*Vòng thắt phân bào: các siêu sợi actin và sợi myosin tạo nên vòng thắt nhằm phân đôi bào tương của tế bào ban đầu. Vòng thắt này được hình thành ngay sát mặt trong màng sinh chất và nằm[r]
Trang 1CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN HÈ 2010
+ TB là một hệ mở, là cấp tổ chức cơ bản của thế giới sống
+ TB là đơn vị cơ bản của cơ thể sống đa bào và đơn bào về mọi phương diện (traođổi chất và năng lượng, sinh trưởng và phát triển, sinh sản, cảm ứng và vận động, di truyền
và biến dị)
Câu 2: Trong các loài sinh vật gây bệnh ở người sau đây, loài nào là sinh vật nhân thực?
A Sinh vật gây bệnh lao C Sinh vật gây bệnh nhiệt thán
B Sinh vật gây bệnh hắc lào D Sinh vật gây bệnh dại
Câu 3: Điểm khác biệt giữa màng trong và màng ngoài của ti thể là:
1 Màng trong có tỉ lệ Pr/Li cao hơn màng ngoài
2 Màng trong có chứa hệ enzim hô hấp, màng ngoài không có
3 Màng trong gấp khúc tạo ra các mào, màng ngoài không gấp khúc
4 Màng trong và màng ngoài đều có các thể chuỳ F0F1
Phương án đúng: A 1, 2 B 2, 3 C 1, 2, 3 D 1, 3, 4
Câu 4: Tế bào nào sau đây có nhiều bào quan lizôxôm nhất?
A Tế bào da B Tế bào bạch cầu C Tế bào cơ tim D Tế bào hồng cầu
Câu 5: Nếu sống trong môi trường bị ô nhiễm không khí do bụi thì con người thường dễ bị
bệnh viêm phổi Nguyên nhân là do các hạt bụi đã làm cho:
A Tế bào bị tổn thương giải phóng enzim ra ngoài
B Không khí thiếu ôxi, không đủ để cung cấp cho phổi
C Các tiên mao bị tổn thương, hoạt động yếu
D Lizôxôm vỡ ra dẫn tới phá huỷ tế bào niêm mạc phổi
Câu 6: Côlestêrôn là một loại lipít có mặt trong màng sinh chất Điều nào sau đây là đúng
khi nói về nó?
A ở mọi tế bào, hàm lượng côlestêrôn là không đổi
B Côlestêrôn làm cho màng sinh chất linh động hơn
C Côlestêrôn quy định tính thấm chọn lọc của màng
D ở màng sinh chất của tế bào nhân sơ không có côlesteron
Câu 7: Bộ máy Gôngi có cấu tạo:
A Gồm các hạt gôngi xếp thành một bộ máy
B Gồm các tấm hình cung xếp song song và thông với nhau
C Gồm các túi hình cung xếp song song và không thông với nhau
D Gồm các túi thông với nhau và có màng bao bọc bên ngoài
Trang 2Câu 8: Một tế bào động vật có áp suất thẩm thấu là 2 atm Muốn cho tế bào bị vỡ ra thì phải
bỏ nó vào môi trường nào sau đây?
A Môi trường có áp suất thẩm thấu 2 atm
B Môi trường có áp suất thẩm thấu 2.5 atm
C Môi trường có áp suất thẩm thấu 3 atm
D Môi trường có áp suất thẩm thấu bé hơn 2 atm
Câu 9: Khi ở môi trường nhược trương, tế bào nào sau đây sẽ bị vỡ ra?
A Tế bào hồng cầu C Tế bào thực vật
B Tế bào nấm men D Tế bào vi khuẩn
Câu 10: Sự khuyếch tán qua kênh prôtêin thì gọi là khuếch tán gián tiếp Loại chất nào sau
đây khi khuếch tán qua màng sẽ theo phương thức gián tiếp?
