Theo báo cáo tổng kết năm học của nhà trường năm học 2018 - 2019 thì hoạt động tự học của sinh viên trong trường vẫn chưa đáp ứng vớiyêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, một số khâu tron
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN THỊ HUỆ
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Chúng tôi xin cam đoan đề tài “Quản lý hoạt động tự học của sinh viên
trường Đại học Kinh Bắc, Bắc Ninh” là công trình nghiên cứu của riêng mình
và không trùng với kết quả nghiên cứu của tác giả khác Các số liệu và kết quảnghiên cứu nêu trong đề tài là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kìcông trình nào khác, các thông tin trích dẫn trong đề tài đã được chỉ rõ nguồngốc
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2020
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thùy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, khoa Quản lý giáo dục trường
Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã luôn giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi chotôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy,
chỉ
dẫn cho tôi những tri thức kinh nghiệm, bài học quý báu
Đặc biệt, xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Nguyễn Thị
Huệ đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo và toàn thể
giảng viên, cán bộ, công nhân viên trong trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên
đã tạo mọi điều kiện cho tôi cả về thời gian, tinh thần, vật chất trong suốt 3 nămqua
Xin chân thành cảm ơn các anh, chị học viên lớp cao học khóa 26,
chuyên ngành Quản lý giáo dục đã chia sẻ tinh thần, tình cảm cho tôi trong suốtkhóa học
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2020
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thùy
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC .iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
5 Giả thuyết khoa học 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Trên thế giới 6
1.1.2 Ở Việt Nam 9
1.2 Những khái niệm cơ bản của đề tài 14
1.2.1 Quản lý 14
1.2.2 Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường 15
1.2.3 Tự học 16
1.2.4 Quản lý hoạt động tự học 18
1.3 Cơ sở lí luận về hoạt động học tập của sinh viên 19
1.3.1 Đặc điểm hoạt động học tập của sinh viên 19
1.3.2 Vai trò của tự học 21
1.3.3 Bản chất, động cơ tự học của sinh viên 22
Trang 61.4 Cơ sở lí luận về quản lí hoạt động tự học của sinh viên 24
1.4.1 Các nội dung quản lí hoạt động tự học của sinh viên 24
1.4.2 Quản lý các điều kiện đảm bảo cho hoạt động tự học 29
1.4.3 Tổ chức Đoàn và hội sinh viên trong quản lí hoạt động tự học của sinh viên 31
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động tự học của sinh viên 32
1.5.1 Đặc điểm tâm sinh lý của sinh viên 32
1.5.2 Mục tiêu, nội dung Giáo dục và đào tạo bậc đại học 35
Tiểu kết chương 1 36
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH BẮC, TỈNH BẮC NINH 37
2.1 Khái quát chung về khảo sát thực trạng 37
2.1.1 Mục tiêu, nội dung khảo sát 37
2.1.2 Khách thể, thời gian và địa bản khảo sát 37
2.1.3 Công cụ và phương pháp khảo sát 41
2.1.4 Cách thức xử lý số liệu khảo sát 42
2.2 Thực trạng hoạt động tự học của sinh viên trường Đại học Kinh Bắc, tỉnh Bắc Ninh 42
2.2.1 Thực trạng nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của hoạt động tự học 42
2.2.2 Thực trạng lập kế hoạch tự học của sinh viên tại trường Đại học Kinh Bắc hiện nay 44
2.2.3 Thực trạng động cơ tự học của sinh viên 45
2.2.4 Thực trạng về kỹ năng tự học của sinh viên 47
2.2.5 Đánh giá thực trạng hoạt động tự học của sinh viên trường Đại học Kinh Bắc 53
Trang 72.3 Thực trạng quản lí hoạt động tự học của Sinh viên trường Đại học
Kinh Bắc, tỉnh Bắc Ninh 55
2.3.1 Nhận thức của CBQL, GV trường Đại học Kinh Bắc về vai trò, ý nghĩa của quản lý hoạt động tự học 55
2.3.2 Thực trạng nội dung quản lí hoạt động tự học của Sinh viên 57
2.3.3 Thực trạng quản lý cơ sở vật chất phục vụ hoạt động tự học của sinh viên 71
2.3.4 Đoàn thanh niên và hội sinh viên trong quản lí hoạt động tự học của sinh viên trường Đại học Kinh Bắc, Bắc Ninh 74
2.4 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường Đại học Kinh Bắc, Bắc Ninh 79
2.5 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường Đại học Kinh Bắc, Bắc Ninh 86
Tiểu kết chương 2 88
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH BẮC TỈNH BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH 89
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 89
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 89
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 89
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 90
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 90
3.2 Các biện pháp quản lí hoạt động tự học của sinh viên trường Đại học Kinh Bắc, tỉnh Bắc Ninh 91
3.2.1 Tổ chức nâng cao nhận thức về tự học cho sinh viên 91
3.2.2 Tăng cường quản lý kế hoạch tự học của sinh viên 95
3.2.3 Tăng cường quản lý việc đổi mới phương pháp dạy học của giảng viên theo hướng phát huy năng lực tự học của sinh viên 99
Trang 83.2.4 Chỉ đạo thay đổi nội dung, hình thức kiểm tra, đánh giá thể hiện kết
quả tự học của sinh viên 104
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 108
3.4 Khảo nghiệm về mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp 110
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 110
3.4.2 Nội dung và cách thức khảo nghiệm 110
3.4.3 Kết quả khảo nghiệm 111
Tiểu kết chương 3 116
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 117
TÀI LIỆU THAM KHẢO 120 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Bộ LĐTB&XH Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Thái độ học tập trong hoạt động tự học của sinh viên trường
đại học Kinh Bắc 46Bảng 2.2 Mức độ thực hiện các kỹ năng tự học của sinh viên trường đại
học Kinh Bắc 51Bảng 2.3: Ý nghĩa và tầm quan trọng của quản lý hoạt động tự học đối
với việc nâng cao trình độ nhận thức của sinh viên 55Bảng 2.5: Thực trạng tổ chức hoạt động tự học của sinh viên 62Bảng 2.6: Thực trạng chỉ đạo hoạt động tự học của sinh viên 64Bảng 2.7 Thực trạng quản lý kiểm tra đánh giá hoạt động tự học của
sinh viên 69Bảng 2.8 Thực trạng quản lý cơ sở vật chất, đảm bảo trang thiết bị phục
vụ cho hoạt động tự học 72Bảng 2.9: Mức độ thường xuyên tổ chức các hoạt động của Đoàn thanh
niên và hội sinh viên trong quản lí hoạt động tự học của sinhviên trường Đại học Kinh Bắc, Bắc Ninh 75Bảng 2.10: Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tự học của sinh viên
trường Đại học Kinh Bắc, Bắc Ninh 80Bảng 3.1: Kết quả khảo sát tính cấp thiết của các biện pháp quản lý
111hoạt động tự học của sinh viên trường Đại học Kinh Bắc,Bắc Ninh 111Bảng 3.2: Kết quả khảo sát tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động
tự học của sinh viên trường Đại học Kinh Bắc, Bắc Ninh 113
Trang 11DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Biểu đồ 2.1: Nhận thức của sinh viên Đại học Kinh Bắc về tầm quan
trọng của hoạt động tự học 42Biểu đồ 2.2: Mức độ thực hiện việc lập kế hoạch và thực hiện thời gian
biểu cho hoạt động tự học của sinh viên Đại học Kinh Bắc 44Biểu đồ 2.3: Mục đích hoạt động tự học của sinh viên đại học Kinh Bắc 46Biểu đồ 2.4: Mức độ quan tâm của các thầy cô và CBQL đến việc tự
học của sinh viên trường đại học Kinh Bắc 60Biểu đồ 2.5: Mức độ hiệu quả của bộ máy quản lý hoạt động tự học của
sinh viên đại học Kinh Bắc 61Biểu đồ 3.1: Mức độ cần thiết của các biện pháp quản lý hoạt động tự
học của sinh viên trường Đại học Kinh Bắc, Bắc Ninh 112Biểu đồ 3.2: Mức độ khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động tự học
của sinh viên trường Đại học Kinh Bắc, Bắc Ninh 114
Trang 12có được tư duy tốt nhất để chiếm lĩnh kiến thức một cách hiệu quả, thì trongquá trình học tập cần nhất là phải xây dựng phương pháp học tập riêng chomình, gọi là cách tự học.
