1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những yếu tố liên quan đến loét do tỳ đè trên bệnh nhân chấn thương sọ não nặng

100 100 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những yếu tố liên quan đến loét do tỳ đè trên bệnh nhân chấn thương sọ não nặng
Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Yến
Người hướng dẫn PGS. TS. Lê Văn Quang, GS. TS. Jane Dimmitt Campion
Trường học Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Điều Dưỡng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 18,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Bia

  • Mục lục

  • Chương 1: Tổng quan tài liệu

  • Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

  • Chương 3: Kết quả nghiên cứu

  • Chương 4: Bàn luận

  • Tài liệu tham khảo

  • Phụ lục

Nội dung

Chấn thương sọ não

Chấn thương sọ não (CTSN) là nguyên nhân chính gây tử vong và tàn tật ở người trẻ tuổi, với tai nạn giao thông, tai nạn lao động và té ngã là những nguyên nhân hàng đầu Trong đó, tai nạn giao thông đường bộ chiếm đến 50% các trường hợp CTSN Thống kê từ Bộ Y Tế Việt Nam cho thấy tình trạng này đang gia tăng và cần được chú ý.

Tai nạn giao thông hiện đang đứng thứ 9 trong nguyên nhân gây tử vong tại Việt Nam, chủ yếu do tai nạn giao thông đường bộ (CTSN) Theo thống kê của Ủy ban An toàn Giao thông, mỗi năm có từ 12.000 đến 14.000 người tử vong vì tai nạn giao thông, trong đó 65-70% trường hợp là do CTSN.

Chấn thương sọ não (CTSN) là những tổn thương xảy ra do chấn thương, thường bao gồm các loại máu tụ trong hộp sọ như cấp, bán cấp và mạn tính Các loại máu tụ này có thể xảy ra ngoài màng cứng, dưới màng cứng, trong não, hoặc kết hợp nhiều loại trên cùng một bệnh nhân.

 Tổn thương nguyên phát: những tổn thương xảy ra trong lúc chấn thương Ví dụ như chấn động não, nứt sọ, giập não.

Tổn thương thứ phát là những tổn thương phát sinh sau chấn thương ban đầu, bao gồm phù não, tăng áp lực nội sọ và thiếu máu nuôi não Đây là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trong bệnh viện sau chấn thương não.

1.2.3 Tiên lượng chấn thương sọ não dựa vào thang điểm Glasgow

Dựa vào thang điểm Glasgow (GCS) [54], phân độ nặng CTSN làm 3 nhóm:

Bảng 1 1 Bảng đánh giá mức độ tri giác Glasgow

1.2.4 Chấn thương sọ não nặng và các yếu tố nguy cơ gây LDTĐ.

BN CTSN nặng có GSC 3 – 8 điểm chiếm 10% trong tổng số CTSN

Theo bảng đánh giá nguy cơ Braden, bệnh nhân CTSN nặng có nguy cơ cao phát triển loét do tì đè (LDTĐ) do suy giảm cảm giác và ý thức Ngoài ra, các yếu tố như sốt, rối loạn hô hấp và tuần hoàn, bệnh lý mạn tính, chấn thương kèm theo, cùng với nguy cơ suy dinh dưỡng do tăng nhu cầu trao đổi chất của cơ thể cũng góp phần làm giảm khả năng chịu đựng của mô.

Bệnh nhân CTSN nặng có nguy cơ cao bị tụt huyết áp, thiếu oxy và phù não, dẫn đến tuần hoàn ngoại vi kém Nếu không được ngăn ngừa hoặc điều trị kịp thời, những di chứng này có thể gây tổn thương não nghiêm trọng, làm bệnh nhân hôn mê sâu hơn Đây là những yếu tố nguy cơ chính gây ra tình trạng LDTĐ do giảm tưới máu ngoại vi, ảnh hưởng đến nhận thức, cảm giác, vận động và hoạt động.

Sốt liên tục ở bệnh nhân nhập viện bị tổn thương não, với nhiệt độ cơ thể từ 38 độ C trở lên trong 72 giờ đầu sau khi nhập viện, là dấu hiệu cho thấy bệnh có thể tiến triển nặng hơn.

Hơn 50% bệnh nhân có triệu chứng CTSN kín trải qua tình trạng tăng thân nhiệt, với nhiệt độ đo được ở hậu môn lên tới 38.5°C Tình trạng sốt này có thể dẫn đến các vấn đề như ẩm ướt da, suy dinh dưỡng và rối loạn hô hấp.

Bệnh nhân chấn thương sọ não (CTSN) có nhu cầu trao đổi chất tăng cao, dẫn đến nhu cầu dinh dưỡng cũng tăng Ngoài tình trạng suy dinh dưỡng, bệnh nhân CTSN thường gặp tình trạng giảm albumin do tăng tính thấm thành mạch, do rối loạn chức năng nội mạc cấp tính sau chấn thương Theo nghiên cứu của Dhandapani và cộng sự, sau chấn thương đầu, bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng thay đổi về suy dinh dưỡng mỗi tuần, với 70% bệnh nhân xuất hiện phù chân và 19% có hiện tượng nhô xương vào tuần thứ ba.

Tiêu và tiểu không tự chủ thường gặp ở bệnh nhân chấn thương sọ não (CTSN), liên quan đến sự phát triển của liệu pháp điều trị Tuy nhiên, tại các cơ sở y tế, phần lớn bệnh nhân vẫn gặp khó khăn trong việc quản lý tình trạng này.

BN được đặt thông tiểu vì yêu cầu điều trị, nên đây không phải là các yếu tố nguy cơ gây LDTĐ ở các đơn vị này [80].

Gồng duỗi và co cứng cơ là những rối loạn chức năng phổ biến của hệ cơ xương ở bệnh nhân chấn thương sọ não nặng, biểu hiện qua tình trạng tăng hoặc giảm trương lực cơ Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh nhân có thể gặp phải co cứng cơ tự động, dẫn đến teo cơ và cứng khớp, từ đó gây tổn thương mô và da trong thời gian dài.

Các nghiên cứu liên quan đến loét do tỳ đè

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố nguy cơ gây LDTĐ, tuy nhiên, số lượng nghiên cứu tập trung vào bệnh nhân tại các đơn vị chăm sóc đặc biệt và chuyên khoa vẫn còn rất hạn chế.

Nghiên cứu của Dhandapani Manju và cộng sự cho thấy 16% bệnh nhân bị chấn thương sọ não (CTSN) phát triển vết loét vào cuối tuần thứ 2, trong khi 7% xuất hiện vào tuần thứ 3 Tác giả chỉ ra rằng nguy cơ phát triển loét liên quan đến điểm Glasgow Coma Scale (GCS) thấp và bệnh nhân có mức albumin máu thấp có nguy cơ cao hơn 10% so với những người có albumin bình thường Các yếu tố như tuổi tác, giới tính, can thiệp phẫu thuật, đặt nội khí quản và sốt kéo dài không có mối liên quan đáng kể đến sự phát triển của loét Hơn nữa, có mối liên hệ đáng kể giữa loét và tỷ lệ tử vong vào ngày thứ 21 của bệnh nhân.

