Từ những thực tế đó, là một cán bộ quản lý phụ trách chuyên môn trường mầm non tôi luôn trăn trở phải làm như thế nào để trẻ đi học chuyên cần và không còn tình trạng bỏ học nên đã lựa c
Trang 1I Phần mở đầu
1 Lý do chon đề tài.
Thế kỷ 21 là thế kỷ của trí tuệ, là thế kỷ của nền kinh tế trí thức Đất nước Việt Nam tiến tới năm 2020 với sự thay đổi của nền kinh tế, xã hội và công nghệ cùng với
nó là hình ảnh người công dân Việt Nam mới với trình độ học vấn cao, năng động, sáng tạo, có khả năng xử lý thông tin cao, có khả năng tự lựa chọn và giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống, thích ứng với sự biến đổi không ngừng của xã hội Trách nhiệm này đặt trên vai ngành Giáo dục đòi hỏi ngành phải có những nội dung chương trình phù hợp, đổi mới phương pháp dạy và học một cách tích cực Giáo dục không chỉ hoàn thành việc đào tạo những con người thích ứng với xã hội mà còn đào tạo ra những con người đủ phẩm chất và trí tuệ để đón đầu sự phát triển của xã hội Giáo dục mầm non là tiền đề cho giáo dục tiểu học với nhiệm vụ chăm sóc giáo dục trẻ
từ 0 đến 5 tuổi một lứa tuổi vô cùng quan trọng Trẻ ở tuổi mầm non ngồi sự chăm sóc dạy dỗ của ông bà, cha mẹ trẻ ở gia đình thì yếu tố quan trọng quyết định lớn về sự phát triển toàn diện của những trẻ đến trường mầm non là đội ngũ giáo viên mầm non
Công tác giáo dục là một chủ chương lớn, quan trọng của toàn Đảng, toàn dân
ta trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước trong đó giáo dục mầm non là một ngành học cần thiết, một tác nhân quan trọng tác động và hình thành nhân cách con người cho trẻ
Chính vì vậy bước sang kỷ nguyên mới ngành giáo dục nói chung và bậc học mầm non nói riêng tiếp tục đẩy mạnh và không những đổi mới, nâng cao công tác giảng dạy để tiến dần đến việc hồn thiện một giáo trình cơ bản mang tính giáo dục cao, có hiệu quả nhất, để giúp trẻ hình thành và phát triển toàn diện nhân cách con người mới Đối với trẻ mầm non có rất nhiều các hoạt động như học tập, vui chơi, lao động… thông qua đó để giáo dục trẻ Song nếu trẻ không được đến trường hoặc bỏ học thì chúng ta đã thất bại trong sự nghiệp trồng người
Là cán bộ quản lý phụ trách chuyên môn của trường mầm non Cư pang tôi nhận thấy được tầm quan trọng trong việc chăm sóc – giáo dục trẻ mầm non Nhưng trên địa bàn trường đóng hầu hết là đồng bào dân tộc tại chỗ, việc đưa con em mình tới trường lớp mầm non chưa được cha mẹ trẻ quan tâm, trẻ đi học chuyên cần không cao, còn
bỏ học
Từ những thực tế đó, là một cán bộ quản lý phụ trách chuyên môn trường mầm non tôi luôn trăn trở phải làm như thế nào để trẻ đi học chuyên cần và không còn tình
trạng bỏ học nên đã lựa chọn đề tài“Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên làm tốt công tác duy trì sỹ số học sinh tại trường mầm non Cư Pang”.