A Chất có kích thước nhỏ và tan trong lipít
B Chất có kích thước nhỏ và tan trong nước
C Chất có kích thước nhỏ
D Chất có kích thước bất kì và tan được trong nước
Câu 11: Sự vận chuyển chủ động luôn tiêu tốn năng lượng Nguyên nhân là vì:
A Tế bào chủ động lấy các chất nên phải mất năng lượng
B Phải sử dụng chất mang để tiến hành vận chuyển
C Vận chuyển ngược chiều nồng độ hoặc cần có sự biến dạng của màng sinh chất
D Các chất được vận chuyển có năng lượng lớn
Câu 12: Trước khi bước vào chu trình Krep, tổng số chất khử được tạo ra khi phân giải 10
phân tử glucôzơ là:
A 20 NADH B 30 NADH C 40 NADH D 50 NADH
Câu 13: Trong quá trình hô hấp, nếu tế bào thiếu NAD+, FAD+ thì sẽ ức chế giai đoạn:
1 Đường phân 2 Chuỗi truyền điện tử 3 Chu trình Kreb
Thiếu ôxi phân tử thì quá trình hô hấp hiếu khí không diễn ra Nguyên nhân là vì không có ôxi nêndẫn tới:
A Không đốt cháy được các chất hữu cơ
B Không có nguyên liệu cho phản ứng hô hấp: C6H12O6 + O2 → CO2 + H2O
C Chuỗi truyền điện tử bị ức chế nên tế bào thiếu NAD+, FAD+ dẫn tới ức chế cả quá trình
hô hấp
D Tế bào bị chết
Câu 15: Diệp lục thuộc nhóm chất nào?
A-CÁC VẤN ĐỀ KIẾN THỨC CẦN LƯU Ý :
* ĐỂ CHUYỂN SANG PHẦN SINH HỌC TẾ BÀO CẦN KIỂM TRA LẠI NỘI DUNG SAU:
Một trong những đặc điểm nổi bật của sự sống là có tổ chức phức tạp gồm nhiều cấp tươngtác với nhau và tương tác với môi trường sống Người ta thường chia hệ sống thành các cấp
tổ chức chính từ thấp đến cao như tế bào, cơ thể, quần thể, loài, quần xã, hệ sinh thái – sinhquyển
I Cấp tế bào
Trang 3Tế bào là đơn vị tổ chức cơ bản của sự sống Tất cả vi khuẩn, nguyên sinh vật, nấm, thựcvật cũng như động vật đều cấu tạo từ tế bào Các hoạt động sống đều diễn ra trong tế bào dù
là của cơ thể đơn bào hay đa bào Tế bào được cấu tạo từ các phân tử, đại phân tử, bào quan,các yếu tố này tạo nên 3 thành phần cấu trúc là: màng sinh chất, tế bào chất và nhân Các đạiphân tử và bào quan chỉ thực hiện được chức năng sống trong mối tương tác lẫn nhau trong
tổ chức tế bào toàn vẹn
1 Các phân tử
Các phân tử có trong tế bào là các chất vô cơ như các muối vô cơ, nước và các chất hữu cơ.Các chất hữu cơ đơn phân tập hợp tạo thành các chất hữu cơ đa phân nhờ phản ứng trùngngưng
2 Các đại phân tử
Chủ yếu là prôtêin và axit nuclêic là các chất đa phân (gồm các đơn phân như axit amin,
nuclêôtit) có vai trò quyết định sự sống của tế bào nhưng chúng chỉ thực hiện được chứcnăng của mình trong tổ chức tế bào Các phân tử và đại phân tử tập hợp lại tạo nên các bàoquan
3 Bào quan
Là cấu trúc gồm các đại phân tử và phức hợp trên phân tử có chức năng nhất định trong tếbào Ví dụ, ribôxôm gồm rARN và prôtêin, có chức năng là nơi tổng hợp prôtêin
PHẦN II: SINH HỌC TẾ BÀO.
CHƯƠNG I: THÀNH PHẦN HOÁ HỌC CỦA TẾ BÀO
Bài 7 CÁC NGUYÊN TỐ HOÁ HỌC VÀ NƯỚC CỦA TẾ BÀO.
I CÁC NGUYÊN TỐ HOÁ HỌC CẤU TẠO NÊN TẾ BÀO
1 Những nguyên tố hoá học của tế bào
Trong số 92 nguyên tố hoá học có trong thiên nhiên, có khoảng 25 nguyên tố (O,C, H, N, Ca,
P, K, S, Cl, Na, Mg, Fe…) cấu thành nên các cơ thể sống Như vậy, ở cấp độ nguyên tử, giới
vô cơ và giới hữu cơ là thống nhất
2 Các nguyên tố đa lượng, vi lượng
Nguyên tố đa lượng là các nguyên tố mà lượng chứa trong khối lượng chất sống của cơ thểlớn hơn (hay 0,01%) Các nguyên tố mà lượng chứa ít hơn được gọi là nguyên tố
vi lượng
Ví dụ: Các nguyên tố đa lượng: C, H, O, N, P, K, S, Ca, Na…
Các nguyên tố vi lượng: Mn, Zn, Cu, Mo…
Vì sao Cacbon là nguyên tố hoá học đặc biệt quan trọng cấu trúc nên các đại phân tử?