Theo nghiên cứu của tác giả Tereceki (2008) [93] tiến hành tại Thổ Nhĩ

Đánh giá nguy cơ loét do nằm dài (LDTĐ) trên bệnh nhân điều trị tại các cơ sở y tế bằng thang đo Norton cho thấy tỷ lệ LDTĐ là 7,8% Các yếu tố nguy cơ chính gây phát triển LDTĐ bao gồm: tuổi tác, thời gian nằm viện, hạ huyết áp, suy dinh dưỡng, nồng độ albumin huyết tương thấp và điểm trung bình thấp trên thang đo Norton.

Nghiên cứu của Fife và cộng sự (2001) cho thấy tỷ lệ loét do tì đè (LDTĐ) trong một đơn vị chăm sóc đặc biệt thần kinh là 12% sau khi bệnh nhân nhập viện trung bình 6,4 ngày, với 68% vết loét phát triển trong vòng 7 ngày Khoảng 20% bệnh nhân có loét phát triển có điểm Braden ≤ 15 Phân tích chỉ ra rằng chỉ số khối cơ thể và quy mô Braden là những yếu tố độc lập dự đoán sự phát triển của LDTĐ Ngoài ra, bệnh nhân có nồng độ albumin ≤ 35g/dl, bệnh nhân tiểu không tự chủ, hoặc những người bị giới hạn tại giường có nguy cơ bị LDTĐ tăng gấp đôi.

Nghiên cứu của Fernandes [39] chỉ ra rằng thang điểm Braden và Glasgow có mối liên hệ với sự phát triển loét ở bệnh nhân tại các đơn vị chăm sóc đặc biệt Tỷ lệ xuất hiện loét tỷ lệ nghịch với điểm số thang điểm Braden và/hoặc điểm Glasgow thấp vào ngày nhập viện Kết quả này cho thấy rằng các công cụ này có thể hỗ trợ điều dưỡng trong việc xác định bệnh nhân có nguy cơ và lập kế hoạch phòng ngừa hiệu quả.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

Thiết kế nghiên cứu

Phương pháp cắt ngang mô tả.

2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian thu thập số liệu từ tháng 2/2016 đến tháng 6/2016 Địa điểm nghiên cứu: Khoa Hồi sức Ngoại Thần kinh, Bệnh viện ChợRẫy.

Đối tượng nghiên cứu

BN chấn thương sọ não tại Khoa Hồi Sức Ngoại Thần Kinh, Bệnh viện Chợ Rẫy.

BN chấn thương sọ não nặng nhập vào khoa không có vết LDTĐ, vào khoa sau 48 giờ.

28 Trong đó: n: là số đối tượng nghiên cứu.

Z(1-α/2) = 1,96 với độ tin cậy 95%. d = 0,05 với độ chính xác mong muốn 95%. p: 0,12 (Tham khảo từ tỷ lệ LDTĐ trong một đơn vị hồi sức thần kinh của Fife và cộng sự [41]).

Thay vào công thức trên ta được n ≥ 162 Cỡ mẫu tối thiểu là 162 BN.

Kỹ thuật chọn mẫu thuận tiện được sử dụng để chọn tất cả BN có những tiêu chí phù hợp với tiêu chí chọn mẫu.

 Chấn thương sọ não nặng Glasgow từ 4 đến 8 điểm.

 BN nhập vào khoa không bị loét do tỳ đè.

 BN nhập khoa sau 48 giờ.

 BN từ 16 tuổi trở lên.

 Bệnh lý sọ não (ví dụ : u não, thoái hóa não)

 BN tái nhập khoa trong quá trình lấy mẫu.

Phương pháp và công cụ thu thập số liệu

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu

Chọn đối tượng nghiên cứu theo tiêu chí chọn mẫu là bước quan trọng Đồng thời, cần hướng dẫn và huấn luyện cho 12 điều dưỡng viên tham gia thu thập số liệu về nội dung, phương pháp và thời gian thực hiện để đảm bảo tính chính xác và hiệu quả của quá trình thu thập dữ liệu.

Mỗi điều dưỡng viên phụ trách bệnh nhân đủ tiêu chuẩn sẽ thu thập số liệu vào ngày thứ ba sau khi bệnh nhân nhập khoa Sau đó, họ sẽ theo dõi tình trạng da hàng ngày để đánh giá sự xuất hiện của loét do tì đè cho đến khi có vết loét xuất hiện hoặc bệnh nhân được chuyển khoa hoặc xuất viện.

Thu thập số liệu lần thứ nhất (ngày thứ ba sau khi BN nhập vào khoa):

Các biến số về đặc điểm chung của bệnh nhân được thu thập vào ngày nhập khoa, bao gồm tuổi, giới tính, chỉ số khối cơ thể (BMI) và các đặc điểm lâm sàng như chẩn đoán tại thời điểm nhập viện, bệnh kèm theo, và kết quả xét nghiệm albumin máu.

Đánh giá nguy cơ loét do tì đè (LDTĐ) bằng thang điểm Braden được thực hiện mỗi 3 ngày để giảm thiểu sai lệch trong tình trạng bệnh nhân Đồng thời, thang điểm Glasgow cũng được đánh giá dựa trên cơ chế sinh lý của chấn thương sọ não (CTSN), với việc thu thập điểm GCS vào ngày thứ 3 và ngày thứ 7, sau đó thực hiện hàng tuần Cần theo dõi tình trạng thở máy của bệnh nhân (có hoặc không) để có biện pháp can thiệp kịp thời.

Thu thập số liệu hàng ngày các biến số về:

 Quan sát tình trạng da hàng ngày vào mỗi buổi sáng ghi nhận số lượng và vị trí của LDTĐ mới Ghi nhận việc thực hiện xoay trở cho

BN và các biến số về thực hành chăm sóc phòng ngừa LDTĐ vào buổi sáng, ghi nhận dựa trên hồi cứu phiếu chăm sóc BN của ĐD.

 Ghi nhận tổng lượng dinh dưỡng của BN dựa vào hồ sơ bệnh án và trên phiếu chăm sóc ĐD.

Tại thời điểm bệnh nhân xuất khoa (chuyển khoa, xuất viện, nặng lên hoặc tử vong), cần thu thập số liệu cuối cùng bao gồm tổng số ngày lưu khoa, tổng số ngày thở máy và ghi nhận số lượng cũng như vị trí của các LDTĐ mới phát triển trong thời gian điều trị.

Phiếu thu thập số liệu được thiết kế dựa trên bộ câu hỏi của tổ chức Victorian Quality Council và các nghiên cứu trước đây liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến liệu pháp điều trị đối với bệnh nhân thở máy và chấn thương sọ não.

Các yếu tố trong thực hành chăm sóc phòng ngừa LDTĐ được thiết lập dựa trên quy trình thực hành của Bệnh viện Chợ Rẫy Việc tham khảo quy trình này nhằm nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe và giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh.

Phiếu thu thập số liệu gồm có 3 phần: (phụ lục 2)

Phần A: Thông tin về đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu.

Phần B: Thông tin về đặc điểm lâm sàng của BN.

Phần C: Đánh giá thực hành chăm sóc phòng ngừa LDTĐ.

Phần D: Điểm số về đánh giá nguy cơ phát triển loét theo thang điểmBraden và hướng dẫn sử dụng công cụ đánh giá nguy cơ LDTĐ Braden.

Liệt kê và định nghĩa các biến số nghiên cứu

Biến số về tình trạng loét

Loét là hiện tượng tổn thương vùng da hoặc mô dưới da, xảy ra do áp lực, kéo, ma sát, hoặc sự kết hợp của các tác nhân này.