2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: áp dụng một số biện pháp sư phạm giúp viên làm tốt công tác duy trì sỹ số học sinh
Mục đích nghiên cứu của đề tài: giúp viên làm tốt công tác duy trì sỹ số học sinh
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
Nhiệm vụ mà đề tài đặt ra nhằm cung cấp một số biện pháp để giáo viên củng
cố kinh nghiệm và làm tốt công tác duy trì sỹ số tại lớp mình phụ trách thông qua tất
cả các hoạt động theo quy định của trường lớp mầm non
Giúp giáo viên tìm ra các giải pháp, biện pháp để tạo được hứng thú, sáng tạo
nhằm giúp cho trẻ thích đến trường lớp
Trang 2Sau khi vận dụng đề tài sẽ góp phần đắc lực đối với giáo viên trong quá trình thu hút trẻ đến trường, tăng số lượng trẻ đi học chuyên cần từ đó duy trì sỹ số trẻ đến lớp
3 Đối tượng nghiên cứu:
Một số biện pháp nhằm giúp giáo viên làm tốt công tác duy trì sỹ số học sinh
4 Phạm vi nghiên cứu:
Khuôn khổ nghiên cứu một số biện pháp nhằm giúp giáo viên làm tốt công tác duy trì sỹ số học sinh
Đối tượng khảo sát học sinh trường mầm non Cư Pang
Thời gian nghiên cứu từ tháng 8 năm 2016 đến tháng 03 năm 2017
5.Phương pháp nghiên cứu:
a Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp thu thập những thông tin qua các tư liệu trên Internet, những vấn
đề thực tiễn liên quan đến công tác duy trì sỹ số học sinh
b) Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ của giáo viên Phương pháp điều tra: Trò chuyện, trao đổi với các giáo viên, và cha mẹ trẻ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tham khảo những bản báo cáo, tổng kết chất lượng hàng năm của nhà trường
Tham khảo những kinh nghiệm của các giáo viên, đồng nghiệp
Phương pháp thử nghiệm: Thử áp dụng các giải pháp vào công tác chăm sóc giáo dục trẻ năm học 2016- 2017 tại trường Mầm non Cư Pang
c Phương pháp thống kê toán học
Vào đầu năm học, tôi đã chủ động kiểm tra, khảo sát, thống kê qua số trẻ thực tế đến trường lớp mầm non.hăng ngày Cụ thể:
Tổng
số học
sinh
Trẻ đi học
chuyên cần Đạt % Số trẻ đi học khôngchuyên cần Chiếm tỷ lệ %
2
II.Phần nội dung:
1.Cơ sở lý luận để thực hiện đề tài:
Có thể nói rằng, bậc học mầm non là bậc học đầu tiên cung cấp những kiến thức đơn giản cho trẻ em thông qua các hoạt động học bằng chơi, chơi mà học Các môn học ở trường mầm non cũng chỉ là những môn học mang tính chất “Nhận biết” và
“Làm quen” với các hiện tượng tự nhiên và vấn đề xã hội Tuy nhiên nếu không có những kiến thức được thông qua nhận biết và sự làm quen ban đầu ở trường mầm non thì trẻ vào học ở trường tiểu học sẽ rất khó khăn Như các nhà tâm lý học đã nhận xét:
Sự khởi đầu ở một đứa trẻ theo quy luật khách quan là những tư duy trừu tượng, trẻ được nhận thức thông qua các đồ vật, hiện tượng đơn giản, lúc này trẻ sẽ được bắt đầu mọi thứ chỉ bởi sự nhận biết và làm quen với thế giới bên ngồi mà thôi Chính vì thế, bậc học mầm non đã nghiên cứu chương trình giáo dục cho từng lứa tuổi phù hợp theo quá trình phát triển tư duy của trẻ Do đó, việc trẻ được học ở trường mầm non là một điều rất quan trọng, trẻ phải được chăm sóc,giáo dục đảm bảo theo chương trình giáo dục mầm non do Bộ GD&ĐT ban hành
Trang 3Qua kết quả khảo sát về sự sẵn sàng đi học của trẻ 5 tuổi (EDI) năm 2011 cho thấy: có hơn một nửa số trẻ bị thiếu hụt hoặc có nguy cơ bị thiếu hụt ít nhất một lĩnh vực phát triển Một số yếu tố liên quan đến sự thiếu hụt này chủ yếu là từ phía cha mẹ:
do trình độ học vấn của mẹ thấp, trẻ có nhiều anh chị em, trẻ từ gia đình nghèo, trẻ không được đi học mẫu giáo liên tục, trẻ em vùng kinh tế khó khăn, trẻ là người dân tộc,
