Nguyên nhân có thể là do loại phẫu thuật này có phẫu trườngrộng, phúc mạc và bề mặt các tạng tiếp xúc nhiều với nhiệt độ phòng lạnh, rối loạntrung tâm điều nhiệt do thuốc mê, thời gian g
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH
-CAO PHI LOAN
KHẢO SÁT HẠ THÂN NHIỆT TRÊN BỆNH NHÂN ĐƯỢC GÂY MÊ TỔNG QUÁT TRONG MỔ MỞ Ổ BỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ NỘI TRÚ CHUYÊN NGÀNH: GÂY MÊ HỒI SỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH
-CAO PHI LOAN
KHẢO SÁT HẠ THÂN NHIỆT TRÊN BỆNH NHÂN ĐƯỢC GÂY MÊ TỔNG QUÁT TRONG MỔ MỞ Ổ BỤNG
Chuyên ngành: Gây mê hồi sức
Mã số: NT 62 72 33 01
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ NỘI TRÚ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS BS NGUYỄN THỊ THANH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2018
Trang 3Tôi cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được các tác giả công
bố trong bất kì công trình nào.
Các trích dẫn về bảng biểu, kết quả nghiên cứu của những tác giả khác, tài liệu tham khảo trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng và theo đúng quy định.
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Cao Phi Loan
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC THUẬT NGỮ ANH VIỆT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN Y VĂN 4
1.1 Sinh lý điều hòa thân nhiệt 4
1.1.1 Định nghĩa 4
1.1.2 Quá trình sinh và thải nhiệt của cơ thể 5
1.1.3 Cơ chế điều hòa thân nhiệt thông thường 8
1.1.4 Phản xạ điều nhiệt 9
1.1.5 Điều hòa thân nhiệt bởi hành vi 10
1.1.6 Mức quy định của cơ chế điều hòa thân nhiệt của vùng dưới đồi 10
1.1.7 Ảnh hưởng của hạ thân nhiệt lên cơ thể 11
1.2 Hạ thân nhiệt không chủ ý chu phẫu 12
1.2.1 Định nghĩa 12
1.2.2 Điều hòa thân nhiệt trong gây mê tổng quát 12
1.2.3 Hạ thân nhiệt trong gây mê tổng quát 16
1.2.4 Hạ thân nhiệt trong gây tê trục thần kinh trung ương 18
1.2.5 Gây mê tổng quát phối hợp với gây tê trục thần kinh trung ương 19
1.2.6 Yếu tố ảnh hưởng đến hạ thân nhiệt không chủ ý chu phẫu 19
1.2.7 Tác dụng có lợi của hạ thân nhiệt 21
1.2.8 Hậu quả của hạ thân nhiệt 22
Trang 51.2.9 Theo dõi nhiệt độ trong mổ 24
1.3 Các phương pháp làm ấm và phòng ngừa hạ thân nhiệt 26
1.4 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 28
1.4.1 Thế giới 28
1.4.2 Trong nước 30
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Thiết kế nghiên cứu 32
2.2 Đối tượng nghiên cứu 32
2.2.1 Dân số nghiên cứu 32
2.2.2 Dân số chọn mẫu 32
2.2.3 Cỡ mẫu 32
2.2.4 Phương pháp chọn mẫu 32
2.3 Tiến hành nghiên cứu 33
2.3.1 Chuẩn bị bệnh nhân 33
2.3.2 Chuẩn bị phương tiện 33
2.3.3 Các bước thực hiện 34
2.3.4 Phương pháp đo thân nhiệt bệnh nhân 34
2.3.5 Phương pháp sưởi ấm bệnh nhân 34
2.3.6 Phương pháp vô cảm 35
2.4 Biến số nghiên cứu 36
2.4.1 Biến số kết cục chính 36
2.4.2 Biến số kết cục phụ 36
2.4.3 Biến số nền 36
2.4.4 Biến số kiểm soát 37
Trang 62.4.5 Định nghĩa biến số 37
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 39
2.6 Phương pháp xử lý số liệu 39
2.7 Y đức 40
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41
3.1 Đặc điểm chung 41
3.1.1 Đặc điểm liên quan đến bệnh nhân 41
3.1.2 Đặc điểm liên quan đến gây mê và phẫu thuật 42
3.2 Tỷ lệ hạ thân nhiệt và sự thay đổi thân nhiệt trong quá trình gây mê phẫu thuật 43
3.3 Các yếu tố ảnh hưởng lên hạ thân nhiệt 45
3.4 Hậu quả sớm của hạ thân nhiệt 48
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 50
4.1 Đặc điểm chung 50
4.1.1 Đặc điểm liên quan bệnh nhân 50
4.1.2 Đặc điểm liên quan đến gây mê và phẫu thuật 51
4.2 Tỷ lệ hạ thân nhiệt và sự biến đổi thân nhiệt trong quá trình gây mê và phẫu thuật 53 4.3 Các yếu tố ảnh hưởng lên hạ thân nhiệt 57
4.4 Các hậu quả sớm của hạ thân nhiệt 61
4.5 Ưu điểm và giới hạn của nghiên cứu 62
4.5.1 Ưu điểm 62
4.5.2 Giới hạn 62
KẾT LUẬN 64
Trang 7TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LUC 1: PHIẾU THÔNG TIN - PHIẾU CHẤP THUẬN
PHỤ LỤC 2: PHIẾU THU THẬP SỐ LIỆU - BẢNG THU THẬP SỐ LIỆUPHỤ LỤC 3: DANH SÁCH BỆNH NHÂN THAM GIA NGHIÊN CỨU
Trang 8DANH MỤC THUẬT NGỮ ANH VIỆT
ASA: American Society of Anesthesiologists – Hiệp hội Gây Mê Hồi Sức Hoa KỳOR: Odd Ratio – Tỷ số chênh
BMI: Body Mass Index – Chỉ số khối cơ thể
ECG: Electrocardiogram – Điện tâm đồ
NICE: National Institute for Health and Care Excellence
Viện Quốc gia thực hành đúng về chăm sóc và sức khỏe
ASPAN: American Society of PeriAnesthesia Nurses
Hiệp hội Điều Dưỡng Gây Mê Hoa KỳForced- air blanket, forced-air warming: mền sưởi
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Định nghĩa biến số 37
Bảng 3.1 Đặc điểm bệnh nhân của nghiên cứu 41
Bảng 3.2 Đặc điểm phẫu thuật của nghiên cứu 42
Bảng 3.3 Đặc điểm gây mê phẫu thuật của nghiên cứu 43
Bảng 3.4 Tỷ lệ hạ thân nhiệt trong quá trình gây mê phẫu thuật 43
Bảng 3.5 Sự biến đổi thân nhiệt của bệnh nhân trong phẫu thuật trên 2 giờ 44 Bảng 3.6 Phân tích đơn biến các yếu tố dự đoán hạ thân nhiệt 46
Bảng 3.7 Phân tích hồi quy đa biến các yếu tố dự đoán hạ thân nhiệt 48
Bảng 3.8 Sự hồi phục thân nhiệt 49
Bảng 3.9 Sự hồi phục thân nhiệt ở nhóm sử dụng máy sưởi và đèn sưởi 49
Bảng 4.1 Đặc điểm tuổi, BMI của các nghiên cứu 50
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Hệ tuần hoàn máu dưới da 6
Hình 1.2 Cơ chế thải nhiệt từ cơ thể 8
Hình 1.3 Ảnh hưởng của nhiệt độ vùng dưới đồi trên sự sinh nhiệt và thải nhiệt của cơ thể 11
Hình 1.4 Ngưỡng đáp ứng điều hòa thân nhiệt trên người tình nguyện được dùng desflurane, alfentanil, dexmedetomidine, hoặc propofol 13
Hình 1.5 Ảnh hưởng của gây mê lên điều hòa thân nhiệt 14
Hình 1.6 Sự tái phân bố nhiệt độ cơ thể sau dẫn mê 17
Hình 1.7 Mô hình hạ thân nhiệt trong gây mê toàn diện 18
Trang 11DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Sự thay đổi thân nhiệt theo thời gian 44Biểu đồ 3.2 Mối tương quan tuyến tính giữa thân nhiệt và nhiệt độ phòng 47
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Hạ thân nhiệt không chủ ý chu phẫu được định nghĩa là khi nhiệt độ cơ thể thấphơn 36 0C [72] [79] xảy ra tại bất cứ thời điểm nào trong quá trình gây mê và phẫuthuật Hạ thân nhiệt có thể làm tăng các biến chứng chu phẫu [18] [66] như tăng nguy
cơ nhiễm trùng vết mổ [41], tăng nguy cơ biến chứng tim mạch và rối loạn nhịp tim[27] và tăng mất máu trong mổ khoảng 16% và tăng nhu cầu truyền máu khoảng 22%[75], giảm chuyển hóa thuốc dẫn đến kéo dài thời gian nằm tại hồi tỉnh, thời gian nằmviện [43], lạnh run sau mổ [11]
Hạ thân nhiệt chu phẫu là một trong những vấn đề thường gặp, chiếm tỷ lệkhoảng 50-70% trên bệnh nhân được gây mê tổng quát [54] Nhiều nghiên cứu trênthế giới về tỷ lệ hạ thân nhiệt chu phẫu như nghiên cứu của Kongsayreepong với tỷ
lệ hạ thân nhiệt là 57,1% [40], Abelha 57,8% [5], trong một nghiên cứu khác của Jie
