1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

BÁO CÁO CÔNG NGHỆ XỬ LÝ KHOÁNG SẢN

20 478 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công Nghệ Xử Lý Khoáng Sản
Tác giả Huỳnh Đình Nghĩa
Người hướng dẫn GV. Phan Đình Tuấn
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kỹ Thuật Hóa Học
Thể loại Tiểu Luận
Năm xuất bản 2013 – 2014
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 543,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

xu li khoang san

Trang 1

KHOA KỸ THUẬT HÓA HỌC



TI U LU N: C S LÝ THUY T & THI T B LÀM GIÀU QU NGỂU LUẬN: CƠ SỞ LÝ THUYẾT & THIẾT BỊ LÀM GIÀU QUẶNG ẬN: CƠ SỞ LÝ THUYẾT & THIẾT BỊ LÀM GIÀU QUẶNG Ơ SỞ LÝ THUYẾT & THIẾT BỊ LÀM GIÀU QUẶNG Ở LÝ THUYẾT & THIẾT BỊ LÀM GIÀU QUẶNG ẾT & THIẾT BỊ LÀM GIÀU QUẶNG ẾT & THIẾT BỊ LÀM GIÀU QUẶNG Ị LÀM GIÀU QUẶNG ẶNG

CBHD: GV Phan Đình Tuấn

Sinh viên: Huỳnh Đình Nghĩa MSSV: 61002104

Lớp: HC10VS

Năm học: 2013 – 2014

CÔNG NGHỆ XỬ LÝ

KHOÁNG SẢN

Trang 2

MỤC LỤC

1 Cơ sở lý thuyết làm giàu quặng 2

1.1 Tổng quan 2

1.2 Cơ sở lý thuyết làm giàu quặng 3

2 Các phương pháp và thiết bị làm giàu quặng 3

2.1 Phương pháp cơ học 3

2.1.1 Bàn đãi gằn 4

2.1.2 Vít tuyển 6

2.2 Tuyển từ 8

2.2.1 Tuyển từ con lăn nam châm đất hiếm 9

2.2.2 Máy tuyển từ tang trống khô 10

2.3 Tuyển điện 11

2.4 Tuyển nổi 11

2.4.1 Cơ sở lý thuyết của quá trình tuyển nổi 12

2.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tuyển nổi 14

2.4.3 Một số thiết bị tuyển nổi 15

2.5 Các phương pháp tuyển đặc biệt khác 17

2.5.1 Tuyển hóa học 17

2.5.2 Các phương pháp tuyển khác 18

3 Tài liệu tham khảo 18

Trang 3

1 Cơ sở lý thuyết làm giàu quặng

1.1 Tổng quan

- Khoáng sản là khoáng vật và đá được con người khai thác và sử dụng nhằm tạo ra của cải vật chất của nền kinh tế quốc dân Những nơi tập trung nhiều khoáng sản có khả năng khai thác gọi là mỏ khoáng sản

- Dựa vào nguồn gốc hình thành, người ta chia các mỏ khoáng sản ra thành: mỏ khoáng sản nội sinh và mỏ khoáng sản ngoại sinh

- Các mỏ khoáng sản chứa hai thành phần là quặng và không quặng Trong đó, hàm lượng quặng có trong khoáng sản quyết định đến việc khai thác và chế biến khoáng sản

- Với những mỏ khoáng sản có hàm lượng quặng thấp, việc làm giàu quặng trước khi chế biến sẽ thuận lợi và đem lại hiệu quả cao hơn so với việc chế biến trực tiếp từ quặng khai thác từ các mỏ khoáng sản

- Quặng sau khi được làm giàu quặng gọi là tinh quặng

- Quá trình làm giàu quặng bao gồm nhiều công đoạn khác nhau tùy thuộc vào mục đích

sử dụng của chất lượng quặng sau làm giàu như tuyển thô, tuyển tinh và tuyển vét

1.2 Cơ sở lý thuyết làm giàu quặng

- Mỗi quặng khác nhau có các đặc trưng riêng là cơ sở để tiến hành lựa chọn phương pháp làm giàu quặng phù hợp với nó, bao gồm:

+ Tính chất khoáng;

+ Thành phần hóa học;

+ Hạt/phân bố hạt

Trong đó, kích thước hạt tập trung (hay phân bố hạt) là quan trọng trong làm giàu quặng