Mô đun ưu tiên quản lý 2 nội dung: thu hút cha mẹ và cộng đồng tham gia chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non đó là: Đặt ra nhiệm vụ cấp thiết cho bậc học mầm non trong giai đoạn hiện nay: tăng cường sự liên kết và thống nhất giữa trường mầm non và cha mẹ trẻ cùng cộng đồng về nội dung, phương pháp, cách thức tổ CS-GD trẻ ở trường cũng như ở gia đình Tạo điều kiện thuận lợi để nhà trường thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học CS-GD trẻ cho các bậc cha mẹ và cộng đồng, nhằm giúp trẻ phát triển toàn diện cả về thể chất, tinh thần, nhận thức, tình cảm, thẩm
mĩ, ngôn ngữ, giao tiếp ứng xử góp phần thực hiện tốt mục tiêu GD-GD trẻ mầm non
2.Thực trạng vấn đề nghiên cứu:
* Ưu điểm và hạn chế của vấn đề nghiên cứu:
- Ưu điểm của vấn đề nghiên cứu:
Đội ngũ giáo viên nhiệt tình yêu nghề mến trẻ, một số cha mẹ học sinh đã quan tâm đến việc học của con em nên số trẻ ra trường lớp mầm non tương đối tăng so với các năm về trước như: năm học 2014-2015 tổng số học sinh 227 cháu; năm học
2015-2016 tổng số học sinh 255 cháu, năm học 2015-2016-2017 tổng số học sinh 261 cháu
Cơ sở vật chất tương đối đảm bảo, sân trường rộng rãi thống mát, đồ dùng đồ chơi đầy đủ ở phân hiệu buôn Knul, Buôn Riăng
Bản thân tôi là phó hiệu trưởng được phân công phụ trách mảng chuyên môn liên tiếp nhiều năm nên việc quản lý, chỉ đạo và năm bắt về chuyên môn tương đối vững vàng
- Hạn chế của vấn đề nghiên cứu
Trường lại chia thành ba điểm cách nhau xa, cơ sở vật phân hiệu Buôn Dham, Buôn Hma, Buôn Kô đang phải mượn nhờ của các trường Tiểu học và nhà cộng đồng
Trường có 95% học sinh là người đồng bào dân tộc thiểu số, điều kiện sống và sinh hoạt của các em đang hết sức khó khăn, bố mẹ thường xuyên đi làm nương rẫy ở
xa bỏ mặc con cái ở nhà hoặc dẫn đi theo
Một số giáo viên thuộc đồng bào dân tộc thiểu số, một số là giáo viên trẻ kinh nghiệm còn ít trong công tác duy trì sỹ số học sinh
Việc tiếp cận công nghệ thông tin trên mạng, soạn giảng trên máy vi tính không thành thạo ở một số giáo viên thuộc đồng bào dân tộc thiểu số
Một số giáo viên chưa thực sự chủ động linh hoạt trong việc tổ chức cho trẻ các hoạt động, chưa thực sự chú trọng các hoạt động ngoại khóa, khâu tuyên truyền còn hạn chế chưa đa dạng
* Các nguyên nhân của vấn đề nghiên cứu
- Các nguyên nhân ưu điểm của vấn đề nghiên cứu:
+ Nguyên nhân chủ quan:
Đa số giáo viên đã biết cách tuyên truyền tới các bậc cha mẹ học sinh biết được tầm quan trọng của việc cho trẻ đến trường mầm non
Luôn học hỏi trau dồi chuyên môn nghiệp vụ, biết lắng nghe, biết sửa sai, không bảo thủ nên chuyên môn nghiệp vụ tương đối vững vàng
+ Nguyên nhân khách quan
Trang 4Các đồng chí giáo viên được bố trí công tác phù hợp năng lực, giáo viên có tình thần tự học cao
Một sô phụ huynh nhận thức được việc cho con em mình đến trường lớp mầm non là quan trọng trong việc phát triển toàn diện cho trẻ
Cơ sở vật chất trang thiết bị được Ủy Ban nhân dân xã EaBông rất quan tâm., phân hiệu thuộc Buôn Bun Knul, Buôn Riăng.đã được công ty Đăk Man xây dựng và đầu tư cơ sở vật chất đầy đủ
- Các nguyên nhân hạn chế của vấn đề nghiên cứu:
+ Nguyên nhân chủ quan:
Do giáo viên lớn tuổi dạy chương trình 26 tuần, chương trình cải cách thời gian lâu nên khi tiếp cận chương trình mầm non mới còn mang nặng chương trình cái cách Một số giáo viên thuộc đồng bào dân tộc thiểu số chưa biết cách trang trí môi trường trong và ngồi lớp thu hút trẻ một số là giáo viên trẻ mới ra trường kinh nghiệm còn ít trong vấn đề thu hút trẻ dến lớp để làm tốt trong duy trì sỹ số học sinh
Do vùng đồng bào dân tộc thiểu số điều kiện kinh tế khó khăn nên việc tiếp cận công nghệ thông tin trên mạng, soạn giảng trên máy vi tính còn ít
Các cháu học sinh con em đồng bào dân tộc thiểu số do bố mẹ đi làm rẫy mang
