Nghiên cứu này khảo sát tính vị chủng, khám phá mối quan hệ giữa tính vị chủng với chủ nghĩa thế giới với sự sẵn lòng mua mặt hàng may mặc thời trang thương hiệu ngoại của người tiêu dùng. Kết quả phỏng vấn 17 đáp viên và khảo sát 147 người tiêu dùng trên địa bàn thành phố Long Xuyên cho thấy chủ nghĩa thế giới tác động tiêu cực đến tính vị chủng và tính vị chủng tác động tiêu cực đến sự sẵn lòng mua hàng ngoại.
Trang 1NGHIÊN CỨU VỊ CHỦNG TIÊU DÙNG TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI CHỦ NGHĨA THẾ GIỚI VÀ SỰ SẴN LÒNG MUA HÀNG
MAY MẶC THỜI TRANG NGOẠI
Đặng Hùng Vũ*, Đặng Hữu Lượng**
TÓM TẮT
Nghiên cứu này khảo sát tính vị chủng, khám phá mối quan hệ giữa tính vị chủng với chủ nghĩa thế giới với sự sẵn lòng mua mặt hàng may mặc thời trang thương hiệu ngoại của người tiêu dùng Kết quả phỏng vấn 17 đáp viên và khảo sát 147 người tiêu dùng trên địa bàn thành phố Long Xuyên cho thấy chủ nghĩa thế giới tác động tiêu cực đến tính vị chủng và tính vị chủng tác động tiêu cực đến sự sẵn lòng mua hàng ngoại Người tiêu dùng thành phố Long Xuyên vị chủng hàng nội khá cao, nhưng ít vị chủng hàng ngoại Ngoài ra, vị chủng tiêu dùng còn bị chi phối bởi các yếu tố nhân khẩu học Hàm ý quản trị đối với đơn vị kinh doanh hàng may mặc thời trang: (1) cần chú trọng xây dựng thương hiệu nhãn hàng nội và (2) xem xét yếu tố văn hóa khi tiếp thị nhãn hàng ngoại.
Từ khóa: vị chủng tiêu dùng, chủ nghĩa thế giới, sự sẵn lòng mua, hàng may mặc thời trang.
INVESTIGATING COMSUMER ETHNOCENTRISM IN RELATION TO COSMOPOLITANISM AND WILLINGESS TO BUY FOREIGN
GARMENT PRODUCTS
ABSTRACT
This study examined consumers’ ethnocentrism and the relationship among ethnocentrism, cosmopolitanism and willingness to buy foreign garment products With 17 interviews and a survey of 147 consumers in Long Xuyen city, it is revealed that cosmopolitanism negatively affects ethnocentrism, and then ethnocentrism negatively affects willingness to buy foreign garment products Long Xuyen city’s consumers show a high level of ethnocentrism toward local products and lower level
of ethnocentrism toward foreign products Additionally, ethnocentrism is impacted by demographic factors Managerial implications for garment business: (1) investing in the development of local garment brands and (2) considering cultural factors while promoting foreign brands.
Key words: consumer ethnocentrism, cosmopolitanism, willingness to buy, garment products
* TS Trường Đại học An Giang, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh
Email: dhvu@agu.edu.vn; ĐT:0986 366 250
** Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam – Chi nhánh An Giang
Emai: dhluong1326@gmail.com; ĐT: 0975 934 492
Trang 21 GIỚI THIỆU
Tính vị chủng (ethnocentrism) là một
trong những yếu tố quan trọng khi nghiên cứu
hành vi của người tiêu dùng đối với các sản
phẩm ngoại nhập Tính vị chủng cùng với các
yếu tố tiếp thị đa dạng như niềm tin (truth) và
sự quen thuộc đều ảnh hưởng đến hành vi của
người tiêu dùng Vị chủng tiêu dùng (customer
ethnocentrism) là một trong những rào cản phi
thuế tác động xuyên suốt đến quá trình hội nhập
kinh tế thế giới (Shankarmahesh, 2006; Shimp
& Sharma, 1987) Cùng với sự thỏa mãn, sự tin
cậy và giá trị, hai biến marketing quốc tế - niềm
tin và tính vị chủng của tiêu dùng - ảnh hưởng
đến lòng trung thành đối với các sản phẩm, dịch
vụ nước ngoài (Nijssen & van Herk, 2009) Tính
vị chủng có ảnh hưởng đến việc đánh giá chất
lượng sản phẩm, chất lượng, giá cả cảm nhận và
quyết định mua (Shankarmahesh, 2006)
Nghiên cứu về vị chủng tiêu dùng trên
phạm vi thế giới rất đa dạng và phong phú
Trong đó, nổi bật nhất phải kể đến nghiên cứu
của Shimp & Sharma (1987) trong bối cảnh ở
Hoa Kỳ, đưa ra khái niệm về chủ nghĩa dân tộc
trong tiêu dùng và đã xây dựng thang đo cho khái
niệm này, gọi là CET scale Ngoài ra, còn nhiều
nghiên cứu khác về vị chủng tiêu dùng như:
Klein, Ettenson & Morris (1998) khẳng định tính
vị chủng và ác cảm tiêu dùng (animosity) là hai
khái niệm độc lập, cùng tác động tiêu cực đến sự
sẵn lòng mua hàng ngoại nhập từ Nhật Bản của
người Trung Quốc lục địa Wang & Chen (2004)
nghiên cứu tác động của vị chủng tiêu dùng đến
ý định mua hàng nội địa của người tiêu dùng
Trung Quốc Josiassen, Assaf & Karpen (2011)
nghiên cứu sự ảnh hưởng các yếu tố nhân khẩu
học đến vị chủng tiêu dùng trong bối cảnh nước
Úc; nghiên cứu này cho thấy khuynh hướng vị
chủng tiêu dùng của người Úc chịu ảnh hưởng
bởi những những đặc điểm của người tiêu dùng
Guo, Tu & Cheng (2018) cho thấy vị chủng tiêu
dùng điều tiết mối quan hệ giữa thiện cảm đối
với một quốc gia (affinity) và niềm tin về hàng