Yi tỷ lệ này là 39,9% [86] Tại Việt Nam cũng có một số nghiên cứu về tỷ lệ hạ thânnhiệt chu phẫu như Hồ Khả Cảnh 13% [1], Phạm Thị Minh Thư 87,13% [3]
Hạ thân nhiệt chu phẫu là một biến chứng rất thường gặp trên bệnh nhân phẫuthuật lớn có mở bụng Nguyên nhân có thể là do loại phẫu thuật này có phẫu trườngrộng, phúc mạc và bề mặt các tạng tiếp xúc nhiều với nhiệt độ phòng lạnh, rối loạntrung tâm điều nhiệt do thuốc mê, thời gian gây mê phẫu thuật dài, cần truyền dịchkhối lượng lớn… Trong phẫu thuật có mở bụng nếu bệnh nhân không được sử dụngcác biện pháp làm ấm dự phòng thì tỷ lệ hạ thân nhiệt < 36℃ có thể xảy ra trên 59-70% số bệnh nhân và hạ thân nhiệt < 35℃ xảy ra trên một phần ba số bệnh nhân[24] Trong nghiên cứu của Luck và cộng sự tỷ lệ hạ thân nhiệt trên bệnh nhân phẫuthuật đại tràng bằng phương pháp mổ mở là 70,37% [47], trong một nghiên cứu kháccủa Mehdi và cộng sự trên đối tượng bệnh nhân phẫu thuật cắt u buồng trứng bằngphương pháp mổ mở thì tỷ lệ hạ thân nhiệt là 55% [52]
Hạ thân nhiệt chu phẫu là một biến chứng thường gặp trong gây mê tổng quát
và gây ra nhiều hậu quả nặng nề, kéo dài thời gian nằm viện làm tăng chi phí điều trịtuy nhiên đây là một biến chứng có thể phòng ngừa được Các tổ chức y tế trên thếgiới đã đưa ra nhiều khuyến cáo và hướng dẫn về quản lí và phòng ngừa hạ thân nhiệt
Trang 13chu phẫu tiêu biểu là hướng dẫn của NICE 2016 [55], Hiệp hội điều dưỡng gây mêHoa Kì (ASPAN) [57] Tại Việt Nam vấn đề hạ thân nhiệt chu phẫu trong thực hànhlâm sàng hằng ngày vẫn chưa được quan tâm đúng mức, chưa có nhiều nghiên cứu
về hạ thân nhiệt chu phẫu đặc biệt là trên đối tượng bệnh nhân mổ mở ổ bụng, đốitượng có nguy cơ rất cao hạ thân nhiệt vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Khảosát hạ thân nhiệt trên bệnh nhân được gây mê tổng quát trong mổ mở ổ bụng” nhẳmtrả lời câu hỏi nghiên cứu “ Trên bệnh nhân được gây mê tổng quát để mổ mở ổ bụngthì tỷ lệ hạ thân nhiệt là bao nhiêu? ”
Trang 14MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Khảo sát tỉ lệ hạ thân nhiệt và mức độ hạ thân nhiệt trên bệnh nhân được gây
mê tổng quát trong mổ mở ổ bụng
2 Đánh giá một số yếu tố ảnh hưởng lên hạ thân nhiệt: tuổi, giới, ASA, chỉ sốkhối BMI, thời gian gây mê, số lượng dịch truyền dịch rửa, nhiệt độ bệnh nhân trướcphẫu thuật, sử dụng máy sưởi trong mổ
3 Đánh giá một số hậu quả sớm của hạ thân nhiệt: run, thời gian và tốc độ hồiphục lại thân nhiệt bình thường sau mổ
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN Y VĂN1.1 Sinh lý điều hòa thân nhiệt
1.1.1 Định nghĩa
1.1.1.1 Thân nhiệt
Thân nhiệt là nhiệt độ của cơ thể Người ta chia thân nhiệt thành hai loại: thânnhiệt trung tâm và thân nhiệt ngoại vi
Thân nhiệt trung tâm là nhiệt độ đo ở những vùng nằm sâu trong cơ thể, là nhiệt
độ có ảnh hưởng trực tiếp tới tốc độ các phản ứng sinh học xảy ra trong cơ thể,
là mục đích của hoạt động điều nhiệt, thường được giữ cố định, ít thay đổi theonhiệt độ môi trường
Thân nhiệt ngoại vi là nhiệt độ đo ở da, thay đổi theo nhiệt độ môi trường xungquanh
1.1.1.2 Thân nhiệt bình thường
Bình thường, thân nhiệt dao động trong khoảng 36,3 ºC đến 37,1ºC
1.1.1.3 Tăng thân nhiệt
Tăng thân nhiệt là khi nhiệt độ cơ thể trên 38ºC
1.1.1.5 Điều hòa thân nhiệt
Điều hòa thân nhiệt là một hoạt động có tác dụng giữ cho thân nhiệt dao độngtrong một khoảng rất hẹp trong khi nhiệt độ môi trường thay đổi Vì vận tốc các phảnứng hóa học trong cơ thể, và sự hoạt động tối ưu của hệ thống enzym tùy thuộc vàothân nhiệt, nên muốn cơ thể hoạt động bình thường thì thân nhiệt phải được giữ ổnđịnh Điều nhiệt là một hoạt động nhằm bảo đảm tính hằng định nội môi Thân nhiệt
là kết quả của 2 quá trình đối lập nhau: sinh nhiệt và thải nhiệt
Trang 161.1.2 Quá trình sinh và thải nhiệt của cơ thể
1.1.2.1 Quá trình sinh nhiệt
Nhiệt năng được sinh ra từ chuyển hóa căn bản, tác dụng đặc hiệu của thức ăn,
sự co cơ, các kích thích tố và mỡ nâu
Chuyển hóa căn bản là chuyển hóa năng lượng khi cơ thể có những hoạt độngsinh lý tối thiểu để duy trì sự sống như tuần hoàn, hô hấp…các phản ứng hóa học cơbản của cơ thể như chuyển hóa glucid, protein, lipid để cung cấp năng lượng
Tác dụng đặc hiệu của thức ăn là năng lượng bắt buộc phải sử dụng trong quátrình đồng hóa thức ăn trong cơ thể được thải ra dưới dạng nhiệt, đối với đường là6%, đối với mỡ là 4%
Sự co cơ: khi cơ co các chất glucose, lipid bị oxit hóa để sinh ra năng lượng,75% năng lượng dưới dạng nhiệt Đặc biệt hiện tượng run là một nguyên nhân sinhnhiệt quan trọng
Nội tiết tố kích thích cũng ảnh hưởng đến quá trình sinh nhiệt của cơ thể.Epinephrin và Norepinephrin làm tăng tốc độ chuyển hóa năng lượng, năng lượngbiến thành nhiệt năng chứ không dự trữ dưới dạng ATP, tạo nhiệt nhanh nhưng ngắnhạn Thyroxin tạo nhiệt chậm nhưng kéo dài
Mỡ nâu là một loại mỡ đặc biệt chỉ có ở trẻ em, nằm ở dưới và xung quanhxương bả bai và những nơi khác trong cơ thể Khi kích thích thần kinh giao cảm phânphối tới mỡ nâu thì năng lượng sinh ra từ sự oxit hóa trong tế bào không được dự trữdưới dạng ATP mà tỏa thành nhiệt Do đó mỡ nâu là một nguồn tạo nhiệt quan trọngcủa trẻ em
1.1.2.2 Quá trình thải nhiệt
Phần lớn nhiệt năng được tạo ra từ những cơ quan sâu trong cơ thể như gan, tim,não, cơ Sau đó nhiệt năng phải được truyền từ trong cơ thể ra mặt ngoài da, để đượcthải ra ngoài bề mặt da
Trang 17Sự truyền nhiệt từ trong sâu qua lớp cách nhiệt dưới da (mô mỡ của mô dướida) để ra ngoài mặt da được thực hiện nhờ hệ thống mạch máu đặc biệt ở da, trong
đó đặc biệt quan trọng là mạng tĩnh mạch dưới da
“Nguồn: Guyton Athur C.Textbook of Medical Physiology, 11th ed” [8]Nhiệt năng từ mặt da được thải ra khỏi cơ thể bằng hai cách: truyền nhiệt và sựbốc hơi nước
Thải nhiệt bằng cách truyền nhiệt có 3 hình thức:
Truyền nhiệt bức xạ là sự truyền nhiệt giữa các vật không tiếp xúc với nhau.Nhiệt được truyền dưới dạng tia hồng ngoại (là một dạng sóng điện từ) Tất cả nhữngvật có nhiệt độ lớn hơn 0ºC tuyệt đối đều có thể bức xạ được, tuy nhiên nếu nhiệt độcủa da lớn hơn nhiệt độ của môi trường xung quanh thì lượng nhiệt bức xạ từ cơ thể
ra ngoài sẽ nhiều hơn lượng nhiệt bức xạ từ tường và các vật khác tới cơ thể Ở nhiệt
độ bình thường, một người không mặc quần áo có 60% lượng nhiệt được thải bằngbức xạ Bức xạ là nguyên nhân chủ yếu gây ra mất nhiệt trong suốt quá trình phẫuthuật [31]
Hình 1.1 Hệ tuần hoàn máu dưới da
Trang 18Truyền nhiệt trực tiếp là sự truyền nhiệt giữa các vật tiếp xúc với nhau Truyềnnhiệt trực tiếp chiếm khoảng 3% lượng nhiệt bị mất Truyền nhiệt trực tiếp đóng vaitrò không đáng kể trong mất nhiệt trong suốt quá trình phẫu thuật, vì bệnh nhân đượcnằm trên tấm đệm cách nhiệt trong phòng mổ [31].