đi theo nên việc đi học chuyên cần chưa cao…
Đồ dùng phục vụ tiết hoạt động chung và các hoạt động trong ngày chưa đa dạng như: Những vật mẫu, những con vật thật, đồ vật
+ Nguyên nhân khách quan
Một số cha mẹ học sinh chưa nhận thức đúng tầm quan trọng của việc cho con
em mình đến trường mầm non
Đặc thù là vùng đồng bào Dân tộc thểu số mà là vùng đặc biệt khó khăn nên việc đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị còn hạn chế
3 Nội dung và hình thức của giải pháp:
a Mục tiêu của giải pháp
Từ những nguyên nhân, các yếu tố thực trạng nêu trên tôi lựa chọn các giải pháp biện pháp phù hợp Những giải pháp biện pháp đó nhằm mục đích giúp giáo làm tốt công tác chủ nhiệm từ đó thu hút trẻ thích đến trường
- Lựa chọn các biện pháp, giải pháp phù hợp sẽ giải quyết được vấn đề từ lòng tin đến thay đổi cách nhìn của các bạc cha mẹ khi đưa con em đi học ở trường lơp mầm non, từ đó giáo viên biết cách thu hút trẻ đến trường và tăng tỷ lệ trẻ đi học chuyên cần
- Khi áp dụng những biện pháp này thành công sẽ mang lại kết quả sau:
Giáo viên có định hướng rõ ràng trong việc trang trí môi trường trong và ngồi lớp cũng như công tác tự làm đồ dùng dạy học dạy trẻ hàng ngày, tạo được mối liên
hệ phối hợp giữa giáo viên và cộng đồng
Trẻ phát triển đồng đều các lĩnh vực, phát huy tính tích cực của trẻ, giúp trẻ hứng thú hơn trong mọi hoạt động
Trẻ mạnh dạn, tự tin, phản ứng tốt với mọi tình huống hàng ngày của trẻ
Cha mẹ học sinh thấy được sự thay đổi của con em mình, từ đó có sự phối hợp tốt hơn giữa nhà trường, giáo viên và cha mẹ học sinh để công tác thu hút trẻ đến trường từ đó để chăm sóc giáo dục trẻ ngày càng tốt hơn
b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp
*Biện pháp 1: Chỉ đạo giáo viên trong công tác tuyên truyền
Trang 5Bám sát kế hoạch giáo dục của nhà trường đầu năm học, trên cơ sở đó đề ra các
kế hoạch chăm sóc giáo dục trẻ phù hợp với tình hình của lớp, của địa phương mà giáo viên đang công tác
Giáo viên tìm hiểu về gia đình, cộng đồng nơi trẻ đang sống để thống nhất cách giáo dục trẻ giữa nhà trường và gia đình, tránh xảy ra trường hợp “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”
Đưa ra kế hoạch tuyên truyền một cách cụ thể và giáo viên phải kiên trì thực hiện, biết chọn lọc và khai thác nội dung, tổ chức hình thức tuyên truyền phù hợp khi trao đổi cùng phụ huynh
Phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng, với lãnh đạo nhà trường để đưa nội dung bài viết, hình ảnh,lời nói phù hợp, có sức thuyết phục thì mới đến tai người nghe và mới có hiệu quả
Trao đổi giờ đón và trả trẻ: Ví dụ: khi đón trẻ thấy trẻ có vẻ buồn hơn mọi ngày
cô có thể hỏi phụ huynh ở nhà trẻ như thế nào như về giấc ngủ, ăn uống
Hướng dẫn giáo viên tổ chức hội thi, hội giảng, ngày hội ngày lễ để tuyên truyền, thông qua đó chúng ta tăng cương cũng cố, ôn luyện các kiến thức đã dạy cho các cháu một cách hiệu quả để phụ huynh thấy rằng trẻ đến trường mầm non là được học tập, tiếp thu nhiều điều bổ ích chứ không phải vui chơi, hoặc đó chỉ là nơi giữ trẻ
Giáo viên cần kết hợp với cha mẹ học sinh trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ, thường xuyên trao đổi và tìm hiểu tâm sinh lí của từng trẻ, Qua bảng tin, bảng tuyên truyền ở lớp, giờ đón trẻ, trả trẻ và qua sổ liên lạc, giáo viên tuyên truyền đến cha mẹ của trẻ những kết quả giáo dục ở con mình, tạo điều kiện cho giáo viên trao đổi hai chiều với các bậc cha mẹ những vấn đề có liên quan đến trẻ, các thông tin của lớp, thông tin sức khỏe, ngược lại các bậc cha mẹ có thể ghi chép những yêu cầu, đề nghị, thông tin cần trao đổi với giáo viên