Lớp vỏ êlectron vòng ngoài cùng của cacbon có 4 êlectron nên nguyên tử cacbon cùngmột lúc có thể có 4 liên kết cộng hoá trị với các nguyên tố khác, nhờ đó đã tạo ra một sốlượng lớn các bộ khung cacbon của các phân tử và đại phân tử hữu cơ khác nhau
3 Vai trò của các nguyên tố hoá học trong tế bào
Các nguyên tố C, H, O, N là những nguyên tố chủ yếu của các hợp chất hữu cơ xây dựng nêncấu trúc tế bào Trong chất nguyên sinh các nguyên tố hoá học tồn tại dưới dạng các anion (
) và cation ( ) hoặc có trong thành phần các chất hữu cơ(như Mg trong chất diệp lục…) Nhiều nguyên tố vi lượng (Mn, Cu, Zn, Mo…) là thànhphần cấu trúc bắt buộc của hàng trăm hệ enzim xúc tác các phản ứng sinh hoá trong tế bào
Trang 4Cơ thể chúng ta chỉ cần một lượng rất nhỏ iôt nhưng nếu thiếu iôt chúng ta có thể bị bệnh
bướu cổ (thông minh và đần độn chỉ khác nhau vài giọt iốt).
II NƯỚC VÀ VAI TRÒ CỦA NƯỚC ĐỐI VỚI TẾ BÀO
1 Cấu trúc và đặc tính hoá – lí của nước
- Do đôi êlectron trong mối liên kết bị kéo lệch về phía ôxi nên
phân tử nước có hai đầu tích điện trái dấu nhau (phân cực)
- Phân tử nước gồm hai nguyên tử hiđrô liên kết với một nguyên
tử ôxi tạo ra phân tử nước có tính phân cực mang điện tích
dương ở khu vực gần mỗi nguyên tử hiđrô và mang điện tích âm
ở khu vực gần với nguyên tử ôxi
- Sự hấp dẫn tĩnh điện giữa các phân tử nước tạo nên mối liên
kết yếu (liên kết hiđrô) tạo ra các mạng lưới nước
2 Vai trò của nước đối với tế bào (7 vai trò)
Trong tế bào, nước là thành phần của chất nguyên sinh Nước là dung môi phổ biến nhất, làmôi trường khuếch tán và môi trường phản ứng chủ yếu của các thành phần hoá học trong tếbào Nước còn là nguyên liệu cho các phản ứng sinh hoá trong tế bào Do có khả năng dẫnnhiệt, toả nhiệt và bốc hơi cao nên nước đóng vai trò quan trọng trong quá trình trao đổinhiệt, đảm bảo sự cân bằng và ổn định nhiệt độ trong tế bào nói riêng và cơ thể nói chung.Nước liên kết có tác dụng bảo vệ cấu trúc của tế bào
Nước là thành phần chủ yếu trong mọi tế bào và cơ thể sống Do phân tử nước có tính phân cực nên nước có những đặc tính hoá – lí đặc biệt làm cho nó có vai trò rất quan trọng đối với sự sống (dung môi hoà tan các chất, môi trường khuếch tán và phản ứng, điều hoà nhiệt…)
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
1 Hoàn thành bảng sau bằng cách điền các nguyên tố hoá học vào ô trống cho phù hợp:
3 Điền vào chỗ trống trong các câu sau:
a) Hầu hết các tính chất khác thường của nước được gây ra bởi (tính phân cực) của những
phân tử của nó
b) Nước là dung môi tuyệt vời cho các chất điện li Chất điện li là những chất khi tan vào
(nước) tạo thành (dung dịch) dẫn điện được do chúng phân li thành các (ion).