Tự học là một yêu cầu không thể thiếu đối với mỗi công dân nói chung,
thế hệ trẻ, sinh viên nói riêng Tư tưởng Hồ Chí Minh bàn về việc "lấy tự học làm gốc" đã được nhân dân ta luôn coi trọng Điều 5 của Luật Giáo dục 2005 quy định "Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên"; "… đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh phát triển phong trào tự học, tự đào tạo "; "… tạo ra năng lực tự học sáng tạo của mỗi học sinh" [24].
Ở trường Đại học, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của mỗi sinh viên lànhiệm vụ học tập, bằng các hoạt động học tập khác nhau, sinh viên tự hìnhthành và phát triển nhân cách cho mình và trường Đại học có trách nhiệm tạomọi điều kiện thuận lợi về quản lý, hướng dẫn, hỗ trợ, giúp đỡ… để sinh viên
có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập của bản thân Tuy nhiên, việc quản lýhoạt động học tập của sinh viên không chỉ giới hạn trong quản lý giờ học ởtrên lớp mà còn bao gồm cả quản lý hoạt động học tập của sinh viên ngoài giờtrên lớp thông qua các hoạt động tự học, tự nghiên cứu, học nhóm, học ở thưviện…
Trang 13Trường Đại học Kinh Bắc - ngôi trường trực thuộc bộ Giáo dục và Đàotạo, là đối tác của rất nhiều doanh nghiệp, tập đoàn lớn trong và ngoài nước,điều này vừa đồng thời tạo ra vừa đòi hỏi một sự thay đổi lớn về công tác quản
lý đào tạo của Nhà trường Tuy nhiên, thực tế cho thấy chất lượng đào tạo củaTrường chưa thực sự đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội Tình hình hoạtđộng tự học của sinh viên trường Đại học Kinh Bắc còn nhiều hạn chế, dẫn tớichất lượng thấp Theo báo cáo tổng kết năm học của nhà trường năm học 2018
- 2019 thì hoạt động tự học của sinh viên trong trường vẫn chưa đáp ứng vớiyêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, một số khâu trong hoạt động tự họcchưa được đổi mới rõ nét… Điều này có thể do nhiều nguyên nhân chủ quan,khách quan khác nhau, trong đó, các biện pháp quản lý có thể là một trongnhững yếu tố tác động không nhỏ đến chất lượng đào tạo Do vậy vấn đề đặt ra
là chúng tôi cần có sự xem xét, đánh giá tình hình thực trạng tự học của sinhviên hiện nay và những yếu tố cản trở việc nâng cao chất lượng tự học, từ đóxác định các biện pháp nâng cao kết quả hoạt động tự học của sinh viên, đápứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường
Lý luận về khoa học quản lý cho thấy, hoạt động có ý thức của con ngườiluôn bao hàm ý nghĩa của quản lý Để đạt được mục đích đề ra, các biện pháp,phương thức quản lý luôn được xem là một nhân tố quan trọng Thực tế chothấy, việc quản lý hoạt động tự học, nhất là quản lý hoạt động tự học của sinhviên còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa được quan tâm đúng mức và hiệu quả cònthấp; việc nhận thức vấn đề này ở một số cấp quản lý, cán bộ quản lý, giáo viênchưa đầy đủ, năng lực trình độ, kinh nghiệm và phương pháp quản lý còn yếukém, nặng nề về quản lý hành chính
Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên, chúng tôi chọn đề tài “Quản lý
hoạt động tự học của sinh viên trường Đại học Kinh Bắc, Bắc Ninh”để
nghiên cứu, với mong muốn tìm ra các biện pháp quản lý hoạt động tự học hiệuquả góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của sinh viên
Trang 142 Mục đích nghiên cứu
Luận giải làm rõ cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lí hoạt động tự học củasinh viên, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động tự học của sinh viên tại trườngđại học Kinh Bắc, Bắc Ninh Đề tài đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động
tự học của sinh viên nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Đại học KinhBắc, Bắc Ninh
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tự học của sinh viên 3.2 Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động
tự học của sinh viên tại trường Đại học Kinh Bắc, Bắc Ninh
3.3 Đề xuất biện pháp quản lí hoạt động tự học của sinh viên trường Đại
học Kinh Bắc, Bắc Ninh trong giai đoạn hiện nay
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Quản lý quá trình tự học của sinh viên ở trường đại học
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường Đại học KinhBắc, Bắc Ninh
5 Giả thuyết khoa học
Nếu áp dụng các biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên do tácgiả đề xuất một cách khoa học, đồng bộ và phù hợp thì chất lượng hoạt độnghọc tập của sinh viên trường Đại học Kinh Bắc sẽ được nâng cao và đáp ứngmục tiêu đào tạo của nhà trường trong giai đoạn hiện nay
6 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Về nội dung nghiên cứu
Luận văn đi sâu nghiên cứu biện pháp quản lý của tổ chức Đoàn và Hộisinh viên
Trang 156.2 Về khách thể nghiên cứu
Luận văn khảo sát 50 cán bộ quản lý hoạt động tự học ở trường Đại họcKinh Bắc, Bắc Ninh
6.3 Về thời gian nghiên cứu
Luận văn tiến hành nghiên cứu từ năm 2019 đến năm 2020
7 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ của đề tài, tôi sử dụng các nhómphương pháp sau:
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa các tài liệuliên quan đến lĩnh vực nghiên cứu (các văn bản quy phạm pháp luật, các vănbản chỉ đạo và quản lí giáo dục, các công trình, các tài liệu khoa học ) nhằmxác lập cơ sở lí luận của đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát: Quan sát thực tiễn HĐTH của sinh viên và công
tác quản lý HĐTH của sinh viên
Phương pháp điều tra bảng hỏi: bằng các phiếu trưng cầu ý kiến để khảo
sát thực trạng tự học của sinh viên và thực trạng biện pháp quản lý hoạt động tựhọc, mức độ cấp thiết và khả thi của các biện pháp quản lý HĐTH đối với sinhviên đã được đề xuất
Phương pháp phỏng vấn sâu: phỏng vấn, nói chuyện trực tiếp với sinh
viên, giáo viên, cán bộ quản lý để tìm hiểu về thực trạng hoạt động tự học củasinh viên và quản lý hoạt động tự học của sinh viên
Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia: xin ý kiến của các chuyên gia về
cách xử lý kết quả điều tra, các biện pháp quản lý đề xuất
7.3 Nhóm phương pháp hỗ trợ
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý kết quả điều tra,phương pháp kiểm định giả thuyết để kiểm chứng tính đúng đắn, khoa học vàkhả thi của các biện pháp đề xuất
Trang 16viên trường Đại học Kinh Bắc.