hóa dịch vụ của quốc gia đó Nhìn chung, phần nhiều các nghiên cứu cho thấy tính vị chủng có quan hệ thuận chiều với sự sẵn lòng mua hàng nội (Nguyễn Thị Tuyết Mai, 2015)
Tại Việt Nam, cũng có nhiều nghiên cứu liên quan đến tính vị chủng Các nghiên cứu chủ yếu tập trung phân tích tác động của vị chủng tiêu dùng đến ý định mua hàng và đánh giá chất lượng sản phẩm Một số nghiên cứu tiêu biểu như: Nguyễn Thành Long (2011) nghiên cứu chủng tiêu dùng và sự sẵn lòng mua hàng ngoại trong trường hợp các mặt hàng sữa bột, dược phẩm và trái cây Tính vị chủng ảnh hưởng đến
sự đánh giá sản phẩm (product judgment), niềm
tin hàng nội và dự định hành vi của tiêu dùng đối với thuốc bổ trẻ em sản xuất trong nước được trình bày trong nghiên cứu của Phạm Thị Bé Loan & Bùi Thanh Huân (2012) Nghiên cứu của Trương Mỹ Ngọc & Lê Nguyễn Hậu (2017) cho thấy vai trò của vị chủng tiêu dùng trong việc tạo nên cảm nhận về uy tín thương hiệu cho các sản phẩm mới, công nghệ cao, đa giá trị mang thương hiệu Việt, cụ thể là chiếc điện thoại thông minh
Phần lớn các nghiên cứu của Việt Nam tập trung vào các hậu tố - những tác động của vị chủng tiêu dùng đến kết quả đánh giá sản phẩm
và sự sẵn lòng mua, niềm tin vào sản phẩm Việt Guo & Zhou (2017) chỉ ra rằng sự ảnh hưởng của vị chủng tiêu dùng đến hành vi người tiêu dùng khác nhau do sự phát triển của kinh tế, văn hóa và đối tượng khách hàng Nghiên cứu này
bổ sung vào cơ sở lý thuyết về vị chủng tiêu dùng bằng kiểm định tiền tố chủ nghĩa thế giới (cosmopolitanism) và hậu tố sự sẵn lòng mua
hàng may mặc thời trang ngoại tại một quốc gia đang phát triển như Việt Nam
Xu hướng quốc tế hóa của người tiêu dùng, thể hiện qua mức độ ủng hộ chủ nghĩa thế giới của người tiêu dùng, có ảnh hưởng như thế nào đến vị chủng tiêu dùng là câu hỏi nghiên cứu thứ nhất Câu hỏi này được đặt ra vì trong 4 nhóm tiền tố của tính vị chủng mà Shankarmahesh
Trang 3(2006) đưa ra, tư tưởng theo chủ nghĩa thế giới
mang tính thời sự trong xu thế toàn cầu hóa của
các quốc gia hiện nay, trong đó có Việt Nam
Câu hỏi nghiên cứu thứ hai liên quan đến
sự tác động của vị chủng tiêu dùng đến sự sẵn
lòng mua hàng may mặc thời trang Hàng may
mặc thời trang là một trong những hàng hóa
phản ánh rõ bản sắc, tầng lớp, giai cấp, và lòng
tự tôn của một người (Khare, 2014) Sự thay đổi
của thời trang cũng rất nhanh theo tiến trình phát
triển của thế giới Chính những thay đổi trong
phong cách lựa chọn mặc hàng thời trang cũng
sẽ nêu bật lên được tính vị chủng và chủ nghĩa
thế giới của người tiêu dùng Họ đang trung
thành với những truyền thống, ủng hộ mặc hàng
nội địa hay đang cố gắng cởi mở hơn với tư duy
hướng ngoại bằng lựa chọn hàng ngoại
Nghiên cứu này khảo sát mức độ vị chủng
tiêu dùng trong ngành hàng may mặc thời trang
và kiểm tra mối quan hệ giữa chủ nghĩa thế
giới-vị chủng tiêu dùng và giới-vị chủng tiêu dùng-sự sẵn
lòng mua hàng ngoại Mẫu nghiên cứu được
chọn tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang
Nghiên cứu này đánh giá lại mức độ vị chủng
tiêu dùng của người Việt tại thành phố Long
Xuyên, so với nghiên cứu đã được thực hiện gần
10 năm qua của Nguyễn Thành Long (2011), và
được thực hiện trong bối cảnh của một ngành
hàng khác: hàng may mặc thời trang ngoại nhập
Nghiên cứu cũng nhằm phân tích sự tác động
của chủ nghĩa thế giới đến tính vị chủng Nghiên
cứu cho biết sự sẵn lòng mua hàng ngoại của
người tiêu dùng hàng may mặc thời trang như
thế nào Nghiên cứu tiếp thị này có ý nghĩa đối
với các đơn vị, cá nhân khánh hàng may mặc
thời trang
2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC GIẢ
THUYẾT
2 1 Các khái niệm nghiên cứu
Vị chủng tiêu dùng (CET): Tính vị
chủng lần tiên được đề cập bởi Sumner (1906,
theo Shimp & Sharma (1987)) Theo lý thuyết
nhận dạng xã hội (Social Indentity Theory), tính
vị chủng có nguồn gốc từ việc thành viên của một cộng đồng có nhu cầu gìn giữ và duy trì
sự đánh giá tích cực về bản thân và cộng đồng Điều này khiến họ yêu thích, thiên vị, thậm chí xem các sự vật của một người trong cộng đồng của họ là trung tâm, mẫu mực, thước đo cho tất
cả sự vật chung quanh Các cá nhân có sự phân biệt đối xử với người ngoài cộng đồng và nuôi dưỡng niềm tự hào, tự tôn, tán dương những thành viên của mình và xem thường người ngoài cộng đồng đó Người có tính vị chủng thường
tự hào, nâng cao giá trị, văn hóa và con người thuộc vào nhóm của mình, và có xu hướng đánh giá thấp các giá trị, chuẩn mực của các nhóm khác Sau này, theo góc nhìn tiếp thị, Shimp & Sharma (1987) cho rằng tính vị chủng của người mua là những niềm tin, quan niệm sẵn có về sự đúng đắn, phù hợp về mặt đạo đức trong việc mua hàng của nước ngoài Đó là vị chủng tiêu
dùng (consumer ethnocentrism).
