1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động bảo quản hiện vật trong phần trưng bày ngoài trời tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

95 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 97,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam là một trong số ít những bảo tàng có phần trưng bày ngoài trời. Bảo quản hiện vật trong kho cơ sở và phần trưng bày trong phòng vốn đã là một công việc khó, vậy những hiện vật trưng bày thường xuyên ở ngoài trời này được các cán bộ bảo tàng bảo quản như thế nào? Làm sao để có thể ngăn ngừa được tối đa các tác động đến với hiện vật, giúp cho hiện vật có thể tồn tại được lâu bền nhất? Đây chính là vấn đề hết sức khó khăn, phức tạp và bức thiết của bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam nói riêng, của các bảo tàng quân đội nói chung.

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 7

MỞ ĐẦU 8

1 Lý do chọn đề tài 8

2 Lịch sử nghiên cứu 9

3 Mục đích nghiên cứu 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

5 Phương pháp nghiên cứu 11

6 Đóng góp của khóa luận 11

7 Bố cục của khóa luận 11

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ BẢO TÀNG LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM VÀ NỘI DUNG PHẦN TRƯNG BÀY NGOÀI TRỜI TẠI BẢO TÀNG 12

1.1 Khái niệm “bảo tàng”, “hiện vật bảo tàng” và “hiện vật trưng bày của bảo tàng” 12

1.1.1 Khái niệm “bảo tàng” 12

1.1.2 Khái niệm “hiện vật bảo tàng” 15

1.1.3 Khái niệm “hiện vật trưng bày bảo tàng” 16

1.2 Giới thiệu chung về các khâu công tác của bảo tàng và hoạt động trong công tác bảo quản hiện vật bảo tàng 17

1.2.1 Các khâu công tác của bảo tàng 17

1.2.1.1 Công tác nghiên cứu khoa học 17

1.2.1.2 Công tác sưu tầm hiện vật bảo tàng 17

1.2.1.3 Công tác kiểm kê hiện vật bảo tàng 18

1.2.1.4 Công tác tổ chức kho – bảo quản hiện vật bảo tàng 18

1.2.1.5 Công tác trưng bày hiện vật bảo tàng 19

Trang 2

1.2.1.6 Công tác giáo dục của bảo tàng 20

1.2.2 Các hoạt động của công tác bảo quản hiện vật bảo tàng 20

1.2.2.1 Tổ chức kho bảo quản 21

1.2.2.2 Bảo quản phòng ngừa 21

1.2.2.3 Bảo quản trị liệu 21

1.2.3 Nhiệm vụ và quyền hạn của cán bộ bảo quản 23

1.3 Khái quát về Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam 24

1.3.1 Quá trình hình thành và phát triển 24

1.3.2 Đặc trưng, chức năng và cơ cấu tổ chức 26

1.3.2.1 Đặc trưng 26

1.3.2.2 Chức năng 26

1.3.2.3 Cơ cấu tổ chức 29

1.3.3 Nội dung trưng bày của bảo tàng 29

1.3.3.1 Nội dung trưng bày trong phòng 29

1.3.3.2 Nội dung trưng bày ngoài trời 33

CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH BẢO QUẢN HIỆN VẬT TRONG PHẦN TRƯNG BÀY NGOÀI TRỜI 39

2.1 Đặc điểm, tính chất và tác nhân gây hại cho hiện vật trưng bày ngoài trời tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam 39

2.1.1 Đặc điểm của hiện vật 39

2.1.2 Tính chất của chất liệu làm nên hiện vật 40

2.1.2.1 Kim loại đen 40

2.1.2.2 Kim loại màu 43

2.1.2.3 Đá vôi 49

2.1.2.4 Cao su 50

2.1.2.5 Nhựa Acrylic 50

2.1.3 Các tác nhân gây hại đến hiện vật 50

Trang 3

2.1.3.1 Môi trường (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, khí ô nhiễm) 50

2.1.3.2 Sinh vật phá hoại 54

2.1.3.3 Nhân tố con người 55

2.1.3.4 Thiên tai, thảm họa 55

2.2 Quá trình bảo quản hiện vật ngoài trời 57

2.2.1 Cán bộ bảo quản 57

2.2.2 Bảo quản phòng ngừa 58

2.2.3 Bảo quản trị liệu 60

2.2.3.1 Hiện trạng 60

2.2.3.2 Cơ chế thực hiện dự án bảo quản trị liệu hiện vật bảo tàng 63

2.2.3.3 Quá trình bảo quản trị liệu 64

2.2.3.4 Một số văn bản quan trọng trong dự án bảo quản hiện vật 76

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ QUÁ TRÌNH BẢO QUẢN VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC BẢO QUẢN HIỆN VẬT TRONG PHẦN TRƯNG BÀY NGOÀI TRỜI CỦA BẢO TÀNG LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM 77

3.1 Kết quả quá trình bảo quản hiện vật trong phần trưng bày ngoài trời của Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam 77

3.1.1 Những ưu điểm 77

3.1.1.1 Về tổ chức quản lý và hành chính 77

3.1.1.2 Về trang thiết bị và phương tiện trưng bày 77

3.1.1.3 Về trang thiết bị và phương tiện bảo quản 78

3.1.1.4 Về cán bộ bảo quản 78

3.1.2 Những hạn chế 79

3.1.2.1 Về trang thiết bị bảo quản 79

3.1.2.2 Về biện pháp bảo quản 79

3.1.2.3 Về vấn đề tài chính 80

Trang 4

3.1.2.4 Về đội ngũ cán bộ bảo quản 80

3.2 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo quản hiện vật trong phần trưng bày ngoài trời của Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam .81

3.2.1 Tổ chức một số dịch vụ và hoạt động để tăng thêm nguồn thu nhập cho bảo tàng 81

3.2.1.1 Mở dịch vụ chụp ảnh với hiện vật trưng bày ngoài trời 81

3.2.1.2 Đặt mua và bày bán đồ lưu niệm thể khối liên quan đến hiện vật bảo tàng 82

3.2.1.3 Tổ chức các trò chơi cho thiếu nhi để thu hút khách tham quan 82

3.2.1.4 Mở các lớp dạy thực hành bảo quản theo chất liệu .83

3.2.2 Nghiên cứu để tìm thêm các biện pháp bảo quản phòng ngừa thích hợp 84

3.2.2.1 Theo dõi sát sao sự biến động của tình hình thời tiết để tiến hành biện pháp bảo quản phòng ngừa phù hợp 84

3.2.2.2 May “áo” cho hiện vật trưng bày ngoài trời 84

3.2.2.3 Sử dụng thiết bị giúp hiện vật khô nhanh sau khi vệ sinh bằng nước 86

3.2.2.4 Sử dụng thiết bị hút bụi cầm tay 87

3.2.2.5 Tăng cường biện pháp giáo dục ý thức giữ gìn, bảo vệ hiện vật 3.2.2.6 Tuyển thêm đội ngũ tình nguyện viên phụ giúp cán bộ bảo tàng tiến hành các biện pháp bảo quản phòng ngừa 88

3.2.2.7 Giảm số lượng hiện vật trưng bày ngoài trời 89

3.2.3 Tư liệu hóa chi tiết quá trình bảo quản hiện vật bảo tàng 90

3.2.4 Tuyển dụng và đào tạo cán bộ chuyên ngành 92

KẾT LUẬN 94

PHỤ LỤC ẢNH 98

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn đến … đã nhiệt tình hướng dẫn em làm bài nghiên cứu Cảm ơn các cô chú cán bộ của Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, đặc biệt là cô …., các cô chú cán bộ Phòng Kiểm kê – Bảo quản và Phòng Trưng bày – Tuyên truyền đã cung cấp nhiều kiến thức, tư liệu và tạo điều kiện để em được trực tiếp tham gia một số hoạt động bảo quản và quan sát cán bộ bảo tàng làm việc, từ đó có thể hiểu rõ hơn về công tác bảo quản hiện vật trưng bày ngoài trời.

Sau một thời gian tìm hiểu, nghiên cứu lí thuyết và khảo sát tình hình thực

tế của vấn đề nghiên cứu, em đã thấy được vai trò của công tác bảo quản hiện vật trưng bày ngoài trời của Bảo tàng Lịch sử Quân sự, thấy được kết quả quá trình bảo quản cùng những ưu điểm và hạn chế, từ đó có những ý kiến đề xuất giải pháp giúp nâng cao hiệu quả công tác này Bài nghiên cứu của em vẫn còn một vài thiếu sót, hy vọng sẽ nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo để em có thể hoàn thiện hơn bài khóa luận của mình Em xin trân trọng cám ơn!

