1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

TỔNG QUAN VỀ VÙNG ĐẤT, CON NGƯỜI VÀ TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN HỘI AN

52 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 97,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể nói, các hình thái yăn hoá phi,.:vậi thể, văn hoá văn nghệ.,dân gian nói chung, các hìnựthức lễ hội, dân gian nói riêng ở HộiAn là những :dòng sữa ngọt lành bắt nguồn sâu xa từ lòng đất mẹ tại chỗ., từ cuộc sống lạo động, chiến đấu, sinh hoạt của các. thểhệcư dân địa phương. Trải qua các thời kỳ lịch sử, chống được nuồTdứỡng, làm nên phần hồn, phần tinh tụý làm nên tính độc đáo riêng có trọng nếp sống, cư xử hàng ngày của con người nơi đây.

Trang 1

TỔNG QUAN VỀ VÙNG ĐẤT, CON NGƯỜIVÀ TÍN NGƯỠNG

DÂN GIAN HỘI AN

1 Khái quát đặc điểm vùng đất ỷà lịch sử dân cư Hội Ạn ,

Có thể nói, các hình thái yăn hoá phi,.:vậi thể, văn hoá văn nghệ.,dân gian nóichung, các hìnựthức lễ hội, dân gian nói riêng ở Hội-An là những :dòng sữa ngọtlành bắt nguồn sâu xa từ lòng đất mẹ tại chỗ.-, từ cuộc sống lạo động, chiến đấu,sinh hoạt của các thểhệ^cư dân địa phương Trải qua các thời kỳ lịch sử, chốngđược nuồTdứỡng, làm nên phần hồn, phần tinh tụý‘1 làm nên tính độc đáo riêng

có trọng nếp sống, cư xử hàng ngày của con người nơi đây

Những dong sữa văn hoá văn nghệ - lễ hội dân Gian ngọt lành được khỏinguồn trên mảnh đất có bề dây lịch sử , văn hóa Mảnh đất này năm cách thànhphố

Đà Năng chừng 30km về hướng Đông N.am, ở vị trí 15°43 vĩ Bắc, 108°20’k.inhĐông, cuối hạ lưu của các con sồng lớn của xứ Quảng như Thu Bồn, Vu Gia,Trường Giang, và thông với Biển Đông qua Cửa Đại hay Đại Chiêm, hải khẩu nổi tiếng một thời Ngoài Cửa Đại có cụm đảo Cù Lao Chàm, trước đây đượcgọi bằng các tên như Ciam pullo, Chiêm bất lao, Tiêm bích la, Tiẽm bút loa,Ngọa long gồm 7 hòn Lớn nhỏ trải rộng như bức bình phong ưởn ngực chechắn cho lát liền vượt qua bao cơn bảo dạng như giáo sư Trần Quốc Vượng đãhận sư Trần Quốc Vượng đã nhận đảo lớn nhỏ trải rộng như bức bình phongưỡn ngực che chắn cho đất liền vượt qua nhiều con sóng bão Vi thế cửa sông -ven biển kết hợp với các đảo ven bờ và các cửa biển nằm gần nhau đã mang lạicho Hội An lợi thế về địa - văn hoá, tạo điều kiện thuận, lợi để Hội" An trởthành là noi hội thuỷ, hội nhân, hội tụ văn hoá vô cùng đa xét mở ra ĐiểnĐông để Hội An sớm giao lưu, tiếp xúc vởi thế giói bên ngoài Hệ thống sôngrạch chằng chịt là mạng lưới giao thông hữu hiệu len lỏi vào sâu các làng mạctrù phú lúa I khoai, dâu bắp ở châu thổ, vượt xa lên tận các ngõ nguồn vùng'núi,trung du của xứ Quảng vốn giàu cósản'Vật như ! vàng, gỗ quý, mật ong, trầmhương, quế, hồ tiêu, Cư dân địa phương đa tận dụng triệt để lợi thế sông nưó'cnày: thể hiện ở chỗ việc đi lại hầu hết đều bằng ghe/thuyền Đườn gì nhiên,

Trang 2

cùng với hệ thống đườrig thuỷ là hệ thống đường bộ được bồi đắp liên tục quacác thòi kỳ lịch sử mà con đường qụan lộ nối liền Thanh Chiêm với Hội An vàCửa Đại được bồi đắp quy mô vào thời Minh Mạng là một ví dụ Thế ị nhưng đilại bằng thuyền vẫn được xem là đặc điểm nổi trội Trong sinh hoạt của cư dânnơi đây Các ngõ nguồn sông nước hội tụ về Hội An, Cửa Đại, bồi tạo nơi nàythành một vùng đất có vị trí phong thuỷ đẹp để tụ tập dân cư, xây dựng làng xã,phố phường, cũng như gom góp hàng hoá mà lượng hàng mỗi năm nhiều đếnnỗi “trăm, chiếc tàu to chỏ' cùng một

lúc cũng không hết đuợc”(l) Mặc khác, sự gặp gỡ sông - biển này cũng đã sảnsinh nên ở vùng cửa sông - ven biển Hội An một môi trường sinh thái sông nướckhá đặc trưng vói những đầm dừa nước rộng ỉớn như những cánh rừng, nhữngbãi bồi ven sông mọc dày lau lác, ô rô, bần, mắm, những con nước thay đổi mộtngày hai lần theo thuỷ triều cùng hệ động thực

vật nước lợ phong phú về chủng loại, nổi tiếng về độ thơm ngon Sự.gặp gỡsông - biển cùng sự giao nhau của các dòng thuỷ, hải lưu đã làm cho tôm cá, hảisản ở vùng sông, biển Hội An ngon không đâu sánh bằng Điều này không phảicho đến bây giờ mới được khẳng định Đầu thế kỷ XVII, một

giáo sĩ phương Tây sống ở Hội An nhiều năm đã ghi nhận: “ Cá ở nơi đây cóhương vị tuyệt diệu và rất đặc biệt, tôi đa qua nhiều đại dương, đã đi nhiều nước,nhưng tôi cho rằng không nói nào có thể ,sánh được với Đàng Trong” Môitrường nước lợ nuôi dưỡng nên nhiều loại tôm cá, cá rằn, cá' hồng, cẳ đìa,'Gãđãnh, :tôm dất, cua nước lợ, Đồ biển chì có các loại cá cu, cá mú,,cá chuồngành, cua đá, bào ngư, vú nàng, vú xao (sao?) Đặc biêt, một số đảo ở Cù LaoChàm còn có một loại sẵn vật quý là tổ chim yến, chuyên dùng làm món ăn tẩm

bổ, chữa lệnh Các cồn bai ven sông được phù sa hàng năm bồi đắp là mảnh đấtmàu mỡ cho những vạt bắp cẩm Nam dẻo ngọt, những vườn rau Trà Quế giònthơm phát triển Ngqài ra cũng còn puai kể đến các loại trái cây như dâu, sim,trâm, mít ở Cù Laọ Chàm, dừa ở Cửa Đại, rau câu, rau đắng ở Cẩm Thanh, Chúng là những sản vặt quý góp phần khắc họa hình ảnh vùng đất Hội An giàu

có, tươi đẹp trong sự yỗu mến, của nhiều người Môi trường cửa sổng - vén biển

Trang 3

với hệ thống sông ngòichằng chịt cũng đã chia cắt đất dai ở đây thành từngmảnh nhỏ, thành các cồn bàu ở phía Bắc và các đầm hói, bãi bồi ở phía Nam.Hội An không có những.cánh đồng thẳng cánh cò bay như ở một số nơi mà thayvào đó là những thửa

ruộng hẹp, những cồn bãi giàu phù sa và những cồn cát pha mịn hạt thích hợp

để trồng các loại hoa mắu phụ, rau thơm, hoa, cây cảnh Về khí hậu, cũng nhưcác vùng trong xứ Quảng, ở Hội An một năm có hai mùa, mùa mưa và mùa khô.Ranh giới giữa hai mùa thường không rõ rệt Mưa nhiều nhất vào tháng 9 đếntháng 12, chiếm 70% đến 80% lượng mưa cả

năm Lượng mưa trung bình lên đến 2.069mm, mỗi năm có từ 120 đến 140 ngàymưa Mưa thường gây ra lụt và hầu như năm nào cũng có lụt Lụt lội đã tác.động sâu sắc trong đời sống vật chất và tinh thần của cư dân địa phương:

Ông tha bà không tha

Rân cho cây lụt hăm ba tháng mười

(Tục ngữ

Lụt lội tuy gâv tổn thất về mùa màng, tài sản, đe dọa đến tính'mạng con người

nhưng' cư dân ở đây không hề sợ hãi mà họ sẩn sàng đón lụt với thái đô bình

thản, chủ động, nếu không muốn nói là vui mừng nhmnhân xét của một giáo sĩphương Tây vào thế kỷ XVII: “ Trước, hết mọi người ở đây đều mong nước lũ.không nhũng để'được mát mẻ và dê chịu, mà còn để cho đồng ruộng được màumỡ

Thế nên, khi thấy mùa nước tới, họ để lộ hẳn sự vui mime và thích thú: họ thẫmhỏi nhau,.chúc mừng nhau, ôm nhau hò hét, vui vẻ ,và nhắc đi nhắc lại:“đã đếnlụt, đã đến lụt”, có nghĩa là nước đã đến, nước đã tới rồi ”

Lụt ở đây cũng được phân thành 2 loại: lụt biển và lụt

nguồn Lụt biển là hiện tượng nước biển dậng cao vào sâu

Cùng với lụt là bao lốc, đây thật sự là một hiểm họa thường xảy ra bất ngờ, khóchống đỡ, nhất là lốc, tố Vì vậy, những ccm lốc được cự dân ở đây gọi tránhbằng cái tên là “ông Cụt” “Ông Cụt” rất dữ dội, những noi “ông”,đi qua thường

bị đọ nát nhà cửa, cây cối, ở ngoài biển thì cuốn văng và nhận chim cả tàu

Trang 4

thuyền Để đối phó với bao lốc, nhà của cư dân địa phương được làm thấp, máilợp ngói âm

đưong nặng và chặt nếu ở phố, hoặc bằng tranh dừa, xóc kỹ và buộc chặt vàokèo cột nếu là nhà tre Một số kính nghiêm nhận biết bão lốc cũng được tích luỹ

để giảm nhẹ mất mát, tổn thất:

Mống đóng Cù Lao không mưa chao cũng gió giật.