Lập kế hoạch tuyên truyền cách chăm sóc, giáo dục trẻ đến với cha mẹ trẻ từ đó giúp giáo viên có định hướng rõ ràng trong việc nuôi dạy trẻ hàng ngày, tạo được mối liên hệ phối hợp giữa giáo viên và cộng đồng từ đó việc chăm sóc giáo dục trẻ và công tác duy trì sỹ số được diễn ra thuận lợi hơn
*Biện pháp 2: Hướng dẫn giáo viên xây dựng môi trường:
Để thu hút trẻ thích đi học giáo viên không thể dùng lời nói không chưa đủ mà phải biết cách xây dựng môi trường Vì vây là người quản lý phụ trách chuyên môn phải hướng dẫn giáo viên nắm vai trò các nguyên tác xây dựng môi trường:
- Vai trò của môi trường giáo dục trong trường mầm non
Môi trường giáo dục trong trường mầm non tạo cơ hội cho trẻ tìm tòi khám phá, phát triển điều mới lạ hấp dẫn trong cuộc sống, trẻ được tự lựa chọn hoạt động cá nhân hoặc hoạt động nhóm, trẻ tham gia tích cực tạo cơ hội cho trẻ bộc lộ khả năng, qua đó cung cấp kiến thức, kỹ năng cho trẻ nhằm góp phần hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ mầm non
-Nguyên tắc xây dựng môi trường giáo dục trong trường mầm non
+ Môi trường đảm bảo an toàn về thể chất, tâm lý cho trẻ
Đảm bảo giữ vệ sinh nguồn nước (hệ thống cấp nước và hệ thống thoát nước) không khí, thực phẩm
Các trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi được bảo dưỡng, giữ gìn sạch sẽ luôn tạo sự hấp dẫn đối với trẻ, tạo cho trẻ cảm giác an tồn tránh những nguy hiểm
Môi trường được xây dựng tránh nơi ô nhiễm, ồn ào và những nơi hay xảy ra tai nạn rủi ro
Trang 6+ Môi trường được xây dựng trong suốt quá trình thực hiện chương trình chăm sóc giáo dục trẻ
Việc xây dựng môi trường phải được tiến hành trong suốt thời gian thực hiện
CT CSGD trẻ
Kế hoạch xây dựng môi trường phải cụ thể và được tiến hành hàng ngày, tránh đưa ồ ạt đồ dùng, đồ chơi vào cùng một lúc
+Môi trường giáo dục đa dạng, phong phú để kích thích sự phát triển của trẻ Môi trường có không gian, cách sắp xếp phù hợp, gần gũi, quen thuộc với cuộc sống hàng ngày của trẻ
Môi trường phản ánh kinh nghiệm, văn hóa của trường mầm non, của địa phương…nhằm cung cấp cho trẻ những hiểu biết về nền văn hóa địa phương
Nguyên liệu đa dạng, tận dụng nguyên vật liêu địa phương, nguyên vật liệu tự nhiên và vật liệu tái sử dụng nhằm mở rộng cơ hội học tập, hỗ trợ nhiều hoạt động chơi của trẻ
Trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi có màu sắc, hình dạng, kích thước, chức năng
sử dụng phù hợp, hứng thú đối với trẻ
Tận dụng và khai thác triệt để tác dụng giáo dục của môi trường xây dựng tránh tình trạng lãng phí công tác, thời gian
Luôn thay đổi không gian môi trường giáo dục tạo ra sự hấp dẫn mới lạ đối với trẻ
Tôn trọng nhu cầu, sở thích và có tính đến khả năng của mỗi trẻ
Phải giáo dục trẻ biết bảo vệ môi trường, biết giữ gìn môi trường sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp sạch sẽ
+Môi trường phải thuận lợi để hình thành các kỹ năng xã hội
Xây dựng môi trường thân thiện, ấm cúng, cởi mở giữa cô và trẻ, giữa trẻ với trẻ, giữa trẻ với người xung quanh Cô giáo phải tạo cơ hội để trẻ mạnh dạn bộc lộ những suy nghĩ, tâm tư, nguyện vọng của mình Cử chỉ, lời nói, việc làm của cô giáo phải luôn mẫu mực để trẻ noi theo
Nhà trường, gia đình và xã hội phải thống nhất các biện pháp giáo dục những thói quen hành vi văn hóa cho trẻ
- Môi trường ngoài lớp:
Xây dựng môi trường giáo dục trong trường mầm non không chỉ ở trong nhóm, lớp mà phải được tiến hành ở môi trường chung trong trường mầm non
Xây dựng môi trường chung trong trường mầm non bao gồm có: sân vườn, khối phòng phục vụ nhóm trẻ, lớp mẫu giáo (phòng sinh hoạt chung, phòng ngủ, phòng vệ sinh, hiên chơi)…sân, vườn: vườn hoa, vườn cây, luống rau, các con vật; hệ thống cung cấp nước sạch và thoát nước