Truyền nhiệt đối lưu là sự truyền nhiệt từ cơ thể đến không khí xung quanh Sựtruyền nhiệt này sẽ dừng lại khi nhiệt độ không khí ở da gần bằng với nhiệt độ da, trừkhi không khí được đổi mới nhờ sự chuyển động của không khí cũ ra nơi khác, nhưkhi có luồng gió Bình thường không khí khi được sưởi ấm sẽ nhẹ hơn và bay lênkhỏi da, không khí lạnh mới sẽ tới thay chỗ và nhiệt tiếp tục được truyền tới lớpkhông khí mới này, có khoảng 15% lượng nhiệt mất theo đường này Một điều kiệnchung để cơ thể có thể thải nhiệt bằng phương thức truyền nhiệt là nhiệt độ của daphải cao hơn nhiệt độ của không khí và những vật xung quanh Trong trường hợpngược lại, cơ thể không thải nhiệt được mà còn có nguy cơ bị truyền nhiệt từ môitrường vào Trong khu vực không thuộc phòng mổ không khí trong phòng trao đổi 4lần mỗi giờ, trong khi đó trong các phòng mổ không khí trao đổi 15 lần mỗi giờ.Chính sự di chuyển không khí này làm cho phòng mổ lạnh hơn Những tấm che phủbệnh nhân dùng trong phẫu thuật đóng vai trò như 1 vật cách nhiệt giúp giảm đếnmức tối thiểu mất nhiệt do đối lưu Mặc dù được che phủ nhưng mất nhiệt do đối lưuvẫn được xem là nguyên nhân thứ hai gây mất nhiệt trong phòng mổ [31]
Thải nhiệt bằng sự bốc hơi nước qua da, qua niêm mạc đường hô hấp, qua miệngNhiệt lượng được thải ra dưới dạng này chiếm khoảng 22% Một gram nướcbốc hơi sẽ lấy đi của cơ thể 0,58 kilocalo Sự bốc hơi nước qua da và đường hô hấpthường xuyên xảy ra, bình thường khoảng 600ml trong một ngày, thải ra được từ 12tới 16 kilocalo mỗi giờ, đây là lượng nước mất không nhận biết, không thay đổi theonhiệt độ của cơ thể và nhiệt độ của không khí Khi cơ thể vận động, hoặc ở trong môitrường nóng thì ngoài lượng nước mất không cảm thấy bốc hơi qua da và đường hôhấp, còn có sự tiết mồ hôi từ các tuyến mồ hôi ở da, và mồ hôi chỉ giúp thải nhiệt khibốc hơi trên da Lượng mồ hôi bốc hơi trên da tùy vào độ ẩm của môi trường Loại
Trang 19mất nhiệt này thường xảy ra khi sử dụng các dung dịch sát trùng Sự bốc hơi nước từvết mổ cũng tham gia vào cơ chế này [31].
Hình 1.2 Cơ chế thải nhiệt từ cơ thể
“Nguồn: Guyton Athur C.Textbook of Medical Physiology, 11th ed” [8]
1.1.3 Cơ chế điều hòa thân nhiệt thông thường
1.1.3.1 Giới hạn điều nhiệt
Thân nhiệt được giữ ở mức ổn định khi nhiệt độ môi trường dao động trongkhoảng -60ºC đến +50ºC Ngoài những nhiệt độ giới hạn đó thân nhiệt không thể giữđược mức ổn định
1.1.3.2 Cung phản xạ điều nhiệt
Cung phản xạ điều nhiệt gồm có 5 bộ phận như mọi cung phản xạ tủy sống khác
Ở đây chúng ta chú ý tới các thụ thể, trung tâm điều nhiệt
1.1.3.3 Thụ thể
Thụ thể là nơi cảm nhận thân nhiệt lên cao hay thấp và phát xung động thầnkinh tới trung tâm điều nhiệt, gồm 2 loại chính là thụ thể nhạy cảm với nhiệt độ nóng
và thụ thể nhạy cảm với nhiệt độ lạnh
Vùng trước thị ở vùng dưới đồi trước có nhiều tế bào thần kinh nhạy cảm vớinhiệt độ nóng của cơ thể , và một số tế bào thần kinh nhạy cảm với nhiệt độ lạnh ( số
Trang 20lượng bằng một phần ba loại trên) Các thụ thể nhạy cảm với nhiệt độ lạnh ( nhiềuhơn gấp 10 lần) và thụ thể nhạy cảm với nhiệt độ nóng được phân phối ở da để pháthiện sự thay đổi của thân nhiệt ngoại vi Những thụ thể về nhiệt độ lạnh và nhiệt độnóng cũng tìm thấy ở tủy sống, các nội tạng ở bụng, trong và xung quanh các tĩnhmạch lớn, các thụ thể này phát hiện sự thay đổi của thân nhiệt trung tâm.
1.1.3.4 Trung tâm điều nhiệt
Trung tâm điều nhiệt nằm ở vùng dưới đồi Các thụ thể ngoài da và nội tạngchính yếu phát hiện ra nhiệt độ lạnh sẽ phát xung động thần kinh về trung tâm điềunhiệt nằm ở phía hai bên của phần sau vùng dưới đồi ngang với tầm của thể vú Cácthụ thể phát hiện nhiệt độ nóng ở vùng trước thị tại vùng dưới đồi trước cũng truyềntín hiệu về phần sau của vùng dưới đồi Từ trung tâm điều nhiệt các loại tín hiệu đượcphối hợp để cuối cùng cho ra đáp ứng để điều nhiệt
1.1.4 Phản xạ điều nhiệt
1.1.4.1 Cơ chế chống nóng khi thân nhiệt tăng cao
Giãn mạch máu da của gần như toàn bộ cơ thể, bằng cách ức chế trung tâm giaocảm ở vùng dưới đồi sau ( có tác dụng làm co mạch)
Đổ mồ hôi: khi thân nhiệt trung tâm tăng trên một nhiệt độ tới hạn nào đó khoảng37ºC thì bắt đầu có hiện tượng tăng tiết mồ hôi để thải nhiệt ra ngoài
Giảm tạo nhiệt
1.1.4.2 Cơ chế chống lạnh khi thân nhiệt giảm
Co mạch da: do trung tâm giao cảm ở vùng dưới đồi sau bị kích thích
Dựng lông: kích thích giao cảm làm co cơ dựng lông Phản xạ dựng lông quantrọng vì lông tạo nên một lớp không khí cách nhiệt khiến cho sự truyền nhiệtbằng đối lưu từ trong cơ thể ra ngoài bị giảm
Tăng tạo nhiệt bằng cách gây run, làm tăng tiết epinephrin và norepinephrin,tăng tiết thyroxin
- Run: Trung tâm run nằm ở vùng dưới đồi sau, phần lưng giữa gần vách củanão thất III, bình thường bị ức chế bởi tín hiệu nóng ở vùng trước thị tại vùng dướiđồi trước, nhưng được kích thích bởi tín hiệu lạnh từ da và tủy sống Khi thân nhiệt
Trang 21trung tâm giảm dưới nhiệt độ tới hạn nào đó thường là 37ºC thì trung tâm run đượchoạt hóa sẽ truyền xung động thần kinh theo sừng trước tủy sống đến cơ ở hai bêncủa cơ thể, làm tăng trương lực của tất cả cơ vân sau đó gây run Khi cường độ runlên tối đa có thể sinh nhiệt cho cơ thể cao hơn bình thường gấp bốn, năm lần.
- Tăng tạo nhiệt nhờ kích thích giao cảm làm tăng tiết epinephrin vànorepinephrin có tác dụng làm tăng lập tức tốc độ chuyển hóa năng lượng của tế bào,
để sinh ra nhiệt mà không dự trữ dưới dạng ATP gọi là nhiệt hóa học
- Tăng tạo nhiệt do tăng tiết thyroxin : làm lạnh vùng dưới đồi trước và vùngtrước thị làm vùng dưới đồi tăng tiết TRH , TRH sẽ kích tuyến yên tiết TSH , TSHlàm tuyến giáp tăng tiết thyroxin Thyroxin làm tăng tốc độ chuyển hóa năng lượngtrong tất cả tế bào để sinh ra nhiệt, nhưng tác dụng của thyroxin chậm và kéo dài hơnepinephrin, cần phải có thời gian dài để tuyến giáp tiết thyroxin
1.1.5 Điều hòa thân nhiệt bởi hành vi
Ở người điều hòa thân nhiệt bằng hành vi rất quan trọng Khi thân nhiệt tănglên cao quá tín hiệu từ vùng điều hòa nhiệt ở não làm cho con người cảm thấy nóngquá, và có hành vi thích hợp để chóng nóng Ngược lại khi cơ thể lạnh quá tín hiệu
từ những thụ thể ở da và ở nội tạng gây ra cảm giác khó chịu vì lạnh và sẽ có hành vi
để chống lạnh như : mặc áo vào, nằm cuộn tròn lại để giảm sự truyền nhiệt ra ngoài
1.1.6 Mức quy định của cơ chế điều hòa thân nhiệt của vùng dưới đồi
Biểu đồ sau cho thấy tác dụng của nhiệt độ ở vùng dưới đồi trên cơ chế điều hòanhiệt của cơ thể
Trang 22“Nguồn: Guyton Athur C.Textbook of Medical Physiology, 11th ed” [8]Chúng ta nhận thấy ở một nhiệt độ tới hạn là 37,1ºC ở người bình thường quátrình tiết mồ hôi để thải nhiệt xảy ra và quá trình tăng sinh nhiệt (run) ngừng lại Khithân nhiệt tăng trên mức này thì mồ hôi bắt đầu được tiết ra, sự thải nhiệt nhiều hơnsinh nhiệt, do đó thân nhiệt hạ xuống lại 37,1ºC Khi thân nhiệt ở dưới 37,1ºC thì quátrình run để tăng sinh nhiệt bắt đầu xảy ra , sự sinh nhiệt của cơ thể nhiều hơn sự thảinhiệt nên thân nhiệt tăng lên trở lại mức 37,1ºC Như vậy, nhiệt độ tới hạn 37,1 ºCđược gọi là mức qui định của cơ chế điều nhiệt nhằm cố gắng đưa thân nhiệt trở vềmức quy định này Mức quy định của cơ chế điều hòa nhiệt ở vùng dưới đồi chịu ảnhhường của nhiệt độ da và nhiệt độ của vài cơ quan ở trong sâu của cơ thể (tủy sống,nội tạng, ổ bụng) [2].