Chủ nghĩa thế giới tiêu dùng (COS):
được định nghĩa là sự thích nghi và tương tác với những người thuộc các nền văn hóa khác nhau, tiếp thu các giá trị văn hóa đa dạng, cởi
mở và ưu tiên liên kết với nhiều nền văn hóa (Cannon & Yaprak, 2002; Cleveland, Laroche
& Papadopoulos, 2009; Hannerz, 1990) Người tiêu dùng theo xu hướng của chủ nghĩa thế giới thể hiện sự tôn trọng và nhạy cảm đối với các nền văn hóa khác; họ sẵn sàng chấp nhận những giá trị của các nền văn hóa khác Lối sống của
họ chịu ảnh hưởng bởi các nền văn hóa khác nhau Riefler & Diamantopoulos (2009) mô tả người tiêu dùng thế giới là một cá nhân cởi mở,
có định hướng tiêu dùng vượt qua mọi nền văn hóa, địa phương hoặc cộng đồng cụ thể và đánh giá cao sự đa dạng bao gồm thử sản phẩm và dịch vụ từ nhiều loại các quốc gia
Sự sẵn lòng mua hàng ngoại (WTB):
là một hành vi có thể được dự đoán bởi các ý định trước đó (Ajzen, 1991, 2011) Theo quan điểm của lý thuyết hành vi hoạch định, ý định
và khuynh hướng cá nhân là chỉ báo dự đoán
Trang 4hành vi Theo đó, ý định được xem là động cơ
dẫn đến hành vi và cũng là dấu hiệu của mức độ
sẵn sàng mua Như vậy, nhân tố quan trọng nhất
ảnh hưởng lên hành vi (mua hàng) là ý định hay
khuynh hướng hành vi
Nghiên cứu này sử dụng cụm từ sẵn lòng
mua (willingness to buy) để biểu thị cho khuynh
hướng mua như trong nhiều nghiên cứu trước
đây đã sử dụng Sự sẵn lòng mua hay ý định
mua (intention to buy) của người tiêu dùng một
món hàng trước hết dựa vào sự thẩm định giá
trị của từ hàng hóa đó Tuy không phải là biến
dự báo hoàn hảo nhưng sự sẵn lòng mua được
sử dụng như là biến dự báo tốt nhất cho hành
vi mua trong nhiều nghiên cứu trong và ngoài
nước (Bushra & Zafar, 2017; Cutura, 2006;
Guo & Zhou, 2017; Nguyễn Thành Long, 2011;
Trương Mỹ Ngọc & Lê Nguyễn Hậu, 2017;
Wang & Chen, 2004)
2 2 Các giả thuyết nghiên cứu
Chủ nghĩa thế giới (COS) và vị chủng
tiêu dùng (CET)
Nhiều nghiên cứu trên thế giới ở các bối
cảnh khác nhau cho thấy chủ nghĩa thế giới
là nhân tố làm thay đổi mức độ vị chủng tiêu
dùng Mức độ cởi mở đối với toàn cầu (global
openess) làm giảm mức vị chủng tiêu dùng
của người Mỹ được chứng minh trong nghiên
cứu của (Suh & Kwon, 2002) Nghiên cứu tại
Slovania (Tây Âu) cũng khẳng định chủ nghĩa
thế giới là tiền tố và có mối quan hệ trái chiều
với tính vị chủng (Vida & Reardon, 2008) Mặc
dù vậy, cũng có những lập luận cho rằng tính vị
chủng có ảnh hưởng đến niềm tin về công dân
toàn cầu (global citizenship) và mối quan hệ
giữa 2 khái niệm này không rõ ràng Điển hình
như nghiên cứu của Strizhakova, Coulter &
Price (2008) cho rằng tính vị chủng có tác động
trái chiều tương đối mạnh giữa tính vị chủng
và niềm tin công dân toàn cầu ở một quốc gia
phát triển như Hoa Kỳ; tuy nhiên, mối quan hệ
này không được xác nhận ở các quốc gia đang
phát triển
Mối quan hệ trái chiều giữa chủ nghĩa thế giới và tính vị chủng đã được kiểm định qua nhiều nghiên cứu ở các nước phát triển Tổng hợp các nghiên cứu trước, Shankarmahesh (2006) cho thấy tính vị chủng bị hạn chế bởi sự cởi mở của người tiêu dùng đối với văn hóa và thế giới Các nghiên cứu sau này như nghiên cứu của Cleveland, Erdoğan, Arıkan & Poyraz (2011) đã tìm thấy mối quan hệ đáng kể giữa chủ nghĩa thế giới và các giá trị truyền thống (tradition) Lim & Park (2013) nghiên tác động
của chủ nghĩa thế giới và văn hóa quốc gia đến
sự đổi mới của người tiêu dùng và sự sẵn sàng chấp nhận sự đổi mới của người tiêu dùng tại Mỹ
và Hàn Quốc Cả hai nền văn hóa đều thể hiện mức độ sáng tạo và hành vi quốc tế khác nhau Người tiêu dùng có đặc điểm quốc tế cao thể hiện mức độ đổi mới cao hơn ở cả hai quốc gia Chủ nghĩa thế giới có ảnh hưởng tích cực đến việc áp dụng đổi mới ở người Hàn Quốc trong khi đó là tiêu cực đối với người Mỹ Điều này cho thấy bối cảnh quốc gia có thể tác động đến mối quan hệ giữa các khái niệm, ví dụ như giữa chủ nghĩa thế giới và tính vị chủng Tuy nhiên, Parts & Vida (2013) kiểm tra những ảnh hưởng của chủ nghĩa thế giới của người tiêu dùng đối với hành vi mua hàng trong nước và nước ngoài trong ba loại sản phẩm tiêu dùng: rượu, quần áo
và đồ nội thất Họ đã phát hiện được tác động trực tiếp và trái chiều của chủ nghĩa thế giới và tính vị chủng
Mặc dù có một vài nghiên cứu cho thấy bối cảnh nghiên cứu, ví dụ như quốc gia phát triển và quốc gia đang phát triển, có thể khiến cho mối quan hệ giữa chủ nghĩa thế giới và tính
vị chủng không rõ ràng, nhiều nghiên cứu cho thấy sự tồn tại mối quan hệ nghịch biến này Giả thuyết thứ nhất của nghiên cứu này tại một quốc gia đang phát triển như Việt Nam là:
H1: Chủ nghĩa thế giới (COS) tác động ngược chiều đến vị chủng tiêu dùng (CET)
Tính vị chủng (CET) và sự sẵn lòng mua (WTB)
Trang 5Người tiêu dùng có tính tính vị chủng cao
sẽ từ chối mua các sản phẩm và dịch vụ được
nhập khẩu từ nước ngoài vì họ tin rằng mua sản
phẩm sản xuất trong nước và từ chối các sản
phẩm sản xuất ở nước ngoài là phù hợp với đạo
đức (Shimp & Sharma, 1987) Mối quan hệ trái
chiều giữa mức độ vị chủng và sự sẵn lòng mua
hàng ngoại cũng đã được khẳng định qua nhiều
nghiên cứu trước đây ở nhiều quốc gia như: Mỹ
(Granzin & Painter, 2001; Shimp & Sharma,
1987; Suh & Kwon, 2002), Trung Quốc (Klein
và cs., 1998), Bồ Đào Nha (Granzin & Painter,
2001), Hàn Quốc (Suh & Kwon, 2002), Thổ
Nhĩ Kỳ (Erdogan & Uzkurt, 2010), Estonia
và Slovenia (Parts & Vida, 2013) và ngay tại
Việt Nam (Nguyễn Thành Long, 2004, 2011;
Nguyen & Smith, 2012) Người có tính vị chủng
cao cho rằng mua hàng hóa nước ngoài là không
yêu nước và làm ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế
gây ra thất nghiệp (De Ruyter, Van Birgelen &
Wetzels, 1998; Javalgi, Khare, Gross & Scherer,
2005; Shimp & Sharma, 1987) Vì vậy, nghiên
cứu đã đặt ra giả thuyết như sau:
H2: Vị chủng tiêu dùng (CET) tác động
ngược chiều đến sự sẵn lòng mua hàng may mặc
nước ngoài (WTB).