- Đề xuất các biện pháp quản lí cho tổ chức Đoàn và hội sinh viên để quản lí hoạt động tự học của sinh viên ở trường Đại học Kinh Bắc
9 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tự học của sinh viên trườngđại học
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường đạihọc Kinh Bắc, tỉnh Bắc Ninh
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt đông tự học của sinh viên trường đạihọc Kinh Bắc, tỉnh Bắc Ninh
Ngoài ra, luận văn còn có phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các tài liệutham khảo và Phụ lục
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC
CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Trên thế giới
Vấn đề tự học đã được nghiên cứu và tìm hiểu từ rất lâu trong lịch sửphát triển của giáo dục Tuy nhiên, ở từng giai đoạn phát triển của lịch sử thìvấn đề tự học lại được đề cập ở nhiều góc độ và hình thức khác nhau
Từ thế kỷ XVII, một số nhà giáo dục học như: J.A Comensky 1670); G.Brousseau (1712-1778); J.H Pestalozzi (1746-1872); A.Disterweg(1790-
(1592-1866) ở các tác phẩm của mình đều nhấn mạnh về tính chủ động, tích cực củahọc sinh, đặc biệt J.A Comensky là nhà giáo dục vĩ đại của dân tộc Séc và củathế giới Nhiều vấn đề do ông xây dựng có giá trị mở đường để giáo dục tiến tới
sự hoàn thiện Ông đã để lại trên 250 công trình có giá trị về văn hóa, khoa học,văn chương nhưng nổi bật nhất vẫn là lĩnh vực giáo dục, ông đã khuyến khíchngười học khám phá, tìm tòi trong quá trình học tập để lĩnh hội tri thức Nhà sưphạm lỗi lạc người Tiệp Khắc J A Comenxky đã khẳng định: “Không có khátvọng học tập thì không thể trở thành tài năng”; “Việc học hành, muốn trau dồikiến thức vững chắc không thể làm một lần mà phải ôn đi ôn lại, có bài tậpthường xuyên phù hợp với trình độ” [34, tr.40]
Robert Fisher khi nghiên cứu về cách dạy học cho rằng, người học thànhcông không chỉ giàu kiến thức mà còn phải biết học như thế nào Tác giả trìnhbày 10 chiến lược học có hiệu quả gắn bó nhất với thành công trong học tập, đólà: tư duy để học, đặt câu hỏi, lập kế hoạch, lập dàn ý, vẽ sơ đồ nhận thức, thảoluận, tư duy đa hướng, học tập hợp tác, kèm cặp, xây dựng cộng đồng học tập
[26] Trong cuốn “Nền giáo dục cho thế kỉ 21: Những triển vọng của châu Á Thái Bình Dương”, nhà nghiên cứu Raja Roy Singh [25], đã nghiên cứu vai trò
Trang 18của NLTH trong việc học tập thường xuyên, học tập suốt đời Ông đề cao vaitrò cố
Trang 19vấn của người thầy trong việc hình thành và phát triển NLTH của người học.Rubakin (1862-1946) trong tác phẩm “Tự học như thế nào”[27], đã trình bàynhiều vấn đề về tự học và phương pháp tự học, đặc biệt phương pháp sử dụngtài liệu Theo ông “Hãy mạnh dạn tự mình đặt ra câu hỏi, rồi tự mình tìm lấycâu trả lời Đó là phương pháp tự học” Ông cũng cho rằng, nhiệm vụ củangười thầy phải xây dựng được các bài tập nghiên cứu, hình thành cho SV nhucầu giải quyết các bài tập nghiên cứu là một trong các biện pháp hình thành vàphát triển NLTH của SV Đây cũng là quan điểm thống nhất của nhiều tác giả
Hiện nay có nhiều nhà GD, đã có nhiều nghiên cứu toàn diện về đào tạo ở
ĐH nói chung và đào tạo giáo viên nói riêng, xuất bản nhiều sách, tạp chí liênquan đến vấn đề này Thông qua sách, báo, tạp chí, họ cung cấp đa dạng cácphương pháp tiếp cận để đào tạo GV, trong đó có vấn đề tự học trong đào tạoGV; các phương pháp, biện pháp tổ chức HĐTH cho SV Chẳng hạn:
- Hai nhà giáo dục Ấn Độ Sharma và Ahmed (1986) [50], trong tác phẩm
“Phương pháp dạy học ở trường ĐH” đã trình bày HĐTH như là một hình thức
tổ chức dạy học có hiệu quả Theo tác giả: Cốt lõi của hình thức tổ chức dạyhọc này là quá trình điều khiển gián tiếp của GV đối với quá trình tự học của
SV thông qua việc giao nhiệm vụ nhận thức đã được thiết kế thành dạng phùhợp, nhằm thực hiện mục đích và nhiệm vụ học tập đã được xác định; việc xâydựng và sử dụng hệ thống bài tập cho SV tự học, tự nghiên cứu có vai trò đặcbiệt quan trọng; có thể dạy cho SV bằng nhiều hình thức khác nhau tuỳ theođiều kiện, hoàn cảnh, tuỳ theo tính chất đặc thù môn học và nội dung yêu cầucủa bài học; nhưng dù tuân theo hình thức nào thì cũng phải thực hiện theo cácgiai đoạn
sau:
Giai đoạn 1: Giáo viên thiết kế câu hỏi bài tập, cung cấp nguồn tài liệucần thiết cho câu hỏi bài tập và chỉ dẫn cụ thể những gì SV phải làm để hoànthành câu hỏi bài tập
Giai đoạn 2: Giáo viên tổ chức cho SV tự nghiên cứu, tự làm câu hỏi bàitập với sự hỗ trợ của những thông tin có sẵn
Trang 20Giai đoạn 3: GV làm việc với SV trên lớp theo hình thức cá nhân hay tậpthể thông qua những hình thức khác nhau: Thảo luận, xêmina, củng cố ôn tập,xây dựng bài giảng, kiểm tra đánh giá, tự kiểm tra, tự đánh giá
- Nhà GD Mĩ - Susan A Turner (2010) [51], bằng kinh nghiệm bản thân
và tổng quan các tài liệu cho rằng: để tự học cần thiết kế các chủ đề học tập,trong đó mỗi chủ đề cần quan tâm tới các vấn đề: (1) Xác định tên chủ đề:nghiên cứu tài liệu → xác định nội dung cơ bản, cốt lõi → thiết lập mối quan hệ
→ thiết kế chủ đề → xác định tên chủ đề; (2) Chủ đề phải thật sự có ích và chophép trình bày chọn vẹn mục tiêu học tập; (3) Để tiến hành tổ chức tự học cần
có câu hỏi định hướng, kích thích nhu cầu, động cơ học tập và giúp SV tự thiếtlập được kế hoạch học tập; (4) SV phải tự lập được kế hoạch và thực hiện được
kế hoạch đã đặt ra Kế hoạch phải ngắn gọn, rõ ràng, khả thi và nằm trong nhucầu giải quyết của SV; (5) Khi tự nghiên cứu để trả lời các câu hỏi định hướng,cần tập trung vào trả lời “Là gì?”, “Như thế nào”, “Tại sao?”, ít tập trung phântích số liệu cụ thể; kết quả nghiên cứu phải định tính, định lượng được; cần có