1.1.7 Ảnh hưởng của hạ thân nhiệt lên cơ thể
Khi thân nhiệt giảm dưới 34 °C, khả năng điều nhiệt của vùng dưới đồi bị suyyếu nặng, khi thân nhiệt giảm tới 29 °C thì khả năng này hoàn toàn bị mất, lý do là vìtốc độ của sự sinh nhiệt trong tế bào bị giảm 50% khi thân nhiệt giảm xuống 3,6 °Cđồng thời sự ngủ hoặc hôn mê làm giảm hoạt động của cơ chế điều hòa thân nhiệt
Hình 1.3 Ảnh hưởng của nhiệt độ vùng dưới đồi trên sự sinh nhiệt và thải nhiệt của cơ thể
Trang 23của hệ thần kinh trung ương, sự run để sinh nhiệt cũng bị ức chế Khi thân nhiệt chỉcòn 24,5 °C sẽ gây rung thất hoặc ngừng tim.
Hạ thân nhiệt mức độ nhẹ được biểu hiện bằng tình trạng run rẩy, các đầu chilạnh và da tái lạnh Hạ thân nhiệt mức độ vừa và nặng được biểu hiện bằng tình trạng
ý thức bị ức chế, thất điều, nhịp tim chậm hoặc loạn nhịp trên thất, giảm phản xạ gânxương, giảm thông khí, không bắt được mạch, đồng tử dãn và có thể dẫn tới hôn mê,phù phổi, ngưng tim Tình trạng run giảm đi nếu hạ thân nhiệt ngày càng tiến triểnnặng thêm Xét nghiệm có thể cho thấy tình trạng nhiễm toan, rối loạn đông máu vàbất thường chức năng gan thận Rối loạn chức năng của các cơ quan đích là hậu quảcủa giảm cung lượng tim và giảm thanh lọc các sản phẩm chuyển hóa Các rối loạntrên điện tâm đồ bao gồm sóng J (Osborn) và kéo dài khoảng PR, QRS, QT
1.2 Hạ thân nhiệt không chủ ý chu phẫu
1.2.1 Định nghĩa
Hạ thân nhiệt không chủ ý chu phẫu được định nghĩa là khi nhiệt độ cơ thể dưới36ºC xảy ra trong bất cứ thời điểm nào trong quá trình gây mê và phẫu thuật Hạ thânnhiệt chu phẫu được chia làm 3 mức độ: hạ thân nhiệt nhẹ khi thân nhiệt từ 35℃ đến35,9℃, hạ thân nhiệt trung bình khi thân nhiệt từ 34℃ đến 34,9℃ và hạ thân nhiệtnặng khi thân nhiệt dưới 34℃ [55]
1.2.2 Điều hòa thân nhiệt trong gây mê tổng quát
Điều hòa thân nhiệt bởi hành vi không có hiệu quả trong gây mê tổng quát vìbệnh nhân được gây mê và thường được dãn cơ Tất cả thuốc mê làm hư hại một cáchđáng kể sự kiểm soát điều hòa thân nhiệt thông thường của hệ thần kinh tự chủ Sự
hư hại điều hòa thân nhiệt liên quan đến gây mê có đặc điểm là ngưỡng đáp ứng vớinóng tăng nhẹ trong khi ngưỡng đáp ứng với lạnh giảm đáng kể Các thuốc mê làm
hư hại các đáp ứng điều hòa nhiệt độ tương tự nhưng không giống hệt nhau Cácthuốc mê tĩnh mạch như propofol, alfentanil, và dexmedetomidine đều gây tăng nhẹ,tuyến tính với ngưỡng tiết mồ hôi kết hợp với giảm đáng kể, tuyến tính với ngưỡng
co mạch và run Các thuốc mê hô hấp như isoflurane và desflurane cũng làm tăng nhẹ
Trang 24ngưỡng tiết mồ hôi tuy nhiên làm giảm ngưỡng đáp ứng với lạnh không tuyến tính.
Do đó các thuốc mê hô hấp ức chế sự co mạch và run ít hơn propofol ở nồng độ thấp, nhưng nhiều hơn propofol tại nồng độ dùng gây mê Kích thích đau làm tăng nhẹngưỡng co mạch [82], do đó ngưỡng này sẽ có phần thấp khi đau do phẫu thuật đượcngăn ngừa bởi gây tê tại chỗ và gây tê vùng
“Nguồn Daniel I Sessler, Miller’s Anesthesia, 8 th ed”[19]
Hình 1.4 Ngưỡng đáp ứng điều hòa thân nhiệt trên người tình nguyện được dùng desflurane, alfentanil, dexmedetomidine, hoặc propofol
Trang 25Do đó phạm vi ngưỡng trung gian tăng lên gần 20 lần từ giá trị thông thườnggần 0,2°C đến xấp xỉ 2°C đến 4°C Nhiệt độ trong phạm vi này không làm khởi phátđáp ứng điều hòa nhiệt độ Kết quả là bệnh nhân được gây mê trở thành đẳng nhiệt,nhiệt độ cơ thể quyết định bởi nhiệt độ môi trường.
“Nguồn Daniel I Sessler, Miller’s Anesthesia, 8 th ed”[19]
Tác dụng của thuốc gây mê lên cân bằng nhiệt
- Thuốc tiền mê
Clonidine là thuốc chủ vận chọn lọc alpha 2 adrenergic, có tác dụng làm giảmngưỡng đáp ứng với lạnh đồng thời tăng nhẹ ngưỡng đáp ứng với nóng, tác dụng nàyphụ thuộc liều[76] Clonidine có tác dụng làm giảm tỷ lệ lạnh run sau mổ nghiên cứucủa Horn cho thấy sử dụng clonidine liều 3mcg/kg 5 phút trước khi rút nội khí quảngiúp ngăn ngừa hoàn toàn lạnh run sau mổ [22]
Midazolam có tác dụng làm giãn mạch ảnh hưởng đến sự phân bố nhiệt độ từtrung tâm ra ngoại vi, tác dụng này phụ thuộc liều Nghiên cứu của Toyota và cộng
sự cho thấy midazolam liều cao 0,08mg/kg gây hạ thân nhiệt đáng kể và khuyến cáodùng liều 0,04mg/kg để an thần nhằm làm giảm nguy cơ hạ thân nhiệt [80]
- Thuốc phiện
Làm giảm co mạch do ức chế hệ giao cảm Morphine làm giảm sinh nhiệt, tất
cả thuốc phiện ở liều cao đều gây hạ thân nhiệt Meperidine có tác dụng chống run
Hình 1.5 Ảnh hưởng của gây mê lên điều hòa thân nhiệt
Trang 26và ức chế run gấp 2 lần tác dụng co mạch Cơ chế tác dụng chưa được hiểu rõ Đa sốcác tác giả cho rằng tác dụng này là do kích thích thụ thể kappa của opioid.