Đời ông cho chí đời cha

Mây phú Sơn Trà không gió thì mưa.

(Tục ngữ)

Gùng với bão lụt, chế độ gió mùa hàng năm đã ảnh hưởng rõ rệt đến đời sốnghàng ngày của cư dân Hội An Tháng giêng, tháng 2 âm lịch thường có gió mùaĐông Bắc kèm theo mưa nhẹ, không khí lạnh, neười địa phương

gọi là gió Bấc Cái lạnh ở đây không quá gay gắt như ở vùng cháu thổ Bắc Bộnhưng cũng không phải là dễ chịu đối với những gia đình bình dân, nghèo khóvới những người già cả Tháng 6, 7 âm lịch có mùa gió Tây Nam thổi rộ Dânđịa phưcmg qua kinh nghiệm đã phân làm hai luồng Luồng thổi từ hướng ĐôngNam gọi là gió Nồm, thường đến sớm vào tháng 3, 4 âm lịch mang theo hoi ẩmcủa nước biển nên ít hanh khô Luồng từ Tây Nam xuống gọi là gió Nam, nóng,hanh, gây khó khăn cho mùa màng và sinh hoạt của cư dân Những năm có gióNam kéo dài người ta gọi là “Nam kiệt”, cũng giống -như khi nước rút cạn hẳnvào những ngày giữa tháng âm lịch, người tá gọi là “nước kiệt”:

Trang 5

Nam có thể đến đầm Trà Nhiêu “noi đình trú của tàu thuyền ngoại quốc” (naythuộc

huyện Duy Xuyên), phía Bắc đến cửa Hàn, Đà Năng, một tiền cảng của Hội An,phía Tây đến Thanh Chiêm-(huyện Điện Bàn), nơi có dinh trấn của chính quyềnQuảng Nam qua nhiều thời kỳ, Hội An vẫn là vùng đất hẹp chạy dọc bờ biển và

bị chia cắt bởi nhiều sông rạch, đầm nước, cửa biển Nếu nhìn dưới góc độ củamột khu phố thì Hội An có mặt bằng khá khiêm tốn, chỉ gồm một số đường phốchạy

dọc bờ sông, mà theo quy hoạch khoanh vùng của dân gian đó là: “Dạo từ sôngtrước, xóm sau; Dưới thì Âm Bổn Chùà Cầu ở trên” Chùa Cầu và chùa ÂmBổn (chùa ông Bổn, hội quán Triều Châu) cách nhau chỉ chừng 500m Còn theokhoanh vùng bảo vệ hiện nay thì khu phố cổ Hội An nằm son gàng tronẹ 30ha.Tuy diện tích nhỏ hẹp như vậy nhưng do quy rnô giao thương, buồn bán pháttriển mang tầm quốc gia và quốc tế trước đây nên đặc điểm phố" thị đã chi phốimạnh mệ đời sống của các thế hệ cư dân địa phương và để lại dấu ấn sâu sắctrong các hình thái văn hoá văn nghệ nói chung, dân gian nói riêng Các kết quảnghiên cứu khảo cổ và liên ngành gần đây đã đi đến thống nhất dặt vùng đất Hội

An trong một diện trình lịch sử gồm: Tiền Sơ sử - Chămpa - Đại Việt, Đại Nam,Việt Nam: Tương đương với từng thời kỳ' nàý là các lớp cư dân kế tục nhau sinhsống trẽn vùng., đất Hội An Trang sách thời Tiền Sơ sử ở Hội An được mở ravới những di tích, di chỉ khảo cổ học có niên đại cách đây từ 2000 năm đến trên

3000 năm Và cũng là một điều kỳ lạ ỉý thú khi di chỉ có niẽn đại sớm nhất đượcbiết cho đến nay

lại được phát hiện tại Bãi Ông, Cù Lao Chàm Niên đại của di chỉ này sớm hơncác di chỉ trong đất liền khoảng một -thiên niẽn kỷ Kết quạ khảo cổ cho biếtcách đây trên 3000 năm, người cổ ở Bãi Ông đã biết sử dụng những rìu đá khásắc bén, những nồi gốm có kiểu dáng và hoa văn thể hiện rõ sự khéo tay, biếtđánh bắt các oại hải sản để làm thực ăn Điệu này hé mở một thực tế về sự xuấthiện, giao lưu -

tiếp xúc khá sớm của các nhóm cư dân Tiền Sơ sử tại các•đảo v.en bờ nước ta,

Trang 6

Long đổ có Cù Lao Chàm Và thực tế này chắc chắn có sự tác động nhất địnhđến sự hình thành nên các sắc thái vân hóa của địa phương Trong đất liền, một

hệ thống gồm nhiều di tích, di chl văn hoá Sa Huỳnh có niên đại trên dưới 2000năm đã được lần lượt phát hiện ở Hậu Xá, Thanh Chiếm, An Ban?,, Xuân Lâm

từ nbửn? năm 1989 đến 1995 Hiện vật tìm thấy được ,1à c im chum lớn hìnhtrụ, hình cầu, hình trứng nhiều kích, Cỡ, nhũng' đồ gốm gia dụng và minh khínhiều kiểu dáng, phong phu và đa dạng về hoa vãn trang trí; những công cụ sảnxuất và

khí bằng sắt mang dáng dấp thời Chiến quốc; những hạt chuỗi bằng mã não,thuỷ tinh tinh xảo, những khuyên tai ba mấu, hình vành khăn, những tiền đồngNgu Thù, Vương Mãng của Trung Quốc; nhũng lá đề bằng đồng mầng phongcách Ấn Độ Điều này thể hiên người Sa Huỳnh có cuộc sống phát triển, thạo

về nghề nông, nghề'biển, cổ quan hệ giao lưu rộng với các vùng miền trong khuvực vẫn

với ngoài Thời kỳ này tại Hội An có thể đã manh nha một tiền cảng thị hoặcrriột cảng thị sơ khai, đặt nền móng cho sự phát triển của cảng thị Hội An trongcác thời'kỳ saụ Thời Chămpa nằm trong khung niên đại từ thế kỷ II đến XV.Điểm nôi bật của thời kỳ này là người Chăm đã xây dựng vùng Hội An thànhmột cửa ngõ của miền Amara vân với điểm tiền tiêu là trấn son Chiêm bất lao

(Ciamp-oulo, Cù Lao Chàm) Điểm này được thư tịch cổ nhiều nước nhắc đến

như là điểm mốc cho tàu thuyền các-nước trẽn con đường tơ lụa, con đườnghựợng liệu hoặc gốm sứ ngang qua Biển Đông ghé vặo Lâm Âp phố củaChămpa để giao thương, buôn bán: “Đất đai Chiêm Thành 'không phì nhiêunhưng dân Chiêm sống về nghệ nông vạ thu hoạch các sản phẩm quý trong miềnnúi Dân Chiêm Thành hoạt, động nhiều nhất về thươrig mại và nghề thôngthương hàng hải” Minh chứng về thời kỳ này, tại Bãi Làng,'Cù Lao Chàm đãtìm thấy một đi chỉ bến đậu tàu/ thuyền thế kv IX - X với nhiều hiện vật gốm sứTrung Hoá thời Đường, gốm Ixlam, đồ thuỷ tinh có nguồn gốc Trung Cận Đông,

đồ gốm Thái Lan, Việt Nam, quả cân bằng đồng Điều này cho biết từ thế kỷ

IX -X, mạng lưới giao thương buôn bán quốc tế trên biển ngang qua Củ Lao

Trang 7

Chàm đa rất tấp nập, nhộn nhịp ở đất liền, những di tích, di chỉ bến ven sôngthời Chămpa cũng được phát hiện tại Trảng Soi (Thanh Hà); Lăng Bà (CẩmThanh) với gốm sứ thời Đường, Tống (Trung Quốc), Ixlam (Trung Cận Đông);gốm sứ Lý, Trần (Việt Nam) được phân bố dày đặc Điều này chứng tỏ từ rấtsớm và trong một thời gian dài (thế kỷ VII - VIII đến thế kỷ XII - XIII), việcbuôn bán ở đây đã rất phát triển.