Đây là môi trường sẵn có xung quanh trường, lớp căn cứ vào mục tiêu giáo dục của từng chủ đề giáo viên phải biết tận dụng, khai thác, bổ sung các thiết bị, đồ dùng
để tổ chức hoạt động ngồi trời cho trẻ
Vi dụ: Cổng trường trang trí các cảnh đẹp mắt, như nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn, các cây , con vật các cây xanh có biển tên Vào đến cửa lớp trang trí bảng tuyên truyên những nội dung bé học ở trong tuần, những thông tin cần thiết và thiết thực đang xảy ra: ví dụ: dịch sốt xuất huyết, cảm cúm, trời lanh…ta treo hình ảnh kèm theo chữ viết
Trang 7Sắp xếp, bố trí tạo khoảng không gian phù hợp cho các khu vực hoạt động
ngoài trời dựa vào diện tích sân chơi dựa trên tổng diện tích của trường, giáo viên có thể quy định khoảng không gian hoạt động trong mỗi chủ đề cho trẻ ở các độ tuổi
Tận dụng các loại cây xanh tạo bóng mát, có sự biến đổi của lá, của hoa theo mùa và gần gũi với cuốc sống thực của trẻ, các cây hoa có màu sắc tươi sáng
Đồ chơi trong sân trường đa dạng: đu quay, cầu trượt, bập bênh, xích đu…phù hợp với độ tuổi, vị trí Ví dụ: trẻ nhà trẻ nên có đồ chơi riêng: cầu trượt thập, đồ chơi vận động như ô tô, xe đạp 3 bánh…đồ chơi đặt vị trí hợp lý, đảm bảo an toàn và cô giáo bao quát tốt khi trẻ chơi
Sân chơi nên bố trí những khu vực để cho trẻ có thể hoạt động phát triển thể chất, khám phá khoa học, làm thí nghiệm đơn giản( khu vực chơi với nước, với cát.), khu vực trồng rau, trồng cây hoa…trẻ được tham gia lao động chăm sóc cây…
- Môi trường trong lớp
Xây dựng môi trường trong nhóm lớp: môi trường tổ chức các hoạt động học tập (hoạt động tạo hình, âm nhạc, vận động…) môi trường tổ chức vui chơi… phù hợp theo từng chủ đề
Giáo viên nên phân bố khoảng không gian hợp lý giữa các khu vực như: hiên chơi Các góc chơi trong lớp nên có ranh giới (có thể sử dụng giá, tủ nhỏ- thấp, rèm, bìa ), có lối đi thuận tiện, với trẻ cáng lớn thì lối đi càng rộng hơn để giúp trẻ thiết lập mối quan hệ trong khi chơi Khoảng không gian trong mỗi góc được xác định tùy theo lứa tuổi, số lượng trẻ chơi, số lượng đồ dùng, đồ chơi…
Đảm bảo đủ ánh sáng cần thiết, đối với góc chơi mà trẻ cần tập trung chú ý suy nghĩ phải đảm bảo yên tĩnh Nếu diện tích lớp chật thì: thu dọn bớt một vài thứ để tạo không gian hoạt động cho trẻ hoặc có thể xây dựng luân phiên góc: có thể tuần 1 xây dựng 2-3 góc, sang tuần thứ 2 dỡ bỏ góc cũ xây dựng 2-3 góc hoạt động khác, đảm bảo trong thời gian triển khai chủ đề trẻ được chơi, được rèn luyện kỹ năng trong nhiều góc khác nhau
Bố trí sắp xếp thiết bị, đồ dùng, đồ chơi phù hợp với mục tiêu, yêu cầu giáo dục theo chủ đề
*Biện pháp 3: Chuẩn bị đầy đủ đồ dùng, đồ chơi và cách bố trí sắp xếp đồ dùng, đồ chơi để thu hút trẻ hứng thú tham gia hoạt động học và chơi:
Trên cơ sở đã xác định những nội dung cần xây dựng và những thứ có thể lưu giữ lại được từ chủ đề trước thì phải có kế hoạch mua sắm, sưu tầm, làm đồ dùng đồ chơi để phục vụ cho chủ đề mới
Ví dụ: Từ chủ đề ” Thế giới thực vật” chuyển sang chủ đề “ Thế giới động vật”
có thể lưu thành tranh mảng tường “tranh chủ đề với một số cây xanh, hàng rào, thảm cỏ… có thể bổ sung thêm: mô hình chuồng các con vật, các con vật bằng chất liệu khác nhau: nhựa, vải, bông… hoặc có thể kết hợp với gia đình để huy động phụ huynh đóng góp ủng hộ một số thức ăn cho con vật, sưu tầm một số tranh ảnh về các loài động vật hoặc mang đến lớp cho mượn một vài con vật thật như mèo, gà, thỏ…Tân dụng các nguồn nguyên liệu, phế liệu như
Giáo viên cần xác định rõ và có kế hoạch thực hiện
Đồ dùng cô làm: những thứ cô phải làm là những thứ có tính chất giới thiệu chủ
đề hoặc khó làm hơn do cần sự khéo léo thể hiện bố cục, đường nét, màu sắc
Đồ dùng cô và trẻ cùng làm: cô có thể làm mẫu một vài thứ sau đó gợi ý cho trẻ làm hoặc cô cùng tham gia với trẻ