(NPUAP, 2009) Đây là biến nhị giá gồm 2 giá trị:

Giới tính: là biến danh định, gồm 2 giá trị:

Nhóm tuổi: là số tuổi của BN, biến thứ tự, gồm 3 giá trị:

2.4.2.2.Biến số về đặc điểm LDTĐ

Vị trí loét: Là nơi xuất hiện vết loét, đây là biến số danh định gồm 6 giá trị:

Ngày phát triển loét: biến thứ tự, có 3 giá trị:

Số lượng vết LDTĐ: Biến thứ tự có các giá trị 1,2,3…

2.4.2.3 Biến số về đặc điểm lâm sàng của BN

Chỉ số khối cơ thể (BMI) được tính bằng cách chia cân nặng (kg) cho bình phương chiều cao (m) Đây là một biến thứ tự với 5 giá trị, được phân loại theo điểm cắt của khu vực ASEAN theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).

 ;Nguy cơ thừa cân (BMI 23 – 24,9)

 Béo phì độ 1 (BMI từ 25 – 29,9)

Sốt: khi nhiệt độ cơ thể > 38 0 C (đo tại nách), là biến nhị giá gồm 2 giá trị:

Bệnh lý hoặc tổn thương kèm theo: là biến danh định có 4 giá trị

Tổng số ngày nằm viện: là biến số định lượng, là tổng số ngày BN được điều trị tại khoa Khi phân tích sẽ chia thành 3 nhóm:

Thở máy: BN có được hỗ trợ hô hấp bằng máy thở hay không Đây là biến nhị giá có 2 giá trị:

Tổng số ngày thở máy: biến định lượng, là tổng số ngày BN có thở máy trong thời gian lưu trú tại khoa.

Nhóm điểm Glasgow được sử dụng để đánh giá mức độ hôn mê của bệnh nhân thông qua ba tiêu chí: mắt, lời nói và vận động, với điểm số dao động từ 3 đến 15 Trong nghiên cứu của chúng tôi, chúng tôi tập trung vào bệnh nhân chấn thương sọ não nặng, có điểm số Glasgow từ 8 trở xuống, và phân chia thành hai nhóm: nhóm bệnh nhân có hiện tượng gồng cứng, gồng duỗi và nhóm có phản ứng với các kích thích đau Đây là biến thứ tự quan trọng trong nghiên cứu.

Nguy cơ loét theo thang điểm Braden: Là biến thứ tự, có 5 giá trị:

 Nhóm không có nguy cơ: ≥ 17 điểm

 Nhóm nguy cơ thấp: 15 – 16 điểm

 Nguy cơ trung bình: 13 – 14 điểm

 Nhóm nguy cơ cao: 10 – 12 điểm

 Nhóm nguy cơ rất cao: ≤ 9 điểm

Nồng độ albumin máu: là một trong hai loại protein chính trong cơ thể, phản ánh tình trạng dinh dưỡng của BN, là biến định lượng (g/dl).

2.4.2.4 Biến số về chăm sóc dự phòng LDTĐ trên bệnh nhân

Thay vải trải giường: Là biến nhị giá gồm 2 giá trị: “Có” và “Không”

 “Có” là khi BN được thay vải trải giường ít nhất 1 lần/ngày và đạt tiêu chí thẳng không có nếp gấp gây đè cấn

 “Không” là BN không được thay vải trải giường ít nhất 1 lần/ngày và/hoặc không đạt tiêu chí thẳng không có nếp gấp gây đè cấn

Nằm nệm hơi hoặc nệm nước: Là biến nhị giá gồm 2 giá trị “Có” và

 “Có” là khi BN được sử dụng nệm hơi hoặc nệm nước ngay từ khi mới vào khoa cho đến lúc xuất khoa.

 “Không” là khi BN không thỏa được tiêu chí như trên.

Số giờ trung bình BN được ĐD thực hiện xoay trở trong một ngày: là biến số thứ tự gồm 4 giá trị:

Vệ sinh da: Là biến nhị giá gồm 2 giá trị: “Có” và “ Không”

 “Có” là khi BN được rửa sạch và lau khô da tại những vị trí tỳ đè ít nhất 1 lần/ngày.

 “Không” là BN không được đảm bảo 1 trong các tiêu chí rửa sạch, lau khô và/hoặc không được thực hiện ít nhất 1 lần/ngày.

Kiểm soát đại tiện, tiểu tiện:

Bệnh nhân sử dụng các thiết bị như túi đựng nước tiểu, sonde tiểu và tã giấy để kiểm soát nước tiểu và phân Họ cần được kiểm tra tình trạng đại tiểu tiện thường xuyên, và ngay khi có nhu cầu đi tiêu hoặc tiểu, việc thay đổi thiết bị cần được thực hiện ngay lập tức.

 “Không” là BN không được đảm bảo một trong các tiêu chí trên. Đảm bảo chế độ dinh dưỡng: là biến nhị giá gồm 2 gía trị “Có” và

Bệnh nhân cần được cung cấp ít nhất 4 bữa ăn mỗi ngày với đầy đủ các thành phần dinh dưỡng, tổng năng lượng tối thiểu là 1.600 kcal/ngày Đồng thời, việc nuôi dưỡng qua đường truyền tĩnh mạch cũng cần đảm bảo tổng năng lượng ít nhất là 2.000 kcal/ngày.

 “Không” là khi BN không đảm bảo được các tiêu chí trên.

Xử lý số liệu

2.5.1 Kiểm tra dữ liệu Đảm bảo mỗi phiếu thu thập số liệu được điền đầy đủ các thông tin của BN.

2.5.2 Mã hóa thông tin từ phiếu đánh giá

Tất cả dữ liệu thu thập sẽ được kiểm tra tính phù hợp và mã hóa bởi người nghiên cứu Sau đó, dữ liệu sẽ được tạo thành tập tin trên máy vi tính và kiểm tra kỹ lưỡng để đảm bảo không có lỗi trước khi xuất sang phần mềm.

Dữ liệu được mô tả, phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0 và vẽ biểu đồ bằng phần mềm excel.

Các biến số định tính được mô tả bằng tần số (n) và tỷ lệ (%).

Các biến số định lượng được mô tả bằng giá trị trung bình và độ lệch chuẩn.

Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã sử dụng phép kiểm t tests để phân tích mối liên hệ giữa thời gian điều trị, số ngày thở máy và nồng độ albumin với tình trạng loét của bệnh nhân Đồng thời, hồi quy logistic đơn biến được áp dụng để khảo sát mối liên quan giữa các đặc điểm khác của bệnh nhân và tình trạng loét Cuối cùng, hồi quy logistic đa biến được sử dụng nhằm xác định các yếu tố dự đoán liên quan đến loét do tì đè.

Kiểm soát sai lệch

Tất cả bệnh nhân đáp ứng đầy đủ tiêu chí lựa chọn đều được đưa vào nghiên cứu Người nghiên cứu sẽ hướng dẫn cộng sự tiến hành quan sát, đánh giá và ghi nhận thông tin một cách trực tiếp.

Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

Đề cương của nghiên cứu này đã được sự phê duyệt của Hội đồng y đức của Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.