sự chia sẻ thông tin từ GV và các SV khác; (6) Phải thiết kế được bảng hỏi đểđánh giá trước, trong và sau quá trình tự học của SV Thông tin phản hồi từngười học giúp điều chỉnh HD tự học tốt hơn
Trong tài liệu self-study Reassearch Methodologies for TeacherEducators, SensePublishers của Cynthia A Lassonde, Sally Galman and ClareKosnik (Eds.) (2006) [48], đề cập đến vấn đề đào tạo giáo viên hiện nay Nộidung chính của cuốn sách bao gồm 3 phần: (1) Tổng quan các vấn đề quá khứ
và triển vọng, giá trị đích thực, phân tích và phiên giải nghiên cứu về tự học;(2) Các PPNC chủ yếu như: phỏng vấn, trải nghiệm cá nhân, thực nghiệm, thựchiện những HĐTH, (3) Triển vọng ứng dụng của tự học Tác giả cho rằng,trong tự học GV tập trung chủ yếu phát triển cá nhân người học, rèn luyện khảnăng nhận thức thông qua đánh giá lợi ích học tập, hành vi học tập, nội dung
và bối cảnh thực hiện Nghiên cứu kết quả tự học cần tập trung vào 2 vấn đềcủa SV: (1) tri thức môn học và phương pháp học tập
Trang 21Megan H L Tucker (2011) [49], cho rằng để nghiên cứu về tự học, (1)bản thân GV bằng quan sát và kinh nghiệm trong lớp học phải tự đặt ra các câuhỏi, chẳng hạn như: biểu hiện như thế nào được cho là tự học tốt?, có nhữngphương pháp, biện pháp nào giúp SV tự học tốt?,…, đồng thời tự trả lời các câuhỏi đó; (2) trao đổi câu trả lời đó với SV, đồng nghiệp; lập kế hoạch để sử dụngcác phương pháp, biện pháp cải thiện việc tự học của SV; (4) ban hành tài liệu
HD sử dụng phương pháp, biện pháp đó trong quá trình tự học của SV và đánhgiá hiệu quả sử dụng chúng; (5) chia sẻ kinh nghiệm trong quá trình nghiên cứu[dẫn theo 16]
là bắt chước, hay chỉ là học thuộc lòng Chưa quan tâm đến sự sáng tạo, tìm tòihọc
hỏi
Đến thời kỳ thực dân Pháp đô hộ, nền giáo dục nước ta vẫn còn lạc hậu,chậm đổi mới Vấn đề tự học vẫn chỉ tập trung ở một số tầng lớp, không đượcphổ biến rộng và nghiên cứu sâu
Chỉ đến khi nền giáo dục cách mạng ra đời năm 1945 thì vấn đề tự họcmới thực sự được tìm hiểu một cách nghiêm túc, phát triển sâu rộng, và chủ tịch
Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực về tinh thần và phương pháp tự học, lấy tựhọc làm cốt, làm phương thức chủ yếu để nâng cao trình độ mọi mặt của bảnthân Tự học ở Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành một triết lý nhân văn sâu sắcvới một kế hoạch cụ thể, chặt chẽ, khoa học; với một ý chí và quyết tâm bền bỉ,dẻo dai, tinh thần sáng tạo, tranh thủ mọi lúc, mọi nơi để học Tấm gương sángcủa Người là nguồn cổ vũ, nguồn cảm hứng vô tận cho mỗi người Việt Namtrong xây dựng xã hội học tập hiện nay Người từng nói: “còn sống thì còn phảihọc”, và cho rằng: “về cách học phải lấy tự học làm cốt”, đây được coi là
Trang 22phương châm, là chủ đề nòng cốt trong phương pháp dạy học ở các trường Đạihọc hiện
Trang 239 năm 192 6 - 8 th á n g 2 năm 2017 ) là một Giáo sư Toán học Việt Nam,nguyên Hiệu trưởng trường Đ ạ i họ c S ư ph ạ m H à N ội , Thứ trưởng B ộ G i á odụ
c V i ệ t N am (1976-1989), Phó Chủ tịch H ộ i T o á n họ c V i ệ t N a m và TổngBiên tập Tạp chí T o á n h ọ c v à T u ổ i tr ẻ trong hơn 40 năm Ông được báo chítrong nước đánh giá là một tấm gương tự học thành tài và có công lao trongviệc đào tạo và xây dựng đội ngũ những giáo viên toán Ông là một trongnhững nhà Toán học Việt Nam đầu tiên có luận văn được nghiên cứu trongnước và bảo vệ ở nước ngoài
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề giáo dục, vấn đề học tập
và rèn luyện Có nhiều bài phát biểu, bài viết trong những thời điểm, hoàn cảnhlịch sử khác nhau nhưng bao giờ Bác cũng nhấn mạnh đến tác dụng và hiệu quả
to lớn của việc học tập và rèn luyện Bác cho rằng học tập giúp con người tiến
bộ, nâng cao phẩm chất, mở rộng hiểu biết, làm thay đổi hiệu quả lao động Đặcbiệt, Bác rất nhấn mạnh đến tác dụng của tự học Tại Hội nghị toàn quốc lần thứnhất về công tác huấn luyện và học tập khai mạc ngày 6 tháng 5 năm 1950, Bác
đã khuyên học viên: “Không phải có thầy thì học, thầy không đến thì đùa Phải biết tự động học tập” Ở tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (1947), khi nói về công tác huấn luyện cán bộ, Bác cũng nhắc nhở về cách học tập: "Lấy tự học làm cốt Do thảo luận và chỉ đạo góp vào” [dẫn theo 45, Tr.57] Như vậy, theo
Bác việc tự học giữ vai trò rất quan trọng, có tác dụng quyết định cho kết quảhọc tập Việc tự học phải xuất phát từ động lực của chính bản thân người học,nhưng vẫn cần sự hỗ trợ, tác động từ môi trường học tập, cần sự chỉ đạo hướngdẫn của nhà trường, của người thầy
Trang 24Tác giả Phạm Trung Thanh, đã xác lập mô hình về phương pháp học nghiên cứu của SV gồm các thành phần: xác định mục đích, động cơ, thái độ,việc học ở trên lớp; việc học tập nghiên cứu ở nhà; việc học tập, nghiên cứu ởtập thể; việc học tập nghiên cứu qua kiểm tra - thi…[31]
tập-Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng, để hướng dẫn tự học phải viết tàiliệu in ra và HD người học tự học Tài liệu HD phải vạch ra được kế hoạch họctập, phương pháp học, nội dung tài liệu hướng dẫn tự học phải chỉ ra được mốiquan hệ lôgic giữa các chương, vẽ ra một sơ đồ về mối quan hệ đó Việc hướngdẫn nên thể hiện ra bằng những câu hỏi hoặc bài tập nhỏ [37], [38]
Thái Duy Tuyên (2010) [43, tr.195], nhận định “Có thể chuyển từ phương pháp khoa học thành phương pháp tự học của HS, SV” Bởi vì nhà
khoa học và SV đều có một chức năng xã hội như nhau: Đều nhận thức và cảitạo thế giới họ, là con đường cùng một mẹ, chỉ khác nhau về trình độ nhận thức