- Thuốc mê tĩnh mạch
Propofol ức chế sự tiết mồ hôi và co mạch, do đó ảnh hưởng đến sự điều nhiệt.Nồng độ Propofol trong máu có liên hệ tuyến tính với sự giảm ngưỡng run và ngưỡng
co mạch [49] Ketamine kích thích trực tiếp trung tâm giao cảm, gây co mạch, do đó
có thể làm giảm sự tái phân bố nhiệt từ trung tâm ra ngoại vi Liều Ketamine 0,2 –0,5 mg/kg tiêm tĩnh mạch có hiệu quả trong dự phòng và điều trị run trong quá trìnhphẫu thuật
- Thuốc mê hô hấp
Các thuốc mê hơi làm giảm hoạt động của trung tâm điều hòa nhiệt độ ở phíasau của vùng dưới đồi, có tác dụng dãn mạch góp phần làm mất nhiệt qua da.Isoflurane [85], desflurane [7], enflurane [82], halothane và sự kết hợp giữa nitrousoxide và fentanyl [70] làm giảm ngưỡng co mạch 2°C đến 4°C so với giá trị bìnhthường xấp xỉ 37°C Sự phụ thuộc liều lượng không tuyến tính, nồng độ lớn hơn gây
ra sự giảm ngưỡng đáp ứng không tương xứng Nitrous oxide giảm ngưỡng co mạch
và run ít hơn các thuốc mê hơi khác ở nồng độ tương đương
- Thuốc khác
Thuốc đối kháng cholinergic: Atropin ảnh hưởng đến sự điều nhiệt thông qua
ức chế bài tiết mồ hôi ở ngoại vi, tăng đồng thời ngưỡng tiết mồ hôi, co mạch và run.Nghiên cứu của Matsukawa trên 40 bệnh nhân tuổi trên 60 cho thấy khi sử dụngatropin tiền mê làm tăng thân nhiệt trung tâm 0,3 ± 0,2°C và khi kết hợp atropin vớimidazolam làm giảm hạ thân nhiệt gây ra bởi midazolam [78]
Thuốc đối vận 5-hydroxytryptamine-3 (5HT3): Ondasetron liều 8 mg sử dụngtrước khởi mê có tác dụng làm giảm lạnh run sau mổ trên bệnh nhân được gây mêtổng quát [63] Ondasetron 8mg cho trước gây tê có tác dụng chống run sau mổ tương
tự meperidine 0,4mg/kg trong gây tê tủy sống [39]
Trang 27Nefopam: nefopam ít tác động lên ngưỡng tiết mồ hôi và ngưỡng co mạchnhưng đối với ngưỡng run sẽ giảm xấp xỉ 1 oC với nồng độ trong huyết tương 55ng/ml [60] Do đó Nefopam rất hiệu quả trong điều trị và dự phòng run sau phẫuthuật Nefopam 20mg có tác dụng tương tự như 150 mcg clonidine, hay 50 mgmeperidine trong dự phòng lạnh run sau phẫu thuật thần kinh [64]
1.2.3 Hạ thân nhiệt trong gây mê tổng quát
Hạ thân nhiệt trong gây mê tổng quát diễn tiến qua 3 pha đặc trưng Pha thứnhất có sự giảm nhanh chóng 1-1,5℃ nhiệt độ trung tâm trong giờ đầu sau khởi mê.Pha thứ hai nhiệt độ trung tâm giảm chậm hơn, tuyến tính trong 2-3 giờ tiếp theo vàcuối cùng là nhiệt độ trung tâm ổn định ở pha thứ ba [19]
Pha 1 tái phân bố
Gây mê toàn diện thúc đẩy giãn mạch qua 2 cơ chế: thứ nhất là gây mê làm giảmngưỡng co mạch, do đó làm ức chế đáp ứng co mạch của trung tâm điều nhiệt, thứhai là, hầu hết các thuốc mê gây giãn mạch ngoại vi trực tiếp, kết quả là nhiệt lượng
ở trung tâm phân bố ra ngoại vi theo sự chênh lệch nhiệt độ Nghiên cứu củaMatsukawa và cộng sự thấy rằng sau 1 giờ gây mê, nhiệt độ cơ thể giảm 1,6 ± 0,3 °C,
sự tái phân bố góp phần 81 % Trong 2 giờ tiếp theo, nhiệt độ cơ thể giảm thêm 1,1
± 0,3 °C, sự tái phân bố đóng góp 43 % Như vậy sự tái phân bố đóng góp 65 % vàotổng lượng nhiệt giảm (2,8 ± 0,5 °C) trong suốt 3 giờ đầu gây mê Do đó, sự tái phânphối trung tâm – ngoại vi là nguyên nhân chính gây hạ thân nhiệt trong giai đoạn đầugây mê Yếu tố chính ảnh hưởng đến mức độ hạ thân nhiệt do tái phân bố là sự chênlệch nhiệt độ giũa trung tâm và ngoại vi Sự chênh lệch này dao động từ không đáng
kể đến 4℃ và phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường của bệnh nhân trước đó, thời gianbệnh nhân ở trong môi trường đó và sự co mạch điều do hòa nhiệt độ Bệnh nhânđược duy trì trong môi trường ấm nhiều giờ trước khi phẫu thuật thường ít mất nhiệt
do phân bố hơn bệnh nhân tiếp xúc với môi trường lạnh [50] [71]
Trang 28Hình 1.6 Sự tái phân bố nhiệt độ cơ thể sau dẫn mê.
“Nguồn Daniel I Sessler, Miller’s Anesthesia, 8 th ed” [19]
Pha 2 tuyến tính
Sau giai đoạn mất nhiệt do tái phân bố ban đầu thì nhiệt độ trung tâm giảmchậm, tuyến tính trong vòng 2 đến 4 giờ, sự giảm nhiệt độ ở giai đoạn này là do lượngnhiệt mất vượt quá sự chuyển hóa sinh nhiệt của cơ thể Quá trình trao đổi chất giảm
15 – 40 % dưới gây mê toàn diện Mất nhiệt thông qua 4 cơ chế: bức xạ chủ yếu do
sự chênh lệch nhiệt độ giữa bệnh nhân và môi trường, đối lưu tốc độ dòng khí xungquanh bệnh nhân, dẫn nhiệt do tiếp xúc với bàn mổ, dịch, khí gây mê lạnh và bốc hơi
từ da, đường hô hấp, ruột và bề mặt vết mổ
Pha 3 bình nguyên
Sau 3 đến 5 giờ gây mê thân nhiệt trung tâm ngưng giảm, phản ánh giai đoạn
ổn định sinh nhiệt bằng mất nhiệt đây là giai đoạn bình nguyên Nếu bệnh nhân hạthân nhiệt đủ 33ºC đến 35ºC , khởi phát co mạch để tái lập chênh lệch nhiệt độ ngoại
vi, trung tâm Bình nhiệt do co mạch không phải là một trạng thái nhiệt độ ổn định,nhiệt của cơ thể vẫn tiếp tục giảm mặc dù nhiệt độ trung tâm gần như hằng định
Trang 29Hình 1.7 Mô hình hạ thân nhiệt trong gây mê toàn diện
“Nguồn Daniel I Sessler, Miller’s Anesthesia, 8 th ed” [19]
1.2.4 Hạ thân nhiệt trong gây tê trục thần kinh trung ương.
Gây tê trục thần kinh cũng phá vỡ đáp ứng sinh lý điều hòa nhiệt nhưng theo cơchế khác với gây mê tổng quát Gây tê ngoài màng cứng [20] [58] và tê tủy sống [42]đều làm giảm ngưỡng lạnh run và co mạch khoảng 0,6℃ Hầu hết các đáp ứng điềuhòa thân nhiệt trung tâm đều phụ thuộc vào các tín hiệu nhiệt độ hướng tâm từ cácthụ thể da ở chân Tuy nhiên trong gây tê vùng thì các tín hiệu nhiệt độ bị chặn lại dophong bế thần kinh vùng Hậu quả của sự vắng các tín hiệu lạnh làm trung tâm điềunhiệt xem như ngoại vi tương đối ấm và làm giảm ngưỡng run và co mạch Ngoài rabệnh nhân được gây tê vùng thường được dùng thêm thuốc an thần và giảm đau cànglàm hư hại đáp ứng điều hòa nhiệt độ nhiều hơn [31] [19]
Cũng như gây mê toàn diện, tái phân bố nhiệt là nguyên nhân chính gây hạ thânnhiệt trên bệnh nhân được gây tê tủy sống hay gây tê ngoài màng cứng Gây tê trụcthần kinh trung ương ức chế sự điều hòa của trung tâm điều nhiệt thông qua phong
bế thần kinh giao cảm và thần kinh vận động, làm cản trở sự co mạch và run Thânnhiệt trung tâm giảm 0,8 ± 0,3 °C trong giờ đầu gây tê Sự tái phân bố nhiệt đóng góp
89 % vào sự sụt giảm này, cần 20 kcal để dẫn truyền từ trung tâm ra ngoại vi Trongsuốt 2 giờ sau gây tê, thân nhiệt trung tâm giảm thêm 0,4 ± 0,3 °C với sự tái phân bốđóng góp 62 % Như vậy trong suốt sau 3 giờ gây tê, sự tái phân bố đóng góp 80 %
Trang 30trong sự giảm 1,2 ± 0,3 °C của thân nhiệt trung tâm Tượng tự như trong gây mê tổngquát, thân nhiệt trung tâm sau đó tiếp tục giảm tuyến tính do sự mất cân bằng giữamất nhiệt và sinh nhiệt Pha hạ thân nhiệt tuyến tính trong gây mê tổng quát kết thúcbởi sự xuất hiện của điều hòa nhiệt do co mạch Gây tê trục thần kinh phong bế thầnkinh ngoại vi không ức chế trung tâm điều hòa nhiệt nên khi hạ thân nhiệt đủ sẽ gâykhởi phát co mạch và run ở những vùng không bị phong bế (ví dụ như tay) Tuy nhiên
sự run ở phần trên cơ thể không hiệu quả và không đủ để ngăn ngừa hạ thân nhiệt tiếptục [68]
1.2.5 Gây mê tổng quát phối hợp với gây tê trục thần kinh trung ương
Bệnh nhân có nguy cơ cao nhất bị hạ thân nhiệt cao nhất khi gây mê tổng quátkết hợp với gây tê trục thần kinh trung ương Thân nhiệt sẽ giảm nhanh chóng bởi sựtái phân bố nhiệt Trong giai đoạn tuyến tính, thân nhiệt sẽ tiếp tục giảm nhưng ở mức
độ nhanh hơn so với gây mê tổng quát Nguyên nhân thứ nhất là do sự giảm ngưỡng
co mạch nhiều hơn khi phối hợp hai phương pháp vô cảm, thứ hai la do sự ức chế rundưới gây mê tổng quát và cuối cùng là do sự phong bế thần kinh ngoại vi dưới gây têtrục thần kinh trung ương làm ngăn cản co mạch ở phần dưới cơ thể [68]