Nghiên cứu này được thực hiện với sự đồng ý của hội đồng nghiên cứu khoa học tại Bệnh viện Chợ Rẫy, thông qua việc quan sát bệnh nhân và thực hành chăm sóc của điều dưỡng Công cụ đo lường sử dụng là bảng đánh giá tự điền, không can thiệp hay thay đổi tiêu chuẩn chăm sóc Quá trình nghiên cứu đảm bảo không ảnh hưởng đến hoạt động chăm sóc bệnh nhân tại khoa, và mọi thông tin của đối tượng tham gia sẽ được bảo mật, chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37 3.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân

Bảng 3 2 Đặc điểm về tình trạng vết Đặc điểm về loét Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Số lượng vị trí LDTĐ/BN

Tỷ lệ bệnh nhân bị loét do tỳ đè là 16,3% Trong đó, 29,6% vết loét xuất hiện trong vòng 7 ngày đầu, 63% vết loét phát sinh từ ngày thứ 8 đến 20, và 7,4% vết loét xuất hiện sau 3 tuần.

Trong số 27 bệnh nhân bị loét do tì đè (LDTĐ), tổng cộng ghi nhận 36 vị trí loét, với vùng cùng cụt chiếm tỷ lệ cao nhất (36,1%), tiếp theo là vùng xương chẩm (27,8%) Đáng chú ý, phần lớn bệnh nhân chỉ có một vị trí loét (70,4%), trong khi 25,9% bệnh nhân có hai vị trí và chỉ 3,7% bệnh nhân có ba vị trí loét.

Bảng 3 3 Đặc điểm về bệnh lý hoặc tổn thương kèm theo Đặc điểm lâm sàng Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Có bệnh kèm 85 51,2 Đái tháo đường 9 5,4

Tỷ lệ BN không có bệnh lý hoặc tổn thương kèm theo là 48,8% và tỷ lệ

Tỷ lệ bệnh nhân (BN) có bệnh lý hoặc tổn thương kèm theo là 51,2% Trong số đó, 5,4% BN bị gãy xương chân và mắc bệnh đái tháo đường, trong khi tỷ lệ BN bị tăng huyết áp là 4,2%.

Hình 3.2 Đặc điểm về điểm số Glasgow

Nhận xét: Đa số BN có điểm số Glasgow từ 6 – 8 điểm, chiếm tỷ lệ 56%.

BN có điểm số Glasgow từ 4 – 5 điểm chiếm tỷ lệ 44%.

Bảng 3 4.Đặc điểm về thở máy, nồng độ albumin Đặc điểm lâm sàng Tần số (n) Tỷ lệ (%) TB (ĐLC) *

Số ngày thở máy trung bình (n6) 10,1 ± 8,1

* Trung bình ± Độ lệch chuẩn

Tỷ lệ bệnh nhân (BN) sử dụng thở máy đạt 86,7%, trong khi đó chỉ có 13,3% BN không thở máy Trung bình, nhóm BN thở máy (n = 146) có thời gian thở máy là 10,1 ± 8,1 ngày.

Về nồng độ albumin máu trung bình là 3,37 ± 0,47 (g/dl).

Bảng 3 5.Kết quả điều trị

Kết quả điều trị Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Nặng xin về, tử vong 55 33,1

BN tình trạng ổn định được chuyển sang đơn vị thường là 66,9%; BN tử vong hoặc kết quả điều trị nặng hơn và gia đình xin về là 33,1%.

Hình 3.3 Đặc điểm về tình trạng sốt

Tỷ lệ BN có sốt là 30,7% thấp hơn so với tỷ lệ BN không sốt là 69,3%.

Bảng 3 6 Đặc điểm về thời gian điều trị

Số ngày điều trị Tần số (n) Tỷ lệ (%)

* Trung bình ± Độ lệch chuẩn

Số ngày điều trị trung bình của BN tại khoa là 11 ± 8,1 ngày.

Tỷ lệ bệnh nhân (BN) có thời gian điều trị từ 8 đến 20 ngày chiếm cao nhất với 50%, trong khi 41,6% BN có thời gian điều trị từ 7 ngày trở xuống và chỉ có 8,4% BN có thời gian điều trị từ 20 ngày trở lên.

Bảng 3 7.Đặc điểm về tình trạng cân nặng theo BMI Đặc điểm BMI Tần số (n) Tỷ lệ (%)

* Trung bình ± Độ lệch chuẩn

Chỉ số BMI trung bình của BN trong nghiên cứu là 22,2 ± 2,6

Theo thống kê, 58,4% bệnh nhân có chỉ số BMI ở mức bình thường, trong khi 20,5% có nguy cơ thừa cân Ngoài ra, 15,1% bệnh nhân được phân loại là béo phì độ 1, không có trường hợp béo phì độ 2, và chỉ có 6% bệnh nhân ở tình trạng nhẹ cân.

Bảng 3 8.Đặc điểm chỉ số đánh giá nguy cơ loét theo Braden Đặc điểm về loét Tần số (n) Tỷ lệ (%) Điểm Braden *: 12,3 ± 2,0

* Trung bình ± Độ lệch chuẩn

Nhận xét: Điểm số Braden trung bình là 12,3 ± 2,0 Trong đó, có 6,6% BN thuộc nhóm có nguy cơ rất cao; có 36,1% BN thuộc nhóm có nguy cơ cao; có 40,4%

BN thuộc nhóm có nguy trung bình; chỉ có 16,9% BN thuộc nhóm có nguy cơ thấp và không có BN thuộc nhóm không có nguy cơ.

Liên quan giữa đặc điểm bệnh nhân với tình trạng loét

Từ tháng 02/2016 đến tháng 06/2016, tại khoa Hồi sức Ngoại thần kinh – Bệnh viện Chợ Rẫy chúng tôi có 166 BN đủ tiêu chuẩn vào nghiên cứu.

3.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA MẪU NGHIÊN CỨU

Hình 3.1 Đặc điểm về giới tính (N6)

Tỷ lệ BN là nam giới chiếm 84,9% (141/166) cao hơn so với nữ giới chiếm 15,1% (25/166).

Bảng 3 1 Đặc điểm về tuổi Đặc điểm của BN Tần số (n) Tỷ lệ (%)

* Trung bình ± Độ lệch chuẩn

Nhóm tham gia nghiên cứu có tuổi trung bình là 40,3 ± 16 tuổi, với 58,4% bệnh nhân thuộc nhóm tuổi thanh niên Tỷ lệ bệnh nhân trong độ tuổi từ 45 đến 59 chiếm 28,9%, trong khi chỉ có 12,7% bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên.

3.2 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA BỆNH NHÂN

Bảng 3 2 Đặc điểm về tình trạng vết Đặc điểm về loét Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Số lượng vị trí LDTĐ/BN

Tỷ lệ bệnh nhân bị loét do tỳ đè đạt 16,3% Trong số đó, 29,6% vết loét xuất hiện trong vòng 7 ngày đầu, 63% vết loét xuất hiện từ ngày thứ 8 đến ngày 20, và 7,4% vết loét xuất hiện sau 3 tuần.

Trong số 27 bệnh nhân bị loét do tì đè (LDTĐ), đã ghi nhận tổng cộng 36 vị trí loét Vùng cùng cụt là khu vực xảy ra LDTĐ nhiều nhất, chiếm 36,1%, tiếp theo là vùng xương chẩm với 27,8% Đáng chú ý, đa số bệnh nhân chỉ có một vị trí bị LDTĐ (70,4%), trong khi 25,9% bệnh nhân có hai vị trí và chỉ 3,7% bệnh nhân có ba vị trí bị LDTĐ.