Trang 8Ví dụ: Làm sách tranh: Cô nên yêu cầu để trẻ chọn tranh và cắt sau đó cô giúp trẻ đóng lại các tờ tranh lại thành quyển hoặc sau khi trẻ vẽ tranh cô có thể giúp trẻ viết lại những ý tưởng của trẻ vào bức tranh mà trẻ vừa vẽ
Trẻ tự làm: Một số tranh ảnh, đồ dùng đồ chơi quen thuộc cô có thể giao nhiệm
vụ cho trẻ tự làm, khuyến khích trẻ có hứng thú làm và hiểu được ý nghĩa của công việc được giao
Ví dụ: Làm đồ chơi các con vật tặng bạn, làm bưu thiếp tặng bạn, tặng mẹ
Ví dụ: Từ những vật liệu phế thải như lịch cũ có hình ảnh về Con búp bê, bình nước, bàn ủi, ly uống nước, chự hoa ngày tết có các từ hoặc chữ cái… Sau đó tổ chức
và hướng dẫn cho trẻ cắt dán làm an bum v.v thông qua hoạt động góc
Hướng đẫn giáo viên tạo cơ hội cho trẻ xây dựng nhiều mô hình hoạt động đẹp mắt, hấp dẫn như mô hình trang trại có vườn, ao, chuồng hay mô hình vườn cây của bé và đúng với thực tế Bên cạnh đó cô giáo thường xuyên lồng ghép nhiều hoạt động khác để giúp trẻ khi vào tiết làm quen chữ cái phát âm chuẩn và nhận biết chính xác hơn
Lưu ý: cô giáo lên kế hoạch cụ thể thời gian, nội dung tổ chức làm đồ dùng, đồ chơi vào các thời điểm trong ngày cho phù hợp tránh tình trạng cắt xén giờ học, giờ chơi hoặc làm xáo trộn nề nếp sinh hoạt của trẻ
- Sắp xếp, bố trí
Trẻ nhóm trẻ Trẻ lớp mầm Trẻ lớp chồi Trẻ lớp lá
- Tranh ảnh treo
trên tường cần có
nội dung, bố cục
đơn giản, màu sắc
đẹp thu hút sự chú
ý của trẻ
- Tranh mảng tường đơn giản có màu tươi sáng, hấp dẫn trẻ
- Tranh mảng tường có bố cục phức tạp hơn và có tác dụng cung cấp kiến thức, kinh nghiệm cho trẻ
Tranh treo vừa tầm, gợi mở cho trẻ cách thức hoạt động
- Trẻ có thể tham gia làm tranh mảng tường, album ảnh,
tự làm đồ dùng, đồ chơi và hiểu được
ý nghĩa của công việc này
- Số lượng góc
chơi ít - Số lượng góc
chơi cần bố trí ít hơn so với trẻ lớp chồi Tuy nhiên cần cân nhắc đến
số lượng trẻ chơi, hứng thú của trẻ, diện tích của lớp Tên của góc đơn giản, dễ hiểu, gần gũi với trẻ
- Số lượng góc chơi
cầ bố trí nhiều hơn lớp mầm, các góc chơi đa dạng Ví dụ: trẻ có thể chơi bán hàng khác nhau như: : của hang rau quả”, “ của hàng thực phẩm”…
một số góc chơi mới xuất hiện” siêu thị”, “ tiệm may thời trang”
- Số lượng góc chơi cần bố trí nhiều hơn lớp chồi Góc chơi của trẻ đa dạng, nội dung chơi trong các góc thể hiện đa dạng nhiều mặtcủa cuộc sống Nên có thêm góc thư giãn hoặc thực hiện ý tưởng riêng của mình
- Giá, kệ để đồ
dùng đồ chơi thấp,
vừa tầm tay với trẻ
- Kệ để đồ chơi thấp hơn so với chồi, lớn, các ngăn
để đồ chơi vừa
- Các kệ giá để đồ chơi có bánh xe, cao hơn lớp mầm
- Giá để đồ chơi vừa tầm, ngăn để
đồ chơi rộng hơn
Trang 9phải tuỳ theo số lượng đồ chơi, các
kệ để đồ chơi có bánh xe,
- Chủng loại đồ
chơi ít hấp dẫn,
gần gũi thân quen
với cuộc sống thực
của trẻ Số lượng
đồ chơi không cần
nhiều như lứa tuổi
sau
- Đồ dùng, đồ chơi
trong các góc cô
chuẩn bị làm và
chuẩn bị cho trẻ
- Chủng loại đồ chơi không nhiều nhưng số lượng nhiều vì trẻ
- Đồ chơi trong góc đa dạng về màu sắc, hình dạng, kích thứoc,
âm thanh, chủ yếu
- Đồ chơi cho trẻ phải để ở dạng rời, dạng mở (không có sẵn) để kích thích tính tò mò thích khám phá của trẻ
Kích cỡ đồ chơi phải vừa tay với trẻ
- Chủng loại đồ chơi nhiều nhưng
số lượng đồ chơi của mỗi loại lại ít hơn
- Chủng loại đồ chơi nhiều hơn lớp chồi, nhưng số lượng đồ chơi mỗi loại ít hơn Đồ chơi gồm nhiều chi tiết, phải ở dạng rời( không có sẳn)
Sắp xếp đồ dùng, đồ chơi dưới dạng mở, kích thích trẻ tích cực hoạt động Thường xuyên thay đổi cách trang trí sắp xếp góc chơi tạo sự hấp dẫn, mới lạ với trẻ
*Biện pháp 4: Một số giải pháp thu hút trẻ trong các hoạt động học và chơi, mọi lúc mọi nơi.
