1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích, đánh giá những điểm mới của BLTTDS năm 2015 về khởi kiện vụ án dân sự

18 85 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 42,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HLU BTHK tố tụng dân sự đề 21

Trang 1

Mục Lục

Trang 2

MỞ ĐẦU

Vấn đề khởi kiện và thực hiện việc khởi kiện là vấn đề luôn được các nhà nghiên cứu về tố tụng, cơ quan lập pháp của nhiều nước trên thế giới quan tâm

Ở Việt Nam hiện nay, các quy định trong pháp luật tố tụng dân sự về cơ bản đã phần nào thể hiện được vấn đề này Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 là một bộ luật

kế thừa và phát huy được nhiều điểm mới, khắc phục được những hạn chế từ những bộ luật trước, góp phần thực thi pháp luật trong các trường hợp cụ thể trên thực tế

Thông qua việc so sánh với những quy định cũ để thấy được sự phát triển của pháp luật đồng thời chỉ ra những khuyết điểm, hạn chế vẫn còn tồn tại để từ

đó có những đề xuất cho việc hoàn thiện pháp luật về khởi kiện vụ án dân sự Vì

vậy, em lựa chọn đề 21 để nghiên cứu về vấn đề này: “Phân tích, đánh giá

những điểm mới của BLTTDS năm 2015 về khởi kiện vụ án dân sự”

Trang 3

I. Khái quát chung về khởi kiện vụ án dân sự

1. Khái niệm khởi kiện vụ án dân sự

Ở Việt Nam, quyền khởi kiện được ghi nhận gián tiếp tại Hiến pháp năm 2013, tại chương II Quyền con người quyền và nghĩa vụ cơ bản của

công dẫn đã quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”.

Để bảo hộ cho các quyền dân sự của các chủ thể, Nhà nước quy định nhiều biện pháp, cách bảo vệ khác nhau như bảo vệ bằng các biện pháp hình sự, biện pháp hành chính, và một trong những biện pháp đó là khởi kiện vụ án dân sự theo trình tự tố tụng dân sự Khởi kiện là một vấn đề quan trọng trong tố tụng tư pháp, là thủ tục đầu tiên nhằm đưa vụ án ra Tòa án để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Điều 186 BLTTDS năm

2015 quy định: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án dân sự (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình” Điều 187 BLTTDS 2015 quy định về quyền khởi

kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước, theo đó Nhà nước xác nhận quyền khởi kiện vụ án dân sự của các chủ thể khác như cơ quan dân số, gia đình và trẻ em, hội liên hiệp phụ nữ, công đoàn,… trong việc khởi kiện yêu cầu tòa

án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác

Có thể thấy, quyền khởi kiện vụ án dân sự cho phép cá nhân, cơ quan,

tổ chức và các chủ thể khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước tòa án Việc thực hiện quyền này của các chủ thể gọi là khởi kiện vụ

án dân sự Như vậy, khái niệm khởi kiện vụ án dân sự có thể được hiểu là việc cá nhân, cơ quan tổ chức hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, nộp đơn yêu cầu tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác

2. Ý nghĩa của khởi kiện vụ án dân sự

Trang 4

Khởi kiện vụ án dân sự là hành vi đầu tiên của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng và là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự Trên thực tế, có các phương thức khác nhau để giải quyết các tranh chấp dân sự như hòa giải, thương lượng, trọng tài, tuy nhiên phương thức yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi

ích hợp pháp được coi là công cụ hữu hiệu nhất trong toàn bộ phương thức khác nhau mà xã hội và Nhà nước dùng để giải quyết các tranh chấp và mâu thuẫn lợi ích Khởi kiện vụ án dân sự là cơ sở để Tòa án tiến hành các

thủ tục tố tụng khác để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Tòa

án chỉ thụ lý giải quyết vụ án dân sự khi có đơn của các chủ thể đáp ứng đủ điều kiện do pháp luật quy định Như vậy, khởi kiện vụ án dân sự là cơ sở, tiền đề để Tòa án nhân danh Nhà nước giải quyết các vụ án dân sự