Bảng 3 3 Đặc điểm về bệnh lý hoặc tổn thương kèm theo Đặc điểm lâm sàng Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Có bệnh kèm 85 51,2 Đái tháo đường 9 5,4

Tỷ lệ BN không có bệnh lý hoặc tổn thương kèm theo là 48,8% và tỷ lệ

Trong số bệnh nhân, có 51,2% mắc bệnh lý hoặc tổn thương kèm theo Cụ thể, tỷ lệ bệnh nhân bị gãy xương chân và mắc bệnh tiểu đường đều là 5,4%, trong khi tỷ lệ bệnh nhân có tăng huyết áp là 4,2%.

Hình 3.2 Đặc điểm về điểm số Glasgow

Nhận xét: Đa số BN có điểm số Glasgow từ 6 – 8 điểm, chiếm tỷ lệ 56%.

BN có điểm số Glasgow từ 4 – 5 điểm chiếm tỷ lệ 44%.

Bảng 3 4.Đặc điểm về thở máy, nồng độ albumin Đặc điểm lâm sàng Tần số (n) Tỷ lệ (%) TB (ĐLC) *

Số ngày thở máy trung bình (n6) 10,1 ± 8,1

* Trung bình ± Độ lệch chuẩn

Tỷ lệ bệnh nhân thở máy đạt 86,7%, cao hơn nhiều so với 13,3% bệnh nhân không thở máy Trung bình, nhóm bệnh nhân thở máy (n = 146) có số ngày thở máy là 10,1 ± 8,1 ngày.

Về nồng độ albumin máu trung bình là 3,37 ± 0,47 (g/dl).

Bảng 3 5.Kết quả điều trị

Kết quả điều trị Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Nặng xin về, tử vong 55 33,1

BN tình trạng ổn định được chuyển sang đơn vị thường là 66,9%; BN tử vong hoặc kết quả điều trị nặng hơn và gia đình xin về là 33,1%.

Hình 3.3 Đặc điểm về tình trạng sốt

Tỷ lệ BN có sốt là 30,7% thấp hơn so với tỷ lệ BN không sốt là 69,3%.

Bảng 3 6 Đặc điểm về thời gian điều trị

Số ngày điều trị Tần số (n) Tỷ lệ (%)

* Trung bình ± Độ lệch chuẩn

Số ngày điều trị trung bình của BN tại khoa là 11 ± 8,1 ngày.

Tỷ lệ bệnh nhân (BN) có thời gian điều trị từ 8 đến 20 ngày chiếm 50%, trong khi 41,6% BN có thời gian điều trị dưới 7 ngày và chỉ 8,4% BN có thời gian điều trị từ 20 ngày trở lên.

Bảng 3 7.Đặc điểm về tình trạng cân nặng theo BMI Đặc điểm BMI Tần số (n) Tỷ lệ (%)

* Trung bình ± Độ lệch chuẩn

Chỉ số BMI trung bình của BN trong nghiên cứu là 22,2 ± 2,6

Theo thống kê, 58,4% bệnh nhân có chỉ số BMI ở mức bình thường, trong khi 20,5% có nguy cơ thừa cân Bên cạnh đó, 15,1% bệnh nhân được phân loại là béo phì độ 1 Đáng chú ý, không có bệnh nhân nào thuộc nhóm béo phì độ 2, và chỉ có 6% bệnh nhân ở tình trạng nhẹ cân.

Bảng 3 8.Đặc điểm chỉ số đánh giá nguy cơ loét theo Braden Đặc điểm về loét Tần số (n) Tỷ lệ (%) Điểm Braden *: 12,3 ± 2,0

* Trung bình ± Độ lệch chuẩn

Nhận xét: Điểm số Braden trung bình là 12,3 ± 2,0 Trong đó, có 6,6% BN thuộc nhóm có nguy cơ rất cao; có 36,1% BN thuộc nhóm có nguy cơ cao; có 40,4%

BN thuộc nhóm có nguy trung bình; chỉ có 16,9% BN thuộc nhóm có nguy cơ thấp và không có BN thuộc nhóm không có nguy cơ.

3.3 ĐẶC ĐIỂM VỀ THỰC HÀNH CHĂM SÓC PHÒNG NGỪA LDTĐ

Bảng 3 9.Đặc điểm về thực hành chăm sóc phòng ngừa LDTĐ

Thực hành chăm sóc phòng ngừa LDTĐ Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Số giờ được xoay trở*: 5,6 ± 1,1

Kiểm soát đại, tiểu tiện

* Trung bình ± Độ lệch chuẩn

Trong nghiên cứu, 44,6% bệnh nhân (BN) nhận mức xoay trở trung bình mỗi 6 giờ, trong khi chỉ có 12,7% BN được xoay trở mỗi 4 giờ và không có BN nào được xoay trở mỗi 2 giờ Hơn 90,4% BN sử dụng nệm hơi để giảm áp lực và phân phối lại lực Đặc biệt, 97% BN được thay vải trải giường ít nhất một lần mỗi ngày và đạt tiêu chí thẳng, không có nếp gấp gây đè cấn.

BN được đạt tiêu chuẩn về chăm sóc vệ sinh và lau khô da sạch sẽ Hầu hết

BN được kiểm soát tình trạng tiểu tiện tốt chiếm tỷ lệ 94,6%.

Về dinh dưỡng, 62% BN có chế độ dinh đầy đủ ≥ 2.000 kcal, 38% BN nhận được chế độ dinh dưỡng chưa đầy đủ.

3.3 LIÊN QUAN GIỮA ĐẶC ĐIỂM BN VỚI TÌNH TRẠNG LOÉT

(sử dụng phép kiểm hồi quy logistic)

Bảng 3 10.Liên quan giữa đặc điểm chung của BN với tình trạng loét Đặc điểm chung Tình trạng loét [n(%)]

Nhận xét: Ref: giá trị tham chiếu

Liên quan giữa giới tính và tình trạng loét của BN không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

Có liên quan giữa nhóm tuổi và tình trạng loét, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p = 0,02).

Liên quan giữa đặc điểm lâm sàng của bn với tình trạng loét

Bảng 3 11.Liên quan giữa đặc điểm lâm sàng của BN và tình trạng loét Đặc điểm lâm sàng

Nhẹ cân 2 (20,0) 8 (80,0) 1,37 (0,26 – 7,08) 0,71 Nguy cơ thừa cân 4 (11,8) 30 (88,2) 0,73 (0,22 – 2,37) 0,60 Béo phì độ 1 6 (24,0) 19 (76,0) 1,73 (0,59 – 5,03) 0,32

Không có BK 17 (21,0) 64 (79,0) Ref Ref Đái tháo đường 2 (22,2) 7 (77,8) 1,08 (0,21 – 5,66) 0,93 Tăng HA 1 (14,3) 6 (85,7) 0,63 (0,07 – 5,57) 0,68 Gãy xương chân 1 (11,1) 8 (88,9) 0,47 (0,06 – 4,03) 0,49 Bệnh lý khác 6 (10,0) 54 (90,0) 0,42 (0,15 – 1,14) 0,09

Chuyển khoa/ra viện 17 (15,3) 94 (84,7) Ref Ref

Nặng xin về, tử vong 10 (18,2) 45 (81,8) 1,23 (0,52 – 2,90) 0,64

Nhận xét: Ref: giá trị tham chiếu

 Không có liên quan giữa chỉ số khố cơ thể BMI, bệnh đi kèm, có hoặc không có thở máy, kết quả điều trị và sự phát triển LDTĐ (p > 0,05).