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, di sản văn hóa luôn có vị trí đặc biệt

vì nó chứa đựng những giá trị đại diện cho cả một dân tộc, giúp cho chúng tahiểu được về lịch sử dựng nước và giữ nước của ông cha ta, về những truyềnthống văn hóa quý báu đáng tự hào cùng nghệ thuật hết sức phong phú, đa dạngkhông chỉ tạo nên những tác phẩm nghệ thuật từ bàn tay khéo léo của con người

mà còn tạo nên những chiến công lừng lẫy trong nghệ thuật dùng binh Chính

vì vậy, những di sản văn hóa này cần được lưu giữ và bảo quản trong điều kiệnthuận lợi nhất để truyền lại cho muôn đời sau, để họ có thể hiểu về lịch sử, vềquá khứ, từ đó vun đắp tình yêu quê hương đất nước, niềm tự hào dân tộc, kếthừa những truyền thống tốt đẹp, sống có lý tưởng, có ý nghĩa vì một tương laitươi sáng hơn

Bảo quản di sản văn hóa, những hiện vật mang giá trị lịch sử, văn hóa,khoa học là nhiệm vụ khó khăn đối với bảo tàng_một thiết chế văn hóa phi lợinhuận có chức năng sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu, trưng bày, giới thiệu di sảnvăn hóa đến với công chúng Bởi lẽ các di sản này vô cùng phong phú về loạihình và chất liệu, vì thế chúng có cấu tạo và những tính chất vật lý, hóa học khácnhau Các chất liệu này lại chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố tác động nhưnhững yếu tố tự nhiên và cả những sự tác động của con người, vì vậy chúngthường được bảo quản trong một môi trường đặc biệt với nhiều trang thiết bịhiện đại để có thể tránh được sự hư hại về mặt vật lý cũng như hóa học Môitrường ấy có thể là kho cơ sở của bảo tàng, cũng có thể chính là phòng trưng bàynơi khách tham quan có thể dùng tri giác của mình cảm nhận về hiện vật Tuynhiên, có những hiện vật được trưng bày thường xuyên ở ngoài trời, nơi chịu ảnhhưởng của rất nhiều tác động mà con người khó kiểm soát hết được

Trang 7

Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam là một trong số ít những bảo tàng cóphần trưng bày ngoài trời Bảo quản hiện vật trong kho cơ sở và phần trưng bàytrong phòng vốn đã là một công việc khó, vậy những hiện vật trưng bày thườngxuyên ở ngoài trời này được các cán bộ bảo tàng bảo quản như thế nào? Làm sao

để có thể ngăn ngừa được tối đa các tác động đến với hiện vật, giúp cho hiện vật

có thể tồn tại được lâu bền nhất? Đây chính là vấn đề hết sức khó khăn, phức tạp

và bức thiết của bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam nói riêng, của các bảo tàngquân đội nói chung Chính vì vậy, em đã lựa chọn đề tài “Hoạt động bảo quảnhiện vật trong phần trưng bày ngoài trời tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự ViệtNam”

2 Lịch sử nghiên cứu

Nhắc đến Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, đã có rất nhiều công trìnhnghiên cứu về các hoạt động nghiệp vụ của bảo tàng như “Tìm hiểu công tácnghiên cứu khai thác sử dụng hiện vật bảo tàng ở kho Bảo tàng Quân đội” củasinh viên Phạm Minh Trâm, “Công tác hướng dẫn khách tham quan của ViệnBảo tàng Quân đội sau những năm đổi mới 1986 – 2001” của sinh viên Trịnh ThịHồng Tuyết, “Tìm hiểu công tác nghiên cứu khoa học ở Bảo tàng Lịch sử Quân

sự Việt Nam” của sinh viên Đặng Thị Thu, “Công tác Marketing – Tiếp thị ởBảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam” của sinh viên Nguyễn Thị Hồng Tâm,

“Công tác trưng bày chuyên đề tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam” của sinhviên Nguyễn Thanh Hằng cùng nhiều khóa luận của những sinh viên khác

Qua việc giới thiệu về Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam cùng các khâucông tác của bảo tàng, các cuốn khóa luận này đã góp phần cụ thể hóa, thực tếhóa chuyên ngành bảo tàng để các thầy cô và các bạn sinh viên hiểu rõ hơn, biếtđược tình hình phát triển của bảo tàng hiện nay như thế nào, từ đó tích cựcnghiên cứu, học hỏi, tìm tòi, sáng tạo để ngành Bảo tàng Việt Nam phát triển.Đặc biệt về khâu công tác bảo quản, ngay từ năm 2005, Th.s Lê Hồng Vân, trước

Trang 8

kia là cán bộ chuyên về bảo quản trị liệu của bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

đã có công trình nghiên cứu “Bảo quản hiện vật chất liệu sắt trưng bày tại cácbảo tàng quân đội”, từ thực trạng bảo quản của các bảo tàng này, cô đã đề xuấtgiải pháp “mạ kẽm” để bảo quản trị liệu cho hiện vật được tốt hơn, lâu bền hơnvới thời tiết khí hậu Việt Nam

Ngoài ra còn một cuốn khóa luận tìm hiểu về “Công tác bảo quản hiện vậtkim loại ở kho cơ sở của bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam” của sinh viênNguyễn Thị Tú Công trình này đã giúp cho em cũng như nhiều bạn sinh viênbiết được tình hình hiện vật bảo tàng cũng như công tác bảo quản hiện vật chấtliệu kim loại ở kho tiến hành như thế nào, đồng thời đưa ra ý kiến đề xuất để gópphần nâng cao hiệu quả tổ chức kho bảo quản hiện vật kim loại hơn nữa Tuynhiên, chưa có một cuốn sách hay tài liệu khoa học nào viết về công tác bảoquản hiện vật trưng bày ngoài trời của Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.Chính vì vậy, đây cũng chính là một trong những lý do khiến em muốn tìm hiểu

về đề tài này

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu quá trình bảo quản hiện vật trong phần trưng bày ngoài trời tạiBảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, từ đó đề xuất các ý kiến nhằm giải quyếtnhững vấn đề cấp thiết liên quan và nâng cao hiệu quả của công tác bảo quảnhiện vật trưng bày ngoài trời của bảo tàng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận chủ yếu giới thiệu về hiện vật trưngbày ngoài trời của bảo tàng, trong đó đối tượng chính là những hiện vật chất liệukim loại do chịu nhiều tác động của môi trường nhất cùng những biện pháp bảoquản hiện vật

Phạm vi nghiên cứu của khóa luận là toàn bộ quá trình bảo quản hệ thốnghiện vật trưng bày ngoài trời, đặc biệt là công tác bảo quản trị liệu từ khi bảo

Trang 9

tàng thành lập (tháng 12/1959) đến nay, trong đó chủ yếu là từ năm 1974 đếnđầu tháng 12/2016.

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu là quan sát, thống kê, phân loại hệ thống hiệnvật trưng bày ngoài trời của bảo tàng

- Phương pháp chủ nghĩa duy vật biện chứng kết hợp với phân tích, tổnghợp số liệu, tài liệu nhằm kế thừa những tri thức đã có về bảo quản hiện vật vàgiải quyết vấn đề của khóa luận

6 Đóng góp của khóa luận.

Khóa luận này đóng góp một số giải pháp bảo quản phòng ngừa cho hệthống hiện vật trưng bày ngoài trời, nâng cao kết quả hoạt động bảo quản hiệnvật và đề xuất một số hoạt động dịch vụ nhằm tăng cường sự trải nghiệm củakhách tham quan về hoạt động bảo quản hiện vật tại bảo tàng

7 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, khóa luận được bố cụcgồm 3 chương:

- Chương 1: Khái quát về Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam và hệ thốnghiện vật trưng bày ngoài trời

- Chương 2: Quá trình bảo quản hiện vật trong phần trưng bày ngoài trờicủa Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

- Chương 3: Kết quả quá trình bảo quản và đề xuất một số giải pháp nhằmnâng cao hơn nữa hiệu quả công tác bảo quản hiện vật trưng bày ngoài trờicủa Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

Trang 10

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ BẢO TÀNG LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM VÀ NỘI DUNG PHẦN TRƯNG BÀY NGOÀI TRỜI TẠI BẢO TÀNG 1.1 Khái niệm “bảo tàng”, “hiện vật bảo tàng”, và “hiện vật trưng bày của bảo tàng”

1.1.1 Khái niệm “bảo tàng”

Bảo tàng có lịch sử từ lâu đời nhưng khi ấy bảo tàng mới chỉ tồn tại dướihình thức sơ khai Đó là những căn phòng, những ngôi nhà cất giữ báu vật củaloài người mà chủ yếu là tầng lớp thống trị với mục đích phô trương thanh thế vàbiểu thị uy quyền

Thuật ngữ “bảo tàng” lần đầu tiên được sử dụng với nghĩa hiện đại là ởnước Anh khi bảo tàng Asmolean được khánh thành mở cửa phục vụ côngchúng: “Bảo tàng là một cơ quan thu thập tư liệu hóa, giữ gìn, trưng bày, giớithiệu những bằng chứng vật chất và những thông tin liên quan vì lợi ích của côngchúng”.1

Từ đó đến nay, trên thế giới, bảo tàng không ngừng phát triển về mặt sốlượng, chất lượng với những loại và loại hình phong phú, đa dạng khác nhau.Các nhà khoa học cũng bắt đầu nghiên cứu về lĩnh vực bảo tàng và có nhữngkhái niệm riêng về bảo tàng ở mỗi quốc gia

Trước hết là ở Pháp, giới học giả bảo tàng khẳng định: “Bảo tàng là cơquan không thay đổi được xây dựng vì quyền lợi của xã hội để gìn giữ, quản lý

và tổ chức hội thảo khoa học, tuyên truyền và phát triển không ngừng nhữngnhân tố quý báu của văn hóa”.2

Với cách tiếp cận mới về Bảo tàng học, các nhà bảo tàng học của Cộnghòa Liên bang Nga đã đưa ra khái niệm như sau: “Bảo tàng là thiết chế đa chức

1 Timothy Ambrose và Crípin Paine, Cơ sở bảo tàng, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (nay là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam) dịch và xuất bản (2000), tr30.