Kết họp với những di tích kiến trúc và các tác phẩm điêu khắc liên quan đếnviệc thờ tự của Chămpa còn sót lại ở Hội An như lăng Bà Dàng ở Thanh Chiếm(Thanh Hà), lăng Bà Lồi ở cẩm Thanh, miếu Thần Hời ở An Bang (Thanh Hà),miếu Voi Hời ở Nam Diêu (Thanh Hà); các địa danh cổ như Gù Lao Chàm, cửaĐại Chiêm, Trà Quế, Trà Đình, Hà Mi, Bàu Tràm (Chàm), Bàu Chó (Tró), LàngCau (Lang Kau), Làng Tròng (Lang Krong) , cỏ thể xác định, từ thời Chămpa

(thếkỷ II - XV) việc cư trá, buôn bán của người Chăm đã điên ra ả Hội An'khá rõ

nét và chắc hẳn họ phải có một cách thức quản lý nào đó để duy: trì các - hoạtđộng của mình ở đây, nhất là hoạt động giao thương buôn bán Thời kỳ ĐạiViệt, Đại Nam, Việt Nam được tính từ thế kỷ XV cho đến nay, mở ra bởi sựkiện vua Lê Thánh Tông

lập nên Đạo thừa tuyên Quảng Nam vào năm 1471 Thế nhung thật: ra quá trình

di dân đến đây của người Việt đã diẽn ra sớm.hon Từ thế kỷ XIV, một bộ phậnngười Việt các vùng châu thổ Bắc Bộ vì lý do tội đày, nghèo khó hoặc quân thứ

đã buộc phải tách khỏi gia đình, noi chôn nhau cắt rốn, lìa xa những “cây đa,bến nước, sân đình” quen thuộc để đặt chân đến vùng đất xa lạ, đầy bất trắchiểm hoạ từng được mệnh danh là “ô châu ác địa” này để định cự sinh sống Vớibản tính cần cừ, chịu khó của những người nông dân chân đất, với sự ngoancường trong tâm thế của kẻVkhông còn gì để mất”, những lưu dân Việt đầu tiên

đã trụ lại trên mảnh đất này để khai khẩn đất đai, dựng làng lặp ấp, khẳng định

vị trí của mình ở vùng đất mới Gia phả những tộc họ tiền hiền của làng cẩmPhô, Thanh Hà, Thanh Châu, An Mỹ, cổ Trai, Võng Nhi, Đế Võng, Sơn Phô,Hoa Phô ở Hội An cho biết họ là những rigười có quê gốc từ Thanh Hóa, HàTĩnh, Nghệ An, Hái Dương,

Trang 8

Nam Đinh và mọt số địa phương ở châu thổ Bắc Bộ, trong đó hầu hết các tộc họđều có quê gốc từ Thanh Nghệ Hành trang quý giá nhất họ mang theo đến vùngđất mới chính là khát vọng cháy bỏng về một cuộc để đời ở vùng biên viễn Hội

An đất hẹp người đông

Nhãn tình thuần hậu lá bông đủ màu

Dạo từ sông trước xóm sau

Dưới thì Ẵm Bốn, Çhùa cầu ở trên.

(Ca dao)

Các làng mạc người Việt ở Hội An lần lượt được hình thành, ban đầu là nhữnglàng nông nghiệp kết hợp với làng chài, kế đến là những làng tiểu.thủ côngnghiệp, làng buôn bán Một số Ịàng hình thành khá sớm như làng chài Võng Nhi(nay thuộc xã cẩm Thanh) hiện còn bia ký cho biết thời điểm lập làng vào thể kỷ

XV Các làng cẩm Phô, Hoài Phô được Dương Văn An nhắc đến trong ồ châu cận lục vào thế kỷ XVI Các làng Hội An, cẩm Phô, Sơn Phong, Hoa Phô,

Thanh Châu vào thế kỷ XVII đã nổi tiếng về nghề buôn bán bằng'ghe bầu Thế

kỷ XVI, X.VÍI cũng là thời điểm phát triển nhộn nhịp của các làng tiểu thủ côngnghiệp như Xuân Mỹ chuyên về làm đồ sững, Nam Diẽu chuyên về làm gốm,Thanh Hà làm vôi, gạch ngói, Kim Bồng chuyên về mộc nề, đóng ghe Thờiđiểm này tại Hội

An cũng hình thành một số khu vực cư trú của ngoại kiều, tập trung nhất là Hoakiều và Nhật kiều Họ được các chúa Nguyễn cho phép lập ở Hội An 2 khu vực

cư trú riêng, quản lý theo cách thức riêng; Nhiều nguồn tư liệu gợi độ là hai phốĐường 'nhân phố và Nhật Bổn phố Thế-kỷ ,XVII cũng là thời điểm đánh dấu sự

ra đời của làng Minh Hương, một làng thương nghiệp, hình thành từ sự nhập cư

và gia nhập quốc tịch Việt,của một bộ phận Hoa kiều ở Hội An Theo một số sổđinh của làng Minh Hương hiện lưu trữ tại Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di tíchHội An thì vào đầu thế kỷ VXIII, làng nầy có số dân đinh trên dưới 1.000 người,

đó là chưa kể phụ nữ và trẻ con Hiện nay, dân số' của thành phố Hộ.i An ỉà87,000 người theo thống kê năm 2005, trong đó có 1.198 người Hoa Ngoài racòn một số người nước ngoài vì lý do kết hôn, công tác hiện đang cư rú tại Hội

Trang 9

An nhưng con số này không nhiều và không ổn định Nhìn lại quá trình pháttriển của cư dân Hội An, chúng ta thấy rằng đó là một quá trình xuyên suốt qua

3 thời kỳ Tiền Sơ sử - Chămpa - Đại Việt, Đại ,Nam, Việt Nam diễn ra từ cáchđây hơn 3000 năm cho đến nay Nểi lên trong quá trình này là sự tiếp nối liêntục giữa các lớp cư dân, là sự chung cư, cộng cư giữa nhiều thành phần cư dânvào những giai đoạn lịch sử nhất định, đặc biệt là vào thế kỷ XVI - XVII Trảiqua quá trình này, các hình thái văn hóa, văn nghệ dân gian nói chung, các hìnhthức iể hội nói riêng đã được khơi nguồn, định hình phát triển, để tạo nên nhữngsắc thái văn hóa mang tính độc đáo, có riêng của địa phương được bảo lưu bềnvững cho đến hôm nay Vài nét về tôn giáo - tín nguỡng dân gian

2.1 Tín ngưỡng trong phạm vi gia đỉnh và dòng họ

Cũng như mọi gia đình người Việt Nam, ở Hội An, ý thức kính trọng õng bà tổtiẽn luôn được đề cao, thờ phụng bên cạnh tín ngưỡng thờ thần, Phật, và bàn thờtrong nhà cũng được xem là một trong những chuẩn mực đánh giá gia phong,nền nếp của một gia đình, tộc họ Chính vì thế mà trong ngôi nhà của mỗi giađình đều có bàn thờ, khám

2.2.1 Các thiết chế tín ngưỡnp theo địa dư xồm phổ gịáp/ phe

Miếu Ngũ hành: Đây là nơi thờ Ngũ hành Tiên nương (5 bà tiên nương) nêncũng gọi là miếu Ngũ hành Năm yếu tố căn bản và cũng ỉà 5 tính chất cơ bảncủa vạn vật: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ đã được Đạo giáo và Nho giáo thầnthánh hóa thành 5 thần hiệu và được triều đình phong kiến sắc phong để thờ là:Kim Đức thánh-phi, Thủy Đức thánh phi, Mộc Đức thánh phi, Hỏa Đức thánhphi yà Thổ Đức thảnh phi Miếu này chiếm tỉ lệ khá lớn và phổ biến trong cộngđồng (dân cư làng - xã ơ Hội An ảu như các vị trí đầu xóm - đầu làng xưa đều

có miếu Ngữ hành ngay tại các chùa lớn cũng có miếu nhỏ thờ “Ngũ hành".

Đặc biệt, trong miếu thờ đều có tượng hoặc bài vị của từng bà - Tiên Nương Läng bà miếu bà: tuy cách gọi khác nhau, “Lăng” đối với ngư dân biển, “Miếu”đốì với cư dân nông nghiệp, thủ công nhưng đều có tín ngưỡng chung là thờ bä.Tín ngưỡng thờ bà/nữ thần rất phổ biến ở Hội An và như vậy, lăng miếu bà cũngchiếm tỷ lệ khá cao trong các loại hìnhkiến trúc tín ngưỡng dân gian ở Hội An

Trang 10

Hầu hết trong các làng - xã, thôn - ấp hoặc theo địa dư xóm, phe, giáp, phổ, cũng đều có ngôi miếu nhỏ để thờ bà/nữ thần Đanh thần bà ở đây dứng đầu làThiên Y A Na Điễn Ngọc Phi Theo cách gọi dân gian, bà có khá, nhiều tụcdanh khác nhau như: bà Lồi, bà Yang, bà Chúa Ngọc, bà chúa Xứ, Theo nhiềunhà nghiên cứu văn hóa, bà vốn là nữ thần Yan nư Po Nagar của cư dân bản địa(người Chàm), được cư dân Việt tiếp thu biến đổi để phù hợp với màu sắc tinngưỡng dân gian Việt Điều đặc'biệt, ngoài những miếu do người Việt mới lậpthì hầu hết nơi nào co di tích của người Chăm để lại cũng đêu có miếu thờ vàvới vai trò như mẹ lớn của xứ sở Thậm chí, tượng thờ Nam thần Tài lộc -Kubera của người Chàm cũng được cư dân Việt tô đắp thêm bên ngoài thành

hình ảnh cửa bà theo tưởng tương của, mình (như ở Lăng Bà, cẩm Thanh).