Để trẻ hứng thú, hoạt động tích cực sôi nổi tham gia vào giờ học làm quen với chữ cái đạt kết quả cao tôi hướng dẫn giáo viên vận dụng một số trò chơi vào các tiết học cụ thể như:
Ví dụ: Tiết làm quen với chữ cái ô.ô.ơ
Chủ đề: Trường mầm non
Chủ đề nhánh: Lớp học bé yêu thương
Với tiết học này tôi tổ chức dưới hình thức trò chơi “Ô cửa bí mật”
Để trẻ hứng thú tham gia chủ động tích cực trong các hoạt động học và chơi khi vào bài hướng dẫn giáo viên đóng vai trò người dẫn chương trình đi vào giới thiệu chương trình “Chào đón các bé đến với trò chơi Ô cửa bí mật, với chủ đề: "Lớp học bé yêu thương” Đến tham gia trò chơi hôm nay gồm có 02 đội thi, tôi muốn biết đội một đâu (trẻ ở đội một đứng lên giơ tay vẫy), đội hai đâu (trẻ ở đội hai đứng lên giơ tay vẫy)
Bây giờ hai đội cùng tham gia vào trò chơi, hai đội sẽ lên bốc thăm để chọn cho đội mình một ô cửa ( 2 trẻ đại diện 2 đội lên bốc thăm)
Cô đọc ô cửa của 2 đội và lần lượt mở 2 ô cửa và cho trẻ gọi tên 2 bức tranh và đọc từ dưới tranh lên
Cho trẻ chơi trò ghép chữ
Cô nhận xét và thưởng cho trẻ những chiếc mũ về lớp
Sau khi cô giới thiệu chữ cái mới “o.ô.ơ” và cho trẻ phát âm theo cả lớp, tổ, cá nhân, so sánh sự giống nhau và khác nhau giữa các chữ với nhau
Trang 10Cho trẻ chơi các trò chơi ôn luyện để tạo hứng thú và giúp trẻ khắc sâu nhận biết và nhớ ba chữ cái o.ô.ơ
* Trò chơi “chọn chữ theo yêu cầu”
Cô phát âm, nói cấu tạo chữ hay cho chữ cái nào biến mất thì trẻ trọn chữ cái
đó và phát âm
* Trò chơi “ trồng cây vườn trường”
* Luật chơi: Trẻ trồng đúng cây có chữ cái cô yêu cầu trong vòng 3 phút đội nào trồng được nhiêu và đúng theo yêu cầu là đội thắng cuộc
Cách chơi : Cô chia trẻ thành ba đội chơi yêu cầu mỗi đội trồng cây thứ tự mỗi đội trồng cây có chữ cái, mỗi trẻ lên chơi mỗi lượt chỉ trồng một cây có chữ cái theo yêu cầu vào khu vườn của tổ mình
*Trò chơi “Tìm chữ qua thơ”
Cho trẻ lên tìm và đếm xem có bao nhiêu chữ (o.ô.ơ) trong bài thơ và gắn hoa vào dưới chữ cái đó
Việc tổ chức cho trẻ một tiết học làm quen với chữ cái với hình thức theo một
“chương trình” xuyên suốt tiết học với cô giáo là người dẫn chương trình kết hợp khéo léo các trò chơi, có khoảng thời gian cho trẻ thư giãn bằng các trò chơi linh động xen
kẽ trẻ cảm thấy thoải mái với không khí học vui vẻ, sôi nổi, trẻ tích cực tham gia
Bằng các trò chơi mới trẻ sẽ hứng thú khám phá những điểm mới của bài học, tạo được sức hút mạnh mẽ của trẻ vào bài học và giúp trẻ khắc sâu trí nhớ về cấu tạo chữ được làm quen
Cho nên với mỗi tiết dạy tôi chỉ đạo giáo viên luôn tìm tòi, sáng tạo những trò chơi mới, cách chơi mới ứng dụng với các hình thức khác nhau, thường xuyên thay đổi trò chơi để tạo sự mới lạ hứng thú với trẻ
Ví dụ: Bài làm quen với chữ cái i, t, c
Chủ đề: Một số nghề bé biết
Chủ đề nhánh: nghề giáo viên
Trong phần ôn luyện giáo viên cần hướng dẫn cho trẻ chơi trò chơi “Xếp chữ” Với cách chơi cô phát âm hay nói cấu tạo chữ cái nào trẻ đứng xếp thành chữ cái đó
Ví dụ: Cô phát âm chữ i hay nói chữ gì có một nét thẳng đứng, một dấu chấm ở trên nét thẳng đứng – trẻ đứng thành một hàng thẳng, một trẻ đứng ở trên hàng thẳng làm dấu chấm để tạo thành chữ “i”
Ví dụ : trò chơi tạo chữ trên cơ thể như cho trẻ hát một bài trong chủ đề cô nói tạo chữ - tạo chữ, trẻ nói lại chữ gì - chữ gì, cô nói chữ i trẻ đưa một ngón tay lên
Đối với tiết dạy “Làm quen văn học”
Ví dụ: Trong tiết dạy làm quen với những con vật đáng yêu quanh bé
Hướng dẫn giáo viên cho trẻ thi “đố vui ” hai đội ra câu đố cho nhau và giải câu
đố đội bạn
“Con gì chân ngắn, mỏ lại có màng
Mỏ bẹt màu vàng, hay kêu cạp cạp”?
- Như vậy trẻ được câu đố rất vui vẻ hào hứng, kích thích tư duy, làm phong phú vốn từ và ngôn ngữ mạch lạc
- Giáo viên đưa âm nhạc xen kẽ giữa các phần chuyển tiếp trong tiết dạy hoặc trò chơi để tiết dạy thêm hào hứng, sôi động
- Trong tiết dạy giáo viên cũng kích thích khả năng sáng tạo nghệ thuật của trẻ bằng cách gắn hoặc dán, hay tô màu để hồn thiện bức tranh