mà thôi Đây là một hướng quan trọng để phát triển lí luận và triển khai khảnăng ứng dụng thực tiễn của các phương pháp tự học, nhằm góp phần nâng caochất lượng nhà trường Theo tác giả: Hình thức và đối tượng tự học hết sứcphong phú và đa dạng Đối với mỗi con người trong suốt cuộc đời có lẽ đềuphải kinh qua các dạng tự học trên Tuy nhiên lí thuyết về tự học còn ít đượcnghiên cứu và phổ biến, nên đến nay nhìn chung, mỗi người đều tự tìm tòi rútkinh nghiệm, để xác định cho mình một phương pháp tự học riêng Tuy nhiênđối với nhiều người đó là việc làm không phải dễ Vì vậy, đẩy mạnh công tácnghiên cứu về tự học trong điều kiện hiện nay là hết sức cần thiết để góp phầnnâng cao chất lượng và hiệu quả tự học
Tác giả Lê Đức Ngọc [22],[23] cho rằng: để người học có NLTH suốt đờithì người thầy phải dạy cho SV cách học Yêu cầu SV không chỉ học biết, họchiểu, học vận dụng mà còn học phân tích, học tổng hợp, học đánh giá và nhất làhọc phương pháp học tập (học có kế hoạch, học có tư duy, học có sáng tạo).Người thầy dạy phương pháp học môn học sẽ làm cho người học có tiềm năng
tự phát triển học vấn
Trang 25Hiện nay, vấn đề tự học càng trở lên cấp bách, nên đã và đang có nhiềunhiều công trình nghiên cứu đề cập đến việc sử dụng các biện pháp nhằm pháttriển NLTH cho SV Trong đó:
Tác giả Trịnh Quang Từ [44] đã nghiên cứu và đưa ra những phươnghướng tổ chức HĐTH của SV trong các trường quân sự Với đặc thù riêng củatrường quân sự tác giả đã đề xuất 3 phương hướng để tổ chức HĐTH cho SVquân sự: thứ nhất là hình thành cho SV hệ thống KNTH; thứ hai là cho SV thựchiện một hệ thống bài tập nhận thức để củng cố kiến thức; thứ ba là thực hiệnkiểm tra đánh giá kết quả tự học của SV
Tác giả Nguyễn Thị Tính [36] đã đề xuất các biện pháp tổ chức HĐTHmôn Giáo dục học cho SV các trường ĐHSP, trong đó tác giả đã đưa ra nhómbiện pháp tổ chức HĐTH môn giáo dục học ở trên lớp, ở nhà và tăng cường tổchức câu lạc bộ theo môn học nhằm rèn luyện NVSP cho SV
Tác giả Nguyễn Kim Thành [32] đã đề xuất một số giải pháp phát triểnNLTH Vẽ kĩ thuật như: yêu cầu đọc tài liệu, phát triển NLTH cho SV trong bàigiảng, tổ chức các hoạt động tự lực của SV, tập dượt NCKH, biên soạn tài liệu
tự học, bồi dưỡng KN vẽ hình trong vẽ kĩ thuật cho SV
Theo tác giả Dương Thị Thanh Huyền [16]: “Tự học là mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học Bồi dưỡng NLTH là phương cách tốt nhất để tạo ra động lực mạnh mẽ cho quá trình học tập và tự học giúp cho mọi người có thể
tự học suốt đời” Theo tác giả, nội dung của quá trình tự học bao gồm: Xây
dựng động cơ học tập, xây dựng kế hoạch học tập, tự mình nắm vững nội dungtri thức, tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập Từ đó đề xuất cách dạy phươngpháp tự học cho SV: Dạy cách lập kế hoạch học tập, dạy cách nghe giảng vàghi chép theo tinh thần tự học, dạy cách học bài, dạy cách nghiên cứu Đặc biệttác giả nhấn mạnh phải dạy cách tự học cho SV ĐH vì tự học là mảnh đất tốtcho bất kì ai có khát vọng học tập suốt đời
Trang 26Tác giả Đỗ Thị Phương Thảo (2013), đề xuất 5 biện pháp sư phạm nhằmrèn luyện và phát triển kỹ năng tự học Toán cho sinh viên đại học sư phạm Tiểuhọc (1) Bồi dưỡng động cơ tự học; (2) Tổ chức các HĐTH; (3) Xây dựng vàvận dụng tình huống tự học; (4) Xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn theo cáctình huống tự học; (5) Tổ chức seminar kiến thức Toán học cho sinh viên ĐH sưphạm Tiểu học [29]
Nguyễn Thanh Hùng (2010) [18], từ tư tưởng tự học của Khổng tử, đềxuất biện pháp tự học cho SV trường ĐHSP Huế: Phát huy tinh thần chủ động,cần cù, nghiêm túc thống nhất hoạt động dạy với hoạt động tư duy bằng cách tổchức HĐTH một cách khoa học, nghiêm túc ở nhà, trên lớp, thư viện,…bằngcách chuẩn bị tốt các phương tiện để ghi chép, ghi nhớ, lưu giữ những vấn đề đãhọc; chuẩn bị không gian học thuận tiện; đồng thời thường xuyên làm bài tập;tranh thủ học bạn, học nhóm để tập hợp kiến thức cần thiết, bằng cách tổ chứchọc nhóm, tổ chức seminar, tổ chức học theo chuyên đề; sưu tầm, xử lí, lưu giữ,thành lập ngân hàng kiến thức cần thiết, cơ bản đối với các môn học; trang bịcho SV KN KT-ĐG để SV thường xuyên tiến hành hoạt động này [48] Nhiềutác giả cho rằng, có thể sử dụng sơ đồ tư duy, DHTDA, bài tập tình huống đểphát triển NLTH
Tác giả Trần Đức Khoán - Nguyễn Hoàng Sơn (2015) [20], cho rằng có 5biện pháp phát triển NLTH của SV (1) phát triển NL xây dựng kế hoạch tự họccủa SV, (2) phát triển NL nghe giảng và ghi bài của SV, trong đó chú ý đặt vấn
đề trong quá trình nghe giảng, (3) Bồi dưỡng NL tư duy cho SV thông qua cácHĐTH bằng các câu hỏi mà khi giải quyết chúng có sử dụng các thao tác tư duy(phân tích, so sánh, ), (4) Phát triển NL đọc tài liệu tham khảo và khai thác kiếnthức trên mạng internet, (5) Bồi dưỡng NL đánh giá và tự đánh giá kết quả họctập [52]
Điểm qua các công trình nghiên cứu trên đây về hoạt động học tập củasinh viên, chúng ta thấy rằng hoạt động học tập của sinh viên đã có những cơ sở
Trang 27lý luận rất vững chắc Tuy nhiên, những công trình đi sâu nghiên cứu về quản lýhoạt động học tập của sinh viên trong trường Đại học tại địa bàn thành phố Bắc
Trang 28Ninh còn ít được chú trọng và chưa có nhiều Trong đó, công tác quản lý hoạtđộng tự học của sinh viên trường Đại học Kinh Bắc chưa có tác giả nào nghiêncứu, do đó, qua đề tài này, chúng tôi tập trung nghiên cứu đánh giá đúng thựctrạng quản lý hoạt động tự học, từ đó, đưa ra các giải pháp góp phần nâng caohiệu quả công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường Đại học KinhBắc, Bắc Ninh
1.2 Những khái niệm cơ bản của đề tài
theo 45, Tr.33]
Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống: “Quản lý là phương thức tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên hệ thống bao gồm hệ các quy tắc ràng buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì tính trội hợp lý của cơ cấu và đưa hệ sớm đạt tới mục tiêu” [dẫn theo 11].