Khởi kiện vụ án dân sự là phương thức bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp dựa trên cơ sở quyền tự định đoạt của các chủ thể Các chủ thể có thể hành động ngay tức khắc để tự bảo vệ các quyền của mình tránh nguy cơ

bị xâm hại như khởi kiện đòi tài sản, khởi kiện yêu cầu thực hiện đúng hợp đồng, khởi kiện yêu cầu chấm dứt hành vo cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền dân sự Từ việc khởi kiện của các chủ thể có quyền, các cơ quan tố tụng sẽ có hành động can thiệp kịp thời để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể đó

Sự ghi nhận các quan hệ pháp luật về khởi kiện vụ án dân sự góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, là biểu hiện của việc xây dựng nhà nước pháp quyền Nhà nước giao cho các chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm hoặc tranh chấp, nâng cao ý thức chấp hành luật, kịp thời bảo vệ các quyền lợi của con người, cũng như góp phần duy trì sự ổn định, cân bằng trong xã hội

II. Những điểm mới về khởi kiện vụ án dân sự tại BLTTDS năm 2015

1. Các quy định về điều kiện khởi kiện

Trang 5

Về chủ thể khởi kiện: Quyền khởi kiện trong pháp luật tố tụng dân sự

là một trong những quy định quan trọng, cho phép các chủ thể tự mình bảo

vệ quyền và lợi ích của mình hay của người khác trước tòa án BLTTDS năm 2015 quy định về quyền khởi kiện của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi yêu cầu tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình tại Điều 186, quyền khởi kiện của một số chủ thể khách khi yêu cầu tòa án bảo vê quyền, lợi ích hợp pháp của người khác tại Điều 187 Có thể thấy, BLTTDS năm 2015 không hạn chế quyền khởi kiện của các cá nhân, cơ quan, tổ chức, quy định bất cứ cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào có đủ năng lực hành vi dân sự cũng

có quyền khởi kiện vụ án dân sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình So với BLTTDS năm 2004, BLTTDS năm 2015 đã có những thay đổi theo hướng mở rộng phạm vi chủ thể có quyền khởi kiện vì quyền và lợi ích

hợp pháp của người khác Thứ nhất, liên quan đến vụ án lao động, quyền

khởi kiện bảo vệ lợi ích của người lao động BLTTDS 2015, tại khoản 2

Điều 187, quy định về chủ thể trong lĩnh vực này thay đổi theo hướng:“Tổ chức đại diện tập thể lao động có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động hoặc khi được người lao động ủy quyền theo quy định của pháp luật”.

Các tranh chấp lao động mà tổ chức đại diện người lao động được khởi kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 187 BLTTDS 2015 là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong quan hệ lao động Tranh chấp lao động gồm có tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao động tập thể, trong đó có tranh chấp lao động tập thể về quyền và tranh chấp lao động tập thể về lợi ích BLTTDS 2004 quy định người có quyền khởi kiện vì quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động trong quan hệ lao động là công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở, việc thay đổi quy định này trong BLTT

2015 nhằm mở rộng quyền của tổ chức đại diện của người lao động cấp cơ

sở, từ đó nâng cao trách nhiệm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động Có thể hiểu, tổ chức đại diện của người lao động là chủ thể

Trang 6

có quyền khởi kiện vụ án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động, hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân người lao động khi được ủy quyền

Thứ hai, bổ sung quy định liên quan đến việc khởi kiện bảo vệ quyền

lợi người tiêu dùng, khoản 3 Điều 187 BLTTDS 2015 quy định: “Tổ chức

xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có quyền đại diện cho người tiêu dùng khởi kiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích công cộng theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”.

Nội dung bổ sung này của BLTTDS 2015 hoàn toàn phù hợp với quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn về việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Thứ ba, bổ sung quy định liên quan đến hôn nhân và gia đình, khoản

5 Điều 187 BLTTDS 2015 quy định: “Cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình” Các cá nhân có quyền khởi

kiện ở đây có thể hiểu là cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết li hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ (khoản 2 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014)

Việc mở rộng chủ thể thực hiện quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự một mặt đảm bảo quyền tiếp cận công lý, tiếp cận Tòa án của mọi chủ thể, tạo cơ hội bình đẳng cho các cá nhân trong việc yêu cẩu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, mặt khác bảo đảm sự thống nhất trong hệ thống pháp luật hiện hành giữa Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Bộ luât lao động,

Trang 7

Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng,… và các văn bản pháp luật khác liên quan đến quyền khởi kiện trong TTDS