2 TaTiaNa.S.N (1972), Những vấn đề cơ bản của bảo tàng học, Nxb Sophia, tr 36 (tài liệu dịch)

Trang 11

năng được hình thành một cách lịch sử của ký ức xã hội, nhờ đó thực hiện đượcnhu cầu xã hội về tuyển chọn, bảo quản và miêu tả nhóm đặc biệt các đối tượngvăn hóa và tự nhiên, được xã hội công nhận là một giá trị được kế truyền từ thế

hệ này qua thế hệ khác”3

Hội Bảo tàng của Mỹ nêu khái niệm về bảo tàng một cách chi tiết hơn:

“Bảo tàng là một thiết chế (cơ quan) được thành lập hoạt động lâu dài và không

có lợi nhuận, không chỉ nhằm mục đích thực hiện các trưng bày đương đại, đượcmiễn thuế thu nhập quốc gia và liên bang, mở cửa đón công chúng và hoạt độngtheo hướng quan tâm của công chúng Có mục đích bảo quản và bảo tồn, nghiêncứu, giới thiệu, tập hợp và trưng bày có hướng dẫn phục vụ nhu cầu thưởng thứccủa người xem Những hiện vật trưng bày phải có giá trị văn hóa giáo dục, baogồm những tác phẩm nghệ thuật, những công trình khoa học (cả những hiện vậtsống, hiện vật vô tri, vô giác), những hiện vật lịch sử và hiện vật khoa học ứngdụng (tư liệu lịch sử và kỹ thuật) Do vậy các bảo tàng còn bao gồm cả các vườnthực vật, các vườn thú, những khu thủy sinh, những đài thiên văn, cung điện, ditích lịch sử và di chỉ đáp ứng được những yêu cầu nêu ra ở trên” 4

Sự phát triển không ngừng của các bảo tàng và đội ngũ cán bộ bảo tàngtrên thế giới đã dẫn đến nhu cầu ra đời của một tổ chức lãnh đạo chung cho toànthế giới về lĩnh vực bảo tàng Năm 1946, Hội đồng Bảo tàng Quốc tế(Internaltional Council of Museum – ICOM) được thành lập Đây là tổ chức phichính phủ của những người làm công tác bảo tàng trên toàn thế giới, với mụctiêu cao cả là thúc đẩy sự phát triển khoa học bảo tàng và những vấn đề liên quanđến công tác quản lý và hoạt động bảo tàng; tạo điều kiện cho các bảo tàng vànhững người làm công tác bảo tàng trên thế giới trao đổi và hợp tác nghề nghiệp;phổ biến kiến thức và nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo tàng; đào tạo cán

3 Kaulen.M.E (chủ biên) (2006), Sự nghiệp bảo tàng của nước Nga, Cục Di sản văn hóa xuất bản, tr229 (tài liệu

dịch).

4 Timothy Ambrose và Crípin Paine, Cơ sở bảo tàng, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (nay là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam) dịch và xuất bản (2000), tr32.

Trang 12

bộ; bảo tồn di sản văn hoá và đấu tranh chống buôn bán trái phép tài sản vănhoá… ICOM cũng là cơ quan tư vấn của UNESCO và giúp đỡ thực hiện cácchương trình về bảo tàng của tổ chức này Khái niệm “bảo tàng” của ICOM đượcthông qua vào tháng 10/2004 như sau: “Bảo tàng là một thiết chế phi lợi nhuận,hoạt động thường xuyên, mở cửa đón công chúng đến xem, phục vụ cho xã hội

và sự phát triển của xã hội Bảo tàng sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu thông tin vàtrưng bày các bằng chứng vật thể và phi vật thể về con người và môi trường củacon người vì mục đích nghiên cứu, giáo dục và thưởng thức”5 Đây là một kháiniệm chuẩn về “bảo tàng” của ICOM Khái niệm này phản ánh được đối tượngcủa bảo tàng bao gồm cả di sản vật thể và di sản phi vật thể về con người và môitrường, bổ sung mới về chức năng cho bảo tàng Đó là phục vụ công chúng, phục

vụ xã hội và sự phát triển của xã hội, không lấy lợi nhuận làm mục đích, bảotàng phải thực hiện chức năng nghiên cứu giáo dục và thưởng thức của côngchúng

Ở Việt Nam nhiều năm trước đây chủ yếu vận dụng khái niệm “bảo tàng”

và “bảo tàng học” của Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu vào thực tiễn sựnghiệp bảo tàng, nhưng đến nay, khái niệm về bảo tàng ở nước ta lần đầu tiênđược khẳng định và ghi trong Luật Di sản văn hóa như sau: “Bảo tàng là thiếtchế văn hóa có chức năng sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu, trưng bày, giới thiệu

di sản văn hóa, bằng chứng vật chất về thiên nhiên, con người và môi trườngsống của con người nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, học tập, tham quan vàhưởng thụ văn hóa của công chúng”6

Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau về “bảo tàng” nhưng chúng đều cómột số điểm chung Đó là bảo tàng là một thiết chế văn hóa đặc thù, một cơ quanvăn hóa, khoa học và giáo dục Đối tượng nghiên cứu, giới thiệu của bảo tàng là

5 Hội đồng Bảo tàng Quốc tế, Lịch sử và quy tắc đạo đức bảo tàng, Cục Di sản Văn hóa dịch và xuất bản (2005), tr113.

6 Luật Di sản văn hóa được sửa đổi, bổ sung năm 2009, Nxb Chính trị quốc gia.

Trang 13

những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể cùng môi trường tồn tại xung quanhcon người Các hoạt động của bảo tàng là nghiên cứu, sưu tầm, thu thập, bảoquản, giữ gìn và trưng bày giới thiệu các sưu tập hiện vật về lịch sử tự nhiên, xãhội và thông tin của sưu tập cho công chúng.7

Ngày nay, trong xu thế hội nhập và phát triển đang diễn ra sự phát triểnmạnh mẽ của tri thức khoa học, bảo tàng ngày càng khẳng định được vị thế củamình trong sự phát triển của xã hội Bảo tàng phải là một thiết chế phi lợi nhuận,bao giờ cũng phục vụ lợi ích của công chúng là chính Ngoài ra, bảo tàng vẫncung cấp các loại dịch vụ mà người tiêu dùng có nhu cầu sẽ mua bằng tiền

1.1.2 Khái niệm “hiện vật bảo tàng”

Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, bảo tàng tồn tại như một thiết chế vănhóa, khoa học và giáo dục quan trọng Bởi vậy các chuyên gia, các nhà bảo tànghọc đã không ngừng nghiên cứu nhằm hoàn thiện các khái niệm cơ bản về lĩnhvực “bảo tàng học” và củng cố vị trí của “bảo tàng học” trong hệ thống các khoahọc nhân văn hiện đại

Ngay từ thế kỷ XVII, những “hiện vật bảo tàng” đã sớm được quan tâm.Trong cuốn “Bảo tàng học miêu tả”, ông Maior có viết: “Hiện vật bảo tàng phải

là hiện vật nằm trong các bảo tàng và nó được gìn giữ lâu dài như những hiện vậtchân chính có thật lấy từ cuộc sống hiện tại của nó, hiện vật bảo tàng phải lànhững hiện vật mang tính quý hiếm”8

Sau đó hai giáo sư V Levukin (người Đức) và K.G.Kherbơst (người Liên

Xô cũ) đã viết: “Hiện vật bảo tàng là hiện vật mang giá trị bảo tàng được lấy ra

từ thế giới đồ vật trong hiện thực khách quan, nó được sắp xếp vào các sưu tậpbảo tàng để tổ chức việc bảo quản và sử dụng thuận tiện, lâu dài Hiện vật bảotàng là vật mang thông tin xã hội hoặc thông tin khoa học, là nguồn sử liệu quantrọng cung cấp những tri thức cần thiết về tự nhiên, xã hội và về con người cho

7 PGS.TS.Nguyễn Thị Huệ (chủ biên) (2010), Cơ sở Bảo tàng học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội

8 TS Nguyễn Thị Huệ (2002), Nghiên cứu nguồn sử liệu hiện vật bảo tàng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr12.

Trang 14

những ai tiếp cận với nó Hiện vật bảo tàng nào cũng chứa đựng một giá trị lịch

sử văn hóa nhất định, vì thế, nó là một bộ phận của di sản văn hóa dân tộc

Cho đến nay, đã có rất nhiều nhà nghiên cứu và chuyên gia bảo tàng họcđưa ra khái niệm về “hiện vật bảo tàng”, trong đó có một số chuyên gia về bảotàng học của Việt Nam Trước hết là tập thể giảng viên khoa Bảo tàng (nay làkhoa Di sản Văn hóa), trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã định nghĩa “hiện vậtbảo tàng” như sau: “Hiện vật bảo tàng là nguồn nhận thức trực tiếp cảm tính chonhận thức của con người, tiêu biểu về văn hóa vật chất và tinh thần do con ngườisáng tạo ra trong quá trình lịch sử cùng những hiện vật về thế giới tự nhiên xungquanh ta, bản thân nó chứng minh cho một sự kiện, hiện tượng nhất định nào đótrong quá trình phát triển của xã hội và tự nhiên phù hợp với loại hình bảo tàngđược sưu tầm, bảo quản nhằm phục vụ cho nghiên cứu và giáo dục khoa học”9.Trong cuốn “Nghiên cứu nguồn sử liệu hiện vật bảo tàng” của nhà xuất bảnChính trị Quốc gia, Hà Nội năm 2005, Khi nghiên cứu sâu về hiện vật bảo tàng,tác giả TS Nguyễn Thị Huệ cũng đưa ra khái niệm về “hiện vật bảo tàng” nhưsau: “Hiện vật bảo tàng là những hiện vật gốc mang giá trị và thuộc tính của hiệnvật bảo tàng, có hồ sơ khoa học – pháp lý kèm theo, phù hợp với nội dung vàloại hình của bảo tàng, chúng được gìn giữ và bảo quản lâu dài để phục vụ chonhững hoạt động và chức năng xã hội của bảo tàng”10

1.1.3 Khái niệm “hiện vật trưng bày của bảo tàng”

Trước khi nói về “hiện vật trưng bày của bảo tàng, ta phải hiểu rõ kháiniệm “trưng bày bảo tàng” Trước hết, “trưng bày” là hoạt động sáng tạo để giớithiệu hiện vật nhằm mục đích trao đổi một thông điệp, một ý tưởng cho ngườixem và cảm xúc Tuy nhiên, trưng bày trong lĩnh vực bảo tàng không đơn giảnnhư trưng bày hiện vật thông thường Trưng bày trong lĩnh vực bảo tàng là mộtkhâu công tác rất quan trọng, là khâu tiếp theo sau công tác bảo quản hiện vật

9 PGS.TS Nguyễn Thị Huệ (chủ biên) (1990), Cơ sở Bảo tàng học tập 1, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr81.