Bài 8 CACBOHIĐRAT VÀ LIPIT
I CACBOHIĐRAT (SACCARIT)
Cacbohiđrat là các chất hữu cơ được cấu tạo từ C, H, O theo công thức chung ( , trong
đó tỉ lệ giữa H và O là 2 : 1 (giống như tỉ lệ trong phân tử ) Ví dụ, glucôzơ có công thức
là
1 Cấu trúc của cacbohiđrat
a- monosaccarit b- đisaccarit c- polisaccarit
Trang 52 Chức năng của cacbohiđrat (saccarit)
Saccarit là nhóm chất hữu cơ thường có khối lượng lớn và là nguyên liệu giải phóng nănglượng dễ dàng nhất (đóng vai trò là nguồn cung cấp năng lượng, phổ biến nhất là glucôzơ).Saccarit cũng là thành phần xây dựng nên nhiều bộ phận của tế bào, ví dụ, xenlulôzơ là thànhphần cấu trúc nên thành tế bào thực vật Pentôzơ là loại đường tham gia cấu tạo AND, ARN.Hexôzơ là nguyên liệu chủ yếu cho hô hấp tế bào tạo năng lượng, cấu tạo nên đisaccarit vàpôlisaccarit Saccarôzơ là loại đường vận chuyển trong cây Tinh bột có vai trò là chất dự trữtrong cây, glicôgen là chất dự trữ trong cơ thể động vật và nấm…
Một số pôlisaccarit kết hợp với prôtêin, tham gia vai trò vận chuyển các chất qua màngsinh chất và góp phần “nhận biết” các vật thể lạ lúc qua màng
II LIPIT
Lipit (chất béo) là nhóm chất hữu cơ không tan trong nước (vì thế nó là chất kị nước), chỉtan trong các dung môi hữu cơ như ête, benzen, clorofooc
1 Cấu trúc của lipit
a) Mỡ, dầu và sáp (lipit đơn giản)
Các phân tử mỡ, dầu và sáp có chứa các nguyên tố hoá học cacbon, hiđrô và ôxi (giống nhưcác nguyên tố tạo cacbohiđrat) nhưng lượng ôxi ít hơn (đặc biệt trong mỡ, ví dụ mỡ bò cócông thức là )
* Tại sao về mùa lạnh hanh, khô, người ta thường bôi kem (sáp) chống nẻ?
(chống thoát hơi nước, giữ cho da mềm mại)
b) Các phôtpholipit và stêrôit (lipit phức tạp)
Phôtpholipit có cấu trúc gồm hai phân tử axit béo liên kết với một phân tử glixêrol giốngnhư trong mỡ và dầu, vị trí thứ ba của phân tử glixêrol được liên kết với nhóm phôtphat,nhóm này nối glixêrol với một ancol phức (côlin hay axêtycôlin) Phôtpholipit có tính lưỡngcực: đầu ancol phức ưa nước và đuôi kị nước (mạch cacbua hiđrô dài của axit béo)
Khác với các nhóm lipit khác, cấu trúc của phân tử stêrôit lại có chứa các nguyên tử kếtvòng Một số stêrôit quan trọng là côlestêrôn, các axit mật, ơstrôgen, prôgestêron…
2 Chức năng của lipit
Lipit có vai trò đặc biệt quan trọng trong cấu trúc nên hệ thống các màng sinh học(phôtpholipit, côlestêrôn); dự trữ năng lượng , dự trữ nước, một số loại hoocmôn có bản chất
là stêrôit như ơstrôgen, các loại sắc tố như diệp lục, một số loại vitamin A, D, E, K cũng làmột dạng lipit)
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
1 Hãy cho biết cấu tạo và vai trò của một vài đại diện của các loại mônôsaccarit (đường đơn),đisaccarit (đường đôi) và pôlisaccarit (đường đa) theo mẫu dưới đây:
Loại saccarit Ví dụ Công thức cấu tạo Vai trò sinh học
Trang 6GlicôgenXenlulôzơ
2 Lipit và cacbohiđrat có điểm nào giống và khác nhau về cấu tạo, tính chất và vai trò?
3 Những hợp chất nào sau đây có đơn phân là đường glucôzơ?
a) Tinh bột và saccarôzơ b) Glicôgen và saccarôzơ c) Saccarôzơ và xenlulôzơd) Tinh bột và glicôgen e) Lipit đơn giản
Vì sao xà phòng lại tẩy sạch được các vết dầu, mỡ? Lí do thật là đơn giản: xà phòng là muối kali hoặc natri của các axit béo bậc cao, trong phân tử xà phòng có chứa đồng thời các nhóm ưa nước và các nhóm kị nước, khi cho xà phòng vào sẽ tạo thành nhũ tương mỡ không bền, các phân tử xà phòng phân cực được hấp thụ trên bề mặt các giọt mỡ, tạo thành một lớp mỏng trên giọt mỡ, nhóm ưa nước của xà phòng sẽ quay ra ngoài tiếp xúc với nước,
do đó các giọt mỡ không kết tụ được với nhau và bị tẩy sạch.