Về thẩm quyền giải quyết VADS của tòa án: Dựa trên Hiến pháp

2013, nguyên tắc quyền yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể được ghi nhận tại Điều 4 BLTTDS 2015 BLTTDS 2015 bổ sung quy định so với BLTTDS 2004, nhấn mạnh nguyên tắc Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật áp dụng, tại khoản 2 Điều 4 BLTTDS 2015 Tuy nhiên điều này không đồng nghĩa với việc Tòa án phải thụ lý yêu cầu khởi kiện trong mọi trường hợp Quy định này nhằm đảm bảo quyền con người, quyền công dân, quyền tiếp cận công

lý của người dân được thực hiện Vì vậy, quy định về thẩm quyền của tòa án theo loại việc của BLTTDS năm 2015 cũng có những sự khác biệt so với Bộ luật cũ Theo BLTTDS năm 2004, tòa án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp khác về dân sự khác mà pháp luật có quy định ngoài các tranh chấp được BLTTDS quy định, đồng nghĩa với việc tòa án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp khác về dân sự nếu có một văn bản quy phạm khác quy định vụ việc đó thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án Tuy nhiên, theo

BLTTDS 2015 quy định theo hướng “…trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật”, điều này có nghĩa

là tòa án chỉ có quyền từ chối thụ lý giải quyết các tranh chấp dân sự khi pháp luật quy định thuộc thẩm quyền của cơ quan khác

Về thẩm quyền của tòa án theo lãnh thổ: Về căn bản các quy định về thẩm quyền của tòa án theo lãnh thổ tại Điều 39, 40 BLTTDS 2015 đã kế thừa các quy định của BLTTDS trước đó Dù vậy, BLTTDS 2015 cũng có những sự thay đổi nhất định BLTTDS 2015 đã thay đổi quy định về việc

“Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản

có thẩm quyền giải quyết”, thay vì trước đó bộ luật cũ quy định về thẩm

Trang 8

quyền giải quyết những “tranh chấp về bất động sản” Quy định này dường

như đã đi theo hướng giới hạn hơn thẩm quyền của tòa án nơi có bất động sản chỉ đối với những trường hợp có đối tượng tranh chấp là bất động sản chứ không bao hàm cả trường hợp tranh chấp về quyền tài sản liên quan đến bất động sản1

Về thời hiệu khởi kiện: Trước đây, BLTTDS 2004 quy định thời hiệu

khởi kiện là một điều kiện khởi kiện Tuy nhiên, sau khi sửa đổi, bổ sung năm 2011, nếu thời hiệu khởi kiện đã hết thì tòa án vẫn phải thụ lý vụ án và sau đó ra quyết định đình chỉ vụ án (Điều 168) Như vậy, mục đích khởi kiện của đương sự để yêu cầu tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của

mình cũng không đạt được Quy định này của bộ luật cũ đã “cho phép tòa

án có quyền năng khi chủ động thay mặt người bị kiện dẫn thời hiệu để bác yêu cầu và thủ tiêu luôn quyền yêu cầu của người khởi kiện ngay cả trường hợp người bị kiện không hề biết nội hàm, giá trị pháp lý của quy định về thời hiệu” 2

Theo khoản 2 Điều 184 BLTTDS 2015 quy định thời hiệu khởi kiện chỉ được tòa án áp dụng khi có yêu cầu của một hoặc các bên Đây là một trong những thay đổi lớn trong quan niệm lập pháp của Việt Nam, thời hiệu không còn do tòa án mặc nhiên áp dụng để làm căn cứ đình chỉ giải quyết

vụ án dân sự như trước mà là dựa trên quyền tự định đoạt của các bên đương sự BLTTDS 2015 đưa ra hai điều kiện về áp dụng thời hiệu khởi kiện: Một bên hoặc các bên yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện; yêu cầu này phải được đưa ra trước khi tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc Quy định này thể hiện sự tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự, đồng thời giúp các chủ thể khôi phục lại quyền và lợi ích hợp

1 Trần Anh Tuấn (2018), Tiêu chí xác định thẩm quyền dân sự của Tòa án theo lãnh thổ trong quy định của BLTTDS năm 2015, Kỷ yếu hội thảo: Những quy định chung của

BLTTDS năm 2015, Hà Nội 6/2018, tr 54-59

2 Phan Thanh Dương (2018), Khởi kiện vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội, tr 51

Trang 9

pháp đã bị xâm phạm dù thười hiệu khởi kiện, góp phần đảm bảo quyền khởi kiện trên thực tế