- Thông thường với các quặng có kích thước lớn, người ta thường sử dụng các quá trình

cơ học tác động vào quặng nhằm tạo ra các hạt có kích thước nhỏ hơn và đồng đều hơn, tạo thuận lợi cho việc tinh quặng sau này Một số quá trình cơ học thường được sử dụng nhất bao gồm nghiền, sàng, đập,…

- Quá trình nghiền, đập, sàng từ quặng nguyên khai cho đến sản phẩm có kích thước dùng được phải trải qua nhiều giai đoạn, phụ thuộc vào quặng ban đầu và sản phẩm cuối

Bảng 1 Các giai đoạn nghiền và đập quặng

Các giai đoạn

đập, xay,

nghiền

Kích thước quặng (mm)

Mức đập xay

Trang 4

Nghiền mịn 0,3÷20 0,1÷0,074 60÷100 Nghiền bi

- Các quá trình nghiền, đập, sàng,… phụ thuộc vào nhiều yếu tố như độ cứng, độ bền, độ giòn của quặng

- Một số phương pháp tinh quặng:

+ Cơ học: bàn đãi, vít tuyển,…

+ Tuyển từ

+ Tuyển điện

+ Tuyển nổi

+ Các phương pháp tuyển đặc biệt khác (tuyển hóa học, ly tâm, vật lý khuếch tán,…)

2 Các phương pháp và thiết bị làm giàu quặng

2.1 Phương pháp cơ học

- Đây là phương pháp đơn giản nhất để làm giàu quặng Việc phân riêng các thành phần không quặng ra khỏi khoáng sản bằng phương pháp cơ học phụ thuộc vào các đặc tính vật

lý của các chất khác nhau có trong khoáng sản như khối lượng riêng, kích thước hạt,…

- Tuyển trọng lực là phương pháp cơ học được sử dụng nhiều nhất Đây là phương pháp làm giàu quặng dựa vào sự khác nhau về tỷ trọng của các hạt khoáng vật có ích với

khoáng vật hay đất đá Trong các môi trường tuyển khác nhau, chúng có tốc độ vận

chuyển khác nhau, vì vậy có thể chia tách riêng biệt ra từng loại Môi trường thường dùng nhất là nước và không khí

- Để phân chia khoáng vật có hiệu quả cao, trước khi đưa đi tuyển trọng lực cần thiết phải phân cấp thủy lực Quá trình phân cấp thủy lực sẽ chia tách được các loại hạt có tốc độ rơi khác nhau Những hạt khoáng vật có kích thước và tỷ trọng khác nhau nhưng có vận tốc cuối như nhau gọi là rơi đồng đều Khi phân cấp thủy lực, trong mỗi cấp hạt, các khoáng vật nhẹ nhưng có đường kính lớn có cùng tốc độ rơi với các khoáng vật nặng nhưng có đường kính nhỏ Điều đó tạo điều kiện cho quá trình phân lớp trên mặt bàn đãi đạt hiệu quả cao, là điều kiện tốt để tiến hành tuyển trọng lực

2.1.1 Bàn đãi gằn

Trang 5

Hình 1 Bàn đãi

Hình 2 Cấu tạo bàn đãi gằn

1 Mặt bàn, 2 Máng nước, 3 Các đường gờ, 4 Máng cấp liệu và nước,

5 Bộ truyền động

- Cấu tạo: Mặt bàn đãi gằn là mặt phẳng (có thể hình thang, hình chữ nhật hoặc hình thoi) được đặt nghiêng từ A → B và dốc từ C → D Mặt bàn được phủ lớp nhựa hoặc cao su,

có các rãnh, gờ để tạo dòng chảy rối Các đường gờ có chiều dài tăng dần từ A → B, chiều dày giảm dần từ C → D Mặt bàn chuyển động theo nguyên lý lắc - gằn và tiến lùi (khi lùi giật mạnh để các hạt nặng không lùi kịp) nhờ cơ cấu truyền động kiểu cam – khuỷu

Trang 6

Hình 3 Quỹ đạo chuyển động của các hạt khoáng vật

- Nguyên lý hoạt động:

+ Quặng được cấp vào máng và chạy dọc theo bàn, còn nước được cấp theo máng quả trám tràn thành lớp mỏng trên mặt bàn Như vậy khi di chuyển trên mặt bàn, các hạt khoáng vật sẽ chịu tác dụng của các lực sau:

Lực trọng lực giữa các hạt khoáng vật;

Lực ma sát giữa hạt khoáng và mặt bàn tác dụng dọc theo bàn;