Bài 9 PRÔTÊIN
Prôtêin là hợp chất hữu cơ quan trọng đặc biệt đối với cơ thể sống Các loại prôtêin đơngiản chỉ gồm các axit amin Các loại prôtêin phức tạp hơn có liên kết thêm với các nhóm bổsung Prôtêin chiếm tới trên 50% khối lượng khô của tế bào và là vật liệu cấu trúc của tế bào
I CẤU TRÚC CỦA PRÔTÊIN
1 Axit amin – đơn phân của prôtêin
Trong tự nhiên có 20 loại axit amin khác nhau
Cơ thể người và động vật không tự tổng hợp được một số axit amin mà phải lấy từ thức ăn
Ví dụ trong ngô có triptôphan, mêtiônin, valin, thrêônin, phêninalanin, lơxin; trong đậu cóvalin, thrêônin, phêninalanin, lơxin, izôlơxin, lizin
* Tại sao chúng ta cần ăn nhiều loại thức ăn khác nhau?
(để cung cấp đủ các loại axit amin cần thiết cho tế bào tổng hợp prôtêin)
2 Cấu trúc bậc một của prôtêin
3 Cấu trúc bậc hai
4 Cấu trúc bậc ba và bậc bốn
Cấu trúc bậc 3 là hình dạng của phân tử prôtêin trong không gian 3 chiều, do xoắn bậc 2cuốn xếp theo kiểu đặc trưng cho mỗi loại prôtêin, tạo thành khối hình cầu Cấu trúc này đặcbiệt phụ thuộc vào tính chất của các nhóm (-R) trong mạch pôlipeptit, như tạo liên kếtđisunphua (-S-S-) hay liên kết liên kết hiđrô Khi prôtêin có 2 hay nhiều chuỗi pôlipeptit phốihợp với nhau tạo nên cấu trúc bậc 4
* Căn cứ vào đâu ta có thể phân biệt được các bậc cấu trúc của prôtêin?
(căn cứ vào các loại liên kết có trong cấu trúc của phân tử prôtêin)
Trang 7Prôtêin có thể bị biến tính Prôtêin vừa rất đa dạng vừa rất đặc thù (4 tiêu chuẩn phân biệt)
II CHỨC NĂNG CỦA PRÔTÊIN
Sự đa dạng của cơ thể sống do tính đặc thù và tính đa dạng của prôtêin quyết định
Bài 10 AXIT NUCLÊIC
Axit nuclêic gồm có ADN (axit đêôxiribônuclêic) và ARN (axit ribônuclêic) Axit nuclêic
là pôlinuclêôtit, được tạp thành do các nuclêôtit kết hợp với nhau theo nguyên tắc đa phân nhờ liên kết phôtphođieste.
I CẤU TRÚC VÀ CHỨC NĂNG ADN
1 Nuclêôtit – đơn phân của ADN
Bazơ nitơ có 4 loại là A: Ađênin; G: Guanin; T: Timin; X: Xitôzin Do đó có 4 loại nuclêôtit
2 Cấu trúc ADN
ADN tồn tại chủ yếu trong nhân tế bào và cũng có ở ti thể, lạp thể trong tế bào chất Đó làmột axit hữu cơ, có chứa các nguyên tố C, H, O, N và P mà mô hình cấu trúc của nó được hainhà bác học J Watson và F Crick công bố vào năm 1953 (SGK)
Đa số các phân tử ADN được cấu tạo từ hai mạch pôlinuclêôtit cấu trúc theo nguyên tắc
đa phân (gồm nhiều đơn phân kết hợp với nhau) và nguyên tắc bổ sung (A của mạch này thìliên kết với T của mạch kia bằng hai mối liên kết hiđrô và ngược lại; G của mạch này thì liênkết với X của mạch kia bằng ba mối liên kết hiđrô và ngược lại)
3 Chức năng của ADN
Chức năng của ADN là lưu giữ, bảo quản và truyền đạt thông tin di truyền
Bài 11 II CẤU TRÚC VÀ CHỨC NĂNG ARN
1 Nuclêôtit – đơn phân của ARN
ARN có 4 loại Bazơ nitơ là: A: Ađênin; G: Guanin; U: Uraxin; X: Xitôzin Do đó có 4 loại
nuclêôtit
2 Cấu trúc của ARN
ARN có nhiều trong tế bào chất Có ba loại ARN là: ARN thông tin (mARN), ARN vậnchuyển (tARN), ARN ribôxôm (rARN)
- Phân tử mARN là một mạch pôlinuclêôtit (gồm từ hàng trăm đến hàng nghìn đơn phân)phiên mã từ một đoạn mạch đơn ADN nhưng trong đó U thay cho T
- Phân tử tARN là một mạch pôlinuclêôtit gồm từ 80 – 100 đơn phân quấn trở lại ở mộtđầu, có đoạn các cặp bazơ liên kết theo nguyên tắc bổ sung (A – U; G – X) Mỗi phân tửtARN có một đầu mang axit amin, một đầu mang bộ ba đối mã (một trong các thuỳ tròn) vàđầu mút tự do
- Phân tử rARN là một mạch pôlinuclêôtit chứa hàng trăm đến hàng nghìn đơn phân trong
đó 70% số nuclêôtit có liên kết bổ sung
3 Chức năng của ARN
- Phân tử mARN có chức năng truyền đạt thông tin di truyền
- Phân tử tARN có chức năng vận chuyển các axit amin tới ribôxôm để tổng hợp prôtêin.Mỗi loại tARN chỉ vận chuyển một loại axit amin
- Phân tử rARN là thành phần chủ yếu của ribôxôm, nơi tổng hợp prôtêin
Trang 8Ở một số loại virut, thông tin di truyền không được lưu giữ trên ADN mà được lưu giữ trên ARN.