Ngoài ra, nhiều nơi còn có miếu thờ các bà Thiên tiên Hồng nương Liễu Hạnhcông chúa, Bạch Thổ Kim Tinh (thần nữ Ngọc Thỏ trên cung trăng), Cũng cókhi thờ chung các bà trong miếu hoặc cũng.có khi lập miếu thờ riêng Miếuthần: Ngoài các vị thổ thần, thủy thần và các thần liên quan đến nghề nghiệp, nữthần đã trình bày ở các phần trên, thì cư dân Hội An, theo dịa bàn cư trú, xóm/phổ/giáp/phe còn có một số hình thức miếu thờ các vị thần đơn lẻ khác như:

- Thái Giám Bạch Mã Tôn thần: Danh hiệu thần này được triều nhàNguyên phong tặng Theo dân gian quan niệm đây là một loại ngựa thần có màulông trắng, không có giới tính, thường hay hiển linh

- Sơn Tinh nhị vị: Là hai vị Sơn Tinh trong sáu vị tướng quân tôn thầnđược triều ăình nhà Nguyên sắc phong: Sơn Tinh quả dũng tướng quân tôn thần

và Sơn Tinh vũ dũng tướng quân tôn thần

Lục vị thần tiên: Đó là các vị thần liên quan đến việc cho thuốc chữa bệnh, cứungười qua khỏi những bệnh hiểm nghèo

- Thần Hời: Thực tế đây là bức tượng Vũ Công Tiên

- Thiên - Gandhara trong một di tích tín ngưỡng của cư dân

- Chămpa (đã bị hủy hoại) được cư dân ở đây lập miếu thờ -gọi là ThầnHời

- Thờ Đá: Đó là một phiến đá (sa thạch) được đặt trên bệ xây thờ troné

Trang 11

miếu Nhưng lại có tên chữ ở trẽn bàn thờ là “Bà Cổ”.

2.2.4 Các thiêt chê tín ngưỡng khác

• Miếu Văn chỉ: Thờ đức Khổng Tử, Tứ phối, Thất thập nhị hiẻn và tiền hiền,

tiên Nho của làng Ớ Hội An, cũng theo quy định chung của nhà nước phongkiến, chỉ

làng,nào có người đỗ đạt khoa bảng như tiến sĩ thì làng mới lập miếu thờ này.Việc thờ cúng do Hội Tư văn của làng đảm nhiệm, theo định kỳ xuân, thu hailượt hàng năm mà tế lễ

Miếu Quan Công (cư dân Hội An quen gọi là Chùa Ông); Đây là miếu thờ cóquy mô lớn nhất và cũng duy nhất chung cho tín ngưỡng của cả cộng đồng cưdân Hội An, không phân biệt làng nghề, người Việt hay người Hoa

Tuy nhiên, tín chủ đến với miếu thờ phổ biến đông nhất là

cư dân làm nghề buôn bán Miếu này thờ Quan Công - tức

là thờ Quan Văn Trường - một danh tướng vào cuối đời nhà

Hán của Trung Quốc (theo tích truyện Tam Quốc Chí diễn nghĩa) đã hiển Thánhvới danh hiệu Hiệp Thiên Đại đế phục vụ s.ự phát, triển của làng - xóm, củacộng đồng là một công đoạn trong đời sống sinh hoạt và sãn xuất hàng năm củangười làng; là cơ hội bộc lộ tài năng sản xuất, chế biến"lương-thực, thực phẩm,thủ công mỹ nghệ, nâng' khiếu sằng các và biểu diên văn hóa nghệ thuật cũngnhư các trò

diễn, trò chơi và các cuộc đua tài của người làng - xóm trong cộng đồng dân cư

Lễ hội được câu thành bởi hai phầnclẽ và hội Lễ là'phần.nghi thức (nghi thức cảtrong hệ thống lễ và nghi thức trong cả hệ thống hội) Lễ liên quan đến tínngưỡng dân gian và tôn giáo chính thống - lễ thiên về mcu quan hệ giữa ngườivới gìởi siều thực, giới tự nhiên (Thần linh, ma quỷ, mưa, gió, sấm chớp, núi,sông, ) Lẽ

được tiến hành trong không khí thiêng và thường là với số người hạn chế, trongkhông gian thiêng (trước bàn thờ, khu vực sân đình, khu vực dâng cúng, ) Hội

là phần phát triển, nối tiếp với lễ liên quan nhiều đến hoạt động vui chơi, nghệthuật của quần chúng rộng rãi, được thể hiện một phần thông qua các quan điểm

Trang 12

tôn giáo và phong tục Hội thiên về mối quan hê giữa người với người hơn,không

gian mở rộng “trần tục” hơn (sân đình, bãi ruộng, đường làng ) Phần vui chơihay trò diễn được thể hiện bằng nghệ thuật biểu diễn (ca múa,, âm nhạc, độngtác, ngôn tù biểu cảm của các nhân vật hội ); bằng nghệ thuật tạo hình (màusắc, hình khối, đường nét, đám rước, trang phục, đạo cụ của các nhân vậthội ) Tất cả trò diễn, trồ chơi, đám rước được hiểu ỉà nằm trong hệ thống hội.Nhìn chung, lễ và hội lại gắn với phong tục, tập quán với đời người; với sản xuất(nông nghiệp, ngư nghiệp, thủ công nghiệp.,.); đến sinh hoạt vật.chất (trangphục, ăn uống/ẩm thực) và sinh hoạt tinh thần (tôn giáo, tín ngưỡng, vănnghệ )

Tựu chung lại, chúng ta có thể nhận biết được những khía cạnh chuẩn mực, tíchcực của lễ hộT cổ truyền/ hội làng - hội xóm là:

- Bao giờ cũng gắn bó chặt chẽ với hệ văn hóa làng - 'xóm, bao gồm cảnh quanvăn hóa, di tích, danh.thắng, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, mội trường ; thểhiện sinh hoạt đời sống con người và những ước vọng tâm linh của cả cộng độngngười

* Là thời điểm cố kết sức mạnh cộng đ.ồng, là dịp để con người ôn lạitruyền thống, lịch sử của đất nước, làng - xóm, cùng nhau.thực hiện tốt nhữnggiá trị văn hóa được trao truyền từ thế hệ trước .Là môi trường lành mạnh đểcác thế hệ (kể cả với thần linh, tổ tiên, người đã khuất ) gập gỡ, cộng cảm

♦ Là hình thức sinh hoạt văn hóa nghệ thuật, vừa nghiêm cẩn trong nghi

lễ, vừa hòa đồng vui vẻ trong hội hè, vừa linh thiêng lại vừa trần thế

Từ những khái luận chung về lễ hội cổ truyền, chúng ta có thể nhận bịết yề lẽhội cổ truyền ở Hội An nói riêng - xứ Quảng nói chung, mà theo chúng tôi về cơbản, chủ yếu nó được hình thành, phát triển trên cơ sở các lễ tết/tiết, lễ lệ, lẻ tụchàng năm trong các làng - xã, xóm - thôn, đó là:

- LỄ cúng cầu ngư của cộng đồng cư dân’ngư nghiệp:

Đối với cư dân nahe cá, ngoài sự lao đao, nhọc nhằn, vất vả không thua kémnghề nông, họ còn đứng trước nhiều ngụy hiểm đến tính mạng trước sóng gió bể

Trang 13

khơi, do đó họ luôn tin tưởng vào sự cầu cúng thần biển, thần cá và các chưthần cứu giúp trên biển cả Đồng;thời, họ cũng-tin tưởng rằng với sự cúng tếthành tâm thí cịp chư thần sẽ phù hộ, cho đánh bắt được nhiều sản phẩm tôm cá.

tổ chức quy mô hơn, đậm nét hon hẳn so với lễ cúng cầu bông của cư dân nônenghiệp và lễ cúng tổ của cư dân làm nghề thủ công

Lê cúng cầu ngư được tổ chức trẽn bãi biển nên phải dựng rạp, lập đàn, lập bànthờ và đuực trang trí rất đàng hoàng Có noi lễ được tổ chức trên mặt nước, ngaycửa biển (như làng Phước Trạch) bằng cách ghép các thuyền lại vói nhau Lê vậtdâng cúng nhiều, ít tùy vào điều kiện của mỗi làng/vạn, nhưng có một số lẽ vậtkhông thể thiếu là: hương đèn, giấy tiền, hoa, rượu, bánh, chuối, xôi, chè, gạo-muối, heo (cả con hoặc cái đầu heo hoặc vài miếng “tợ” thịt heo) hoặc con gà.Tuyệt đối không được dâng lẽ vật làm từ hải sản Trước khi tế lẽ chính, từ ngàyhôm trước, toàn thể ngư dân trong làng phải tham gia lễ nghinh rước hồn cáÔng;

đồng thời rước các thần linh trong làng và các cô bác âm hồn, các vị Tiền Vãngngư tại các đình, lăng, miếu của làng/vạn về lăng Ông phụ hưởng làm lẽ cúngtiền hiền, hậu hiền Tiếng trống đầu tiên của lễ thường do người già nhất, có uytín trong làng thực hiện, cầu mong một năm mới tốt lành Sau lẽ nghinh rước làhát bả trạo (bả là cầm chắc; trạo là mái chèo) Đây là một hình thức diễn xướngtập thể với cách thể hiện, trình diễn khá độc đáo của cư dân ven miền Trung đểcầu nguyện cho xóm làng được yên vui Đến gần sáng (khoảng 3 giờ) có lễThánh văn với nội dung kể về Đức Ông, các vị thần, công lao các vị tiền - hậuhiền Lễ tế chính thức diễn ra vào lúc 4 giờ sáng với sự tham gia của dân làng

Trang 14

và các cư dân lân cận Lễ được bắt đầu bằng tuyên bố của chủ tế, tiếp theo là bàivăn kể lại quá trình hình thành vùng đất, ý nghĩa thiêng liêng của lễ cúng, cũngnhư thể hiện sự thành kính, ca ngợi công đức, dâng trọn niềm tin sâu sắc và lòngbiết on đối với sự che chở, bảo vệ của Ông (cá ông) Nghi thức cúng cũng theotrình tự sơ - á - chung hiến lẽ (3 tuần) nhự nghi thức cúng tại đình Lễ cúng cầungư được kết thúc bằng nghi lễ xin hát trò bả trạo - gọi là xây chầu bả trạo Đây

là một nghi lễ không thể thiếu được, mở mằn cho buổi hát thiêng Người xâychầu là vị chánh tế, trống chầu là trống đại Đây là một bộ phận của nghi lễ