10 PGS.TS Nguyễn Thị Huệ (2002), Nghiên cứu nguồn sử liệu hiện vật bảo tàng, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 15

bảo tàng, là ngôn ngữ đặc trưng, là phương thức chủ yếu để bảo tàng thực hiệncông năng xã hội của mình “Trưng bày bảo tàng” là sự giới thiệu hiện vật bảotàng có mục đích mà hiện vật đó tương ứng với loại hình bảo tàng, được lựachọn và giải thích trong sự tương ứng với chủ đề đã đưa ra trên cơ sở khoa họcnhất định nhằm giúp người xem cảm nhận và tự rút ra nhận thức khoa học Côngtác này vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật Vậy “hiện vật trưngbày của bảo tàng” có gì khác với “hiện vật bảo tàng”?

Trong cuốn “Cơ sở Bảo tàng học” có viết: “Hiện vật trưng bày của bảotàng là sự tổng hợp toàn bộ các loại hiện vật được sử dụng trong phần trưng bàycủa bảo tàng để chứng minh và giải thích cho đề tài trưng bày”.11 Hiện vật trưngbày của bảo tàng được chia làm hai loại: hiện vật bảo tàng và hiện vật do bảotàng làm ra Nhóm hiện vật do bảo tàng làm ra không phải hiện vật gốc mà chỉ

có tác dụng hỗ trợ cho việc nhận thức hiện vật gốc và sưu tập hiện vật gốc có giátrị bảo tàng Nhóm hiện vật bảo tàng giữ vai trò chủ đạo trong trưng bày của bảotàng Nhóm hiện vật do bảo tàng làm ra chỉ có vai trò trung gian hỗ trợ cho nhómhiện vật bảo tàng trên hệ thống trưng bày

Việc phân chia hiện vật trưng bày của bảo tàng thành hai nhóm trên nhằmmục đích phân biệt rõ ràng, tránh sự nhầm lẫn về vai trò, chức năng của từngnhóm hiện vật tham gia vào trưng bày, đồng thời phân biệt rõ ràng tính vật thậtcủa hiện vật gốc với tính trực quan của nhóm hiện vật do bảo tàng làm ra phục

vụ cho trưng bày trong bảo tàng

1.2 Giới thiệu chung về các khâu công tác của bảo tàng và hoạt động trong công tác bảo quản hiện vật bảo tàng

1.2.1 Các khâu công tác của bảo tàng

Để thực hiện được những chức năng xã hội của mình như nghiên cứu khoa

11 PGS.TS Nguyễn Thị Huệ (chủ biên) (1990), Cơ sở Bảo tàng học tập 1, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr181.

Trang 16

học, giáo dục – tuyên truyền, bảo quản di sản văn hóa, chức năng thông tin, giảitrí và thưởng thức, tài liệu hóa khoa học, hoạt động của bảo tàng phải có 6 khâucông tác nghiệp vụ sau đây: công tác nghiên cứu khoa học, công tác sưu tầmhiện vật bảo tàng, công tác kiểm kê hiện vật bảo tàng, công tác tổ chức kho - bảoquản hiện vật bảo tàng, công tác trưng bày hiện vật bảo tàng và công tác giáodục của bảo tàng.

1.2.1.1 Công tác nghiên cứu khoa họcTrong các bảo tàng, công tác nghiên cứu khoa học là hoạt động nghiệp vụquan trọng, đồng thời cũng là nhiệm vụ có tính chất xuyên suốt toàn bộ hoạtđộng của bảo tàng Mọi hoạt động này đều phải dựa trên cơ sở hiện vật gốc, hiệnvật bảo tàng Công tác nghiên cứu khoa học trong bảo tàng là nghiên cứu bộ mônkhoa học tương ứng phù hợp với loại hình, nội dung và đối tượng trưng bày củabảo tàng Công tác nghiên cứu khoa học của bảo tàng thực chất là nghiên cứusưu tập hiện vật bảo tàng và những di sản văn hóa Trong quá trình hoạt độngnghiên cứu, bảo tàng khám phá ra những thông tin, tư liệu mới, xác định cácphương pháp sử dụng chúng để phục vụ cho các chức năng xã hội của bảo tàng.Công tác nghiên cứu khoa học của bảo tàng còn hướng tới nghiên cứu Bảo tànghọc – với tư cách là một bộ môn khoa học xã hội để đóng góp những vấn đề lýluận cho bảo tàng

1.2.1.2 Công tác sưu tầm hiện vật bảo tàngCông tác sưu tầm hiện vật bảo tàng là khâu hoạt động mở đầu quan trọngtạo tiền đề vật chất cho toàn bộ hoạt động của bảo tàng Công tác sưu tầm hiệnvật bảo tàng là hoạt động sưu tầm thu thập những hiện vật gốc có giá trị lịch sử -văn hóa – khoa học, phù hợp với nội dung và loại hình bảo tàng và lập hồ sơ chonhững hiện vật đó Sau khi lập hồ sơ này, mỗi hiện vật hay sưu tập hiện vật phảiqua hội đồng thẩm định xét duyệt của bảo tàng mới được nhập kho và chính thứctrở thành hiện vật bảo tàng Trong bảo tàng, nếu không có hiện vật gốc, sưu tập

Trang 17

hiện vật gốc mang giá trị lịch sử - văn hóa – khoa học thì không có hoạt độngbảo tàng.

1.2.1.3 Công tác kiểm kê hiện vật bảo tàngKiểm kê hiện vật bảo tàng là khâu công tác tiếp theo sau công tác sưu tầmhiện vật bảo tàng Khâu công tác này không chỉ thống kê về số lượng mà cònkiểm tra cả chất lượng hiện vật bảo tàng qua từng năm hay trong quá trình dichuyển hiện vật Công tác kiểm kê hiện vật bảo tàng là quá trình nghiên cứu, xáclập thủ tục pháp lý, làm sáng tỏ nội dung, ý nghĩa, giá trị và tình trạng bảo quảncủa hiện vật nhằm phục vụ công tác quản lý, bảo quản, khai thác và sử dụng hiệnvật Khâu công tác này giúp cho việc trưng bày chuyên đề và hướng dẫn kháchtham quan đạt hiệu quả cao hơn

1.2.1.4 Công tác tổ chức kho - bảo quản hiện vật bảo tàng (gọi tắt làcông tác bảo quản hiện vật bảo tàng)

Công tác bảo quản hiện vật bảo tàng là khâu công tác tiếp theo của côngtác kiểm kê hiện vật bảo tàng Nó giúp cho việc lưu trữ và giữ gìn các di sản vănhóa được lâu bền nhất Trước khi đến với khái niệm “Bảo quản hiện vật bảotàng”, trước hết ta cần phải hiểu rõ khái niệm “Bảo quản hiện vật” Bảo quảnhiện vật là một ngành của khoa học tự nhiên, nghiên cứu quy luật biến đổi vềchất và lượng của những di sản văn hóa nhân loại, nhằm chống lại sự phá hoạicủa tự nhiên đối với hiện vật; ứng dụng phương pháp khoa học kỹ thuật để duytrì chất và lượng của hiện vật; chống lại sự biến đổi về chất dưới mọi hình thức;ngăn chặn và làm chậm quá trình biến đổi chất; khống chế và hạ thấp mức độbiến đổi chất; tiến hành phòng ngừa và tu sửa một cách tổng hợp những hư hỏng

và biến dạng của hiện vật

Dưới góc độ Bảo tàng học, việc “bảo quản hiện vật bảo tàng” cũng gầngiống như bảo quản hiện vật trong ngành khoa học tự nhiên Đó là việc tác độnglên hiện vật bị hư hại, bị hỏng với mục đích kéo dài tuổi thọ của hiện vật, làm

Trang 18

cho việc tìm hiểu, nghiên cứu về hiện vật trở nên dễ dàng mà vẫn tôn trọng sựtoàn vẹn của hiện vật Tuy nhiên, hiện vật bảo tàng lại lưu giữ những giá trị lịch

sử, văn hóa riêng biệt cần bảo tồn và phát huy tạo nên đặc trưng riêng và cũng làkhó khăn cho hoạt động bảo quản hiện vật bảo tàng so với hoạt động bảo quảnmột hiện vật thông thường của ngành khoa học tự nhiên Đó là sự chấp nhận vàlưu giữ những dấu ấn quá khứ của hiện vật, yếu tố xứng đáng được giữ gìn trênhiện vật, không được tùy ý thay đổi diện mạo hay chất liệu của hiện vật Nhữngvấn đề và hoạt động của công tác này sẽ được trình bày cụ thể ở những phần sau

1.2.1.5 Công tác trưng bày của bảo tàngKhái niệm về khâu công tác này đã được đề cập đến trong phần “Kháiniệm hiện vật trưng bày của bảo tàng” ở trên Có 3 loại trưng bày, đó là trưngbày cố định, trưng bày lưu động và trưng bày chuyên đề Trưng bày cố định là hệthống trưng bày của bảo tàng, nội dung phần trưng bày này chính là nội dung củabảo tàng, tại chính trụ sở của bảo tàng, thể hiện bộ mặt của bảo tàng đó Trưngbày lưu động là trưng bày giới thiệu hiện vật bảo tàng với nội dung phù hợp vớichức năng, nhiệm vụ của bảo tàng nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, giáo dục,tham quan và hưởng thụ văn hóa của nhân dân ở ngoài trụ sở của bảo tàng.Trưng bày chuyên đề là những cuộc trưng bày tại bảo tàng, trên cơ sở những sưutập hiện vật của bảo tàng mà thường phần trưng bày cố định không truyền tải hếthoặc những tài liệu mới do kết quả của những đợt sưu tầm khai quật Những đợttrưng bày này chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định Trong bảo tàng, công táctrưng bày có một vị trí rất quan trọng nhằm thực hiện sự giao tiếp của bảo tàngvới xã hội, là cầu nối giữa hiện vật bảo tàng với công chúng, là nơi để côngchúng cảm nhận, thưởng thức các giá trị văn hóa của bảo tàng