1.2.6 Yếu tố ảnh hưởng đến hạ thân nhiệt không chủ ý chu phẫu.
Yếu tố nội sinh
- Cao tuổi
Nghiên cứu của Frank và cộng sự [26] cho thấy có mối tương quan giữa tuổi và
hạ thân nhiệt trong phẫu thuật (p ≤ 0,05) bên cạnh đó bệnh nhân lớn tuổi cần nhiềuthời gian để làm ấm đạt 36℃ hơn bệnh nhân trẻ tuổi Nghiên cứu củaKongsayreepong cho thấy bệnh nhân trên 70 tuổi có xu hướng là yếu tố nguy cơ đáng
kể của hạ thân nhiệt [40]
- Trọng lượng cơ thể
Nghiên cứu của Kongsayreepong trên 184 bệnh nhân cho thấy có sự ảnh hưởngcủa cân nặng cơ thể lên hạ thân nhiệt chu phẫu (OR=0,94 95%CI 0,89-0,98), trọnglượng cơ thể càng cao thì càng ít bị hạ thân nhiệt [40]
Trang 31- Giới tính.
Nghiên cứu Flores Maldonado trên 130 bệnh nhân cho thấy không có ảnh hưởngđáng kể của giới tính lên tỷ lệ hạ thân nhiệt chu phẫu [23] Một nghiên cứu khác củatác giả Harry lại cho thấy giới nữ có nguy cơ cao bị hạ thân nhiệt hơn nam giới(p<0,05) [30]
- Điểm số ASA [40]
ASA lớn hơn 1 là yếu tố nguy cơ của hạ thân nhiệt và ASA càng cao thì nguy
cơ này càng tăng Theo nghiên cứu của Kongsayreepong ASA cao là 1 yếu tố nguy
cơ của hạ thân nhiệt (OR= 2,87; 95% CI 0,82–10,03 đối với bệnh nhân có ASA II;OR= 8,35; 95% CI 1,67–41,88 đối với bệnh nhân ASA III)
- Bệnh kèm theo: đái tháo đường
Đái tháo đường có liên quan đến rối loạn chức năng hệ thần kinh thực vật, làmthay đổi dòng máu đến da và mô và rối loạn chức năng co mạch của mạch máu ngoại
vi, dẫn đến làm ngăn cản đáp ứng điều hòa nhiệt do co mạch làm tăng nguy cơ hạthân nhiệt chu phẫu Khi so sánh giữa 2 nhóm bệnh nhân đái tháo đường có và không
có biến chứng thần kinh, tác giả Akira Kitamura cho thấy nhóm bệnh nhân có biếnchứng thần kinh có sự giảm thân nhiệt trung tâm nhiều hơn nhóm không có biếnchứng thần kinh sau 3 giờ phẫu thuật [6]
- Nhiệt độ bệnh nhân trước mổ
Nhiệt độ bệnh nhân trước mổ dưới 36 ℃ là 1 yếu tố nguy cơ của hạ thân nhiệt[40] [5] Do đó khuyến cáo đưa ra là bệnh nhân khi đến phòng chờ nếu nhiêt độ dưới36℃ thì không nên phẫu thuật cho đến khi được sưởi ấm, trừ trường hợp mổ cấp cứu
Yếu tố ngoại sinh
- Nhiệt độ phòng mổ
Nhiệt độ phòng mổ là yếu tố tương quan nghịch với hạ thân nhiệt [34] Nhiệt
độ phòng mổ ấm là 1 yếu tố bảo vệ chống lại hạ thân nhiệt chu phẫu [40]
Trang 32- Thời gian gây mê và phẫu thuật kéo dài trên 2 giờ làm tăng nguy cơ hạ thânnhiệt [86] [5] [40]
- Loại phẫu thuật
Phẫu thuật lớn ( phẫu thuật ổ bụng lớn , phẫu thuật lồng ngực, phẫu thuật mạchmáu lớn, thay khớp háng) làm tăng nguy cơ hạ thân nhiệt chu phẫu [23] Không có
sự khác biệt ý nghĩa về nguy cơ hạ thân nhiệt giữa phẫu thuật cấp cứu và chươngtrình [40] Không có sự khác biệt giữa phẫu thuật bụng mở và phẫu thuật nội soinghiên cứu của Luck và cộng sự trên 60 bệnh nhân phẫu thuật đại tràng được chialàm 2 nhóm phẫu thuật bằng phương pháp nội soi và phẫu thuât mở bụng Kết quảcho thấy tỷ lệ hạ thân nhiệt ở 2 nhóm là tương đương nhau [24]
- Phương pháp vô cảm
Nghiên cứu của Frank cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa về hạ thânnhiệt chu phẫu giữa 2 phương pháp gây mê tổng quát và gây tê vùng [25] [26] Nghiêncứu của Kongsayreepong cho thấy có sự tăng nguy cơ hạ thân nhiệt khi kết hợp giữagây tê ngoài màng cứng và gây mê tổng quát [40]
- Dịch truyền không được sưởi ấm, sử dụng nước rửa lạnh
- Cân bằng dịch lớn [5]
Nghiên cứu của Abelha (2005) cho thấy dùng ít dịch tinh thể trong mổ thì nguy
cơ bị hạ thân nhiệt thấp hơn (OR =1,4 :95%CI 1,1 – 1,7) [5]
1.2.7 Tác dụng có lợi của hạ thân nhiệt
Giảm quá trình chuyển hóa mô, khi giảm nhiệt độ 1ºC sẽ giảm 8% tốc độ chuyểnhóa mô [19] Giảm các phản ứng hóa học của cơ thể Giảm nhiệt độ từ 1°C đến 3°Cdưới mức bình thường có vai trò đáng kể trong việc bảo vệ chống lại thiếu máu não
và thiếu oxy máu ở nhiều động vật [83] Phù hợp với những dữ liệu này là một pháthiện khi nhiệt độ trung tâm gần 32 ° C giúp cải thiện kết cục sau tổn thương não dochấn thương ở bệnh nhân có điểm số Glasgow từ 5 đến 7 [48] Do đó, hầu hết các bác
sĩ gây mê đều tin rằng hạ thân nhiệt nhẹ được chỉ định trong các phẫu thuât có thể
Trang 33gây ra thiếu máu não, chẳng hạn như phẫu thuật bóc tách động mạch cảnh và phẫuthuật thần kinh.
Hạ thân nhiệt nhẹ cũng làm chậm khởi phát tăng thân nhiệt ác tính (phản ứnghiếm, đe dọa tính mạng do succinylcholine và thuốc gây mê bay hơi) và có thể làmgiảm mức độ nghiêm trọng của hội chứng này [35]
Nhiệt độ trung tâm gần 34 ° C cũng tạo thuận lợi cho phục hồi và giảm tử vong
do hội chứng nguy kịch hô hấp cấp liên quan nhiễm trùng huyết ở người lớn [81]
Tổ chức hồi sức quốc tế khuyến cáo những bệnh nhân bị ngừng tuần hoàn nênđược làm lạnh 32-34ºC trong 12-24 giờ khi loạn nhịp lúc đầu là rung thất [56]
1.2.8 Hậu quả của hạ thân nhiệt
1.2.8.1 Nhiễm trùng vết mổ
[19], [31] Nhiễm trùng vết mổ là một trong những biến chứng nghiêm trọnghàng đầu của gây mê hồi sức và phẫu thuật Hạ thân nhiệt góp phần vào nhiễm trùngvết mổ do các cơ chế sau:
Suy giảm miễn dịch: hạ thân nhiệt gây giảm khả năng thục bào của bạch cầutrung tính
Co mạch do hạ thân nhiệt gây giảm tưới máu da do đó giảm cung cấp oxy cho
mô, và giảm đáp ứng của hệ thống miễn dịch thể dịch đến vị trí nhiễm trùng[73]
Hạ thân nhiệt làm tăng nguy cơ nhiễm trủng vết mổ gấp 3 lần ở bệnh nhân phẫuthuật cắt đại tràng theo nghiên cứu của Kurz và cộng sự năm 1996 [41] Theo nghiêncứu cùa Seamons và cộng sự 2012 có sự tăng có ý nghĩa nhiễm trùng vết mổ khi nhiệt
độ < 35ºC trên bệnh nhân được phẫu thuật mổ mở vùng bụng do chấn thương [67]
1.2.8.2 Ảnh hưởng tim mạch
[31] [19] [66] Hạ thân nhiệt gây co mạch làm tăng sức cản mạch máu hệ thống,tăng phóng thích catecholamine, tăng huyết áp, tăng tần số tim, tăng nhu cầu oxy cơtim Hạ thân nhiệt cũng làm đường cong phân ly oxy hemoglobin lệch trái làm tăng
Trang 34sự gắn kết oxy với hemoglobin giảm sự giao oxy cho mô Sự kết hợp giữa tăng nhucầu oxy và giảm cung cấp oxy cho cơ tim làm mất cân bằng oxy cơ tim dẫn đến thiếumáu cơ tim Những bệnh nhân có bệnh lý tim mạch khi được phẫu thuật ngoài timnếu bị hạ thân nhiệt có nguy cơ biến cố tim mạch cao hơn gấp 3 lẩn so với nhóm cóthân nhiệt bình thường [27].Hạ thân nhiệt còn gây giảm khả năng co bóp cơ tim, giảmcung lượng tim, rối loạn nhịp tim, thay đổi tính dẫn truyền.