♦ Lẽ cúng Tổ nghề (cúng tổ) của cộng đồng cư dân làm nghề thủ công - buônbán: Theo quan niệm dân gian, nghề đất, còn vợ (Nương) giận hờn đòi lại (Dohiện tượng này rnà có câu thành ngữ: “Làm như Ngu với Nương ý chỉ một việc

gì mà kẻ muốn người không) Gông việc đo đất này kéo dài cho đến khi Ngu,Nương thăng xong (tức là trở lại trạng thái bình thường), có khi mất nửa ngày.Như vậy là

cuộc mua đất hoàn thành, dân làng thỏa mãn, từ nav được bình yên Cuối cùng,các thầy cùng tín chủ, hương chức làng xã làm lễ tạ và tống thần, cũng có kinh,

kệ chú, chuông, trống, tang, mõ ê a tạ khắp từng bàn (nội trấn, ngoại trấn)

Tá thổ: Hình thức này,được áp dụng nhiều vì-thời gian ngắn và ít tốn kém hơn

Tá thổ chỉ có 3 thầy, một (hãy chứng minh (thầy cả) và 2 tả hữu chayức Bùa íthon, nội trấn ngũ phương không đặt bàn mà chỉ đốt hường 5 hướng, không cóngũ phương ngoại trấn và bàn bày sẵn búa, rìu, xà lét Các thầy đúng giờ đếntụng niệm thần chú và đọc khóa cúng các bàn trên dưới, tả hữu và cái kiến Tờkiến cũng như các đon xin ngày nay, ghi điều thỉnh nguyện Cúng xong thì tạthần, phát lương cho âm linh cùng cô hồn là xong

* Tục tong Long Chu

Long Chu là từ chỉ chiếc thuyền làm theo hình con rồng Đây là phương tiệnsang trọng dành riêng cho vua chúa ngự lẫm hoặc tuần du Với dận gian xưa, ônhoàng, dịch lệ M lực lượng siêu nhiên gây hại cho người, đáng ghét, đáng sợnhung cũng cần kính nể Vì vậy, làm Long Chu là dựa theo loại thuyền của vua

để chở thần, tướng, âm binh áp tải, tống quái tống ôn và xứ vế đi mong hưởng

Trang 15

cái tốt lành cho nơỉ cư trú của con người

Lom: Chu có bộ sườn bằng tre, nuoài phết giấy vẽ phẩm xanh đỏ, giữa mình làthuyền,.đầu.đuôi hình rồng có đủ sừng, râu, kỳ, vẩy Hông trái có buộc mộtdầm lái, trước buộc một dầm mũi, 4 góc trước sau thuyền có 4 lùnh nhân cầmdầm, một hình nhân nữa ngồi lái Trên Long Chu cắm 4 cờ, 4 cán cờ xuyênthẳng qua thuyền thành 4 chân, giữa có lọng che và một phướn; hông thuyền cộtdọc '2 đoạn tre cho 4 người khiêng; trọng lòng cỗ trang bị đầy đủ đồ dùng chomột bậc quyền uy; có điều tất cả đều bằng tre v.à giấy màu Long Chu làm đẹp,xấu, lớn, nho,ớ hiền, dữ tuỳ thuộc tài năng của thợ mã và yêu cầu đã được dậnlàng thoẵ thuận trước

Rằm tháng giêng (Thượng Nguyên), rằm tháng bảy (Trung Nguyên) là hai thờiđiểm chuyển tiếp giữa mùa mưa và mùa khô Cuộc sống lạc hậu, thiếu:vệ sinh ởnông thôn xưa cộng với tác động của thiên nhiên sau khô hanh, lũ lụt thườnglàm cho bệnh dịch hoành hành, lây lan cả vùng Vì vậy, tất cả cư dân trong cộngđồng đều có trách nhiệm tham gia cúng Long Chu

Chức sắc trong làng và các tộc trưởng cử ra một Ban Chánh tế và mời thầy phùthảy chủ trì Họ quyên góp trong dân và xuất quỹ thuê thợ mã làm Long Chu, sốkhác che rạp, bày hưong án tại đình làng, ấp Không khí náo nức vui vè, mọi lứatuổi tham gia quét tước trong nhà ngoài đúng nghĩa “chộ rộn chàng ràng nhưlàng vào đám” Trước lễ chính một ngày, mọi việc chuẩn bị phải xong, 7 thầyphù thuỷ thuộc loại cao tay ấn do thầy cả dẫn đầu cùng các học trồ lễ (người phụtá) đi làm phép “trấn đạo lộ” (trấn yểm) Họ mang theo những mảnh bùa sẵn dántrên mảnh gỗ, tre, vừa đi vừa giật khăn ấn vừa bắt quyết phún hoả (phun dầuhoả), dựng bùa vào ngã ba, ngã tư đường làng hoặc noi nghi ngớ có quỷ, ôn tụtập Những noi này đều có một bàn thờ nhỏ, thấp, trên có một lư hương Nơi códựng bùa hoặc đường dự kiến cho các phù thuỷ cùng đoàn người đi trấn yểmtrừ tà ma, quỷ quáy nếu được dọn dẹp phong quang, thoáng, đãng Trên đường,đoàn trấn yểm kéo dài như đoàn rồng rắn Phía trước là những người đánh trốngthanh lạ và các thầy pháp vừa đỉ vừa ái phà hú hét Phía sau là cả đoàn dàinhững người tò mò đi xem .Từng tốp trai thanh gái lịch dứng ở vườn này, vườn

Trang 16

kia cất giọng thách hạp đối, khi thấy

các tốp nam nữ ở ấp khác đi qua Những điệu hát “huê tình”, “hát đúc”, “hátkiến tại” cứ bay bổng hàng giờ Khi cuộc hát kết thục đám đông nhập vào đoàntrấn yểm và như vậy cuộc trấn yểm bỗng trở thành cái cớ cho ngươi tứ xứ gặpnhau Hết những nơi đã định sẵn, các thầy pháp trở về đình dán 4 là bùa vào 4cây cột góc và một lá ở cửa chính Tại đây, nhiều người thuộc cầc xóm ấp nhỏtrong làng,

những nhà vườn lâu nay “bị quỷ ma khuấy phá” đã chẫu chực sẵn, ai cũng mangtheo vài tảng đá đã quét vôi đến xin thầy vẽ bùa vào-để về yểm Chánh bái cùngthầy cả và một số tráng đinh khỏe mạnh kèm ban nhạc cờ xí đi trước về tạisân đình Đậu Long Chu xoay vào trong, trước mặt có hương án,- trên đụxig đồ

ăn lỏt bằng lá chuối gồm bánh trái, xôi thịt, cháo, chè, gạo muối, thụốc, nướccửi mỗi thứ một ít Thầy cả làm phép khai quang điểm nhãn, lấy mực và son

vẽ 2 con mắt cho Long Chu rồi làm “lễ vô khoa” (lê cúng tổ Phù thủy) là khởiđầu cho các lẽ sau Đầu tiên là “lễ cáo thần” (lễ Túc yết) vào giờ Tý (11 - 2 giờđêm) với lễ vật đơn sơ hưcmg đãng trà quả Đến giờ Mao (5-7 giờ sáng) làm lễ

tế thần Lễ này cúng mặn, có heo, gà để bày tỏ lòng thành của dân làng với

thần, lính cai quat làng Lễ hết sức trang nghiêm,'trọng thể như rễ đĩnh ờ mọi

nơi, có văn tế và nhạc đã coi là lệ nên không thể bỏ Xong thủ tục, đến giờ Thìn(7 - 9 giờ sáng) lễ cúng

Long Chu chính thức bẵt đầu Thầy cả mặc áo Thái Thượng Lão Quân in hìnhbát quái, thắt lưng đỏ, vai vắt khăn ấn đỏ hoặc vàng, chân đi hia, đầu đội mũ tỳ

lư, tay cầm cái vãng cắm hương hoặc cái ky lịnh (chụông lắc), tay bắt quyết.Phụ tá cho thầy cả có các thầy con và các học trò lễ cùng

dàn nhạc

Thầy bắt quyết cho quay đầu Long Chu ra cổng, thầy đọc những bài chú riêng,mỗi đoạn chuyển lại gõ lệnh bài v.ào hương án, trong khi các thầy con điểmnhạc, đọc kinh hòa theo và dâng những thứ cần cho thầy cả Thầy cả vừa đọcnhững bài chú đầy bí ẩn vừa đọc 'Văn triệu 32 tướng chỉ huy, văn triệu âm binh,văn phát lương, văn phát ngoại binh Các bản văn cho thấy đội ngũ binh tướng

Trang 17

được triệu

đến để trừ tà diệt quỷ là cả một lực lượng khổng lồ Trên hết là các vị tổ sư:Thượng Thanh Tiên Cảnh, Linh Bảo Thiên Tôn, Thái Thanh Chân Cảnh, ĐạoĐức Thiên Tôn, Ngọc Thanh Thánh Cảnh, Nguyên Thỉ Thiên Tôn Phía dưới là