Mức độ vị chủng của người tiêu dùng có
thể khác nhau ở các phân nhóm theo nhân khẩu
học Phụ nữ, người lớn tuổi và những người
có trình độ học vấn thấp được cho là có tính vị
chủng nhiều hơn Những người có trình độ học
vấn cao ít bị tác động bới với chủ nghĩa dân tộc
và có cảm giác hướng ngoại hơn (Dogi, 2015;
Erdogan & Uzkurt, 2010; Javalgi và cs., 2005;
Josiassen và cs., 2011; Sharma, Shimp & Shin,
1995; Shimp & Sharma, 1987) Phụ nữ và người
lớn tuổi có tính vị chủng hơn bởi vì họ cảm thấy
rằng chất lượng cuộc sống của mình bị đe dọa
bởi sự hiện diện của các sản phẩm nhập khẩu
nhiều hơn (Mockaitis, Salciuviene & Ghauri,
2013; Shankarmahesh, 2006; Sharma và cs.,
1995) Shukla (2011) kêu gọi nghiên cứu chi
tiết hơn về những tác động của các biến nhân
khẩu, ví dụ như tuổi tác trong hành vi tiêu dùng vì những người trẻ tuổi có xu hướng chấp nhận xu hướng toàn cầu hóa nhanh hơn người già Shankarmahesh (2006), Klein & Ettenson (1999) và Caruana & Planning (1996) cho rằng những người trẻ, có trình độ học vấn cao thường
có xu hướng ít vị chủng hơn những người lớn tuổi và có học vấn thấp Do đó, nghiên cứu này một mặt đo lường, đánh giá mức độ vị chủng của các nhóm người tiêu dùng tại thành phố Long Xuyên, mặt khác kiểm định sự khác biệt
về mức độ vị chủng của những nhóm người tiêu dùng theo độ tuổi, giới tính và trình độ học vấn
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3 1 Thu thập và xử lý dữ liệu
Nghiên cứu này sử dụng cả dữ liệu định tính và định lượng Dữ liệu định tính được sử dụng một mặt để hiệu chỉnh, việt hóa thang đo cho phù hợp với bối cảnh nghiên cứu; mặt khác, được dùng trong thảo luận các kết quả nghiên cứu định lượng Các giả thuyết nghiên cứu được kiểm định bằng phương pháp định lượng Thang đo định lượng được kiểm định bằng hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA) Các giả thuyết được kiểm định bằng hồi quy tuyến tín Thiết kế nghiên cứu hỗn hợp như thế này phù hợp với mục đích của nghiên cứu là đánh giá sự vị chủng của khách hàng và kiểm định mối quan hệ giữa các khái niệm
Bảng 1: Mẫu phỏng vấn
Nhóm tuổi lượng Số Năm sinh
Thế hệ 7X 3 1970, 1973, 1979 Thế hệ 8X 4 1980, 1985, 1987, 1988 Thế hệ 9X 6 1993, 1996, 1997, 1998, 1999 Thế hệ 10X 4 2000, 2001, 2002
Tổng cộng 17
Dữ liệu định tính được thu thập bằng phỏng vấn sâu (N=17) Mẫu được chọn theo
mục đích (purposeful sampling), cỡ mẫu lớn hơn
15 (theo Marshall, Cardon, Poddar & Fontenot,
Trang 62013) Mỗi cuộc phỏng vấn kéo dài không quá
60 phút, và được lặp lại cho đến khi thông tin
từ đáp viên sau trùng lắp lại các thông tin đã
thu thập (Malterud, Siersma & Guassora, 2016;
Strauss & Corbin, 1998) Đáp viên nằm trong 4
nhóm lứa tuổi (xem Bảng 1), làm trong nhiều
ngành nghề như: nhân viên bảo hiểm y tế, giáo
viên, chủ cơ sở kinh doanh, học sinh-sinh viên
Dữ liệu định lượng được thu thập qua
phiếu khảo sát (N=147) Mẫu được chọn theo
phương pháp thuận tiện Nghiên cứu này sử dụng
phương pháp ước lượng Maximum Likelihood
nên kích thước mẫu tối thiểu từ 100 đến 200 có
thể được chấp nhận (theo Hair, Black, Babin
& Anderson, 2010; Nguyễn Đình Thọ, 2013)
Nghiên cứu này sử dụng 3 khái niệm và 19 biến
quan sát, cỡ mẫu cũng đảm bảo lớn hơn 5 lần
số biến quan sát (Hoàng Trọng & Chu Nguyễn
Mộng Ngọc, 2008) Tỷ lệ nam-nữ trong mẫu
là 70-77, với phần lớn đáp viên có trình độ đại
học-sau đại học chiếm 73%, và 27% đáp viên
chưa tốt nghiệp đại học Độ tuổi và thông tin chi
tiết về mẫu được trình bày trong Phụ lục A
3 2 Thang đo
Thang đo trong nghiên cứu này được kế
thừa và hiệu chỉnh từ các thang đo trong những
nghiên cứu trước Mức độ vị chủng được đo
bằng CETSCALE của Shimp & Sharma (1987),
được hiệu chỉnh thành 7 mục đo theo Nguyễn
Thành Long (2011), đã được sử dụng trong bối
cảnh Việt Nam Khuynh hướng theo chủ nghĩa
thế giới được đo bằng thang đo C-COSMO được
sử dụng trong nghiên cứu của Cleveland và cs
(2009), Riefler, Diamantopoulos & Siguaw
(2012) và Lawrence (2012) Mức độ sẵn lòng
mua hàng may mặc thời trang ngoại được đo
lường theo thang đo WTB trong nghiên cứu của
Lê Nguyễn Hậu, Trần Trúc Quỳnh & Lê Đức
Anh (2012) và Nguyễn Thành Long (2011)
Qua kết quả phỏng vấn định tính, thang
đo định lượng được bổ sung, sửa đổi ở một
vài điểm hành vi tìm hiểu những người nước
ngoài và những quan điểm đặc trưng của họ
(learning more about people who live in other countries, and learn about their unique views and approaches, Cleveland và cs., 2011) được
thay bằng tìm hiểu về văn hóa các quốc gia khác Sự thay đổi này giúp đáp viên dễ hiểu hơn khi trả lời câu hỏi Ngoài ra, do rào cản ngôn ngữ và thiếu môi trường giao tiếp trực tiếp với người nước ngoài nên mục đo về sự giao tiếp