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học thì A Fayon cho rằng: “Quản lý
là đưa xí nghiệp tới đích, cố gắng sử dụng các nguồn lực nhân, tài, vật, lực của nó” F.W Taylor quan điểm “Quản lý là nghệ thuật biết ro ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất” [dẫn theo 11]; hoặc H.Koontz thì khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm, tổ chức với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn với kiến thức thì quản lý là một khoa học” [dẫn theo 19].
Trang 29Về khái niệm quản lý có nhiều cách định nghĩa khác nhau:
Trang 30Sơ đồ diễn tả khái niệm quản lý:
Chủ thể
quản lý
Đối tượngquản lý Mục tiêuquản lý Khách thểquản lý
Sơ đồ chức năng của quản lý:
Kế hoạchhoạch
Kiểm tra Thông tin Tổ chức
Chỉ đạo
1.2.2 Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường
Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợpcác lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầuphát triển xã hội.Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên,công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà giáo dục cho mọi người
Trang 31Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục là tổ chức hoạt động dạy học, hoạtđộng giáo dục, vận hành nhà trường, cơ sở giáo dục phù hợp với chức năng, sứmệnh, tính chất của nhà trường, cơ sở giáo dục.
Quản lý giáo dục dược tiếp cận dưới hai góc độ là góc độ vĩ mô và góc độ
vi mô
Ở góc độ vĩ mô chủ thể quản lý giáo dục là hệ thống các cơ quan quản lýgiáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân, đối tượng của quản lý là hệ thốnggiáo dục quốc dân và hệ thống quản lý, mục tiêu của quản lý là nâng cao dântrí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước vì vậy khái niệm quản lý
có thể hiểu như sau:
Quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có mục đích, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục, nhằm đảm bảo cho hệ thống giáo dục vận hành, phát triển, thực hiện mục tiêu của nền giáo.
Ở góc độ vi mô chủ thể quản lý giáo dục là chủ thể quản lý nhà trường(Hiệu trưởng, giám đốc cơ sở giáo dục), đối tượng của quản lý là các quá trìnhdạy học, quá trình giáo dục và các thành tố tham gia vào các quá trình đó (giáoviên, sinh viên, các lực lượng khác, cơ sở vật chất, tài chính…) vì vậy kháiniệm quản lý có thể hiểu như sau:
Quản lý nhà trường là hệ thống tác động của mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhà trường giúp cho nhà trường vận hành theo đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng, thực hiện được mục tiêu, tính chất của nhà trường Việt Nam đó là hình thành phát triển nhân cách người học theo yêu cầu xã hội.
1.2.3 Tự học
Theo tác giả Lê Khánh Bằng: "Tự học là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định" [40, Tr.3].
Trang 32Đối với Nguyễn Hiến Lê, trong quyển "Tự học - một nhu cầu thời đại” ông lại quan niệm "… không ai bắt buộc mà mình tự tìm tòi, học hỏi để hiểu biết thêm và có thầy hay không, ta không cần biết Người tự học hoàn toàn làm chủ mình, muốn học môn nào tuỳ ý, muốn học lúc nào cũng được, đó mới là điều kiện quan trọng", ông cũng trích dẫn để làm rõ hơn về khái niệm và tầm quan trọng của tự học "Mỗi người đều nhận hai thứ giáo dục: Một thứ, do người khác truyền cho, một thứ quan trọng hơn nhiều, do mình tự kiếm lấy".
[dẫn theo 47, Tr.39]
Theo Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có cả cơ bắp cùng các phẩm chất của mình, cả động cơ tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình Việc tự học
sẽ được tiến hành khi người học có nhu cầu muốn hiểu biết một kiến thức nào
đó và bằng nỗ lực của bản thân cố gắng chiếm lĩnh được kiến thức đó” [38,
Tr.59]
Nguyễn Thạc và Phạm Thành Nghị định nghĩa “Hoạt động học tập ở đại học là một loại hoạt động tâm lý được tổ chức một cách độc đáo của sinh viên nhằm mục đích có ý thức là chuẩn bị trở thành người chuyên gia phát triển toàn diện, sáng tạo và có trình độ nghiệp vụ cao” [28, tr 104].
Hồ Ngọc Đại cho rằng “Học đại học khác với học phổ thông là sinh viên phải tự học, tự nghiên cứu dưới sự tổ chức, điều khiển của giảng viên để tìm ra chân lý” [dẫn theo 19, tr 102].
Tác giả Lưu Xuân Mới [21, tr 18], cho rằng: “Tự học là hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và KN do chính
SV tiến hành ở trên lớp, ở ngoài lớp theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã được quy định Tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở
ĐH có tính độc lập cao và mang đậm nét sắc thái cá nhân nhưng có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học”; Nguyễn Cảnh Toàn [39, tr.59], Thái Duy
Trang 33Tuyên [43] cho rằng: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí
Trang 34tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, ý chí tiến thủ không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học…) để chiếm lĩnh tri thức”.