 Có mối liên quan giữa tình trạng sốt, trạng hôn mê dựa vào thang điểm Glasgow, ngày điều trị và LDTĐ, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

BÀN LUẬN 50 4.1 Đặc điểm chung của bệnh nhân

Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân

4.2.1 Tỷ lệ loét do tỳ đè.

Trong khoảng thời gian thu thập số liệu từ tháng 2/2016 đến tháng 6/2016, có 166 BN tham gia nghiên cứu, chúng tôi ghi nhận có 27 trường hợp

Vết loét ở bệnh nhân có tỷ lệ 16,3%, trong khi tỷ lệ loét do nằm lâu (LDTĐ) thay đổi tùy thuộc vào bối cảnh lâm sàng Tại các đơn vị chăm sóc đặc biệt trên toàn thế giới, tỷ lệ LDTĐ dao động từ 1% đến 56%.

Tỷ lệ LDTĐ trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với các kết quả nghiên cứu được công bố bởi một số tác giả trong nước, như Cẩm Bá Thức (2012).

Tại Bệnh viện ĐD, tỷ lệ loét trên bệnh nhân tổn thương tủy sống đạt 24,6%, cao hơn so với nghiên cứu của Dương Đình Chỉnh (2011) với tỷ lệ 18,1% ở bệnh nhân tai biến mạch máu não So với các nghiên cứu ở nước phát triển, tỷ lệ của chúng tôi vẫn cao hơn, như nghiên cứu của Fife và cộng sự (2001) ghi nhận chỉ 12,4% bệnh nhân có vết loét, trong khi Manju báo cáo 16% bệnh nhân phát triển loét trong các đơn vị chăm sóc đặc biệt Đặc biệt, tỷ lệ loét tại Indonesia là 33,3%, cho thấy sự khác biệt rõ rệt trong tình trạng chăm sóc và điều trị bệnh nhân.

Kết quả từ các cuộc khảo sát cho thấy hiệu quả của việc thực hiện các biện pháp chăm sóc phòng ngừa LDTĐ, từ đó các đơn vị và cơ sở điều trị cần xác định nguyên nhân và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao kết quả.

Tỷ lệ loét ở bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi khá cao, điều này yêu cầu các đơn vị y tế cần nỗ lực giảm tỷ lệ mắc hiện tại và hạn chế tác hại do loét gây ra Việc này không chỉ đảm bảo an toàn cho bệnh nhân trong quá trình điều trị tại khoa mà còn góp phần giảm thời gian nằm viện và chi phí điều trị.

Tỷ lệ LDTĐ trong các nghiên cứu có thể khác nhau do nhiều yếu tố như phương pháp nghiên cứu, tiêu chuẩn thu nhận và loại trừ, thang điểm đánh giá, cũng như các biện pháp phòng ngừa Ngoài ra, yếu tố môi trường của đơn vị CSĐB, đặc điểm bệnh nhân, tiêu chuẩn chăm sóc, và bố trí nhân lực cũng tác động đến tỷ lệ này Hơn nữa, nhiều nghiên cứu nhỏ thường chỉ thực hiện tại một đơn vị và ở các địa điểm khác nhau, dẫn đến khó khăn trong việc đạt được sự tương đồng về kết quả.

4.2.2 Đặc điểm về ngày phát triển loét

Theo nghiên cứu của chúng tôi, 63% bệnh nhân bắt đầu xuất hiện vết loét trong khoảng thời gian từ tuần thứ hai đến tuần thứ ba sau khi được điều trị tại khoa.

Có 29,6% BN xuất hiện vết loét trước 7 ngày (sớm) và chỉ có 7,4% BN xuất hiện vết loét muộn hơn 21 ngày Ngày xuất hiện loét trung bình là 11,9 ± 9,9 ngày.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với các nghiên cứu quốc tế, cho thấy vết loét thường xuất hiện từ 11 đến 20 ngày sau khi bệnh nhân nhập viện Theo Shahin (2009), 75% vết loét phát triển trong khoảng thời gian hơn 1 tuần và dưới 2 tuần tại cơ sở điều trị Tương tự, nghiên cứu của Manju chỉ ra rằng 71% vết loét phát triển vào tuần thứ 2 Ngày trung bình xuất hiện loét độ 1 theo Pender là 13 ± 11,3 ngày, và các tác giả Yooun cũng đưa ra những kết quả tương tự.

4.2.3 Đặc điểm về vị trí vết loét và số lượng vết loét

Trong nghiên cứu của chúng tôi, các vị trí loét phổ biến trên nhóm bệnh nhân được quan sát bao gồm vùng xương cùng (36,1%), vùng chẩm (27,8%), mắt cá chân ngoài (19,5%) và gót chân (11,1%) Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu trước đó của tác giả Keller (2002) và Tayyib (2015).

[92] cho thấy các vị trí phổ biến của LDTĐ là vùng xương cùng và gót chân.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, vị trí loét phổ biến ở bệnh nhân chấn thương sọ não nặng là vùng chẩm (29%) Bệnh nhân thường gặp phải hạn chế cử động quay đầu do đau và tổn thương hệ thần kinh trung ương, dẫn đến rối loạn chức năng vận động Để phòng ngừa biến chứng tăng áp lực nội sọ và viêm phổi ở bệnh nhân thở máy (chiếm 88% trong nghiên cứu), đầu giường cần được nâng lên ít nhất 30 độ Tuy nhiên, điều này cũng làm tăng áp lực lên vùng xương cùng – cụt và gây ma sát ở vùng chẩm, gót chân do bệnh nhân có xu hướng trượt xuống cuối giường Hơn nữa, việc đặt nội khí quản khiến nhân viên y tế hạn chế xoay đầu bệnh nhân để tránh làm rơi ống.

Có tổng cộng 36 vết loét trong số 27 BN xuất hiện loét Trong đó đa số

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân chỉ có một vết loét dạ dày tá tràng (LDTĐ) đạt 70,4%, trong khi tỷ lệ bệnh nhân có hai vết loét là 25,9% và ba vết loét là 3,7% Không có bệnh nhân nào ghi nhận có nhiều hơn ba vết loét Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nayyib và cộng sự (2015), trong đó tỷ lệ bệnh nhân chỉ có một vết LDTĐ là 57,6%.

4.2.4 Đặc điểm về mức độ hôn mê theo thang điểm Glasgow và kết quả điều trị Đối tượng BN trong nghiên cứu chúng tôi là BN chấn thương sọ não nặng nên đa số BN đều có mức độ hôn mê sâu Có 56% BN có điểm số Glasgow từ 6 – 8 điểm và 44% BN có điểm số Galsgow từ 4 – 5 điểm Điều này cho thấy phần lớn BN mà chúng tôi quan sát có tiên lượng bệnh rất nặng

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân tử vong hoặc có tình trạng nặng hơn khi gia đình xin về đạt 33,1% Theo báo cáo của tác giả Heegaard (2007), tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân chấn thương sọ não nặng trên toàn cầu dao động từ 15% đến 50%.

Trong kết quả nghiên cứu của tác giả Manju và cộng sự (2005) [69] tỷ lệ

BN có điểm số GCS 4 – 6 là 34% và 66% BN có điểm GCS 7 – 8.