với người nước ngoài (coming into contact with people of other cultures) được lược bỏ Thang
đo chính thức được trình bày trong Phụ lục B Các chỉ số phân tích khám phá và độ tin cậy của thang đo được trình bày trong Phụ lục
C Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha cho thấy tất cả các thang đo đều đạt yêu cầu về độ tin cậy: chủ nghĩa thế (0.905), sự sẵn lòng mua (0.803)
Hệ số Cronbach’s Alpha của tính vị chủng (0.838) Qua phân tích nhân tố khám phá, một biến trong thang đo vị chủng bị loại Khái niệm
vị chủng chia thành 2 thành phần: vị chủng hàng nội-CETa (0.818) và vị chủng hàng ngoại-CETb (0.874) Hệ số tải nhân tố của cả 18 biến quan sát còn lại đạt yêu cầu (lớn hơn 0.5) dao động
từ 0.614 đến 0.852 Tổng phương sai trích đạt được là 68.197% thể hiện rằng 4 nhân tố rút ra giải thích được 68.197% sự biến thiên của dữ liệu, tại Eigen-Value có giá trị 1.122 Do đó, các nhân tố được rút ra là chấp nhận được
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Mức độ vị chủng của người tiêu dùng
Mức độ vị chủng tiêu dùng khá cao đối với hàng nội, nhưng không cao đối với hàng ngoại Điểm trung bình của các biến CET1 (3.63), CET2 (3.73) và CET3 (3.69) cho thấy người tiêu dùng ưu tiên mua hàng nội Người tiêu dùng quan niệm rằng đây là việc làm tốt nhằm bảo vệ, phát triển nền kinh tế, bảo vệ người lao động Việt Nam Tuy nhiên, đối với hàng ngoại (qua các mục đo CET4, 5, 6 và 7), người tiêu dùng không kỳ thị và ác cảm Người tiêu dùng không cho rằng mua hàng ngoại có thể gây ảnh hưởng đến kinh tế và con người Việt Nam
Trang 7Hình 1: Mức độ vị chủng của người tiêu dùng thành phố Long Xuyên
Kết quả định tính (Hình 1) cũng khẳng định một bộ phận người Việt rất ủng hộ việc mua trong nước Nhóm thế hệ 7X uôn tôn trọng và đề cao hàng Việt, dành tình cảm khá lớn đến với những mặt hàng may mặc thời trang do chính người Việt sản xuất Đáp viên nữ (sinh năm
1979, nhân viên bảo hiểm y tế) cho rằng phải tin yêu và ưu tiên dùng hàng Việt Với quan niệm
rằng ủng hộ hàng nội như là ủng hộ người nhà giúp nhau cùng có sự ổn định trong cuộc sống
Những người lớn tuổi và nữ giới có xu hướng tôn vinh và bảo vệ hàng địa
Tuy nhiên, mức độ vị chủng giảm dần đến các thế hệ sau Khách hàng điểm trái ngược nhau Cán bộ, viên chức (sinh năm 1987 giáo viên tiêu học) rằng luôn cố gắng mua các sản phẩm của Việt Nam, ủng hộ mặ hàng may mặc của Việt Nam như Thái Tuấn, Việt Tiến, Nem, An Sỹ Dương nhằm góp phần giúp người dân Việt Nam có việc làm, vừa để phát triển nước nhà Ngược lại nữ doanh nhân sinh năm hủ cơ sở nước suối) chỉ ưu tiên mua những mặt hàng may mặc thông thường mặc ở nhà và lựa chọn ng ngoại đối với thời trang cao cấp Điều này cho thấy rằng, người tiêu dùng ở thế hệ 8X ít quan tâm đến lòng tự tôn dân tộc khi mua sắm so với thế hệ 7X
Mức độ vị chủng giảm dần đến các thế hệ 9X và 10X Nhóm 9X cho rằng ủng hộ hàng Việt là việc cần làm nhưng chất lượng và mẫu mã theo kịp thế giới ưa thích và
sử dụng hàng thời trang ngoại mặc dù mức độ sử dụng vừa phải sính ngoại Họ muốn cân bằng cả thương hiệu nội và ngoại trong tủ quần áo của mình Một khách hàng
ng cho rằng mua hàng may mặc thời trang Việt là góp phần phát triển nước nhà nếu hàng Việt chất lượng không tốt và không có đúng những kiểu dáng, mẫu mã phù hợp nhu cầu thì người tiêu dùng không muốn lựa chọn nó khá cởi mở với hàng ngoại, họ chuộng hàng ngoại như một sở thích cá nhân nếu như mặt tài chính được đảm bảo mức ổn định
(sinh năm 2000) đưa ra lập luận rằng: “Cuộc chiến thuế quan giữa
Mỹ và Trung Quốc đã tạo ra làn sóng xê dịch các xưởng sản xuất từ Trung Quốc qua các nước Đông Nam Á, và Việt Nam không phải ngoại lệ Việc di dời các xưởng sản xuất tạo nên một cơ hội việc làm khổng lồ cho lượng lớn nhân công phổ thông lẫn các nhân sự được đào tạo qua
3.63 3.73 3.69 2.07
2.44 2.61 2.68
CET1 CET2 CET3 CET4 CET5 CET6 CET7
Kết quả định tính (Hình 1) cũng khẳng
định một bộ phận người Việt rất ủng hộ việc
mua hàng trong nước Nhóm thế hệ 7X luôn tôn
trọng và đề cao hàng Việt, dành tình cảm khá
lớn đến với những mặt hàng may mặc thời trang
do chính người Việt sản xuất Đáp viên nữ (sinh
năm 1979, nhân viên bảo hiểm y tế) cho rằng
phải tin yêu và ưu tiên dùng hàng Việt Với quan
niệm rằng ủng hộ hàng nội như là ủng hộ “người
nhà” giúp nhau cùng có sự ổn định trong cuộc
sống Những người lớn tuổi và nữ giới có xu
hướng tôn vinh và bảo vệ hàng địa
Tuy nhiên, mức độ vị chủng giảm dần đến
các thế hệ sau Khách hàng 8X có hai quan điểm
trái ngược nhau Cán bộ, viên chức (sinh năm