1.2.1.6 Công tác giáo dục của bảo tàngCông tác giáo dục của bảo tàng là khâu tiếp theo sau công tác trưng bàyhiện vật bảo tàng Công tác giáo dục của bảo tàng là hoạt động lấy tài liệu hiện

Trang 19

vật gốc làm phương tiện chuyển giao có mục đích những thông tin, tri thức khoahọc, đạo đức và thẩm mỹ cho công chúng Không giống với các cơ quan tuyêntruyền giáo dục khác như nhà văn hóa, thư viện, phát thanh, truyền hình, bảotàng thực hiện công tác giáo dục, tuyên truyền bằng phương pháp trực quan sinhđộng thông qua trưng bày các hiện vật gốc, sưu tập hiện vật gốc và các chươngtrình giáo dục Để thực hiện công tác này, bảo tàng tổ chức hướng dẫn thamquan, in ấn, xuất bản phẩm, tuyên truyền quảng bá hình ảnh bảo tàng trên cácphương tiện thông tin đại chúng

Nhận xét: 6 khâu công tác này có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ với nhau,tác động, ảnh hưởng lẫn nhau, không tách rời nhau và tạo thành một thể thốngnhất, hoạt động theo một chu trình hệ thống khoa học của bảo tàng trên cơ sởhiện vật gốc Kết quả hoạt động của khâu công tác nghiệp vụ trước sẽ tạo tiền đềcho khâu nghiệp vụ sau hoạt động có hiệu quả Chính vì vậy trong hoạt động củamỗi bảo tàng cần hết sức coi trọng tính hệ thống – khoa học của các khâu côngtác nghiệp vụ này, tránh làm tắt, thiếu khoa học của từng khâu nghiệp vụ này

1.2.2 Các hoạt động của công tác bảo quản hiện vật bảo tàng

Như đã trình bày ở trên, bảo quản hiện vật bảo tàng là tập hợp tất cả cácbiện pháp và tác động được thực hiện để bảo vệ các hiện vật bảo tàng mà vẫnđảm bảo khả năng tiếp cận đến các hiện vật này cho các thế hệ hiện tại và tươnglai Việc bảo quản này bao gồm các hoạt động tổ chức kho, bảo quản phòngngừa, bảo quản trị liệu Tất cả các tác động này đều phải tôn trọng dấu hiệu vàđặc tính vật lý của di sản văn hóa Thêm vào đó, các hoạt động trên đều phải đikèm với hoạt động tư liệu hóa quá trình bảo quản

1.2.2.1 Tổ chức kho bảo quảnKho bảo tàng là nơi bảo quản hiện vật bảo tàng cùng với tài liệu khoa họcphụ liên quan, thường xuyên được sưu tầm, bổ sung, giữ gìn bằng các phương

Trang 20

pháp khoa học nhằm bảo tồn hiện vật lâu dài và tạo điều kiện thuận lợi cho côngtác khai thác và sử dụng hiện vật.

Tổ chức kho bảo tàng là việc chấn chỉnh, củng cố, hệ thống hóa những bộphận, những công việc của kho làm cho kho trở thành một chỉnh thể có chứcnăng chung là bảo quản và phát huy tác dụng hiện vật

1.2.2.2 Bảo quản phòng ngừaBảo quản phòng ngừa là tập hợp tất cả các biện pháp và tác động đến hiệnvật với mục đích tránh và giảm thiểu các hư hại hay mất mát trong tương lai.Cho dù niên đại hay tình trạng của di sản như thế nào thì các biện pháp và tácđộng đó được ghi nhận/thực hiện trong bối cảnh và môi trường của một di sảnhay một nhóm các di sản văn hóa vật thể Các biện pháp và tác động này là giántiếp, không tác động trực tiếp vào chất liệu và cấu trúc di sản Chúng không làmthay đổi mặt ngoài của di sản

Phạm vi của bảo quản phòng ngừa là một quá trình tiếp cận toàn diện từviệc ngăn ngừa các yếu tố tự nhiên, con người, các loài sinh vật phá hoại, từ việcxem xét các bộ sưu tập đến việc cầm nắm, vận chuyển, trưng bày, sửa chữa nhàbảo tàng, kho bảo quản, phòng trưng bày,

Bảo quản phòng ngừa là một nhiệm vụ mang tầm chiến lược trong cácmục đích đầu tiên của bảo tàng, đòi hỏi phải có kế hoạch cụ thể trước khi thựchiện vì lợi ích lâu dài của bảo tàng

1.2.2.3 Bảo quản trị liệuBảo quản trị liệu (hay còn gọi là bảo quản xử lý) là việc sử dụng các vậtliệu ngoài chất liệu hiện vật gốc, các dung môi, các dụng cụ tác động vào hiệnvật nhằm mục đích làm ổn định những hư hỏng đã và đang xảy ra để kéo dài tuổithọ cho hiện vật, hoặc làm tăng cường cấu trúc của hiện vật

Công việc bảo quản trị liệu không phải lúc nào cũng mang lại thành công

mà luôn có những rủi ro thường trực trong quá trình thực hiện Đó cũng là lý do

Trang 21

trong vài thập kỷ trở lại đây, bảo quản phòng ngừa đã được nghiên cứu và ứngdụng có hiệu quả ở nhiều bảo tàng trên thế giới Nói như vậy không có nghĩa làchúng ta không áp dụng bảo quản trị liệu cho các hiện vật bảo tàng Trong nhiềutrường hợp, bảo quản trị liệu vẫn là biện pháp tối ưu.

Phạm vi của bảo quản trị liệu bao gồm các công việc như: làm sạch hiệnvật, diệt côn trùng, làm ngừng và ổn định những hư hỏng đang xảy ra, tu sửa,phục chế Phục chế hiện vật là tập hợp các tác động trực tiếp lên hiện vật, đơn lẻ

và tình trạng ổn định với mục đích cải thiện việc đánh giá, hiểu biết về côngdụng của hiện vật Các tác động chỉ được thực hiện khi hiện vật bị mất đi mộtphần dấu hiệu hay bị hư hỏng hoặc sự tu sửa trước đó không phù hợp Các biệnpháp và tác động này được thực hiện dựa trên sự tôn trọng chất liệu gốc Thôngthường, loại tác động này làm thay đổi bề mặt của hiện vật

Đối tượng của bảo quản trị liệu là những hiện vật đã và đang xảy ra hư hại

mà bảo quản phòng ngừa không thể hạn chế được hoặc những hiện vật đã xảy ra

hư hại khi mới đưa về bảo tàng Đối tượng này bao gồm:

- Những hiện vật có nhược điểm cố hữu, các phương pháp bảo quản phòngngừa không đủ để giảm tỉ lệ hư hại xuống mức có thể chấp nhận được

- Những đồ vật đã bị hư hỏng rất dễ vỡ, dễ tiếp tục bị ăn mòn, áp dụng bảoquản trị liệu thích hợp có thể làm tăng sự ổn định và tính lâu bền của hiện vật

đó Bảo quản trị liệu có thể làm ổn định những vết nứt, giữ cho chúng khôngtiếp tục bị nứt nhiều hơn nữa

- Hiện vật chuẩn bị được đưa ra trưng bày, triển lãm, nghiên cứu, các nhànghiên cứu yêu cầu thì việc bảo quản trị liệu sẽ được thực hiện

Hiện vật không hoàn thiện, nhưng do yêu cầu nghiên cứu, trưng bày cầnphải tu sửa, phục chế toàn phần hay toàn bộ hiện vật Công việc phục chế thườngđược áp dụng nhiều đối với hiện vật khảo cổ học

1.2.3 Nhiệm vụ và quyền hạn của cán bộ bảo quản

Trang 22

Trong Quy định về Tiêu chuẩn, trách nhiệm của cán bộ và người thựchành bảo quản hiện vật bảo tàng ( Ban hành kèm theo Quyết định số:47/2008/QĐ-BVHTTDL ngày 3/7/2008 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và

Du lịch) có ghi:

- Nghiên cứu, lập kế hoạch dài hạn, ngắn hạn bảo quản, tu sửa, phục chế tàiliệu, hiện vật trình Giám đốc bảo tàng phê duyệt và chịu trách nhiệm trướccác cấp có thẩm quyền về các phương án bảo quản hiện vật bảo tàng Tổchức thực hiện sau khi được phê duyệt

- Nghiên cứu, xây dựng các tiêu chuẩn về thông số môi trường kho bảoquản, đảm bảo an toàn cho hiện vật; kiểm tra, giám sát việc vận hành cácthiết bị máy móc kiểm soát môi trường đạt các tiêu chuẩn đã đặt ra; kiểmtra, theo dõi tình trạng tài liệu, hiện vật trong hệ thống kho, hệ thống trưngbày và thực hiện bảo quản trị liệu khi cần thiết

- Nghiên cứu, đề xuất các biện pháp kỹ thuật và thực hiện việc khử trùng,phòng chống mối mọt, côn trùng, vi sinh vật gây hại trong hệ thống khobảo quản, hệ thống trưng bày và toàn cơ quan;

- Nghiên cứu, xây dựng các quy trình bảo quản tài liệu, hiện vật đảm bảonguyên tắc bảo quản hiện vật bảo tàng và các quy định về ứng xử với hiệnvật theo phong tục, tập quán và tín ngưỡng có liên quan

- Đề xuất ý kiến và giám sát việc thực hiện các vấn đề bảo quản tài liệu,hiện vật liên quan đến thiết kế bảo tàng, thiết kế trưng bày, vật liệu và thiết

bị trưng bày, lưu giữ bảo quản, làm bản sao, bản dập, đóng gói và dichuyển tài liệu hiện vật

- Hướng dẫn và kiểm soát hoạt động của các cán bộ, nhân viên khác trongbảo tàng khi tiếp xúc với hiện vật bảo tàng

Trang 23

- Luôn học hỏi, nâng cao trình độ nghiệp vụ, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm,biện pháp kỹ thuật bảo quản với đồng nghiệp trong bảo tàng và trongngành.