1.2.8.3 Rối loạn đông máu
Hạ thân nhiệt làm tăng chảy máu trong phẫu thuật thông qua các cơ chế giảmchức năng tiểu cầu, giảm hoạt hóa con đường đông máu và tiêu hủy fibrinogen hậuquả làm tăng mất máu và tăng nhu cầu truyền máu [31] [75] Trong một nghiên cứutrên những bệnh nhân thay khớp háng giảm 1,6ºC làm tăng mất máu 500ml và tăngnhu cầu truyền máu [65]
1.2.8.4 Thay đổi chuyển hóa
Hạ thân nhiệt nhẹ làm làm giảm chuyển hóa và đào thải hầu hết các thuốc trong
cơ thể, làm chậm thức tỉnh sau gây mê, giảm khả năng thông khí do đó kéo dài thờigian nằm ở phòng hồi tỉnh
Thời gian tác dụng của vecuronium tăng gấp đôi khi khi nhiệt độ trung tâm giảm2ºC [33] Trong khi đó thời gian tác dụng cua atracurium thì ít phụ thuộc vào nhiệt
độ trung tâm : giảm nhiệt độ trung tâm 3ºC chỉ tăng 60% thời gian tác dụng củaatracurium Khi truyền liên tục propofol, nồng độ trong huyết tương cao hơn 30% sovới bình thường khi hạ thân nhiệt 3ºC [45] Hạ thân nhiệt cũng làm thay đổi dượcđộng của thuốc mê hô hấp, giảm nồng độ phế nang tối thiểu 5%/ ºC [21]
1.2.8.5 Kéo dài thời gian hồi phục thân nhiệt bình thường và sự khó chịu của bệnh nhân
Hạ thân nhiệt làm cho bệnh nhân cảm thấy không thoải mái [69] [31] Hạ thânnhiệt làm tăng độ hòa tan của thuốc mê hô hấp và giảm chuyển hóa các thuốc mê tĩnhmạch, do đó làm kéo dài thời gian hồi tỉnh sau gây mê [43]
Trang 351.2.8.6 Ảnh hưởng hệ thần kinh
Hạ thân nhiệt làm giảm lưu lượng máu não, tăng sức cản trong mạch máu não,
có thể gây lơ mơ lú lẫn thậm chí hôn mê
1.2.8.7 Run Sau Phẫu Thuật
Run sau phẫu thuật là một hậu quả thường gặp trong gây mê hiện nay, ảnhhưởng 5-65% bệnh nhân sau gây mê tổng quát và 33% bệnh nhân được gây tê ngoàimàng cứng [15] Run thường được định nghĩa là sự rung hoặc co cơ một cách đềuđặn có thể thấy được của các cơ mặt, hàm, đầu, thân mình hoặc chi kéo dài hơn 15giây [84] Bên cạnh việc đem lại sự không thoải mái cho bệnh nhân, lạnh run sau mổcòn liên quan đến nhiều hậu quả nghiêm trọng khác Bao gồm tăng tiêu thụ oxy 50-400% [9], tăng sản xuất CO2, tăng phóng thích catecholamin [14], tăng cung lượngtim, tăng nhịp tim, tăng huyết áp [9], tăng áp lực ổ mắt Run còn lảm giảm độ bãohòa oxy máu tĩnh mạch Run sau phẫu thuật thường được dự báo trước bởi sự hạ thânnhiệt trung tâm và co mạch Một cuộc kiểm tra trên 2500 bệnh nhân sau phẫu thuậtcho thấy giới tính nam, tiền mê với thuốc kháng cholinergic, chế dộ thông khí hỗ trợ,các thuốc dẫn mê là yếu tố nguy cơ của lạnh run sau mổ, trong khí đó việc dùngpethidne, alfentanil, morphine trong mổ giúp làm giảm tỷ lệ lạnh run sau mổ [16]
1.2.9 Theo dõi nhiệt độ trong mổ
1.2.9.1 Các thiết bị dùng để đo nhiệt độ
Các thiết bị dùng để đo nhiệt đô thay đổi dựa trên loại cảm biến và vị trí đo nhiệt
độ Hai loại cảm biến thường dùng nhất là nhiệt điện trở và cặp nhiệt điện Nhiệt điệntrở cấu tạo gồm nhiều điiện cực nối với vật liệu bán dẫn, kháng trở của vật liệu thayđổi không tuyến tính theo nhiệt độ Cặp nhiệt điện bao gồm 2 thanh kim loại khácnhau được hàn 2 đầu với nhau, tạo ra lực điện từ khi có sự chênh lệch nhiệt độ giữa
2 đầu dò [36]
1.2.9.2 Các vị trí theo dõi thân nhiệt trong mổ
Da: nhiệt độ dễ thay đổi do ảnh hưởng của dòng máu ở lớp dưới da, mồ hôi,bức xạ, truyền nhiệt trực tiếp từ vật xung quanh
Trang 36 Nách: nhiệt độ đo ở nách rất gần với nhiệt độ trung tâm nhưng bị ảnh hưởngbởi dòng máu, mồ hôi.
Màng nhĩ: vì ống tai gần với động mạch cảnh và vùng hạ đồi nên nhiệt độmàng nhĩ là giá trị đáng tin cậy của nhiệt độ trung tâm Phương pháp này yêu cầu đầuque thăm dò phải sát với màng nhĩ
Hầu mũi: nhiệt độ đo ở hầu mũi phản ánh nhiệt độ của dòng máu đi lên não.Que thăm dò có thể gây chảy máu cam
Thực quản (cách chỗ nối thực quản – hầu 20cm)
Nhiệt độ thực quản phản ánh một cách chính xác nhiệt độ trung tâm trong hầuhết các trường hợp Kết quả có thể bị ảnh hưởng trong khi gây mê do việc sử dụngkhí ẩm nếu đầu dò không được đưa vào đủ xa Vị trí tối ưu đặt bộ phận cảm biến làkhoảng 35-40 cm tính từ cung răng ở người lớn Tác giả Mekjavic đã đưa ra côngthức cho vị trí của đầu dò thực quản như sau: chiều dài (cm) = 0,228 x chiều cao (cm)– 0,194, tương ứng với vị trí của động mạch chủ ở T8 – 9 Nhiệt độ thực quản thườngđược sử dụng vì dễ đặt, ít xâm lấn và giá trị tin cậy
Trực tràng: nhiệt độ này bị ảnh hưởng bởi dòng máu chảy, phân
Bàng quang: Nhiệt độ bàng quang có thể đo bằng catheter Foley có gắn nhiệtđiện trở hoặc cặp nhiêt điện Mặc dù nhiệt độ bàng quang gần đúng với nhiệt độ trungtâm, sư chính xác của vị trí này giảm khi lưu lượng nước tiểu giảm và trong phẫuthuật bụng dưới
Catheter động mạch phổi
Catheter động mạch phổi đo được nhiệt độ của máu trung tâm, được xem nhưtiêu chuẩn vàng của đo nhiệt độ trung tâm Bất lợi là chi phí cao, xâm lấn, và khóthực hiện Do đó đo nhiệt độ động mạch phổi rất ít được dùng trong lâm sàng
Cơ: nhiệt độ cơ đòi hỏi phải có que dò đặc biệt và bị ảnh hưởng bởi dòng máu
Sự kết hợp giữa nhiệt độ trung tâm và nhiệt độ da có thể dùng để ước tính nhiệt
độ trung bình của cơ thể với độ chính xác đáng kể Nhiệt độ không đồng nhất bêntrong cơ thể do đó việc đo nhiệt đô tại mỗi vị trí có giá trị thực tiễn và sinh lý khác
Trang 37nhau Hiện nay, phương pháp đo nhiệt độ tại màng nhĩ, thực quản, hầu mũi đượckhuyến cáo là phương tiện theo dõi thân nhiệt trung tâm chính xác trong quá trìnhgây mê phẫu thuật [55].