Bài 12 THỰC HÀNH
NHẬN BIẾT MỘT SỐ THÀNH PHẦN HOÁ HỌC CỦA TẾ BÀO
I MỤC TIÊU
Sau khi học xong bài này học sinh có khả năng:
- Nhận biết một số thành phần khoáng của tế bào như: K, S, P…
- Nhận biết một số chất hữu cơ của tế bào như cacbohiđrat, lipit, prôtêin
- Biết cách làm một số thí nghiệm đơn giản
Ống nghiệm, đèn cồn, ống nhỏ giọt, cốc đong, thuốc thử Phêlinh, kali iôtđua, HCl, NaOH,
, giấy lọc, nước cất, , amôn – magiê, dung dịch axit picric bão hoà,amôni ôxalat, cồn , nước lọc lạnh, nước rửa bát, chén, máy sinh tố, dao, thớt, vải mànhay lưới lọc, giấy lọc, que tre
Lấy 5 ống nghiệm (đánh số từ 1 đến 5), cho vào mỗi ống nghiệm 4ml dịch đã chuẩn bị ởtrên Xếp 5 ống lên giá thí nghiệm
Thêm vào ống nghiệm 1 vài giọt thuốc thử bạc nitrat
Thêm vào ống nghiệm 2 vài giọt thuốc thử bari clorua
Thêm vào ống nghiệm 3 khoảng 4ml thuốc thử amôn – magiê
Thêm vào ống nghiệm 4 khoảng 1ml dung dịch axit picric bão hoà
Thêm vào ống nghiệm 5 vài giọt amôni ôxalat
Ghi kết quả ở 5 ống và nhận xét
IV THU HOẠCH
2 Xác định sự có mặt một số nguyên tố khoáng trong tế bào
Quan sát hiện tượng xảy ra ở 5 ống nghiệm và hoàn thành bảng sau:
Ống nghiệm + Thuốc thử Hiện tượng xảy ra Nhận xét - kết luận
1 Dịch mẫu + bạc nitrat kết tủa trắng chuyển sang đen
khi để ngoài ánh sáng trong mô có Cl
- => tạo AgCl
2 Dịch mẫu + bari clorua kết tủa trắng trong mô có SO42- nên đã
k/hợp với Ba2+ tạo BaSO4
Trang 93 Dịch mẫu + amôn –
43- nên đã tạo
NH4MgPO4
4 Dịch mẫu + axit picric kết tủa hình kim, màu vàng trong mô có K+ , tạo picrat kali
5 Dịch mẫu + amôni ôxalat kết tủa trắng trong mô có Ca+ , tạo kết tủa
ôxalat canxi
CHƯƠNG II CẤU TRÚC TẾ BÀO
I KHÁI QUÁT VỀ TẾ BÀO
+ Lược sử nghiên cứu:
+ Tất cả các tế bào đều có ba thành phần cấu trúc cơ bản:
- Màng sinh chất bao quanh tế bào, có nhiều chức năng như: màng chắn, vận chuyển, thẩmthấu, thụ cảm…
- Nhân hoặc vùng nhân chứa vật chất di truyền
- Trong mỗi tế bào đều có chất keo lỏng hoặc keo đặc gọi là tế bào chất Thành phần của nógồm có nước, các hợp chất vô cơ và hữu cơ…
Hãy hoàn thành bảng sau bằng cách điền dấu (+) nếu có hoặc điền dấu (-) nếu không có:
Cấu trúc Chức năng Tế bào vi khuẩn Tế bào động vật Tế bào thực vật
II CẤU TẠO TẾ BÀO NHÂN SƠ (TẾ BÀO VI KHUẨN)
So với tế bào nhân thực, thì tế bào vi khuẩn nhỏ hơn và không có các loại bào quan bêntrong như lưới nội chất, bộ máy Gôngi…
Cấu trúc tế bào vi khuẩn gồm:
1 Lông; 2 Vỏ nhầy; 3 Thành peptiđôglican
Trang 10khác nhau); các ribôxôm và các hạt dự trữ Ribôxôm là bào quan được cấu tạo từ prôtêin,rARN và không có màng bao bọc Đây là nơi tổng hợp nên các loại prôtêin của tế bào.Ribôxôm của vi khuẩn có kích thước nhỏ hơn ribôxôm của tế bào nhân thực.