- Được hưởng các chế độ, chính sách có liên quan đến nghề nghiệp theo quyđịnh của Nhà nước

1.3 Khái quát về Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

1.3.1 Quá trình hình thành và phát triển

Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam ở tại 28A đường Điện Biên Phủ,quận Ba Đình, thành phố Hà Nội Nơi đây lưu giữ, trưng bày những hình ảnh,hiện vật, tài liệu phản ánh về lịch sử quân sự Việt Nam từ buổi đầu dựng nướccho đến ngày nay Trải qua 60 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành(17/7/1956 – 17/7/2016), bảo tàng đã làm tốt nhiệm vụ của một thiết chế văn hóatrong quân đội, một bộ phận quan trọng trong hệ thống tổ chức công tác Đảng,công tác chính trị của Quân đội nhân dân Việt Nam, một cơ quan đầu ngànhnghiệp vụ của hệ thống bảo tàng toàn quân

*Hoàn cảnh ra đời của bảo tàng:

Sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, Hiệpđịnh Giơ-ne-vơ được ký kết (tháng 7/1954), miền Bắc nước ta hoàn toàn đượcgiải phóng, song miền Nam còn tạm thời do đối phương kiểm soát Quân độinhân dân Việt Nam bước vào thời kỳ xây dựng, từng bước tiến lên chính quy,hiện đại để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Nhằmphát huy truyền thống đánh giặc, giữ nước của dân tộc, phát huy bản chất “bộđội cụ Hồ” và để tăng cường công tác Đảng, công tác chính trị trong quân đội,cuối năm 1954, Tổng quân ủy đã có chủ trương xây dựng bảo tàng quân đội

Thực hiện chủ trương của Tổng quân ủy, Tổng cục Chính trị chỉ đạo cácđơn vị tập hợp tài liệu, hiện vật, hình ảnh để xây dựng bảo tàng và nhà truyềnthống Trên cơ sở những hình ảnh và hiện vật thu thập được, một cuộc triển lãm

Trang 24

lớn được tổ chức tại thủ đô Hà Nội để chào mừng kỷ niệm 10 năm cách mạngtháng Tám và Quốc khánh (2/9/1945 – 2/9/1955) Đó là triển lãm “hình ảnhchiến đấu và trưởng thành của Quân đội Nhân dân Việt Nam” Đầu năm 1956,

đề án xây dựng Bảo tàng Quân đội được trình lên Tổng quân ủy Để thực hiện đề

án này, ngày 1/7/1956, Tổng cục chính trị có quyết định số 14/QĐ thành lập BanXây dựng Bảo tàng Quân đội trực thuộc Cục Tuyên huấn Ngày này trở thànhNgày truyền thống của Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam Ngày 12/12/1959,Bảo tàng vinh dự đón Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhànước đến duyệt lần cuối và cho phép khai trương ngày 22/12/1959, nhân kỷ niệm

15 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam

Quá trình hình thành và phát triển của Bảo tàng Lịch sử Quân sự ViệtNam (khi mới thành lập là Bảo tàng Quân đội) đến nay đã được 60 năm, trải qua

Trang 25

Năm 2015, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam được Thủ tướng Chínhphủ tặng thưởng Huân chương Bảo vệ Tổ Quốc hạng nhất của Bộ Văn hóa, Thểthao và Du lịch tặng Cờ thi đua.

1.3.2 Đặc trưng, chức năng và cơ cấu tổ chức của bảo tàng

1.3.2.1 Đặc trưngĐặc trưng của Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam là lưu giữ, trưng bàynhững hình ảnh, hiện vật, tài liệu phản ánh về các cuộc chiến đấu chống giặcngoại xâm của dân tộc Việt Nam từ buổi đầu dựng nước cho đến ngày nay Đặctrưng này thể hiện sự khác biệt so với các bảo tàng cùng trưng bày về lĩnh vựcquân sự như Bảo tàng Chiến thắng B52, Bảo tàng Pháo binh, Bảo tàng PhòngKhông – Không Quân Bởi Bảo tàng Chiến thắng B52 chỉ trưng bày về mộtchiến thắng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ chứ không trưng bày tất cả mọichiến thắng của dân tộc Việt Nam Còn ở các bảo tàng chuyên ngành như Bảotàng Pháo binh, Bảo tàng Phòng không – Không quân, lại chỉ trưng bày riêng

về một binh chủng trong lĩnh vực quân sự

Một trong những điểm nổi bật của Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam làkhông chỉ trưng bày và giới thiệu về quá trình chiến đấu và chiến thắng của quândân ta mà còn tham gia công tác bảo tồn các di tích lịch sử gắn với các cuộckháng chiến của dân tộc

1.3.2.2 Chức năngCũng giống như nhiều bảo tàng khác ở Việt Nam và trên thế giới, Bảotàng Lịch sử Quân sự Việt Nam có 5 chức năng xã hội, đó là: nghiên cứu khoahọc, giáo dục tuyên truyền, bảo quản di sản văn hóa, tư liệu hóa và thông tin, giảitrí

- Chức năng nghiên cứu khoa học:

Trong cuốn Cơ sở Bảo tàng học do PGS.TS Nguyễn Thị Huệ làm chủ biên cóviết: “Bảo tàng thực hiện chức năng nghiên cứu khoa học – một trong những

Trang 26

chức năng cơ bản quan trọng nhất, nó có vai trò, ý nghĩa to lớn đối với bảo tàng,đồng thời là tiền đề, là cơ sở cho mọi hoạt động của bảo tàng” Chức năng đóđược thực hiện ở khâu công tác nghiên cứu khoa học của bảo tàng Các cán bộnghiên cứu nhận biết các tri thức mới dựa trên những sưu tập hiện vật bảo tàng

và mọi thông tin liên quan đến những sưu tập hiện vật đó Trên cơ sở nghiên cứucác sưu tập hiện vật của bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam và các bảo tàngkhác trong Hệ thống bảo tàng Quân đội, các cán bộ thuộc phòng Nghiên cứu –Sưu tầm hiện vật bảo tàng đã cho ra đời 10 tác phẩm là 10 cuốn sách với nhữngcâu chuyện, những bức ảnh về kỷ vật, về những người lính, những bà mẹ ViệtNam anh hùng, những bức tranh cổ động và sách viết về chính Bảo tàng Lịch sửQuân sự Việt Nam Với việc nghiên cứu và xuất bản những cuốn sách trên, Bảotàng đã thực hiện khá tốt chức năng nghiên cứu khoa học của mình

- Chức năng giáo dục tuyên truyền:

Bên cạnh chức năng nghiên cứu khoa học thì một chức năng quan trọng nữakhông thể thiếu của mỗi bảo tàng, đó là chức năng giáo dục – tuyên truyền Đốitượng hướng đến của chức năng này là quần chúng nhân dân, đặc biệt là nhữngthế hệ trẻ Các tri thức về lĩnh vực quân sự, quốc phòng được cán bộ bảo tàngchuyển giao đến khách tham quan thông qua việc thuyết minh về các hiện vật vàsưu tập hiện vật của bảo tàng sẽ góp phần hình thành thế giới quan, giáo dục tưtưởng chính trị, đạo đức cách mạng, khơi gợi lòng yêu nước và niềm tự hào vềlịch sử đấu tranh bảo vệ nước hào hùng của dân tộc Việt Nam Hơn nữa thế kỷxây dựng và phát triển, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam vẫn luôn xứng đángvới lời khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lần đến thăm bảo tàng củaNgười ngày 12/12/1959: “Bảo tàng là cuốn sử sống lưu truyền mãi mãi, làtrường học tốt để giáo dục lâu dài cho các thế hệ mai sau, là nơi bạn bè quốc tếđến thăm Việt Nam sẽ xem và biết nhân dân ta đoàn kết chống ngoại xâm nhưthế nào”

Trang 27

- Chức năng bảo quản di sản văn hóa:

Bảo quản di sản Văn hóa là một trong những chức năng riêng biệt và quantrọng không thể thiếu mà xã hội giao cho bảo tàng Bởi ngoài bảo tàng vẫn cónhững thiết chế văn hóa khác có chức năng nghiên cứu, giáo dục tuyên truyền,tài liệu hóa khoa học, chức năng thông tin và giải trí nhưng chỉ có bảo tàng mới

là nơi lưu giữ và bảo quản tốt nhất những di sản văn hóa vật thể với nhiềuphương tiện, trang thiết bị khoa học kỹ thuật hiện đại, có một đội ngũ cán bộchuyên môn về bảo quản các chất liệu hiện vật theo đúng quy tắc của bảo tàng.Chức năng này đã được bảo tàng thực hiện qua khâu công tác bảo quản hiện vậtbảo tàng Và Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam đã bảo quản những hiện vật vàsưu tập hiện vật của mình khá tốt để vừa đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, thông tin

và giải trí của công chúng, vừa đáp ứng nhu cầu trưng bày thường xuyên vàtrưng bày chuyên đề của bảo tàng mỗi khi kỷ niệm sự kiện

- Chức năng tài liệu hóa khoa học:

Chức năng này của bảo tàng gọi một cách đầy đủ là chức năng tài liệu hóakhoa học những sự kiện, hiện tượng của quá trình phát triển lịch sử tự nhiên vàlịch sử xã hội bằng hiện vật gốc Để thực hiện chức năng này, bảo tàng đã nghiêncứu các sự kiện lịch sử quân sự, quốc phòng Việt Nam được bảo tàng phản ánhtrong nội dung chủ đạo của mình, tiến hành ghi chép, lập hồ sơ khoa học – pháp

lý cho các hiện vật, đồng thời phải làm đầy đủ các thủ tục, nguyên tắc bảo tànghọc cho hiện vật gốc, sưu tập gốc như đăng ký, vào sổ kiểm kê, đánh số hiện vật,xây dựng sưu tập Đồng thời, bảo tàng cũng áp dụng và ban hành các chínhsách bằng văn bản đối với hiện vật và sưu tập hiện vật để bảo tồn và phát huy giátrị một cách hiệu quả nhất

- Chức năng thông tin, giải trí và thưởng thức:

Bảo tàng là một trong những điểm đến để con người có thể sử dụng thờigian rảnh rỗi của mình một cách hiệu quả nhất Khi tham quan bảo tàng Lịch sử

Trang 28

Quân sự Việt Nam, công chúng sẽ vừa được ngắm nhìn những hiện vật, vừa tiếpnhận những thông tin cơ bản mà etiket mang lại, vừa có thể tưởng tượng, hìnhdung ra bức tranh lịch sử vừa khốc liệt, vừa hào hùng của dân tộc Thêm vào đó,công chúng còn được xem hai thước phim tư liệu về hai thắng lợi lịch sử nổitiếng của quân đội Việt Nam, đó là thắng lợi của trận Điện Biên Phủ và trậnĐiện Biên Phủ trên không Và đó quả là món quà tinh thần lý tưởng cho nhữngngười yêu lịch sử nói chung, lịch sử Việt Nam nói riêng.