Tác giả Nguyễn Kỳ cũng nêu: “Tự học là người học tích cực chủ động, tựmình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình
Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tìnhhuống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp…Tự học thuộc quátrình cá nhân hóa việc học” [40, tr.2]
Định nghĩa về tự học (self- directed learning) của Malcolm ShepherdKnowles được sử dụng nhiều hơn cả trong các nghiên cứu về giáo dục học, đó
là “Tự học là một quá trình mà người học tự thực hiện các hoạt động học tập,
có thể cần hoặc không cần sự hỗ trợ của người khác, dự đoán được nhu cầu họctập của bản thân, xác định được mục tiêu học tập, phát hiện ra nguồn tài liệu,con người giúp ích được cho quá trình học tập, biết lựa chọn và thực hiện chiếnlược học tập và đánh giá được kết quả thực hiện” [dẫn theo 35, tr.26]
Từ những quan niệm của các tác giả đã nêu chúng tôi cho rằng: Tự học là tự
thực hiện HĐTH, có thể cần hoặc không cần sự hỗ trợ của người khác để tìm tòi, khám phá lĩnh hội tri thức mới; vận dụng tri thức vào giải quyết các nhiệm vụ học tập; rèn luyện và phát triển KN.
1.2.4 Quản lý hoạt động tự học
Quản lý hoạt động tự học là hệ thống những tác động có mục đích, có
kế hoạch, hợp quy luật của nhà quản lý đến tất cả các khâu của hoạt động tựhọc trong nhà trường giúp sinh viên hoàn thành được nhiệm vụ học tập Quản
lý hoạt động tự học là một nội dung quản lý rất quan trọng của hoạt động quản
lý nhà trường Vì nếu quản lý tốt hoạt động tự học của sinh viên sẽ nhân lên
Trang 35và tạo ra những nguồn lực tiềm tàng đảm bảo chất lượng và ngược lại nếuquản lý kém sẽ làm suy yếu các nguồn lực và làm giảm chất lượng học tập củasinh viên.
Mục tiêu của hoạt động quản lý tự học
Mọi hoạt động quản lý đều xuất phát từ mục tiêu quản lý Nếu xác địnhsai mục tiêu sẽ dẫn đến lãng phí thời gian, nguồn lực tài chính và nhân lực
Mục tiêu của hoạt động quản lý tự học của sinh viên là làm cho quá trình
tự học được vận hành đồng bộ, có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng học tập:
Về nhận thức sinh viên có nhận thức đúng đắn về mục đích của việc tựhọc trêncơ sở đó có tình cảm, thái độ tốt đối với hoạt động tự học của bản thân
và ý thức tự học, tự rèn luyện suốt đời
Về thái độ giúp sinh viên biết tôn trọng và thực hiện đúng các quy định
về tự học, tự khắc phục khó khăn để tiến hành tự học, biết đấu tranh với nhữnghành vi sai trái trong học tập
Về hành vi rèn luyện tính kiên trì trong học tập, hình thành thói quen độclập trong suy nghĩ và hành động, nâng cao khả năng tự học, tự nghiên cứu.Hành vi trên chính là sản phẩm của nhận thức, là biểu hiện cụ thể tình cảm củasinh viên đối với hoạt động tự học
Từ cơ sở lý luận trên tác giả đưa ra khái niệm về Quản lý hoạt động tự học cho sinh viên đó là một quá trình tác động có mục đích của hiệu trưởng nhà trường thông qua các biện pháp lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra,
để nâng cao được ý thức, động cơ, tinh thần tự học của sinh viên và từ đó nâng cao
được kết quả học tập của sinh viên trong toàn nhà trường
1.3 Cơ sở lí luận về hoạt động học tập của sinh viên
1.3.1 Đặc điểm hoạt động học tập của sinh viên
So với hoạt động học tập của học sinh phổ thông, việc học tập của sinh
viên có nhiều điểm khác, học đại học là đi sâu vào một chuyên ngành để
Trang 36chuẩn bị cho một nghề nghiệp xác định trong tương lai Do đó, sinh viên phải
tự trang
Trang 37bị cho mình những hiểu biết cơ bản về nghề đó, đồng thời phải có nhiều hiểu biết khác nữa theo yêu cầu của cuộc sống Giờ đây, công việc tự học của sinh viên trở nên rất quan trọng, nó trở thành một bộ phận cấu thành của giáo dục đại học Do phương pháp học tập ở trường đại học khác cơ bản so với phương pháp học ở phổ thông, ở đại học không có sự kiểm tra hàng ngày của giáo viên nên việc học tập của sinh viên phần lớn là tự học Hoạt động học tập của sinh
viên mang tính tự giác, tích cực chủ động hơn so với hoạt động học tập củahọc sinh phổ thông Ngoài giờ học ở trên lớp, họ còn phải tự tìm tài liệu, sáchtham khảo để phát triển kiến thức của mình, tranh thủ sự giúp đỡ của giảng
viên để đào sâu kiến thức chuyên môn, sinh viên tự đề ra kế hoạch và tự thực hiện kế hoạch Các bài kiểm tra chính là một phần kết quả học tập và quá trình
tự nghiên cứu của sinh viên Ở đại học không chỉ học đơn thuần là các sự
kiện, các hiện tượng, không chỉ học để biết, học để hiểu và học vận dụng màcòn học phân tích, học tổng hợp, học đánh giá và nhất là học phương pháphọc tập, đó là học có kế hoạch, học có tư duy và học có sáng tạo để học mộtbiết mười, để có năng lực học suốt đời
Đặc điểm hoạt động tự học của sinh viên còn có một điểm khác biệt nữa
đó là hoạt động tự học diễn ra liên tục, trong một phạm vi lớn nhằm lĩnh hội rất nhiều tri thức, không chỉ thu nhỏ học trên lớp, trên giảng đường, ở các phòng thí nghiệm hay thức hành mà nó còn ở mọi nơi, bao gồm phạm vi lớn; đó còn là
tự học ở nhà, tự học ở nhà chính là lần thứ hai củng cố lại tri thức, một lần nữa tri thức được tái tạo lại Sự tái tạo này giúp sinh viên nắm chắc hơn điều
đã được học, hoàn thành những chỗ khó, hệ thống hoá lại bài học trên lớp, do vậy tránh được phương pháp "học vẹt", học mà không hiểu Trong thực tế, việc học ở nhà còn giúp sinh viên mở mang tri thức, lĩnh hội tri thức mới, rèn luyện
kỹ năng vận dụng tri thức vào cuộc sống để tự rút ra kinh nghiệm cho mình nhất là theo hình thức tín chỉ Điều quan trọng là việc tự học còn phát triển ở sinh viên khả năng độc lập, sáng tạo trong lĩnh hội tri thức và trong hoạt động.
Trang 38Qua đó có thể nói rằng tự học của sinh viên không chỉ là một nhân tố quan trọng trong lĩnh hội tri thức mà còn có ý nghĩa to lớn trong việc hình thành nhân cách sinh viên Do vậy, cũng có thể nói “học đại học là tự học”.