Tế bào chất của vi khuẩn không có: hệ thống nội màng, các bào quan có màng bao bọc vàkhung tế bào
3 Vùng nhân (nuclêôid)
Vi khuẩn không có màng nhân, nhưng đã có bộ máy di truyền Đó là một phân tử ADNvòng, thường không kết hợp với prôtêin histon Vì tế bào vi khuẩn chưa có màng nhân nêngọi là tế bào nhân sơ Ngoài ra, ở một số vi khuẩn còn có ADN dạng vòng nhỏ khác được gọi
là plasmit
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
1 Trình bày khái quát về tế bào
2 Vẽ sơ đồ cấu trúc tế bào vi khuẩn và chú thích
3 Những nhận định nào dưới đây là đúng với tế bào vi khuẩn:
a) Nhân được phân cách với phần còn lại bởi màng nhân
b) Vật chất di truyền là ADN kết hợp với prôtêin histon
c) Không có màng nhân
d) Vật chất di truyền là ADN không kết hợp với prôtêin histon
4 Chọn phương án đúng
Chức năng của thành tế bào vi khuẩn là:
a) Tham gia vào quá trình phân bào b) Thực hiện quá trình hô hấp
c) Giữ hình dạng tế bào ổn định d) Tham gia vào duy trì áp suất thẩm thấu
Bài 14 TẾ BÀO NHÂN THỰC
A ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA TẾ BÀO NHÂN THỰC
Tế bào động vật, thực vật, nấm… là tế bào nhân thực: có màng nhân, có các bào quan khácnhau mà mỗi bào quan có cấu trúc phù hợp với chức năng chuyên hoá của mình, tế bào chấtđược chia thành nhiều ô nhỏ nhờ hệ thống
màng
* Hãy liệt kê các cấu trúc cơ bản của tế bào
động vật, tế bào thực vật và cho biết điểm
giống và
khác nhau giữa hai loại tế bào đó.
B CẤU TRÚC TẾ BÀO NHÂN THỰC
I NHÂN TẾ BÀO
1 Cấu trúc: (- kích thước - Số lượng
- Vị trí - Hình dạng)
Nhân tế bào dễ nhìn thấy nhất trong tế bào nhân
thực Đa số tế bào có một nhân (cá biệt có tế bào
không có nhân như tế bào hồng cầu ở người)
Trong tế bào động vật, nhân thường được định
vị ở vùng trung tâm còn tế bào thực vật có
không bào phát triển thì nhân có thể phân bố ở
vùng ngoại biên Nhân tế bào phần lớn có hình
Trang 11bầu dục hay hình cầu với đường kính khoảng 5µm Phía ngoài nhân được bao bọc bởi màngkép (hai màng), mỗi màng có cấu trúc giống màng sinh chất, bên trong chứa khối sinh chấtgọi là dịch nhân, trong đó có một vài nhân con (giàu chất ARN) và các sợi chất nhiễm sắc.
a) Màng nhân
* Hãy cho biết màng nhân có đặc điểm nào nổi bật?
Màng nhân gồm màng ngoài và màng trong, mỗi màng dày 6 – 9nm Màng ngoài thườngnối với lưới nội chất Trên bề mặt màng nhân có rất nhiều lỗ nhân có đường kính từ 50 –80nm Lỗ nhân được gắn liền với nhiều phân tử prôtêin cho phép các phân tử nhất định đivào hay đi ra khỏi nhân
b) Chất nhiễm sắc - nhiễm sắc thể.