Trong nghiên cứu, 60,3% bệnh nhân có chỉ số BMI ở mức bình thường, 6,2% nhẹ cân, 17,8% có nguy cơ thừa cân và 15,8% bị béo phì độ 1, không có trường hợp béo phì độ 2 Kết quả này phản ánh mức cân nặng trung bình của người Việt Nam, tương đồng với nghiên cứu của Kim và cộng sự tại Hải Phòng năm 2010, cho thấy chỉ số BMI trung bình.

21 ± 2,7 và 64,2% người dân có cân nặng bình thường.

4.2.6 Đặc điểm về tình trạng sốt

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân có sốt đạt 30,7% Kết quả nghiên cứu của Kilpatrick (2000) cho thấy tỷ lệ bệnh nhân chấn thương sọ não kín có sốt lên đến 50% Tuy nhiên, chúng tôi vẫn chưa xác định được nguyên nhân gây sốt, liệu đó có phải là do rối loạn trung tâm điều hòa thân nhiệt tại não hay là biểu hiện của nhiễm trùng bệnh viện.

4.2.7 Đặc điểm về tình trạng thở máy

Liên quan giữa tình trạng loét và đặc điểm của bệnh nhân

4.3.1 Liên quan giữa tình trạng loét với đặc điểm chung của BN

Trong phân tích đơn biến, chúng tôi phát hiện mối liên quan giữa đặc điểm chung của bệnh nhân như giới tính và tuổi với tình trạng loét, đặc biệt tuổi có mối liên hệ với tình trạng loét với p = 0,02 Tuy nhiên, khi thực hiện phân tích hồi quy đa biến, mối liên quan này không còn ý nghĩa thống kê Điều này cho thấy rằng đặc điểm chung của bệnh nhân không phải là yếu tố tiên đoán cho tình trạng loét trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi Lý do có thể do đối tượng nghiên cứu chủ yếu là người trẻ và cỡ mẫu chưa đủ lớn để xác định mối liên quan giữa tuổi và tình trạng loét.

Nghiên cứu của Manju (2005) tại khoa ngoại thần kinh Ấn Độ và Karayurt (2013) tại đơn vị gây mê hồi sức Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy không có mối liên hệ giữa các đặc điểm chung của bệnh nhân và tình trạng loét.

Tuy nhiên, kết quả này khác với nghiên cứu của các tác giả Terekeci

Nghiên cứu của Shahin (2008) chỉ ra rằng tuổi tác là yếu tố dự đoán sự phát triển của loét do tì đè (LDTĐ) trong các cơ sở y tế Cụ thể, bệnh nhân lớn tuổi có nguy cơ cao hơn mắc LDTĐ do quá trình lão hóa làm giảm độ đàn hồi và cấu trúc da, cũng như suy giảm khả năng chữa lành, dẫn đến tăng nguy cơ phát triển các vết thương cấp tính và mạn tính trên da.

4.4 Liên quan giữa đặc điểm lâm sàng của BN và tình trạng loét

Nghiên cứu của chúng tôi xác nhận rằng thời gian điều trị tại các đơn vị cấp cứu là yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng phát triển LDTĐ, tương tự như các nghiên cứu khác trên thế giới Cụ thể, những bệnh nhân điều trị từ 3 ngày trở lên tại các đơn vị này có mối liên hệ đáng kể với sự phát triển của LDTĐ.

Nghiên cứu năm 2001 cho thấy bệnh nhân có thời gian lưu khoa từ 7 ngày trở lên có nguy cơ cao phát triển LDTĐ Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ phát triển LDTĐ ở bệnh nhân điều trị ≤ 7 ngày là 5,8%, từ 8 đến 20 ngày là 15,7%, và ≥ 21 ngày là 71,4% Phát hiện này tương đồng với nghiên cứu của Gedamu và cộng sự (2014) với tỷ lệ LDTĐ tương ứng là 7,8%; 21,7% và 34,3% Gemadu cũng chỉ ra rằng thời gian nằm viện kéo theo nguy cơ nhiễm trùng bệnh viện, chăm sóc dinh dưỡng không đầy đủ, và tình trạng bệnh xấu đi, từ đó làm tăng nguy cơ LDTĐ, cho thấy thời gian nằm viện có liên quan chặt chẽ đến LDTĐ.

Nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ giữa thời gian điều trị và sự phát triển của loét đái tháo đường (LDTĐ), đồng thời chỉ ra sự khác biệt về số ngày điều trị trung bình giữa nhóm bệnh nhân không có loét và nhóm có loét.

Bảng 4.1 Số ngày điều trị tại đơn vị CSĐB

Tác giả Số BN Ngày điều trị tại CSĐB

Kết quả của chúng tôi 166 19,5 ± 12,9 9,3 ± 5,4

Thời gian điều trị tại các cơ sở chăm sóc đặc biệt (CSĐB) phụ thuộc vào tình trạng của bệnh nhân (BN) Khi BN lưu lại lâu trong CSĐB, nguy cơ phát triển các biến chứng như loét do tì đè (LDTĐ) sẽ tăng cao Tình trạng BN càng nặng, thời gian điều trị càng kéo dài, dẫn đến nguy cơ mắc phải các biến chứng nghiêm trọng do nằm lâu.

Nghiên cứu cho thấy bệnh nhân nằm viện dưới 7 ngày có nguy cơ phát triển loét thấp hơn 82% so với nhóm bệnh nhân nằm từ 21 ngày trở lên (KTC 95% = 0,04 – 0,85; p = 0,03) Đồng thời, bệnh nhân nằm viện từ 8 đến 20 ngày cũng có nguy cơ phát triển loét thấp hơn 94% so với nhóm bệnh nhân nằm từ 21 ngày trở lên (KTC 95% = 0,009 – 0,34; p = 0,002).

Nghiên cứu của Fife và cộng sự chỉ ra rằng thời gian điều trị không phải là yếu tố dự đoán sự phát triển LDTĐ ở các đơn vị chăm sóc đặc biệt về thần kinh Đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân trưởng thành bị chấn thương tủy sống và chấn thương đầu, với thời gian điều trị trung bình là 6,4 ngày Kết quả cho thấy chỉ 11% bệnh nhân cần thở máy, con số này thấp hơn so với một số nghiên cứu khác Do đó, cần tiến hành các nghiên cứu tiếp theo để làm rõ mối liên quan này.

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có mối liên quan giữa sốt và sự phát triển của LDTĐ, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,001) Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Sanada và cộng sự (2005) Rõ ràng, sốt ở bệnh nhân CTSN làm nặng thêm tình trạng thần kinh và ảnh hưởng đến kết quả điều trị Stocchetti (2002) cũng đã báo cáo về vấn đề này.

CTSN với sốt có nguy cơ ở lại đơn vị CSĐB dài hơn 12 ngày so với những người không sốt 4,7 lần.

Sốt có thể làm ẩm da quá mức và tăng nhu cầu dinh dưỡng qua đường máu, dẫn đến tình trạng thiếu oxy và chất dinh dưỡng cho da Khi da không được cung cấp đủ oxy trong thời gian dài, mô có thể chết và hình thành loét do tỳ đè (LDTĐ) Sự tích tụ nhiệt từ sốt gây ra đổ mồ hôi, làm tăng độ ẩm và suy yếu da, khiến da dễ bị tổn thương bởi áp lực và lực cắt Phân tích đa biến cho thấy bệnh nhân có sốt có nguy cơ phát triển LDTĐ cao gấp 6,9 lần so với bệnh nhân không sốt (KTC 95% = 3,85 – 25,71; p = 0,001).