1.3.2 Vai trò của tự học
Ta thường nói: “Không thầy đố mày làm nên” để nâng cao vai trò, sự chỉdẫn của người thầy, tuy nhiên đây chỉ là yếu tố ngoại lực, là chất xúc tác nhằmtạo điều kiện cho người học phát triển và trưởng thành, còn tự học mới là yếu tốquyết định đến kết quả học tập và tu dưỡng của sinh viên
Tự học được nhấn mạnh là nhân tố trực tiếp trong việc nâng cao chấtlượng đào tạo của nhà trường Không đơn thuần như các phương pháp học tậpkhi còn ngồi trên ghế phổ thông, khi trở thành một sinh viên chúng ta phải làmquen với phương pháp học tập hoàn toàn mới lại; nếu ở cấp 3, bạn được cácthầy cô liên tục giao bài tập về nhà, kiểm tra, đánh giá thì ở đại học khác hẳn,sinh viên phải tự tìm hiểu theo giáo trình, tự mày mò học tập, và tự học làphương pháp, cách thức cơ bản của mỗi sinh viên phải quán triệt Bởi vì,phương hướng chủ yếu của trường đại học trong giai đoạn này là nhanh chóngbiến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo mà thực chất là làm cho sinhviên tự hoàn thiện và làm phong phú thêm vốn tri thức bằng sự nỗ lực tự học,
tự nghiên cứu Thầy cô giáo đóng vai trò là những người hướng dẫn học tập, vàcác giờ lên lớp chỉ cung cấp được những kiến thức cơ bản nhất, những tài liệu
cơ bản, còn việc học tập của sinh viên là sắp xếp trình tự, thời gian để nghiêncứu nắm tài liệu cơ sở và cả tài liệu tham khảo mở rộng Thêm vào đó, khôngcòn sự kiểm tra sát sao của giáo viên, kết quả học tập dồn hết vào kỳ thi hếthọc phần, hết môn Kết quả này phụ thuộc vào bản thân sinh viên là chủ yếu.Công tác tự học của sinh viên ngày càng tăng lên, ngày càng đòi hỏi nhiều cốgắng nỗ lực vì chỉ có việc tự học mới trang bị cho mình kiến thức mới nhất,khoa học nhất và thu được nhiều kinh nghiệm cho thực tiễn hoạt động và đạtkết quả như mong muốn
Trang 39Thực tế cho thấy rằng, dù thầy có giỏi, tài liệu có hay mà sinh viên không
tự nỗ lực, tự vươn lên thì kết quả sẽ không thể cao Nắm vững kiến thức thực sựlĩnh hội chân lý, cái đó sinh viên phải tự mình làm lấy bằng trí tụê của bản thân
Và điều này càng cho ta thấy vai trò của việc tự học
Tự học không chỉ là nhân tố quan trọng trong lĩnh hội tri thức mà nó còn
có ý nghĩa lớn đến sự hoàn thiện nhân cách cho sinh viên Việc tự học rèn luyệncho sinh viên những thói quen tốt như: thói quen tự lập, độc lập trong suy nghĩ,
tự vượt qua khó khan trong cuộc sống, trong nghề nghiệp, không phục thuộc, ỉlại, giúp họ tự tin bản lĩnh hơn trong cuộc sống, trong việc lựa chọn hướng đicho mình Hơn nữa, tự học khơi dậy lòng ham học, khát khao chinh phục đỉnhcao khoa học, sống có đam mê, hoài bão, ước vọng… Vì vậy, mỗi sinh viên hãyxây dựng cho mình một thói quen, một phương thức phù hợp cho bản thân
1.3.3 Bản chất, động cơ tự học của sinh viên
Giống như mọi hoạt động khác, hoạt động tự học của sinh viên cũng bìnhđẳng như vậy, tuy nhiên, nó có tính độc lập cao và mang đậm sắc thái cá nhân,điều này càng khẳng định nó phải được thúc đẩy bởi hệ thống động cơ học tậpnói chung và động cơ tự học nói riêng Động cơ tự học của sinh viên được sẽđược xây dựng và thúc đẩy nếu thường xuyên được giáo dục nâng cao nhậnthức về tầm quan trọng và vai trò to lớn của hoạt động tự học Động cơ tự họccũng có nhiều cấp độ khác nhau, bắt đầu từ sự thoả mãn nhu cầu phải hoànthành nhiệm vụ tự học, tự khẳng định mình, mong muốn thành nghề trongtương lai cho tới cấp độ cao là thoả mãn nhu cầu hiểu biết, lòng khát khao trithức Mọi động cơ đều được hình thành từ những tác động thực tiễn và được cánhân hoá thành hứng thú, tâm thế, niềm tin của mỗi cá nhân Hình thành động
cơ hoạt động phải được bắt đầu từ việc xây dựng các điệu kiện cho phù hợp vớinhận thức, tình cảm của cá nhân
Thực chất tự học là một quá trình học tập, một quá trình nhận thức khôngtrực tiếp có giáo viên Đó là "lao động khoa học", vất vả hơn nhiều so với quá
Trang 40trình học có thầy bởi vì người học phải tự xây dựng cho mình, cách học và sửdụng hợp lý các điều kiện, hình thức, phương tiện học tập để đạt được kết quảmong muốn Do phương pháp học tập ở đại học khác cơ bản so với phươngpháp học ở phổ thông, ở đại học không có sự kiểm tra hàng ngày của giáo viênnên việc học tập của sinh viên phần lớn là tự học Chính sự khác biệt này đòihỏi, sinh viên phải có sự thay đổi lớn về nhận thức, tư duy Do vậy, khác vớigiáo dục phổ thông, yêu cầu về chất lượng kiến thức thì ở đại học không chỉhọc sự kiện hay hiện tượng, không chỉ học biết, học hiểu và học vận dụng màcòn học phân tích, học tổng hợp, học đánh giá và nhất là học phương pháp họctập, đó là học có kế hoạch, học có tư duy và học có sáng tạo để học một biếtmười, để có năng lực học suốt đời.
Tự học vừa mang ý nghĩa củng cố trau dồi tri thức và có ý nghĩa mởrộng hiểu biết Tự học có nghĩa là sinh viên phải độc lập, tự xây dựng kếhoạch, phương pháp học tập cho mình, tự năng động tìm tòi, phân tích nhữngsách vở, tài liệu tiến tới làm chủ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, tự kiềm chế đối vớinhững ảnh hưởng ngoại cảnh hay những ước muốn không hợp lẽ trong tưtưởng là điều kiện cần thiết đối với quá trình tự học Trong quá trình học tập,nếu bản thân thiếu đi sự kiên trì, những yêu cầu cao, sự nghiêm túc thì sinhviên không bao giờ thực hiện được kế hoạch học tập do chính mình đặt ra.Đây cũng là điều kiện giúp sinh viên từng bước nâng cao chất lượng học tậpcủa bản thân và phía nhà trường cũng sẽ nâng cao được chất lượng đào tạo,hoàn thành mục tiêu giáo dục nếu tổ chức có hiệu quả công việc tự học chosinh viên
Có thể nói: Bản chất của công việc tự học của sinh viên đại học là quátrình nhận thức một cách tự giác, tích cực, tự lực không có sự tham gia hướngdẫn trực tiếp của giáo viên nhằm đạt được mục đích, nhiệm vụ dạy học Nóikhác đi, việc tự học ngoài lớp học đóng vai trò trọng yếu ở đại học