Lực đẩy của nước dọc theo bàn từ C → D (bàn dốc) và ngang theo bàn từ A → B (bàn nghiêng)

+ Dưới tác dụng của trọng lực và lực ma sát, các hạt khoáng vật chuyển động dọc theo bàn với tốc độ khác nhau V1 > V2, trong đó V1 là tốc độ di chuyển theo hướng ngang của các hạt khoáng nặng (hạt khoáng nặng lực ma sát lớn, trọng lực lớn, khi bàn giật lùi đột ngột nó lùi chậm hơn) Dưới tác dụng của dòng nước chảy ngang trên mặt bàn U2 > U1, các hạt khoáng nhẹ sẽ trôi nhanh hơn Tổng hợp tác dụng hai vecto vận tốc, ta được quỹ đạo ON cho các hạt khoáng nặng và OM cho các hạt khoáng nhẹ

+ Những đường gờ mặt bàn có tác dụng hỗ trợ việc phân chia khoáng vật Dòng chảy trên

bề mặt sẽ cuốn các hạt khoáng nhẹ ra mép bàn, trong khi dòng chảy rối sẽ đưa các hạt nặng ra cuối bàn

+ Tốc độ chuyển động của bàn phụ thuộc vào kích thước hạt quặng đưa vào Làm giàu quặng cỡ hạt lớn thì chuyển động của bàn phải có bước đi dài và số lần dao động ít Làm giàu quặng cỡ hạt nhỏ thì bàn có bước đi ngắn hơn nhưng tần số dao động lớn

+ Độ dốc của bàn cũng có ảnh hưởng lớn đến kết quả tuyển Nếu độ dốc lớn thì tốc độ chảy ngang lớn, các hạt khoáng nhẹ sẽ trôi hết, nếu tốc độ nhỏ thì tác động của nước chưa

Trang 7

đủ để phân chia khoáng vật Thường quặng có cỡ hạt to thì độ dốc α = 6÷100, cỡ hạt nhỏ thì α = 1,5÷2,50 Độ dốc và độ nghiêng của thiết bị có thể điều chỉnh được nhờ hệ thống truyền động

+ Bàn đãi công nghiệp thường có kích thước 4,5m×1,8m, độ dày đường gờ 6÷12mm Năng suất bàn đãi phụ thuộc vào diện tích bàn và kích thước quặng nạp vào Với quặng mịn (0,2mm) năng suất khoảng 0,3÷0,6 tấn/h, quặng hạt lớn hơn, năng suất có thể đạt 0,7÷1 tấn/h Lượng nước tiêu hao cho tuyển là 2÷4 m3/h

+ Có thể nâng cao năng suất bàn đãi và thu được tinh quặng sạch bằng cách láp ráp bàn đãi 2,3 hoặc 4 tầng Mỗi tầng có một chức năng tuyển riêng

2.1.2 Vít tuyển

Hình 4 Một vít tuyển đang hoạt động tại mỏ quặng

- Vít tuyển là loại thiết bị làm giàu quặng bằng phương pháp cơ học hoạt động dựa trên cơ chế phân riêng các hạt có sự khác biệt đáng kể về khối lượng riêng

- Cấu tạo một vít tuyển:

Trang 8

Hình 5 Cấu tạo vít tuyển

- Vít tuyển có cấu tạo hình trụ gồm các “đĩa” nghiêng xoắn theo kiểu lò xo xung quanh trục Trên các “đĩa” có gắn các tấm chặn không khít với phía thành vít tuyển Ở đáy vít tuyển có hai bộ phận hứng quặng và không quặng sau khi tách ra nhờ vít tuyển nằm ở phía thành và phía trục của vít tuyển

- Nguyên lý hoạt động: Bằng cách cho nước và quặng chảy từ phía trên vít tuyển xuống đáy, do sự chênh lệch khối lượng riêng của các thành phần trong quặng, cụ thể là phần quặng và không quặng nên chúng sẽ tách ra trên mặt các “đĩa” của vít tuyển Các hạt nhẹ

có xu hướng chuyển động phía thành vít tuyển còn các hạt nặng có xu hướng chuyển động phía trục vít tuyển Các tâm chặn trên các đĩa cho hiệu quả tách quặng cao hơn Như vậy bằng cách hứng các hạt nhẹ ở đáy phía thành vít tuyển và các hạt nặng ở đáy phía trục vít tuyển, người ta đã tách được quặng ra khỏi tạp chất