1987, giáo viên tiêu học) cho rằng luôn cố gắng
mua các sản phẩm của Việt Nam, ủng hộ mặt
hàng may mặc của Việt Nam như Thái Tuấn,
Việt Tiến, Nem, An Sỹ Dương nhằm góp phần
giúp người dân Việt Nam có việc làm, vừa để
phát triển nước nhà Ngược lại, nữ doanh nhân
(sinh năm 1988, chủ cơ sở nước suối) chỉ ưu tiên
mua những mặt hàng may mặc thông thường
mặc ở nhà và lựa chọn hàng ngoại đối với thời
trang cao cấp Điều này cho thấy rằng, người
tiêu dùng ở thế hệ 8X ít quan tâm đến lòng tự
tôn dân tộc khi mua sắm so với thế hệ 7X
Mức độ vị chủng giảm dần đến các thế hệ
9X và 10X Nhóm 9X cho rằng ủng hộ hàng
Việt là việc cần làm, nhưng chất lượng và mẫu
mã theo kịp thế giới Khách hàng 9X ưa thích
và sử dụng hàng thời trang ngoại mặc dù mức
độ sử dụng vừa phải và không quá “sính ngoại”
Họ muốn cân bằng cả thương hiệu nội và ngoại trong tủ quần áo của mình Một khách hàng 10X không cho rằng mua hàng may mặc thời trang Việt là góp phần phát triển nước nhà vì nếu hàng Việt chất lượng không tốt và không
có đúng những kiểu dáng, mẫu mã phù hợp nhu cầu thì người tiêu dùng không muốn lựa chọn
nó Khách hàng 10X khá cởi mở với hàng ngoại,
họ chuộng hàng ngoại như một sở thích cá nhân nếu như mặt tài chính được đảm bảo mức ổn định Nam sinh viên ngành báo chí (sinh năm
2000) đưa ra lập luận rằng: “Cuộc chiến thuế quan giữa Mỹ và Trung Quốc đã tạo ra làn sóng
xê dịch các xưởng sản xuất từ Trung Quốc qua các nước Đông Nam Á, và Việt Nam không phải ngoại lệ Việc di dời các xưởng sản xuất tạo nên một cơ hội việc làm khổng lồ cho lượng lớn nhân công phổ thông lẫn các nhân sự được đào tạo qua chuyên môn.” Nhìn chung, khách hàng trẻ
quan niệm việc mua hàng may mặc ngoại vẫn tạo được việc làm và thu nhập cho người Việt
Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ vị chủng tiêu dùng giảm đi Trước hết đó là suy giảm qua các thế hệ Những người trẻ có điều kiện tiếp cận nhiều với văn hóa nước ngoài,
Trang 8đã thay đổi suy nghĩ, không còn cho rằng phải
mua hàng nội thì mới là bảo vệ đất nước và con
người, không còn suy tôn hàng nội Sự suy giảm
còn được thể hiện ở qua thái độ cởi mở, chấp
nhận hàng hóa từ các nước nếu hàng hóa đáp
ứng được yêu cầu tiêu chuẩn chất lượng Khách
hàng sẵn lòng mua hàng ngoại nếu chất lượng,
mẫu mã và giá cả phù hợp mà không bị ràng
buộc bởi quan niệm mua hàng ngoại làm ảnh
hưởng đến kinh tế và con người Việt
Kết quả kiểm định dữ liệu khảo sát cũng
cho thấy có sự khác biệt về mức độ vị chủng
giữa các nhóm khách hàng Kiểm định mẫu độc
lập (independent Sample T-Test), Anova bằng
công cụ Post Hoc và cho thấy tinh vị chủng hàng
nội và tính vị chủng hàng ngoại có sự khác biệt
nhau giữa nam và nữ, giữa nhóm tuổi 15 đến 34
và nhóm 35 tuổi trở lên, nhóm có trình độ đại
học, sau đại học so với nhóm có trình độ tiểu
học và trung học cơ sở Các kết quả này tương
đồng với kết quả từ nghiên cứu định tính
4 2 Mối quan hệ giữa tính vị chủng với chủ
nghĩa thế giới và sự sẵn lòng mua hàng ngoại
Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên
cứu được hiệu chỉnh sau khi phân tích nhân tố
khám phá Khái niệm tính vị chủng được chia
thành 2 thành phần: vị chủng hàng nội và vị
chủng hàng ngoại Theo đó, giả thuyết H1 được
chia thành 2 giả thuyết: tác động trái chiều của
chủ nghĩa thế giới đến tính vị chủng hàng nội
(H1a) và tính vị chủng hàng ngoại (H1b) Tương
tự vị chủng hàng nội (H2a) và vị chủng hàng
ngoại (H2b) có ảnh hưởng trái chiều đến sự sẵng
lòng mua hàng ngoại
Các giả thuyết được kiểm định bằng kỹ thuật
hồi quy tuyến tính cho từng giả thuyết và đều
được chấp nhận với kết quả trong Phụ lục D
R2 hiệu chỉnh của kiểm định 1 và 2 lần lượt là
0.068 và 0.327, cho thấy khoảng 6.8 % khác biệt
của tính vị chủng hàng nội (H1a) và 32.7% khác
biệt tính vị chủng hàng ngoại (H1b) có thể được
giải thích bởi chủ nghĩa thế giới tiêu dùng R2
hiệu chỉnh kiểm định 3 và 4 lần lượt là 0.122
và 0.074 cho thấy 12.2% và 6.8% khác biệt của
sự sẵn lòng mua hàng ngoại được giải thích bởi tính vị chủng hàng nội (H2a) và tính vị chủng hàng ngoại (H2b) Hệ số sig kiểm định F đều nhỏ hơn 0.05, như vậy mô hình hồi quy phù hợp với tập dữ liệu và có thể suy rộng ra cho toàn tổng thể Kết quả nghiên cứu định lượng cho thấy chủ nghĩa thế giới (COS) có mối quan hệ trái chiều với tính vị chủng hàng nội (CETa) và tính vị chủng hàng ngoại (CETb) Kế đến, tính
vị chủng hàng nội (CETa) và tính vị chủng hàng ngoại (CETb) có mối quan hệ trái chiều với sự sẵn lòng mua hàng may mặc thời trang ngoại (WTB)
5 THẢO LUẬN VÀ KẾT LUẬN
5 1 Thảo luận