1.3.2.3 Cơ cấu tổ chức của bảo tàng

Cơ cấu tổ chức của bảo tàng gồm có:

- 3 hội đồng: Hội đồng thi đua khen thưởng, Hội đồng khoa học, Hội đồngxét duyệt hiện vật nhập kho

- 4 ban: Đứng đầu là Ban giám đốc, sau đó là các ban Nghiên cứu nội dungtrưng bày, Ban tài chính và Ban thông tin điện tử

- 4 phòng công tác chuyên môn: phòng Nghiên cứu sưu tầm – Quản lýnghiệp vụ, phòng Kiểm kê – Bảo quản, phòng Trưng bày – Tuyên truyền,phòng Hành chính tổng hợp

1.3.3 Nội dung trưng bày của bảo tàng

Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam có hai phần trưng bày chính là Hệthống trưng bày trong nhà và Hệ thống trưng bày ngoài trời với tổng diện tích là4154m2

1.3.3.1 Nội dung trưng bày trong phòng

Hệ thống trưng bày trong nhà của Bảo tàng gồm có 5 phần:

Phần thứ nhất là phần mở đầu, gồm 2 đề mục

- Đề mục khánh tiết:

Đề mục này giới thiệu khái quát những mốc lịch sử lớn của cách mạngViệt Nam và Quân đội nhân dân Việt Nam, nguyên nhân trưởng thành, chiến

Trang 29

thắng, bản chất truyền thống quân đội và các phần thưởng của Đảng, Nhà nướctrao tặng Quân đội nhân dân Việt Nam

- Đề mục thứ hai là “Truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc ViệtNam”

Đề mục này trưng bày, giới thiệu một số trận đánh lớn của dân tộc ViệtNam từ khi dựng nước đến thế kỷ XVIII Thông qua những hiện vật này, kháchtham quan nhận thức được quá trình dựng nước, giữ nước mấy ngàn năm lịch sửcủa dân tộc chính là nền tảng cho chiến thắng của quân đội nhân dân Việt Namanh hùng

Phần thứ hai là “Quá trình hình thành lực lượng vũ trang cách mạng ViệtNam (1930 – 1945)” Nội dung này gồm 2 đề mục:

- Đề mục thứ nhất là “Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam ra đời (1930– 1945)”

Trong đề mục này sẽ trưng bày các tư liệu, hiện vật giới thiệu các tổ chứctiền thân của quân đội như: đội “Tự vệ đỏ” (1930 – 1931); đội “Du kích BắcSơn, Nam Kỳ” (1940); đội “Du kích Ba tơ” (3/1945) Ngày 22/12/1944, Đội ViệtNam tuyên truyền giải phóng quân ra đời, lực lượng vũ trang cả nước có sự pháttriển nhanh chóng và thống nhất về tổ chức để chuẩn bị tổng khởi nghĩa giànhchính quyền Những chiến công đầu tiên ở Phay Khắt, Nà Ngần cũng được thểhiện trong phần trưng bày này

- Đề mục thứ hai là “Lực lượng vũ trang nhân dân trong cách mạng tháng8”

Đề mục này tập trung thể hiện Lực lượng vũ trang quân đội nhân dân ViệtNam hỗ trợ lực lượng chính trị của nhân dân tiến hành tổng khởi nghĩa giữ chínhquyền trong cả nước

Phần thứ ba là “Lực lượng vũ trang nhân dân trong cuộc kháng chiến chốngPháp” (1946 – 1954) Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân

Trang 30

chủ Cộng hòa ra đời nhưng với bản chất của quân xâm lược, thực dân Phápkhông chấp nhận nền độc lập đó, chúng tiếp tục xâm lược nước ta Hòa cùngkhông khí chung của cả dân tộc, Lực lượng vũ trang dưới sự lãnh đạo của Đảng,Chính phủ, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiến hành kháng chiến 9 nămchống thực dân Pháp đầy hy sinh, gian khổ Những nội dung đó được thể hiệntrong 4 đề mục

- Đề mục thứ nhất là “Lực lượng vũ trang nhân dân (1946 – 1947)

Đề mục này giới thiệu những ngày đầu thủ đô kháng chiến, tái hiện cuộckháng chiến buổi đầu của quân dân cả nước, đánh thắng chiến lược “đánh nhanh,thắng nhanh” của địch, bảo vệ chính quyền còn non trẻ

- Đề mục thứ hai là “Lực lượng vũ trang nhân dân (1948 – 1950)

Qua đề mục này, ta thấy hình ảnh quân đội trong những năm phát triểnchiến tranh du kích, xây dựng lực lượng

- Đề mục thứ ba là “Lực lượng vũ trang nhân dân” (1951 – 1953)

Đề mục này gợi lại hình ảnh của lực lượng vũ trang nhân dân trong nhữngnăm đẩy mạng tác chiến, tập trung giành quyền chủ động trên chiến trường

- Đề mục thứ tư là “Lực lượng vũ trang nhân dân trong chiến cuộc đôngxuân (1953 – 1954) và chiến dịch Điện Biên Phủ (1954)”

Thông qua những hiện vật tiêu biểu, bảo tàng đã làm toát lên vai trò nòngcốt, sự trưởng thành vượt bậc của quân đội, đỉnh cao là chiến dịch Điện BiênPhủ, đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đi đến thắng lợi

Phần thứ tư là “Lực lượng vũ trang nhân dân trong cuộc kháng chiến chống

Mỹ cứu nước (1954 – 1975) Khí thế hào hùng của dân tộc ta trong cuộc khángchiến chống Mỹ được chia làm 4 đề mục

- Đề mục thứ nhất là “Lực lượng vũ trang nhân dân cùng toàn dân xây dựngchủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đồng thời chiến đấu chống “chiến tranh đặcbiệt” của Mỹ ở miền Nam (1954 – 1965)

Trang 31

Phần trưng bày này thể hiện sự đóng góp của lực lượng vũ trang nhân dânvào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, xây dựng quân đội từngbước chính quy, sự hỗ trợ của lực lượng du kích, tự vệ trong phong trào “ĐồngKhởi”; vai trò của quân Giải phóng – lực lượng nòng cốt cùng toàn dân đánhthắng “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ

- Đề mục thứ hai là “Lực lượng vũ trang nhân dân cùng toàn dân đánhthắng chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ (1965 – 1968)

Vấn đề bảo tàng muốn truyền tải đến công chúng qua phần trưng bày này

là vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân đánh thắng quân viễn chinh

Mỹ ở Việt Nam khi Mỹ thực hiện “chiến tranh phá hoại” lần thứ nhất ở miềnBắc Trong đề mục có chuyên đề “Đường Hồ Chí Minh” giới thiệu về lịch sửcon đường mang tên Bác, con đường huyết mạch nối liền hậu phương lớn ở miềnBắc Xã hội chủ nghĩa với tiền tuyến lớn ở miền Nam

- Đề mục thứ ba là “Lực lượng vũ trang nhân dân cùng toàn dân đánh thắngmột bước quan trọng chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và chiếntranh phá hoại lần thứ hai của Mỹ ở miền Bắc Việt Nam (1968 – 1973)”

- Đề mục thứ tư là “Lực lượng vũ trang nhân dân cùng toàn dân đánh thắnghoàn toàn chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ (1973 – 1975).Phần trưng bày này của bảo tàng nói lên vai trò của lực lượng vũ trangnhân dân trong việc trừng trị địch lấn chiếm vùng giải phóng, phát triển lựclượng trong 2 năm làm nòng cốt trong cuộc tiến công và nổi dậy năm 1975, giảiphóng miền Nam, thống nhất đất nước

Phần thứ năm là “Các hoạt động vũ trang nhân dân từ năm 1976 đến nay”.Phần này trưng bày những kỷ vật về những đứa con, bà mẹ suốt cuộc đời hy sinhcho chiến tranh kéo dài từ kháng chiến chống Pháp đến kháng chiến chống Mỹ;những tác phẩm nghệ thuật về đề tài “Chiến tranh cách mạng và lực lượng vũtrang nhân dân”

Trang 32

Kết thúc toàn bộ hệ thống trưng bày của bảo tàng là chủ đề “Tổ quốckháng chiến” Những tặng phẩm sách báo, áp phích của nhiều nước và các tổchức Quốc tế đã được trưng bày tại đây nói lên tình nghĩa bạn bè của thế giới vớinhà nước và Quân đội nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh, xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc

1.3.3.2 Nội dung trưng bày ngoài trời

Hệ thống trưng bày ngoài trời của bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam códiện tích khoảng 2000m2, trưng bày 235 hiện vật lớn phản ánh quá trình chiếnđấu, chiến thắng của dân tộc Việt Nam và những thất bại thảm hại của quân xâmlược Các hiện vật này được trưng bày ở sân trước, sân cạnh cột cờ Hà Nội vàsân sau của Bảo tàng Để phân loại các hiện vật này, có thể dùng tiêu chí phânloại theo loại hình hoặc theo chất liệu