2.2 Tuyển từ

Trang 9

Hình 6 Máy tuyển từ ướt

- Tuyển từ là quá trình lợi dụng sự chênh lệch từ tính của các khoáng chất để phân loại

quặng trong từ trường

- Quặng sắt là loại quặng tiêu biểu cho hình thức phân loại bằng phương pháp tuyển từ

- Phương pháp tuyển từ chia thành hai loại: tuyển từ nung và tuyển từ ướt, trong đó

phương pháp tuyển từ ướt cho hiệu quả cao hơn

- Tuyển từ nung: các chất khoáng với từ tính yếu (quặng hê-ma-tít, quặng sắt nâu, quặng si-đê-vít, quặng sắt vàng) có thể phân loại bằng cách nung, nâng cao từ tính, các chất khoáng sau khi nung trở thành Fe3O4 hoặc γ-Fe2O3, đặc tính của từ tính giống như chất khoáng với từ tính thiên nhiên

- Tuyển từ ướt thường áp dụng cho các quặng có cỡ hạt dưới 3mm như quặng sắt từ, quặng sắt vàng từ, quặng khô, quặng ti tan, cũng có thể dùng để loại bỏ sắt trong các vật liệu như than, quặng phi kim loại, vật liệu xây dựng

- Nguyên lý hoạt động: Sau khi bột quặng qua thùng cấp quặng vào trong máng, dưới tác động của dòng nước ở ống phun nước cấp quặng, hạt quặng chảy vào trong khu cấp quặng của máng Dưới tác dụng của từ trường, các hạt quặng có tính từ phát sinh từ nên tạo thành nhóm từ, hoặc các mắt xích từ, các nhóm từ hoặc các mắt xích từ này chịu tác dụng từ trong bột quặng, vận động theo hướng cực từ, nên bị hút vào trong thùng

- Dưới đây là bảng thông số hoạt động một số máy tuyển từ:

Bảng 2 Thông số hoạt động một số máy tuyển từ của công ty Phan Hưng Long cung cấp

trên thị trường Việt Nam

Quy cách Cường độ từ

trường(oe(

Năng lực xử lý

(t/h(

Công suất mô tơ

(kw(

Trọng lượng

(kg(

Trang 10

CTB750×1800 1550 30-45 3 2050

* Một số thiết bị tuyển từ:

2.2.1 Tuyển từ con lăn nam châm đất hiếm

Hình 7 Nguyên lý hoạt động máy tuyển từ nam châm đất hiếm

- Cấu tạo: Máy tuyển từ con lăn nam châm đất hiếm NdFeB cường độ cao được cấu tạo bởi một lô từ bằng nam châm vĩnh cửu NdFeB loại N35 (đường kính 76mm) và một lô dẫn không từ (đường kính 70mm) Lô từ được quay bằng một động cơ xoay chiều có công suất (0,75KW) vớitốc độ quay được điều khiển tùy ý bằng một bộ biến đổi tần số có thể thay đổi từ 0÷500 vòng/phút Một băng tải có chiều dày 0,6mm được vòng qua lô với mục đích đưa liệu vào lô từ

- Nguyên lý hoạt động: Khi vật liệu được đưa vào lô từ, phần tử không có từ tính sẽ rời khỏi băng trước, các phần tử có từ tính với các giá trị có độ từ cảm 0 (m3/kg) khác nhau

sẽ rời khỏi băng với các vị trí khác nhau Vị trí rời khỏi băng của các khoáng vật không từ

và có từ tính khác nhau có thể thay đổi tùy theo yêu cầu của công nghệ cho từng loại vật liệu nhờ sự thay đổi tốc độ quay của lô từ Dựa trên nguyên lí này người ta có thể lấy các

Trang 11

sản phẩm không từ và các sản phẩm có từ tính khác nhau trong nguyên liệu đầu vào bằng các lưỡi cắt các dòng phần tử rời khỏi băng ở các vị trí khác nhau Vị trí của lưỡi cắt có thể thay đổi được tùy theo đối tượng cần tuyển Năng lượng siêu mạnh của loại nam châm NdFeB đã tạo ra độ phân giải rất cao của các dòng sản phẩm có từ tính khác nhau Khi nguyên liệu đầu vào có chứa nhiều sản phẩm không từ và có từ tính yếu khác nhau đi qua máy, nhờ vào việc thay đổi tốc độ của băng tải và di chuyển hệ thống lưỡi cắt cùng một lúc chúng ta có thể thu được các sản phẩm không từ và có từ tính khác nhau Đó chính là