Sự cởi mở với các quốc gia khác và người ngoại quốc thay đổi qua từng thế hệ, có ảnh hưởng đến sự vị chủng và sự sẵn lòng mua của khách hàng Nhóm khách hàng 7X cho rằng việc tiếp thu văn hóa hay trao đổi với nước ngoài chỉ
là nhằm mục đích giải trí chứ không phải là nhu cầu cần thiết Nhóm 8X có xu hướng thích tìm hiểu văn hóa ở các nước lân cận như Trung Quốc, Nhật, Hàn,… Nữ giáo viên tiểu học (sinh năm 1987) ủng hộ hàng Việt nhưng vẫn trải nghiệm các mặt hàng may mặc của Nhật và rất hài lòng về sản phẩm Nhóm khách hàng 9X
và 10X đồng quan điểm nhau về việc có sự tìm hiểu và tiếp thu những điều mới mẻ từ nền văn hóa rất thích sự giao lưu với người nước ngoài
dù chưa hoặc ít có cơ hội để tiếp xúc và trao đổi trực tiếp Nhìn chung, giới trẻ và người có học thức thể hiện xu hướng chủ nghĩa thế giới
và vì vậy họ giảm bớt mức độ vị chủng và mức lòng mua hàng ngoại cao hơn Điều này được thể hiện cả trong kết quả nghiên cứu định tính và định lượng, giống như những nghiên cứu trước đây của (Nguyễn Thành Long, 2011) và các nghiên cứu khác tại nước ngoài như được trình bày trong tổng kết của Shankarmahesh (2006) Đối với sự sẵn lòng mua, khách hàng tại thành phố Long Xuyên quan niệm rằng mua
Trang 9hàng thương hiệu ngoại là không phải là cách
duy nhất để tiếp thu nền văn hóa khác bởi lẽ
có rất nhiều phương tiện để tiếp xúc với những
điều mới bên ngoài như Internet, truyền hình,
điện thoại thông minh Tuy nhiên, do sự trung
thành với nhãn hiệu hàng Việt Nam nên khách
hàng 7X không thật sự sẵn lòng với các quan
điểm mua hàng ngoại Nhóm 8X có thu nhập
ổn định có xu hướng sử dụng hàng may mặc
thương hiệu ngoại Khách hàng 9X và 10X cũng
rất thích việc cập nhập những xu hướng hiện đại
nên họ sẽ sẵn lòng mua những mặt hàng may
mặc thương hiệu mà họ yêu thích Điều này cho
thấy mặc dù tính vị chủng có ảnh hưởng đến sự
sẵn lòng mua, nhưng tính vị chủng chịu sự ảnh
hưởng ngược chiều của xu thế ngày càng phổ
biến của chủ nghĩa thế giới, cho nên sự sẵn lòng
mua hàng thời trang ngoại có xu hướng tăng ở
các thệ trẻ
Phân tích trên đây không giống như kết quả
nghiên cứu của một số nghiên cứu khác ở chỗ đã
phân tích sự thay đổi của vị chủng tiêu dùng qua
các thế hệ khách hàng Các nghiên cứu trước đây
ở Việt Nam chỉ phân tích sự tác động trái chiều
của tính vị chủng đến sự sẵn lòng mua, nhưng
chưa phân tích sự thay đổi mức độ vị chủng của
người tiêu dùng (Nguyễn Thành Long, 2011;
Phạm Thị Bé Loan & Bùi Thanh Huân, 2012;
Trần Kim Dung, 2015; Trương Mỹ Ngọc & Lê
Nguyễn Hậu, 2017) Nghiên cứu này khẳng định
mức độ vị chủng của người tiêu dùng giảm dần
qua các thế hệ từ 7X đến 10X
Nghiên cứu này đã khẳng định sự tác động
của chủ nghĩa thế giới đến mức độ vị chủng
của người tiêu dùng Việt, tương tự như các
nghiên cứu của nước ngoài (Parts & Vida, 2013;
Shankarmahesh, 2006) Thực ra, trước đây
Phạm Thị Bé Loan & Bùi Thanh Huân (2012)
cũng có thừa nhận người Việt Nam lại không
quá bảo thủ, họ luôn hòa nhập trong xã hội phát
triển như ngày nay Người Việt Nam khá thông
thoáng, có tinh thần giao lưu hội nhập cao,
không quá cực đoan và bảo thủ Họ một mặt ưu
tiên, ủng hộ cho hàng nội nhưng vẫn tiêu dùng hàng ngoại Nguyen & Smith (2012) cũng đưa cho thấy người tiêu dùng Việt Nam ưa chuộng hàng ngoại Điều này cho thấy sự ảnh hưởng của
xu thế chủ nghĩa thế giới làm thay đổi mức độ vị chủng của người tiêu dùng Việt
Ngoài sự ảnh hưởng của chủ nghĩa thế giới
và tính vị chủng, sự sẵn lòng mua còn chịu ảnh hưởng của yếu tố khác Kết quả phỏng vấn định tính trong nghiên cứu này chỉ sự sự ảnh hưởng của chất lượng, giá cả, thu nhập của người tiêu dùng ảnh hưởng đến sự sẵn lòng và quyết định mua của người tiêu dùng Thật vậy, chất lượng
là yếu tố hàng đầu ảnh hưởng đến sự sẵn lòng mua (Nguyễn Thành Long, 2011)
5 2 Kết luận và hàm ý quản trị
Nghiên cứu này đưa đến các kết quả chính sau:
Một là, tính vị chủng chịu sự tác động trái
chiều của chủ nghĩa thế giới Người tiêu dùng trẻ, có học thức, có điều kiện tiếp xúc với con người và nền văn hóa nước ngoài nên cởi mở và
dễ dàng tiếp nhận văn hóa nước ngoài, dẫn đến mức độ vị chủng giảm dần
Hai là, chủ nghĩa thế giới tác động trái chiều
đến tính vị chủng và tính vị chủng tác động trái chiều đến sự sẵn lòng mua hàng ngoại; với xu thế hội nhập, chủ nghĩa thế giới ngày càng phổ biến nên sự sẵn lòng mua hàng ngoại không suy giảm mà còn tăng lên, đặc biệt là trong giới trẻ Ngoài ra, các yếu tố khác như thu nhập, nghề nghiệp, chất lượng hàng ngoại cùng tham gia tác động đến sự sẵn lòng mua hàng ngoại Đáng chú
ý đối với các nhà sản xuất-kinh doanh hàng thời
trang trọng nước là quan điểm “khi cần quần áo chất lượng cao và sang trọng, tôi sẽ dùng hàng may mặc thời trang ngoại”.