*Theo loại hình, có thể chia các hiện vật này thành các loại sau:

- Sưu tập Bom: 40 hiện vật, chiếm khoảng 17% tổng số hiện vật trưng bàyngoài trời, bao gồm:

Trang 33

+ 1 Vỏ bom CBU 24B/B (không có bom con)

+ 1 Vỏ bom CBU 24B/B (có 248 bom con được phục chế)

+ 1 Vỏ bom CBU 24C/B

+ 1 Vỏ bom AN-M57

+ Thùng chứa bom CBU 55

- Sưu tập Pháo: 13 hiện vật, chiếm 5,53% tổng số hiện vật trưng bày ngoàitrời, bao gồm:

+ 1 Máy bay MIG 17 – 2047

+ 1 Máy bay MIG 21 số hiệu 4324

+ 1 Máy bay MIG 21 F96 số hiệu 5121

Trang 34

+ 1 Máy bay IL14

+ 1 Máy bay UH1 (máy bay trực thăng)

+ 1 Máy bay AD-5 của Mỹ

+ 1 Máy bay AD-6 của Mỹ

+ 1 Máy bay A37 B

+ 1 Máy bay CH – 47 CHINOOK số hiệu 19082

+ 1 Máy bay F5 số hiệu 71 – 0266

- Tua bin máy bay B52D: 1 hiện vật, chiếm 0,42% tổng số hiện vật trưngbày ngoài trời

- Bãi xác máy bay: 93 hiện vật, chiếm 39,6% tổng số hiện vật trưng bàyngoài trời, bao gồm:

+ 11 Tua bin máy bay các loại

+ 1 Mảnh xác máy bay có phù hiệu hình thanh kiếm

+ 1 Cánh máy bay có phù hiệu cờ Mỹ

+ 80 mảnh xác máy bay khác (chưa xác minh)

- Đạn: 33 hiện vật, chiếm 14% tổng số hiện vật trưng bày ngoài trời, baogồm:

Trang 36

- Ngoài ra còn 6 hiện vật gắn trên hiện vật khác chiếm 2,56% tổng số hiệnvật trưng bày ngoài trời, bao gồm:

+ 1 Súng 12,7mm (gắn trên xe tăng T54 số hiệu 985)

+ 2 Súng đại liên (gắn trên xe bọc thép M113)

+ 2 Trọng liên 12,7mm (gắn trên xe Háp-tơ-rác)

+ 1 Trọng liên 12,8mm (gắn trên xe Háp-tơ-rác)

*Theo chất liệu, các cán bộ dựa vào chất liệu chính của hiện vật để phân loại:

- 28 hiện vật chất liệu đá chiếm khoảng 11,9% tổng số hiện vật trưng bàyngoài trời, bao gồm:

+ Bãi xác máy bay gồm một số bộ phận máy móc trong máy bay

+ Một số hiện vật khác như tàu phóng từ, thủy lôi, ống phóng ngư lôi,tượng “Khúc khải hoàn Thăng Long”

- 14 hiện vật chất liệu kim loại màu, chiếm khoảng 6,1% tổng số hiện vậttrưng bày ngoài trời, gồm:

+ Các loại máy bay MIG 17, MIG 21, IL 14, UH1, AD-5, AD-6, A37 - B,F5, CH-47 CHINOOK

Trang 37

+ Tên lửa, bệ phóng và vỏ đạn tên lửa.

+ Cây nhiệt đới

+ Tượng “Mẹ Trường Sơn” bằng đồng

Tuy nhiên, do có một số hiện vật đa chất liệu, các cán bộ chỉ phân loại dựatrên chất liệu chính để tiện cho việc đăng ký và chú trọng khi bảo quản nên cáchphân loại này chỉ mang tính chất tương đối

Trang 38

CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH BẢO QUẢN HIỆN VẬT TRONG PHẦN TRƯNG BÀY NGOÀI TRỜI 2.1 Đặc điểm, tính chất và tác nhân gây hại cho hiện vật trưng bày ngoài trời tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

2.1.1 Đặc điểm của hiện vật

Phần lớn những hiện vật ngoài trời của bảo tàng Lịch sử Quân sự ViệtNam là những hiện vật thể khối, có kích thước và trọng lượng rất lớn Đó lànhững chiếc máy bay, xe tăng, tên lửa, xe thiết giáp, các khẩu pháo Ngay cảnhững khẩu súng thần công tuy kích thước không quá lớn nhưng lại rất nặng.Điều này khiến cho việc di chuyển vị trí hiện vật hay bảo quản phòng ngừa chohiện vật rất khó khăn Muốn di chuyển những hiện vật có trọng lượng không quálớn như súng thần công, lồng sắt đựng các viên đạn sắt hay đạn đá, động cơ máybay, một số quả bom cần từ 2-3 người và phải dùng xe nâng Còn các hiện vật cókích thước và trọng lượng rất lớn như máy bay, xe tăng, xe thiết giáp, các khẩupháo thì phải hạn chế di chuyển, trước khi di chuyển phải tính toán thật kỹ vàchuẩn bị sẵn vị trí mới để đặt hiện vật Muốn di chuyển những hiện vật này phảidùng đến cần cẩu Do kích thước của những hiện vật này quá lớn, kinh phí củabảo tàng lại có hạn nên không trưng bày những hiện vật này trong phòng trưngbày như ở một số nước ngoài Những hiện vật này cũng không lưu giữ trong khobảo quản mà luôn được trưng bày ngoài trời Vì vậy chúng cũng chịu rất nhiềutác động từ môi trường bên ngoài khác với những hiện vật cùng chất liệu trongkho bảo quản vốn được trang bị nhiều máy móc hiện đại ngăn ngừa các nguyênnhân gây hại tới hiện vật

Đây phần lớn là các hiện vật gốc tham gia vào các sự kiện lịch sử quantrọng của dân tộc Việt Nam như hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vàcuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ nên có giá trị lịch sử cao và không thể thay

Trang 39

thế các hiện vật này bằng những hiện vật phục chế Ta chỉ có thể thay thế mộtvài bộ phận nhỏ và phụ bị hư hỏng nặng nề, gây ảnh hưởng xấu đến hiện vật mà

nó cấu tạo nên, đồng thời những sự thay thế ấy không làm ảnh hưởng đến giá trịlịch sử của hiện vật Chính vì vậy, cần phải chú trọng bảo quản thật cẩn thận đểhạn chế tối đa các tác nhân gây hại đến hiện vật

Ngoài những hiện vật chỉ được cấu tạo từ một chất liệu như kim loại hay

đá thì một số hiện vật có từ hai chất liệu trở lên như kim loại – cao su, kim loại –cao su – nhựa Những hiện vật chỉ có một chất liệu sẽ dễ tiến hành bảo quản hơn

so với hiện vật có từ hai chất liệu trở lên bởi mỗi chất liệu có những tính chất vật

lý, hóa học khác nhau, một tác nhân ảnh hưởng tốt đến chất liệu này nhưng cóthể lại gây hại đến chất liệu khác Việc sử dụng một hóa chất để bảo quản trị liệucho hiện vật đa chất liệu cần tránh làm ảnh hưởng đến các chất liệu còn lại trênhiện vật Chính vì vậy mà tiến hành bảo quản cho các hiện vật đa chất liệu cầnthận trọng chọn lựa phương pháp và hóa chất phù hợp

Bên cạnh việc thường xuyên chịu tác động của thời tiết, khí hậu, vi sinhvật, khí ô nhiễm và con người dẫn đến nhiều hư hại nặng nề cả về vật lý lẫn hóahọc thì cùng với đó, chúng còn mang trên mình những “chứng tích” chiến tranhcần được tôn trọng và lưu giữ Chính vì vậy khi tiến hành bảo quản trị liệu chohiện vật, ta cần phân biệt đâu là dấu tích chiến tranh cần lưu giữ, đâu là phần hưhại do tác động của môi trường để xử lý cho phù hợp

2.1.2 Tính chất của chất liệu làm nên hiện vật

Các hiện vật ngoài trời ở Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam hầu hếtđược làm bằng kim loại đen hoặc kim loại màu, một số hiện vật kim loại có thêm

bộ phận làm bằng cao su và nhựa Acrylic Còn lại một số ít hiện vật được làmbằng đá vôi

2.1.2.1 Kim loại đen

Trang 40

Trong cuốn Từ điển Bách khoa Hóa học, phần giải nghĩa kim loại có viết:

“Sắt và hợp kim của sắt được gọi là kim loại đen còn các kim loại khác gọi làkim loại màu”12 Trước khi tìm hiểu hợp kim của sắt gồm những chất hóa họcnào, ta cần hiểu rõ về kim loại sắt

*Kim loại sắt:

Sắt kí hiệu Fe, là nguyên tố hóa học nhóm VIII B, chu kỳ 4, số thứ tự 26trong bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học Sắt có nguyên tử khối xấp xỉ 56.Sắt là kim loại màu trắng bạc ánh kim, có các dạng hình thù khác nhau về cấutrúc tinh thể hay về tính chất từ học Sắt có tính rèn – dập – cán – kéo tốt vì có độdẻo cao và tự hàn Tuy nhiên, sắt ít khi tồn tại ở dạng nguyên chất Tính chất cơhọc của sắt phụ thuộc vào độ tinh khiết của nó, vào hàm lượng và bản chất cácnguyên tố khác trong hợp kim sắt.13

- Sắt tác dụng với hầu hết các phi kim ở nhiệt độ cao, đặc biệt là các phikim có tính oxy hóa mạnh như Oxy (O2) và Clo (Cl2) Ví dụ: Sắt tác dụngvới khí Clo (Cl2) ở nhiệt độ cao tạo thành muối sắt (FeCl3) trong đó sắt cóhóa trị III

Ngày đăng: 05/05/2021, 22:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w