32 chức vị thần tưởng Đông Tây Nam Bắc, ba cung Tru đạc Và “vạn vật âmbinh” tràn ngập trema thế “thiên

la địa võng” Lực lượng này được phát lương no đủ ( gạo muối) để “ra tay bắt kẻ

tà ma mà làm lệnh”, “xây lũy đào hào bủạ lưới giăng”, “sát quỷ trừ tà hộ bổnchủ” Quỷ ma cũng được đãi đằng tử tế, được nghe những lời vỗ về hoặc nhữnglời lẽn án nghiêm khấe buộc phải tuân thủ dưới sự thâu tóm của âm binh lênLong Chu đi đày miền khác Số nào có quá nhiêu tội lỗi phải chịu trừ khử Ớđoạn này, thầy

cả đọc văn khao ôn, văn tống quái.-Nếu thầy cả già yếu, thầv phụ trẻ sẽ đọc vănthay, vừa đọc văn vừa có những đọng tác múa võ, múa nhập đàn Phạm vi hoạtdộng của các thầy là cả sân đình rộng Thầy ra vào tới lui tấp nập như cuộc đấuquyết liệt có thật với lực lượng vô hình Người xem cứ ngày càng phấn khích hể

hả ra mặt, nhất là khi thầy có động thái dữ dội vói một tên ma quỷ ngoạn cố,

đó thầy cả vẽ bùa bắt ấn vào Long Chu xướng lớn: “yểm ghe đi không được ngólại”, “yểm Lục Giáp, Lục Ật hung thần đi cho mau, Lục Bính, Lục Đinh quỷ mịphải đi gấp, Lục Mậu, Lục Ky lánh đi cho mau, Lục Oanh, Lục Tân, tà ma hóa

Trang 18

ra bụi bặm, Lục Nhâm Lạc Quỷ hung hương lánh mặt đi cho xa” Thầy cẵ gỗlệnh bài chan chát vào hương án, các thầy phụ cùng bắt ấn hướng vào Long Chu

để giết quỷ ma Đến đây lễ tế tại đình kết thúc, chu yen sang phần rước LongChu Theo hiệu cua thầy chấp lệnh, bốn thanh niên hiễng Long Chu có thầycạ,ngồi trên hai thanh gưom tuốt trần bắt chéo hình chữ X, hai bên cậc thầy phụ

đi kèm, phía sau có ông Chánh bái và Ban lẽ đại diện cho làng, phía trước một

số thanh niên mang đuốc chạy soi đường Người đánh trống chầụ thúq ngũ'ỉiên;Long Chu chạy lúp xúp tới những noi đã trấn yểm hôm trước, các thầy phụ đọckinh, đọc chứ, giặt khăn trấn yểm, hết noi này đến nơi'khác Trên đường rướcLong chu có nhiều trạm dùng chân để thay người khiêng

Dưới ánh trăng rằm mới lên, mọi người trong làng dùng roi dâu quất khắp noirồi tràn ra đường, xông khói lửa đuốc sáng rực ngồ xóm chờ Long Chu đến Họđốt pháo, qụẳng roi dẫu vào Long Chu, giạt bùa của thầy về dấn ở ngõ Tất cảđều hàọ hứng, âm thanh náo nhiệt Người lớn, trẻ con chờ xem rồi nhập vào đámrước Ngưỡi già, trẻ con ai cũng thích

Khi Long Chu đi hết các noi phải đi thì cũng đã đến giờ Hợi Đám rước đến mộtnơị vắng thì dừng lại, nổi lửa đốt Long Chu; noi gần sông thì họ thả xuống sông.Trẽn Long Chu có những chén 'dầu phụng (dầu lạcV làm đèn cháy sáng tronglúc nó trôi dần ra biển

Ở đình Cẩm Phô, ngoằi các hình thức như nhiều nói còn thêm tục “xô cộ” (cỗ)

Cộ là một dàn tre hình chóp nhiều tầng cao chừng 3 - 5m Mỗi tầng có đặt xôithịt, bánh trái, tiền phía.trên là một khung pháo cây Khi cúng đình xọng, pháo

nổ, mọi người xô vào cướp, ai được nhiều thì xem như có nhiều lộc Người Hoa

ở các bang thượng làm Long Chụ và Công phu hon Cố khi, toàn bộ LongChu.ĩẳm bằng vải, dài cỡ 5m, phải luồn tre xuống dưới bụng cho 4 cặp ngườikhiêng, (8 người), cúng ở chừa âm Bổn, Ngũ Bang hay Chùa Ông Cộ cũng làmlớn, có khi để cả con heo quay trôn đó Khi có lệnh xô cộ, mọi người tranh nhàuvăo lấy, lộc, có người thật nhanh giành đuực cả con heo quay để chót vót trênđỉnh giàn mà chạy.-Long Chu của người Hoa thường được thả xuống sông, trẽn.đó.ẹó thêm rượu “khèn”

Trang 19

sáp ong, hẹo quay nguyên con, cả gà trống còn sống.

Khu vực Thanh Chiêm (An Nhon, An Quán, Điện Phưong, Phước Kiều) làmLong Chu không đẹp bằng dưới phố Hội An, cố khi chỉ là bè chuối có mui chethức củng, đầu và đuôi rồng làm riêng bằng giấy gắn vào Việc cứng do làng ấp

tổ chức có thầy Pháp chủ trì với mục đích “tống sùng trừ Ôn dịch”, mong mộtmùa nông sặn bội thu

Như vậy, lễ Long Chu có phần cứng lê kéo dài hai ngày hai đêm, nặng phần phùthủy Long Chu thể hiện nhân sinh quan, thế giới quan của người dân xưạ: khíchưa cắt nghĩa và có hành động giải quyết được những hiện tượng lạ quanhmình nên họ phải nhờ đến thế lực phù thủy với các nghi lễ ma thuật huyền bí.Sau này, bản chất đích thực tốt đẹp ban đầu bị chìm lấp, tính chủ động, sáng tạokìm hãm nên ý nghĩa hội cũng bi chìm sâu, không nổi trội, hóng dáng các cuộchát đổi đáp hiện lên mờ nhạt Trước năm 1945, Long Chu được mọi làng, ấplàm; làng làm lớn, ấp làm nhỏ, thưcrng được kết hợp vớí đình nên bị hiểu nhầm

là hoạt động phụ của tổ chức cúng tế lổn thường kỳ hàng năm Quà hồi cố, tathấy ý nghĩa mục đích của Long Chu có tách bạch, các làng ấp lớn ở Hội An,Duy Xuyên, Điện Bàn quanh vùng Cửa Đại đều có làm Long Chu Có noi cungLong Chu sau dịp tế đình vài ngày, vì phù thuỷ không đủ để phục vụ đồng loạtcác làng cùng một lúc Có cách giải thích khác rằng Long Chu làm sau để ThànhHoàng thấy rõ sự bất lực của mình nên càng chăm lo đến việc hơn Từ 1975 đếnnay, lễ hội Long Chu không được tổ chức Ở vài noi, thay vì làm Long Chu, họlàm bè chuối để ít gạo muối bánh trái rồi thả sông Long Chu tuy nặng phần lễnghi, nhẹ hoạt động hội

nhưng nó vẫn là loại lẽ hội vì huy động toàn, bộ dân cư trong một địa bàn thamgia và là việc lo chung của mọi người Đó là sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡngcộng đồng Bóc lớp văn hóa nặng về nghi lễ đi, nó thể hiện mặt nhân văn rất rõ

Đó là cái Nhân trong truyền thống nhân đạo của dân tộc Đó là cái Nghĩạ trongquan niệm sống, cái Lễ trong cách ứng xử của dân gian Quỷ ma quấy phánhưng chúng vẫn được mời lại để khao vọng, an ủi, vỗ về rồi nhờ thần tướng âmbinh tróc nã, phán xử Trong thái độ dứt khoát tẩy chay, bất hợp tác có lý luận

Trang 20

giáo dục thuyết phục Trong cái' phẫn nộ căm thù vẫn hàm chứa niềm thôngcảm, kính nhường Bên cái mềm có cái cứng, bỗn cái lý song hành với cái tình.Trong việc thờ cúng có khao-có tạ, nổi bật lẽn là lòng cầu mong an cư, hòa bình.Bao trùm là cái nhân bản, khao khát tự khẳng định bản ngã giữa đời giữa đất củamình, vưcm lên không ngừng cho cuộc sống tốt đẹp, thịnh vượng hơn.

Lễ Long Chu thực chất là một cuộc tổne tấn công, trừ khử tà ma dịch bệnh vàcũng là công cụ để chuyển tải, bày tỏ sâu sắc vân hóa của cộng đồng cư dânnông nghiệp, Dù ở mức độ nào cũng có tác dụng đoàn.kết hòa đồng, để cùngchiến thắng, để mưu sinh

Cư dân Hội An có một quá trình tụ cư, hỗn cư, họp nên đương nhiên có sự tiếpthu những văn hóa giữa các tộc người có quan hệ Trong điều kiện phát triển đôthị - thương cảng trung chuyển mậu dịch quốc tế nên lễ hội Long Chu có sự tíchhọp và hòa đồng giữa Phật giáo, Đạo giáo và tín ngưỡng, dân gian Đây là một.sinh hoạt tổng họp, có bóng dáng của các môn bùa phép ếm đối thờ đá ở ngườiChàm, của quan niệm đưa linh hồn người quá cố qua bến Giác Hải của ngườiTrung Quốc, của dấu vết lễ dâng quả đầu mùa cho tổ tiên của người Thái và sự

tạ ơn thần của một số nước vùng Đông Nam Á Trong văn cúng Long Chu xuấthiện tên gợi các vị thần xuất xứ từ Trung Quốc, từ Bắc Bộ và Trung Bộ Các thểvăn viết bằng chữ Hán, Nôm, có ngâm, có xướng, mang phong cách xứ Quảng Mật: dầu có những han chế, có màu Kắc ơn ngư Long Chu vẫn lap lánh ước mưcủa cư dân nống nghiệp “gạo 'Lương'Sơn ngon,'tại' Thiên Phu,.'ăn tất quí đầvthiên thu, uống tất sống lâu muôn tuổi, đầy đầy hồ gạo châu tích, tràn tràn hồ lúakhắp vạn nơi” Và Long Chu vẫn là loại lễ hội kết hợp giữa sáng tạo văn hóa của

cư dân nông nghiệp sông nước Hội An, với những lễ hội của nước khác

Chúng tạ cần được tiếp tục nghiên cứu, phát huy những

* Hành kiệu và sát phạt

Khbtrong lâng 7 xă, thổn - xóm có bệnh dịch hoành hành, dữ dội, gây chếtchốc, hoảng loạn cho mọi người, quan niệm dân giun cho rằng đó là do ônhoàng, dịch lê, tà quỷ quấy phá chung đem tai each, gây họa cho con người,chính vì thế nếu ,chỉ uống thuốc thì khồng khỏi mà phải cúng nhương cầu đảo