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi không tương đồng với nghiên cứu của Minju và cộng sự (2005), khi mà tác giả này cho rằng thời gian sốt kéo dài trên 7 ngày không liên quan đến sự phát triển loét ép Ngược lại, Nijs và cộng sự (2009) lại phát hiện rằng sốt có mối tương quan nghịch với LDTĐ Cả hai nghiên cứu, bao gồm cả nghiên cứu của chúng tôi, đều chưa đi sâu vào nguyên nhân gây sốt, do đó, việc nghiên cứu thêm là cần thiết.

Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra mối liên hệ giữa tình trạng hôn mê dựa và thang điểm Glasgow với tình trạng loét Tỷ lệ loét do tỳ đè (LDTĐ) cao hơn ở nhóm bệnh nhân có điểm GCS thấp Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Fernandes (2009) và Minju (2005), cho thấy điểm số GCS thấp phản ánh rõ ràng tình trạng tổn thương.

Bản quyền tài liệu này thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.HCM

Chấn thương đầu có nguy cơ gây loét cao gấp 3,15 lần so với các chấn thương ở vị trí khác, theo nghiên cứu của Yooun Joong Jung và cộng sự (2015) Khi áp lực tác động lên cơ thể, nó có thể dẫn đến thiếu ôxy, gây đau đớn và khó chịu, khiến cơ thể tự động thay đổi vị trí Tuy nhiên, bệnh nhân bị tổn thương não nghiêm trọng thường ở trong trạng thái hôn mê sâu, không thể tự thay đổi vị trí khi bị áp lực lên một vùng cơ thể do cảm giác bị suy giảm.

Theo thang điểm Braden về cảm giác nhận thức và vận động, bệnh nhân có điểm số GCS từ 4 đến 5 không thể tự xoay trở hay thay đổi tư thế mà không có sự trợ giúp.

Ngày đăng: 05/05/2021, 18:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đàng Tấn An (2011) "Tỷ lệ chấn thương do tai nạn giao thông đường bộ và kết quả điều trị tại Bệnh viện tỉnh Ninh Thuận năm 2011 ". Y Học TP.Hồ Chí Minh, 18, (Phụ bản số 6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ chấn thương do tai nạn giao thông đường bộ và kết quả điều trị tại Bệnh viện tỉnh Ninh Thuận năm 2011
Tác giả: Đàng Tấn An
Nhà XB: Y Học TP.Hồ Chí Minh
Năm: 2011
2. Nguyễn Khoa Anh Chi (2014) Loét do tỳ đè và các yếu tố liên quan đến loét do tỳ đè trên bệnh nhân đang điều trị tại Bệnh viện trung ương Huế.Luận văn thạc sỹ điều dưỡng. Đại học y dượcTP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Loét do tỳ đè và các yếu tố liên quan đến loét do tỳ đè trên bệnh nhân đang điều trị tại Bệnh viện trung ương Huế
Tác giả: Nguyễn Khoa Anh Chi
Nhà XB: Đại học y dược TP Hồ Chí Minh
Năm: 2014
3. Dương Đình Chỉnh (2011) "Kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc bệnh nhân đột quị não tại cộng đòng tỉnh Nghệ An". Y học thực hành, tập 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc bệnh nhân đột quị não tại cộng đòng tỉnh Nghệ An
Tác giả: Dương Đình Chỉnh
Nhà XB: Y học thực hành
Năm: 2011
4. Trần Đoàn Đạo, Lê Nguyễn Diệp Minh ( 2011) "Đánh giá hiệu quả của máy hút áp lực âm trong điều trị các vết thương mãn tính kết quả bước đầu".Y Học TP. Hồ Chí Minh, Tập 15, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả của máy hút áp lực âm trong điều trị các vết thương mãn tính kết quả bước đầu
Tác giả: Trần Đoàn Đạo, Lê Nguyễn Diệp Minh
Nhà XB: Y Học TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2011
5. Nguyễn Quang Quyền (2011) " Bài Giảng Giải Phẫu Học". Nhà xuất bản Y Học., Tái bản 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài Giảng Giải Phẫu Học
Tác giả: Nguyễn Quang Quyền
Nhà XB: Nhà xuất bản Y Học
Năm: 2011
6. Cẩm Bá Thức (2012) "Nghiên cứu tình trạng loét đè ép ở bệnh nhân tổn thương tủy sống tại bệnh viện Phục hồi chức năng Trung ương 2008- 2011". Y Học Thực Hành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình trạng loét đè ép ở bệnh nhân tổn thương tủy sống tại bệnh viện Phục hồi chức năng Trung ương 2008- 2011
Tác giả: Cẩm Bá Thức
Nhà XB: Y Học Thực Hành
Năm: 2012
7. Đồng Nguyễn Phương Uyển (2011) "Kiến thức, thái độ và thực hành về phòng ngừa loét do tỳ đè của điều dưỡng khoa hồi sức cấp cứu". Y Học TP. Hồ Chí Minh, 15, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thái độ và thực hành về phòng ngừa loét do tỳ đè của điều dưỡng khoa hồi sức cấp cứu
Tác giả: Đồng Nguyễn Phương Uyển
Nhà XB: Y Học TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2011
8. Trương Văn Việt (2012) "Các yếu tố nguy cơ gây chấn thương sọ não do tai nạn giao thông tại Thành phố Hồ Chí Minh". Y Học TP. Hồ Chí Minh, 6, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố nguy cơ gây chấn thương sọ não do tai nạn giao thông tại Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Trương Văn Việt
Nhà XB: Y Học TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2012
9. Trần Quang Vinh ( 2013) "Hồi sức bệnh nhân chấn thương sọ não nặng tại khoa Hồi sức ngoại thần kinh-BVCR". Y Học TP. Hồ Chí Minh, 17, (Phụ bản của Số 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồi sức bệnh nhân chấn thương sọ não nặng tại khoa Hồi sức ngoại thần kinh-BVCR
10. Megan M Kilpatrick, David W Lowry, Andrew D Firlik, Howard Yonas, Donald W Marion (2000) "Hyperthermia in the neurosurgical intensive care unit". Neurosurgery, 47, (4), pp.850-856 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hyperthermia in the neurosurgical intensive care unit
Tác giả: Megan M Kilpatrick, David W Lowry, Andrew D Firlik, Howard Yonas, Donald W Marion
Nhà XB: Neurosurgery
Năm: 2000
11. Yooun Joong Jung et al (2015) "Risk Factors for Pressure Ulcer in Severe Trauma Patients". Journal of Acute Care Surgery, 5, (1), pp.19-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Risk Factors for Pressure Ulcer in Severe Trauma Patients
12. Ronald F Albrecht, C Thomas Wass, William L Lanier (1998) Occurrence of potentially detrimental temperature alterations in hospitalized patients at risk for brain injury. Mayo Clinic Proceedings. Elsevier, 73, (7), pp 629-635.Bản quyền tài liệu này thuộc về Thư viện Đại học Y Dược TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Occurrence of potentially detrimental temperature alterations in hospitalized patients at risk for brain injury
Tác giả: Ronald F Albrecht, C Thomas Wass, William L Lanier
Nhà XB: Mayo Clinic Proceedings
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w