ưu điểm cơ bản của loại thiết bị này

2.2.2 Máy tuyển từ tang trống khô

Hình 8 Nguyên lý hoạt động của máy tuyển từ tang trống khô

- Cấu tạo: Máy tuyển từ tang trống khô bao gồm 1 tang trống từ bằng nam châm đất hiếm,

1 hệ thống cấp liệu, 1 hệ thống máng hứng sản phẩm, khung đỡ, 1 bộ truyền động và 1 hệ thống điều khiển Trống từ gồm 1 cụm nam châm vĩnh cửu 10 cực từ có cường độ từ trường trên mặt trống từ 2.500÷3.000 Oe (tuỳ theo yêu cầu của từng đối tượng cần tuyển) được gắn trên trục cố định Một vỏ thép không gỉ hình trụ được gắn vào mặt bích thép không gỉ quay xung quanh cụm từ

- Nguyên lý hoạt động: Sau khi đi vào mặt tang, sản phẩm không từ sẽ được rơi xuống máng hứng sản phẩm không từ Còn các phần tử có từ tính sẽ bám vào bề mặt của tang va rơi vào máng hứng phần tử có từ tính khi tang trống quay ra khỏi vùng có từ trường

Trang 12

Trường hợp khoáng vật có từ tính có hệ số từ cảm quá lớn mà cường độ từ trường trên mặt tang trống rất mạnh, trên mặt tang được kết cấu thanh gạt làm nhiệm vụ quét các phần tử có từ sau mỗi vòng quay Tốc độ cấp liệu và tốc độ quay của tang trống được điều khiển vô cấp bằng biến tần tuỳ theo từng đối tượng

2.3 Tuyển điện

- Tuyển điện là phương pháp làm giàu khoáng vật có ích dựa vào sự tác động khác nhau của các lực điện và các lực cơ lên các khoáng vật trong điện trường, tạo cho các khoáng vật đó có các quỹ đạo di chuyển khác nhau

- Do kết quả tuyển lựa lần đầu các khoáng sản kim loại hiếm hoặc các loại quặng khác, thường lấy ra được sản phẩm hỗn hợp Các sản phẩm này là của quá trình tuyển nổi hay tuyển trọng lực, tuyển từ Sản phẩm hỗn hợp vẫn phải tiếp tục xử lí mới lấy ra được sản phẩm sạch của từng thứ khoáng vật riêng bằng tuyển điện

- Tuyển khoáng bằng điện nhiều lúc có một vai trò rất quan trọng khi cần lấy ra được sản phẩm sạch đơn khoáng

- Một ví dụ cho phương pháp tyển điện là để tách rời hai khoáng vật rutile và zirconi Điện trường được tạo ra bởi nguồn cao áp giữa lô tuyển zirconi tích điện bám vào lô còn rutile tự rơi xuống

2.4 Tuyển nổi

Hình 9 Máy tuyển nổi

- Tuyển nổi là một quá trình tách chọn lọc các khoáng sản từ hỗn hợp bùn quặng bằng cách sử dụng các chất hoạt động bề mặt hoặc các chất thấm ướt

- Quá trình được sử dụng chủ yếu để tách các loại quặng sunfit, cacbonat và các ôxit Quặng phosphat, apatit, và than cũng được tách bằng công nghệ tuyển nổi

- Nguyên lý hoạt động: Bùn quặng sau khi nghiền mịn được nạp vào máy tuyển nổi, đồng thời nạp các thuốc tuyển như: thuốc tập hợp, thuốc đè chìm, thuốc tạo bọt, thuốc kích thích vào máy, tiến hành khuấy trộn và sục khí Nhờ có chất tạo bọt, khi khuấy trộn bọt

Trang 13

LK K

R

LK

L

R K

< 900 pha lỏng thấm ướt tốt trên pha rắn

> 900 pha lỏng không thấm ướt pha rắn

khí được tạo thành trong khắp khối khoáng tương, các hạt quặng và khoáng chứa quặng

do tác dụng của thuốc tập hợp không bị thấm ướt nên bám quanh các bọt khí rồi nổi lên, tập trung trên mặt khoáng tương Gạt bọt trên mặt thoáng ra ngoài ta thu được sản phẩm tinh quặng Các khoáng tạp do tác dụng của thuốc đè chìm, bị thấm ướt và chìm xuống đáy máy tuyển nổi tạo thành quặng đuôi