Trang 21

Lúc đầu, đặt bàn cúng tại các làng - mỉếu, mời thày phù thụy hoặc thầy cúng(thầy tu) đến cúng

có khi cả một ngày - đêm Dùng giấy tiền vàng, châu sa, thần sa vẽ bùa- trừ tà,trên giấy viết mấy chữ “Thiên hành dĩ quá” (tai ương Lời làm đã qua), phất chomỗi nhà một lá đem vẹ dán ngay cửa ra vào và đốt hương cắm theo hai bên cửa.Trước ngỗ thì quét vôi trắng hai bên trụ, nhà không có trụ ngõ thì lấy hũ hoặc tỉnquét vôi trắng úp lên cây trụ trồng ở,cổng/ ngỗ Sau những cách này, bệnh dịchgiảm bớt thì mọi người đều mừng rỡ, sắm sửa phẩm vật, cúng tạ ở lăng miếu.Trong lúc ấy,, cũng có nhiều vị thầy cúng đi quanh xóm làng, mang theo những

lá bùa trừ tà phát cho gia đình dân chúng và lấy 5-3 tiền gọi Ịà tiền phát bùa haylãnh bùa Người cầm đao hay thương có'ý là Châu Thương đi trước đẫn đườngcho kiệu Quan Thánh Đế Quân lên đường đi trừ ôn hoàng dịch lệ Lúc này, dẫnchúng hai bên đường đốt vàng bạc, lạy theo, khói lên nghi ngút Bốn ngườikhiêng kiệu, lúc thì đi bình thương, lúc thì chạy vụt lên, khỉ đương chạy thì bỗngdừng lại đột ngột, rồi lại vụt khiêng chạy mau cứ như vậy, qua suốt các đoạnđường của làng - xã, xóm - thôn Người cầm đao (Châu Thương) cũng có lúcdừng lại, lúc chạy trước, khi thụt lùi bất thường Do vậy, người khiêng kiệu rấtvất vả, phải chuẩn bị nhiều người để thay nhau Trên đường kiệu đi qua, nhândân thành khẩn, kính cẩn đốt hương vàng bạc, vái lạy và cá lúc ngoài người cầmđao (Châu Thương) còn xuất hiện cả Quan Bình đi hầu Quan Công Kết thúckiệu khiêng về lại miếu, lúc này “tự nhiên” mấy người “Châu Thương, QuanBinh” lăn ra đất - gọi là “thăng” Làng xóm lấy rượu tưới khắp mình hai ngườirồi xoa bóp cho họ tỉnh lại Theo mô tả lại ngay cả người khiêng, mặc dù là kiệukhông cổ ngươi ngồi nhưng lại thấy rất nặng, và người khiêng không làm chủđược mình, khi phải chạy nhanh, đi chậm, lúc dừng lại Do những sự trạng này

mà dân làng rất tin vào quyền phép linh thiêng trong việc tẩy trừ ma quỹ, ônhoàng, dịch lệ Sau khi bái tạ Quan Thánh Đế Quân, mội' người giải tán về nhàvới lòng phấn khởi, hoan hỉ, tin tưởng vào sự

bình an trở lại với xóm làng

* Tang lễ cá Ông

Trang 22

Ngư dđn sông biển vă bạn lâi buôn ghe Bầu theo đạo

Phật ở Hội An cũng như ngư dđn từ Thanh - Nghệ - Tĩnh trở văo đến Nam Bộ

có tục thờ câ ông (câ Voi) vì theo hộ, câ Ông đê cứu nhiều người lăm ăn trín

biển, bị tai nạn Sự kiện gặp câ ông chết được dđn lăng vă Vạn côi như một điềmlănh, vận may, phât đạt sẽ đến trong một văi năm Lễ mai tâng, lễ tế câ Ông lăviệc chang của mọi ngư dđn sông biển có ra văo theo lối Cửa Đại Người gặpđược câ Ồng chết tức lă được ông tín nhiệm, được vinh hưởng lảm Trưởng nam,bịt khăn đỏ để tang 100 ngăy gần giống để tang cha mẹ mình

Khi gặp được câ Ông chết vă đìu từ biển về, Vạn trưởng lập tức huy động dđnlăng đưa câ Ông lín bờ, nếu câ Ông lớn quâ thì dùng đẳng quđy lại cho ruỗngthịt dưới

nước, chờ đủ 3 năm sau lấy xương cho nhập quâch trong lăng Xê trưởng trìnhlín phủ, huyện để quan cho lính về khâm định chế độ tiín tuất, hưong đỉn, vải

đỏ quấn đủ 7 vòng khđm liệm, cho phĩp cấp đất xđy lăng vă ruộng hương hoả(nếu chưa có)

Nghi thức tang chế hoăn toăn dựa vẳ Thọ Mai Gia Lễ nhưng rút gọn hon so với

lễ tang người Ngăy đầu gồm:

Lập tang chủ, lập Hội đồng hộ tế, tắm gội, phạm hăm, nhập quan, thiết lỉnhsăng, minh tinh, thănh phục, chiíu tịch diện

Ngăy thứ hai lă ngăy quan trọng nhất Ban ngăy lễ tế, ban đím hât bội

Ngăy thứ ba dănh cho nghi tâng: Cúng hậu thổ nghi tiết, hât bả trạo đưa linhông Hạ huyệt xong thì lăm một cuộc đua ghe ngang (ghe thường) 'văi vòngngắn cho có lệ để ồng chứng tri lòng thănh vă câc ầủ hồn vui hưởng, khôngquấy phâ

Sau 3 ngăy thì cúng mợ cửa mả Tiếp theo lăm tuần 7 ngăy, 21 ngăy, 49 (Chung Thất), 100 ngăy (Đại Tường - Giỗ Đoạn thêy cho Tốt Khốc) Trước ĐạiTường 10 ngăy lăm lễ Đ.ăm Tế (bỏ tang phục) có đọc văn tế Đủ 3 năm thì cảitâng Lấy xương xếp văo quâch trong lăng thờ đê'Xđy sẵn Lăng thờ gọi lă lêngồng, có người trông coi, hưcmg khói thường xuyín Việc quản lý Lêng cổ cảmột Hội đồng Khi Đăm Tế thđn chủ mờ dần vai trò, việc Cling tế sẽ âo Vụn

Trang 23

ngày-thực hiộn vào thời tiian từ hạ tuần tháng 2 đến đầu tháng 3 âm lịch kết hợp cầungư 'Lễ tế cá Ông tổ chức: vào ngày thứ 2 khi Xĩiai táng cá Ông hoặc dịp cầungư, Chủ trì lễ tế do Lý trưởng và Vạn trưởng sở tại Các thành phần khác thamgia giống nhơ tế

đình Quang cảnh ở lăng Ông khi làm lễ tế hết sửc rực rỡ, trang nghiêm Mở đầu

là lễ cúng âm Hồn có đọc văn Tiếp theo là lễ tế Thần (nhơ tế đình trong lễ cúngLong Ghu)

Các lễ trên có ý nghĩa như tục xã giao dọn đường cho lễ tế cá Ông Nghi xướng

và bố trí bạn tế ông hoàn toàn giống tế Thần ở đình nhưng khác về nội dung văntễ

Căn cứ vào 7 bản vân tế bằng Hán Nôm đa sưu tầm được trên địa bàn thị xã Hội

An ta thấy có cả một tập thể Thần nước Nam Hắi Cự Tộc Ngọc Lân (cá Voi) ở

vị trí thứ 8 trong số 60 đối tượng được thỉnh nhắc trong văn Nội dưng văn tế là

“Cầu cho bạc vạn tiền thiên”, cầu cho “Hai chữ bình yên, tài thiên, bạc thấu bániên hài hoà” Lời lẽ vừa khao khát vừa súc tích mộc mạc, chân'thành và đậmmàu sắc dân gian của văn tế khiến cho giữa thần linh và con người nhoà dầnkhoang cách, sâu đậm tình nghĩa Thần linh được nhàn cách hoá và ngược lạicon người được thần linh hoá Cả hai hòa quyện sức mạnh và đầy khao khát ướcmơ

Sau lễ tế cá Ông là hát bả trạo có tính chất ca múa dân gian Với trang phục đặcbiệt, 3 tổng (lái, thưcmg, mũi) và 16 con trạo biểu diễn Tài nghệ của người biểudiễn ho à đồng cảm xúc của người xem Họ diễn lại cảnh sinh hoạt làm ăn trênsông biển thông qua các đạo cụ gần gũi với đời sống sông biển được nghệ thuậthóa Đó là con thuyền bằng khung tre lợp vải không đáy, có cần nhún để khi hátcon trạo trong thuyền đạp chân lên nhún nhịp cho rung rinh giống như thuyềnđang lênh đẽnh trẽn sóng Một số vật dụng khác phục vụ cho biểu diễn gồm cầncâu, gầu múc nước, và mái chèo Nội dung vở hat kể lại công lao cá Ông cứungười; nay chết đi để lại bao nhiêu thương nhớ Hát bả trạo là dịp ngư dẩn bày

tỏ phẩm chất đạo đức, tâm tư tình cảm của mình Nó là biện pháp dung hòa giữanghi lễ trọng thể với cuộc sống đời thường, kéo cỏn người ra khỏi lễ giáo khuôn

Trang 24

mẫu ràng buộc để tự do bay bổng ước mơ.