Các hàm ý quản trị được rút ra như sau: Kết quả nghiên cứu định tính cho thấy người tiêu dùng đánh giá tích cực về phương diện chất lượng hàng may mặc thời trang ngoại
và tin tưởng vào hàng ngoại nhập hơn hàng nội địa Các hãng may mặc thời trang “hàng hiệu”
Trang 10đã xây dựng thương hiệu thành công vượt trội
so với các công ty nội địa Tính vị chủng chịu sự
ảnh hưởng trái chiều từ xu hướng chủ nghĩa thế
giới, cho nên để thành công trên thị trường nước
nhà, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Việt,
các nhãn hiệu thời trang Việt phải đầu tư xây
dựng thương hiệu, đồng thời cải thiện sản phẩm
của mình, xây dựng hình ảnh tốt trong nhận thức
của người tiêu dùng
Mặc dù vậy, tính vị chủng vẫn còn tồn tại
trong quan điểm của người tiêu dùng Việt Các
nhãn hàng thời trang quốc tế phải chú ý nhiều
đến sự khác biệt về văn hóa địa phương khi
quảng bá sản phẩm và dịch vụ tại Việt Nam để
tiếp tục chiếm được cảm tình của những người
tiêu dùng có mức độ vị chủng cao
Nghiên cứu này còn hạn chế trong phạm
vi lấy mẫu hẹp, phương pháp xử lý định lượng
giản đơn Những nghiên cứu tiếp sau có thể lấy
mẫu ở những thành phố lớn hơn như Hà Nội, Hồ
Chí Minh, Đà Nẵng và Cần Thơ Đây là những
thành phố đông dân cư, mức thu nhập của người
dân cao, cơ hội tiếp xúc với văn hóa nước ngoài
nhiều Mức độ ảnh hưởng của chủ nghĩa thế giới
đến tính vị chủng ở các địa phương này có thể
khác hơn so với một thành phố thuộc tỉnh như
Long Xuyên
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Ajzen, Icek (1991) The theory of planned
be-havior (Vol 50): Academic Press, Inc.
Ajzen, Icek (2011) The theory of planned
be-haviour: reactions and reflections: Taylor &
Francis
Bushra, Aliya, & Zafar, Sohail (2017) How
does the antecedents of product country
im-age affect willingness to buy foreign
prod-ucts? Pakistan Journal of Commerce and
Social Sciences (PJCSS), 11(2), 524-541
Cannon, Hugh M, & Yaprak, Attila (2002) Will
the real-world citizen please stand up! The
many faces of cosmopolitan consumer
be-havior Journal of International Marketing,
10(4), 30-52
Caruana, Albert, & Planning (1996) The effects
of dogmatism and social class variables on
consumer ethnocentrism in Malta Market-ing Intelligence & PlannMarket-ing, 14(4), 39-44
Cleveland, Mark, Erdoğan, Seçil, Arıkan,
Gül-ay, & Poyraz, Tuğça (2011) Cosmopolitan-ism, individual-level values and
cultural-level values: A cross-cultural study Journal
of Business Research, 64(9), 934-943
Cleveland, Mark, Laroche, Michel, & Papado-poulos, Nicolas (2009) Cosmopolitanism, consumer ethnocentrism, and materialism:
An eight-country study of antecedents and
outcomes Journal of International Market-ing, 17(1), 116-146
Cutura, Marija (2006) The Impacts of Ethno-centrism on Consumers’ Evaluation Pro-cesses and Willingness to Buy Domestic vs Imported Goods in the Case of Bosnia and
Herzegovina South East European Journal
of Economics & Business(2)
De Ruyter, Ko, Van Birgelen, Marcel, & Wet-zels, Martin (1998) Consumer
ethnocen-trism in international services marketing In-ternational Business Review, 7(2), 185-202
Dogi, Ilona Csatarine (2015) Consumer
eth-nocentrism: a literature review Lucrări Științifice Management Agricol, 17(2), 84
Erdogan, B Zafer, & Uzkurt, Cevahir (2010) Effects of ethnocentric tendency on con-sumers’ perception of product attitudes for
foreign and domestic products Cross Cul-tural Management: An International Jour-nal, 17(4), 393-406
Granzin, Kent L, & Painter, John (2001) Moti-vational influences on “Buy Domestic” pur-chasing: Marketing management
implica-tions from a study of two naimplica-tions Journal of International Marketing, 9(2), 73-96
Guo, Gongxing, Tu, Hongwei, & Cheng, Bao
%J Journal of Consumer Marketing (2018) Interactive effect of consumer affinity and consumer ethnocentrism on product trust