lọc, thuốc lá điếu không có đầu lọc, xì gà), rượu các loại (trên
40o, từ 30o đến 40o, dưới 30o), bia các loại, pháo, bài lá, vàng mã Có thể thấy, nhà làm luật đã vận dụng vai trò của thuế TTĐB trong việc định hướng tiêu dùng, hạn chế cung ứng sản xuất một số hàng hóa Những hàng hóa chịu thuế TTĐB ở luật này chủ yếu là thuộc nhóm hàng hóa có hại cho sức khỏe (đồ uống có cồn và thuốc lá), hầu hết các nước trên thế giới đều đánh thuế đối với loại hàng hóa này bởi những nguy hiểm mà việc hút thuốc
và nghiện đồ uống có cồn đem lại Việc không khuyến khích sản xuất tiêu dùng loại hàng hóa này là nhằm mục tiêu xã hội Ngoài ra còn có pháo là hàng hóa nguy hiểm dễ gây ra tai nạn nguy hiểm đối với người tiêu dùng và những người xung quanh; những hàng hóa mà việc tiêu dùng chúng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến thuần phong, mỹ tục, trật tự xã hội như bài lá; hàng
mã vàng mã thuộc nhóm hàng hóa gây ảnh hưởng đến môi trường Tuy nhiên, danh mục hàng hóa chịu thuế TTĐB này còn nhiều hạn chế như chưa
đề cập đến những dịch vụ có ảnh hưởng xấu đến xã hội và quy định khá ít những đối tượng chịu thuế
Trang 10b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật thuế tiêu thụ đặc biệt 1993
Theo khoản 4 Điều 1 luật này, mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt bao gồm 4 đối tượng: thuốc hút (thuốc lá điếu có đầu lọc, sản xuất chủ yếu bằng nguyên liệu nhập khẩu; thuốc lá điếu có đầu lọc, sản xuất chủ yếu bằng nguyên liệu trong nước; thuốc lá điếu không có đầu lọc, xì gà); rượu (rượu thuốc, các loại rượu khác kể cả rượu hoa quả); bia các loại; pháo Đối tượng chịu thuế ở luật này đã rút xuống còn 4 loại hàng hóa, bỏ đi bài lá và hàng mã, vàng mã Loại hàng hóa thuốc hút cũng bỏ đi mục thuốc lá sợ và thuốc lá lá, bởi vì sự thay đổi nhu cầu tiêu dùng của người dân, hai mặt hàng trên đã giảm nhu cầu tiêu dùng Vì vậy luật pháp cũng phải sửa đổi để theo kịp với những chuyển biến của xã hội Ngoài ra ở hàng hóa rượu có thêm rượu thuốc Rượu thuốc là một loại rượu tự chế với những nguyên liệu cùng công thức không dân gian, chưa được kiểm định về chất lượng cũng như độ an toàn đối với người tiêu dùng
c Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật thuế tiêu thụ đặc biệt 1995
Theo khoản 6 Điều 1 luật này, mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt đã
bổ sung thêm 2 đối tượng là ô tô nhập khẩu và xăng các loại so với quy định trước Đạo luật này đã mở rộng các mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, hơn nữa còn đánh vào cả hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa nhập khẩu nước ngoài Đi đôi với sự phát triển về kinh tế là sự gia tăng về nhu cầu tiêu thụ hàng hóa của người dân Nhu cầu phục vụ việc đi lại của người dân tăng cao, dẫn theo sự xuất hiện của nhập khẩu ô tô và nhu cầu sử dụng nhiên liệu (xăng, dầu) cũng tăng lên theo Thuế TTĐB được áp dụng cho ô
tô là bởi vì đây là hàng hóa có giá trị cao cần điều tiết thu nhập, đồng thời cũng tính đến mục tiêu bảo vệ môi trường, hạn chế ô nhiễm khí thải Việc đánh thuế TTĐB vào mặt hàng ô tô nhập khẩu phần nào phản ánh chính sách bảo hộ ngành sản xuất ô tô trong nước của Chính phủ trong giai đoạn