Tục thờ cúng cá Ông do cư dân Việt tiếp thu của dấp tộc Chăm Quá trình pháttriển đã được Việt hóa và phủ lên màu sắc Phật giảo, Nho giáo, phù họp với cấutrúc đạ nguyên trong tín ngưỡng của người Việt Nói chính xác hơn là đã đượcHội An hóa Mặt khác, cá Ống sống trong long ngư dân Hội An, được tôn thờtối đa còn nhờ cố sự khuyến khích của Nhà nước phong kiến Các triều chúa,vua xướng tế, có chánh tế, tả hữu phân hiến, có cổ nhạc, đi gia lẽ, đọc văn tế Sau lẽ tế Âm linh là lễ tế Tổ về hình thức, lễ tế Tổ cũng tưcmg tự như lễ Âmlinh, cụ thể là cũng có xướng tế, có chánh tế, tả'hữu phân hiến, có cổ nhạc, đi gia

lễ, đọc văn tế Nhưng về nội dung thi lễ này là lễ tế lịch đại tổ nghề và chưthần, Thánh sông nước bảo trợ của nghề như: Đại Càn, Ngũ Hành Tiên nương,Thành Hoàng bổn xứ, Phục Ba tướng quân, Nam Hải Ngọc Lân, Hà Bá, ThuỷLong

Nội dung lễ tế tổ là người ta ca tụng công đức của các bậc “tiền nhân sáng tạo”

mở nghiệp, các bậc Thần thánh bảo trợ cho nghè đựơc “lâu bền”, để cho ngàynay hậu thế lại kế nghiệp “tuân thừa” khai thác; cầu cho nghề nghiệp phát triển,thôn xóm bình an, mọi người khoẻ mạnh Sau lễ tế Tổ, người ta thường tổ chứcnhiều hoạt động thể thao phụ trợ như: thi kéo co, đá bóng, hát tuồng để làmtăng thêm không khí nhõn trong ngày lẽ hội

Cẩu Ngư ở Phước Trạch

Phước Trạch là làng chài được hình thành khá sớm ở Cẩm An (nay lả phường Cửa Đại) Nơi đây quy tụ hàng trăm chủ thuyền và hàng ngàn lao động biển.

Người dân Phước Trạch rất thông thạo nghề đánh bắt hải sản và họ gần như xuôingược không sót ngư trường rộng lớn, xa xôi nào Nhtmg dù có đi đâu, làm gì,

họ vẫn không quên ngày hội của mình - lẽ hội Cầu Ngư

Lễ hội Cầu Ngư là một loại hình lễ hội dân gian gắn liền với cuộc sống của ngưdân miền biển Đây là lễ hội nhằm tạ on biển cả, cầu xin thần Nam Hải cho mộtvụ

đánh bắt bội thu; đồng thời đây còn là dịp để các ngư dân thư giãn, tạo lập thếcân bằng trong đời sống tinh thần, chuẩn bị cho một năm đánh bắt vất vả, cực

Trang 25

nhọc; là dịp họ gặp gỡ nhau để trao đổi kinh nghiệm cũng như chúc nhau nhữngđiều tốt lành.

Lễ hội Cầu Ngư gẵn liền với tín ngưỡng thờ cá Ông (cd Voi) - vật linh của ngư dân miền biển .Cá Ông là một loại cá lớn có vú (có con dài hon 3Om, nặng trên chục tấn) và có sức mạnh phi thường Theo các ngư dân kể rằng nhiều lằn

thuyền gặp gió bão ở ngoài biển khoì thường hay có cá Ông đến cứu Cá áp Ịung vào mạn thuyền làm cho thuyên khỏi bị sóng gió lật đổ và đưa thuyền rakhỏi nơi nguy hiểm Từ sự cứu nạn lớn lao của cá Ông nên loài cá này đã trở

thành vị Thần ngư Nam Hải (có địa phương còn gọi là Quăn Ầm Nam Hải hoặc Nam Hái Ngọc Lăn) Sự tôn kính của ngư dân miên biển dành cho cá Ông không

chỉ ở trong tiềm thức mà còn bằng cả những hành động thực tế, như khi ngư dân

gặp cá Ông “/uy” (cá Ông chết dạt vào bờ) thì lập tức phải tập trung dân trong

làng lại để tổ chức an táng cho cá Ông, hoặc khi đang đánh lưới mà phát hiệnthấy trong lưới có cá Ông dù nhỏ hay lớn thì cũng phải lập tức mở toang lướicho cá Ông thoát ra Từ những lý do trên nên lễ hội Cầu Ngư được tổ chức nhằmbày tỏ lòng thành kính của ngư dân với thần Nam Hải, cầu mong sự che chở,một mùa bội thụ và xua đi mọi điều xấu Lễ hội Cầu Ngự ở làng Ptìựớc Trạchdiễn ra vằo ngày16 tháng 2 âm lịch hàng năm Theo thông lệ, lê hội thường diễn

ra trong 3 ngày đêm Ngáy đầu tiên diễn ra nghi thức lễ nghinh thần,-lễ túc;ngày thứ hai diễn ra nghi thức đại lỗ tế thần Phần hội gồm có: chèo bả trạo, hát

bội {hát tuồng) và các trò chơi dân gian của ngư dân miền biển nhữ đua thuyền,

lắc thúng chai, phần này được diễn ra trong ngày thứ ba hoặc có thể.đanxep,trong.hai ngày đầu Trước khi tiến hành tể chức lễ thì các ngư dân tronglằng phải họp lại đổ bẫu ra một ban trần thiết Những người trong nan náy lànhững vị cao niêri trong làng, có đức độ, gia đình trọn vẹn, hoà thuận, đặc biệt làkhông bị vướng tang Bán trần thiết gồm có' 2 vị chánh bái, 2 vị sướng, 2 vị đọcvăn tế, 2 vị đánh chinh cổ (bulu và trống), 1 đội nhạc lễ (khoảng 5 người), 1 độihọc trò Lễ (4 người) và một số vị tham gia các hoạt động khác Ban trần thiết cónhiệm vụ phụ trách tất cả các hoạt động diễn ra trong lễ hội.Nghi thức đầu tiên

là lễ nghinh thần, đây lă một nghi thức quan trọng thể hiện tính cộng đồng cao

Trang 26

Đoàn rước gồm có 1 vị chánh bái, 4 - 5 người cầm cờ, 4 người khiêng bànhương án, 1 người đánh bu lu, 2 người khiêng và đánh trống chầu, ngoài ra còn

có nhiều cụ già trong trang phục áo dài khăn đóng đi theo đoàn rước Lễ vậtcúng gồm có

một bát nhang, bình bông/hoa, nải chuối và vàng bạc giấy tiền Đoàn rước khởihành từ lăng rồi đi quanh làng và trở về lại lăng, Mục đích của nghinh thần làrước thần NamHải cũng như di thỉnh cồ bác, chư vị tiền hiền vãn ngự ở các noitrong làng về láng cùng phụng hưởng (nếu trời êm biển iặng thì có tổ chứcnghinh ở dưới biến)

Sau khi nghinh thần trở về thì thỉnh thần vào lăng, và tối hôm đỏ tổ chức cứng

Lễ túc Đây là Ịễ cáo giỗ, báo cáo với thần những việc sẽ làm trong dịp lễ, đồngthời cầu xin thần Nam Hải báo ứng cho vạn chài điềm lành dữ trong năm Lễđược cử hành trang nghiêm, dâng đủ ba tuần rượu Bắt đẳu từ rạng sáng ngàythứ hai người ta tổ chức lễ tế chính thức Nhimg trước đó phải tiến hành lễ tế âmlinh tại sận lăng Đây là lẽ cúng các oan hồn đã khuất, lễ vật gồm: bát cháothánh (cháo trắng), khoai lang luộc, đường cục, bát gạo muối, trầu can,, rượucùng hưcmg đèn và đồ

vàng mã Đầu tiên vị chánh bái gỗ ba hồi mõ sau đó dâng tuần rượu và đọc văn

tế Nội dung của văn tế Ậm linh thể hiện sự yêú thutmg những.kẻ bất hạnh,khốn khổ đã khuất Tế xong, vật tế lễ được tung ra khắp noi để thí thực cô hồn.Sau khi lễ tế Ẫm linh xong thì bước vào lễ tế chính, đây là lễ chính trong lễ hộiCầu Ngư Lễ vật cúng gồm thịt heo luộc (bòặc heo quay), hoa quả, giấy tiềnvàng bạc,

Phần tế đủ nghi thức lễ tục cúng, trong đó có đọc văn tế ca ngợi công đức củathần Na.m Hải, cầu xin thần ban cho một mùa bội thu

Đan xen với phần lễ là phần hội, đó là những sinh hoạt dân gian truyền thống,đặc trưng của các ngư dân miền biển Trong đó, có hình thức sinh hoạt văn hoávừa

thuộc lễ vừa thuộc hội như hát bả trạo, đây là hình thức diễn xướng để hầu thần.Đội hình bẵ trạo khoảng 18 người, bao gồm các con trạo (tay chèo) dưới sự chỉ

Ngày đăng: 05/05/2021, 22:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w