1.3 Các phương pháp làm ấm và phòng ngừa hạ thân nhiệt
Trong phòng mổ, sự mất nhiệt ban đầu chủ yếu là do sự tái phân bố nhiệt từtrung tâm ra ngoại vi Làm ấm bệnh nhân trước mổ ít nhất 30 phút với mền đắp cóthổi ấm tại khu vực phòng chờ giúp ngăn ngừa sự tái phân bố nhiệt đưa đến hạ thânnhiệt [29] [37]
Tăng nhiệt độ phòng mổ
Phương pháp này rất có hiệu quả để ngăn ngừa mất nhiệt trong mổ Nhiệt độphòng mổ nên để ít nhất là 21℃ [29]
Mền sưởi (forced- air blanket, forced-air warming)
Bệnh nhân được che phủ bằng một tấm chăn hơi, được thổi đầy và liên tụckhông khí ấm [12] Đây là một trong những phương tiện hiệu quả nhất để làm ấmbệnh nhân và phòng ngừa hạ thân nhiệt trước và trong mổ, nhờ tác dụng truyền nhiệtnóng đến cơ thể và giảm mất nhiệt qua da Theo nghiên cứu của Patel và công sự sosánh hiệu quả giữa phương pháp bảo toàn nhiệt bằng mền phản chiếu và phương phápmền sưởi kết quả cho thấy thân nhiệt cao hơn rõ ràng ở nhóm dùng phương pháp mềnsưởi (p< 0,05) [61]
Lenon và cộng sự so sánh hiệu quả làm ấm của hệ thống làm ấm bằng mền sưởi
và mền cotton làm ấm 37℃ trên những bệnh nhân có hạ thân nhiệt tại phòng hồi tỉnhkết quả cho thấy nhóm bệnh nhân được sử dụng hệ thống làm ấm bằng mền sưởi cóthân nhiêt cao hơn (p<0,05), tỷ lệ lạnh run ít hơn và thời gian nẳm hồi tỉnh ngắn hơn[44]
Mặc quần áo và đắp chăn ấm
Việc che phủ kín cơ thể giúp hạn chế mất nhiệt do tiếp xúc, đối lưu và bức xạ
Trang 38 Nằm trên nệm nước ấm:
Phương pháp này có hiệu quả đối với những bệnh nhân có nguy cơ hạ thân nhiệt,
nó cũng làm giảm nguy cơ gây đè ép và loét hoại tử
Làm ấm, ẩm khí mê và khí bơm vào ổ bụng
Sử dụng thiết bị làm ấm, ẩm hỗn hợp khí mê hít vào Thiết bị này có tác dụnghạn chế sự mất nhiệt qua đường hô hấp và giảm làm khô đường thở, nhưng có bất lợinhư: khô bình làm ẩm hoặc đổ nước đầy, gây nhiễm bệnh Phương pháp này ít hiệuquả đối với nhiệt độ trung tâm ở người lớn nhưng rất có tác dụng với trẻ em và trẻ sơsinh Làm ấm, ẩm khí CO2 bơm vào ổ bụng trong mổ nội soi để hạn chế mất nhiệt dođối lưu trong mổ nội soi
Làm ấm dịch truyền [38]
Theo ước tính cứ mỗi lít dịch truyền ở nhiệt độ phòng hoặc mỗi đơn vị máu ở 4
℃ sẽ giảm nhiệt độ trung tâm 0,25℃ [17] Do đó để duy trì thân nhiệt ở mức bìnhthường, dịch truyền phải được làm ấm khoảng 37℃ và được khuyến cáo dùng cho tất
cả các dịch truyền trong mổ ≥ 500ml [29] Việc sử dụng dịch truyền ấm trong mổ đãđược chứng minh làm giảm hạ thân nhiệt không chủ ý chu phẫu trong phẫu thuật ổbụng [13], phụ khoa [74], và giảm các biến chứng sau mổ phẫu thuật chỉnh hình [32]
Có thể sử dụng tủ làm ấm dịch truyền, hoặc cho hệ thống dây truyền đi qua bình chứanước ấm Hiện nay có máy làm ấm dịch truyền trực tiếp trước khi vào bệnh nhân
Rửa ổ bụng bằng dịch ấm
Các dung dịch rửa ổ bụng, vùng chậu, vùng ngực… cần được làm ấm trước khi
sử dụng Phương pháp này sẽ có hiệu quả hơn khi phối hợp với các phương phápkhác
Máy nước ấm và áp lực âm thay đổi
Đây là một phương pháp mới, hiệu quả hơn phương pháp mền sưởi.[62]
Trang 391.4 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước
1.4.1 Thế giới
Hạ thân nhiệt chu phẫu được mô tả lần đầu tiên bởi Ernst von Bibra và EmilHarlass ở Erlangen (Đức) vào năm 1847 Vào năm 2002 Hiệp hội điều dưỡng gây mêHoa kì (The American Society of PeriAnesthesia Nurses -ASPAN) đưa ra hướng dẫnphòng ngừa hạ thân nhiệt chu phẫu, trong đó hạ thân nhiệt được định nghĩa là khinhiệt độ trung tâm dưới 36℃ [57] Hiệp hội phẫu thuật Hoa Kì (The AmericanCollege of Surgeon) chia mức độ hạ thân nhiệt bao gồm nhẹ, trung bình và nặng.Theo đó hạ thân nhiệt nhẹ la từ 32℃ - 35℃ , hạ thân nhiêt trung bình là từ 30℃ đến35℃, hạ thân nhiệt nặng là dưới 30℃ [51]
Các nghiên cứu về tình hình hạ thân nhiệt trên thế giới nói tập trung chủ yếuvào các khía cạnh: tỷ lệ hạ thân nhiệt, các yếu tố nguy cơ hạ thân nhiệt và các hậuquả của hạ thân nhiệt và các biện pháp làm ấm để phòng ngừa hạ thân nhiệt
Năm 2003 Suneerat Kongsayreepong và cộng sự thực hiện nghiên cứu tiến cứutrên 194 bệnh nhân sau phẫu thuật chương trình hoặc cấp cứu, từ năm 2000 đến năm
2001 để đánh giá tỷ lệ, yếu tố nguy cơ và hậu quả của hạ thân nhiệt Kết quả tỷ lệ hạthân nhiệt là 57,1% Phân tích hồi quy đa biến cho thấy các yếu tố nguy cơ bao gồm:ASA ≥ 2, độ lớn của phẫu thuật, sử dụng kết hơp tê ngoài màng cứng và gây mê tổngquát, và thời gian phẫu thuật trên 2 giờ [40]
Năm 2005, Abelha và cộng sự tiến hành nghiên cứu hạ thân nhiệt trên 185 bệnhnhân phẫu thuật ngoài tim chương trình hoặc cấp cứu nhập vào khoa hồi sức ngoại.Kết quả là tỷ lệ hạ thân nhiệt là 57,8% Các yếu tố nguy cơ của hạ thân nhiệt bao gồm
độ lớn của phẫu thuật, phương pháp vô cảm là gây mê tổng quát hoặc gây mê tổngquát kết hợp gây tê ngoài màng cứng, lượng dịch tinh thể và máu truyền trong mổ,thời gian phẫu thuật trên 3 giờ và thang điểm SAPS II (Simplified Acute PhysiologyScore) Các yếu tố có giá trị bảo vệ chống lại hạ thân nhiệt là sử dụng các phươngtiện làm ấm và nhiệt độ cao trước mổ Khác với nghiên cứu của SuneeratKongsayreepong yếu tố ASA cao không phải là yếu tố nguy cơ hạ thân nhiệt
Trang 40Năm 2013 Jie Yi và cộng sự tiến hành nghiên cứu cắt ngang đa trung tâm trên
830 bệnh nhân tại 24 bệnh viện từ tháng 8 đến tháng 12 năm 2013 Tất cả bệnh nhânđều được gây mê tồng quát hoặc gây mê tổng quát kết hợp với gây tê vùng để phẫuthuật chương trình với thời gian gây mê trên 30 phút, nhiệt độ trung tâm được đobằng nhiệt kế nhĩ mỗi 15 phút trong mổ và sau mổ Bệnh nhân được làm ấm theophương pháp chủ động (mền điện, máy sưởi ấm không khí) hoặc thụ động (chăn đắp).Kết quả tỷ lệ hạ thân nhiệt chung là 39,9%, trong đó phẫu thuật trên 2 giờ tỷ lệ hạthân nhiệt là 44,8% và phẫu thuật dưới 2 giờ tỷ lệ hạ thân nhiệt là 17,1% Những bệnhnhân được làm ấm chủ động ít nguy cơ bị hạ thân nhiêt hơn bệnh nhân chỉ được làm
ấm thụ động Các yếu tố làm tăng tỷ lệ hạ thân nhiệt bao gồm phẫu thuật lớn, thờigian phẫu thuật 1-2 giờ, trên 2 giờ, truyền dịch lạnh (>1000 ml) Các yếu tố bảo vệ
hạ thân nhiệt bao gồm béo phì (BMI ≥25), tăng nhiệt độ trung tâm trước khi gây mê,
và nhiệt độ phòng cao [86]
Cùng với sự phát triển của phẫu thuật nội soi, phẫu thuật bụng mở vẫn được chịđịnh trong nhiều loại phẫu thuật như: phẫu thuật tổng quát, cấp cứu chấn thương,phẫu thuật phụ khoa, sản khoa, phẫu thuật niệu khoa Tỷ lệ hạ thân nhiệt của phẫuthuật bụng mở và phẫu thuật nội soi đã đượcc chứng minh là tương đương nhau trongnhiều nghiên cứu [10] [47] Năm 1998 Luck và cộng sự tiến hành nghiên cứu hạ thânnhiệt trên 60 bệnh nhân phẫu thuật đại tràng được chia làm 2 nhóm phẫu thuật bằngphương pháp nội soi và phẫu thuât mở bụng Kết quả cho thấy tỷ lệ hạ thân nhiệt trênnhóm phẫu thuật mở bụng là 70,37% và tỷ lệ hạ thân nhiệt ở 2 nhóm là tương đươngnhau [47]
Năm 2012 Mehdi Moslemi-Kebria và cộng sự tiến hành nghiên cứu đoàn hệkhảo sát hạ thân nhiệt trên 146 bệnh nhân nữ ung thư buồng trứng giai đoạn III hoặc
IV được phẫu thuật cắt u bằng phương pháp mổ mở Tỷ lệ hạ thân nhiêt là 55% và hạthân nhiệt làm tăng nguy cơ nhiễm trùng, thuyên tắc tĩnh mạch, tăng nhu cầu truyềnmáu, tăng tử vong trong 30 ngày [52]