2. Quy định về hình thức khởi kiện và nội dung đơn khởi kiện

Có thể thấy, ở quy định về hình thức khởi kiện và nội dung đơn khởi kiện tại Điều 189 BLTTDS 2015 quy định rõ ràng và dễ hiểu hơn so với BLTTDS cũ BLTTDS 2015 đã quy định người làm đơn khởi kiện dù là cơ quan, tổ chức hay cá nhân thì đều có quyền tự làm đơn hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện, tuy nhiên vẫn đảm bảo có xác nhận là việc làm đơn khởi kiện dựa trên ý chí của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó bằng việc ký tên, đóng dấu (cơ quan, tổ chức) hoặc điểm chỉ Bên cạnh đó, nếu cá nhân là người đầy đủ năng lực hành vi dân sự hoặc không đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nếu là người không biết chữ, người khuyết tật nhìn, người không thể

tự mình làm đơn khởi kiện, không thể tự mình ký tên hoặc điểm chỉ thì có thể nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện và phải có người đầy đủ năng lực hành vi dân sự làm chứng Người làm chứng phải ký xác nhận vào đơn khởi kiện BLTTDS 2004 yêu cầu người làm chứng phải ký xác nhận trước mặt người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã và được Ủy bạn nhân dân cấp xã chứng nhận trước mặt người khởi kiện và người làm chứng Tuy nhiên, điểm c khoản 2 Điều 189 BLTTDS 2015 chỉ quy định người làm chứng phải ký xác nhận vào đơn khởi kiện, không bắt buộc phải

ký trước người có thẩm quyền chứng thực và cũng không bắt buộc phải có chứng thực chữ ký của người làm chứng Sự thay đổi này giúp giảm bớt các thủ tục rườm rà, hơn nữa hoàn toàn phù hợp với đặc trưng của việc kiện trong tố tụng dân sự là quyền tự định đoạt và điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể thực hiện quyền khởi kiện tại Tòa án

Khoản 4 Điều 189 BLTTDS 2015 quy định chi tiết hơn về nội dung trong đơn khởi kiện Ghi nhận đầy đủ tên, nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người khởi kiện, người bị kiện và người có quyền, lợi ích liên quan thì

Trang 10

bổ sung thêm thông tin về số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử,… Đồng thời cho phép các bên lựa chọn địa chỉ khác với địa chỉ nơi cư trú, làm việc

có trụ sở để Tòa án liên hệ Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người đó… Quy định mới của BLTTDS 2015 tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án trong việc thực hiện thủ tục tống đạt hợp lệ và cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các bên trong quá trình tố tụng thực hiện liên hệ với Tòa án đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, tuân thủ pháp luật tố tụng dân sự trong thủ tục gửi và tiếp nhận các loại văn bản, giấy tờ tố tụng liên quan đến vụ án

Khoản 5 BLTTDS 2015 quy định về việc khi gửi đơn khởi kiện cho tòa án, người khởi kiện phải gửi kèm theo các tài liệu, chứng cứ để chứng minh họ là người có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại hoặc tranh chấp Tuy nhiên trong trường hợp vì lý do khách quan nên người khởi kiện không thể thu thập được tài liệu, chứng cứ để nộp ngay đầy đủ khi khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu bổ sung khác theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết Quy định này được bổ sung so với Bộ luật cũ, nhằm bảo vệ tối đa việc thực hiện quyền khởi kiện của các chủ thể trong thực tế, hạn chế việc trả lại đơn thiếu căn cứ của tòa án

3. Quy định về việc gửi đơn khởi kiện vụ án

Về nộp đơn khởi kiện: Tại Điều 190 BLTTDS 2015, ngoài hình thức

gửi đơn khởi kiện bằng phương thức nộp trực tiếp và gửi qua đường dịch vụ bưu chính, người khởi kiện có thể gửi trực tuyến bằng hình thức thư điện tử qua cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có) Theo đó, trường hợp người khởi kiện gửi đơn khởi kiện bằng phương pháp trực tuyến thì ngày khởi kiện

là ngày gửi đơn Việc ghi nhận thêm phương thức gửi đơn khởi kiện qua cổng thông tin điện tử của tòa án là điểm mới so với BL cũ, phù hợp với

Ngày đăng: 05/05/2021, 23:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w