2.4.1 Cơ sở lý thuyết của quá trình tuyển nổi

- Tính nổi của khoáng vật có ích cần tuyển là yếu tố quyết định hiệu quả của quá trình tuyển nổi Tính nổi của các hạt khoáng vật do tính thấm ướt của nó quyết định Những hạt khoáng có tính thấm ướt kém, dễ bám vào bọt khí để nổi lên, chúng là nhũng hạt khoáng

có tính nổi tốt Ngược lại những hạt khoáng thấm ướt tốt, bị ướt và chìm xuống, chúng là những hạt khoáng có tính nổi kém.Tính thấm ướt của các hạt khoáng do tính chất bề mặt của chúng quyết định Nói cách khác nó phụ thuộc vào sức căng bề mặt giữa ba pha: rắn (hạt khoáng vật), lỏng (dung dịch tuyển), khí (bọt khí) Sức căng mặt ngoài được đặc trưng bằng góc thấm ướt , là góc tạo bởi đường tiếp tuyến giữa hai pha lỏng, khí với bề mặt pha rắn

Hình 10 Sức căng mặt ngoài giữa ba pha rắn-lỏng-khí.

Ta có:

RK RL LK

Cos  

Ngày đăng: 03/12/2013, 00:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Các giai đoạn nghiền và đập quặng - BÁO CÁO CÔNG NGHỆ XỬ LÝ KHOÁNG SẢN
Bảng 1. Các giai đoạn nghiền và đập quặng (Trang 3)
Hình 1. Bàn đãi - BÁO CÁO CÔNG NGHỆ XỬ LÝ KHOÁNG SẢN
Hình 1. Bàn đãi (Trang 5)
Hình 3. Quỹ đạo chuyển động của các hạt khoáng vật - BÁO CÁO CÔNG NGHỆ XỬ LÝ KHOÁNG SẢN
Hình 3. Quỹ đạo chuyển động của các hạt khoáng vật (Trang 6)
Hình 4. Một vít tuyển đang hoạt động tại mỏ quặng - BÁO CÁO CÔNG NGHỆ XỬ LÝ KHOÁNG SẢN
Hình 4. Một vít tuyển đang hoạt động tại mỏ quặng (Trang 7)
Hình 5. Cấu tạo vít tuyển - BÁO CÁO CÔNG NGHỆ XỬ LÝ KHOÁNG SẢN
Hình 5. Cấu tạo vít tuyển (Trang 8)
Hình 6. Máy tuyển từ ướt - BÁO CÁO CÔNG NGHỆ XỬ LÝ KHOÁNG SẢN
Hình 6. Máy tuyển từ ướt (Trang 9)
Bảng 2. Thông số hoạt động một số máy tuyển từ của công ty Phan Hưng Long cung cấp - BÁO CÁO CÔNG NGHỆ XỬ LÝ KHOÁNG SẢN
Bảng 2. Thông số hoạt động một số máy tuyển từ của công ty Phan Hưng Long cung cấp (Trang 9)
Hình 7. Nguyên lý hoạt động máy tuyển từ nam châm đất hiếm - BÁO CÁO CÔNG NGHỆ XỬ LÝ KHOÁNG SẢN
Hình 7. Nguyên lý hoạt động máy tuyển từ nam châm đất hiếm (Trang 10)
Hình 9. Máy tuyển nổi - BÁO CÁO CÔNG NGHỆ XỬ LÝ KHOÁNG SẢN
Hình 9. Máy tuyển nổi (Trang 12)
Hình 10. Sức căng mặt ngoài giữa ba pha rắn-lỏng-khí. - BÁO CÁO CÔNG NGHỆ XỬ LÝ KHOÁNG SẢN
Hình 10. Sức căng mặt ngoài giữa ba pha rắn-lỏng-khí (Trang 13)
Hình 11. Máy tuyển nổi Fageren - BÁO CÁO CÔNG NGHỆ XỬ LÝ KHOÁNG SẢN
Hình 11. Máy tuyển nổi Fageren (Trang 16)
Hình 12. Hệ thống lồng sóc - BÁO CÁO CÔNG NGHỆ XỬ LÝ KHOÁNG SẢN
Hình 12. Hệ thống lồng sóc (Trang 17)
Hình 13. Máy tuyển nổi Afloi - BÁO CÁO CÔNG NGHỆ XỬ LÝ KHOÁNG SẢN
Hình 13. Máy tuyển nổi Afloi (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w