Về thành phần hoá học thì chất nhiễm sắc chứa ADN, nhiều prôtêin kiềm tính (histon) Cácsợi chất nhiễm sắc qua quá trình xoắn tạo thành nhiễm sắc thể (NST) Số lượng nhiễm sắcthể trong mỗi tế bào nhân thực mang tính đặc trưng cho loài Ví dụ: tế bào xôma ở người có
46 nhiễm sắc thể, ở ruồi giấm có 8 nhiễm sắc thể, ở đậu Hà Lan có 14 nhiễm sắc thể, ở càchua có 24 nhiễm sắc thể…
c) Nhân con (nuclêôlus)
Trong nhân có một hay vài thể hình cầu bắt màu đậm hơn so với phần còn lại của chất nhiễmsắc, đó là nhân con hay còn gọi là hạch nhân Nhân con gồm chủ yếu là prôtêin (80% - 85%)
và rARN
2 Chức năng
Nhân tế bào là một trong những thành phần quan trọng bậc nhất của tế bào Nhân tế bào lànơi lưu giữ thông tin di truyền, là trung tâm điều hành, định hướng và giám sát mọi hoạtđộng trao đổi chất trong quá trình sinh trưởng, phát triển của tế bào
III KHUNG XƯƠNG TẾ BÀO
Phải có cách nhìn mới về cấu trúc và chức năng của hệ thống vi ống, vi sợi trong tế bào,
đó là một bộ máy phức tạp linh hoạt và rất quan trọng trong những hoạt động sống quan trọng của tế bào.
trung gian) đan chéo nhau, gọi là khung xương nâng đỡ tế bào Khung xương tế bào có tácdụng duy trì hình dạng và neo giữ các bào quan như: ti thể, ribôxôm, nhân vào các vị trí cốđịnh
Các vi ống có chức năng tạo nên bộ thoi vô sắc Các vi ống và vi sợi cũng là thành phầncấu tạo nên roi của tế bào Các sợi trung gian là thành phần bền nhất của khung xương tếbào, gồm một hệ thống các sợi prôtêin bền
Vi ống được cấu tạo chủ yếu từ các đơn phân là tubulin Phân tử tubulin có dạng hình cầu,
trọng lượng phân tử khoảng 55.000 dalton tương ứng với 450 acid amin
Có hai loại tubulin : tubulin a và tubulin b, xuất phát từ một phân tử chung Vì vậy, phân tử
tubulin a và tubulin b có những đoạn giống nhau về trình tự của các acid amin Tubulin a và
tubulin b có thể kết hợp với nhau một cách tự nhiên thành từng cặp gọi là heterodimer Sau
đó các heterodimer có khả năng liên kết với nhau và tạo thành những cấu trúc gọi là những viống nhờ hiện tượng trùng phân
Có hai loại siêu ống là siêu ống bền và vi ống không bền
Trang 12Có 3 loại siêu ống khác nhau trong thoi phân bào : siêu ống hoa cúc (astral
microtubules), siêu ống tâm động (kinetochore microtubules) và siêu ống cực (polarmicrotubules)
* Siêu ống hoa cúc là những siêu ống tỏa ra xung quanh trung thể Các siêu ống này có lẽ cóchức năng hổ trợ cho hình dạng của thoi phân bào trong tế bào và xác định mặt phẳng củatiến trình phân chia bào tương
* Siêu ống tâm động là những siêu ống kéo dài từ trung thể đến tâm động của các NST Cácsiêu ống này được quy định cho sự chuyển động của các NST hướng về phía hai cực của tếbào ở kỳ sau
* Siêu ống cực là những siêu ống kéo dài từ trung thể đi vượt qua NST Các siêu ống này tạonên cấu trúc lưới giúp duy trì sự toàn vẹn của thoi phân bào Các siêu ống này không kéo dàisuốt từ cực này đến cực kia của thoi phân bào mà mỗi một siêu ống chỉ lồng vào siêu ốngtương ứng xuất phát từ trung thể đối diện
Giả thuyết về hoạt động của các siêu ống của thoi phân bào ở kỳ giữa theo hai kiểu : các siêu ống tâm động sẽ rút gắn lại dần (do sự khử trùng của các tubulin) do đó, kéo các NST về hai cực trong khi đó các siêu ống cực lại được kéo dài ra thêm (do sự trùng phân của các tubulin) làm cho khoảng cách hai cực của thoi phân bào càng lúc càng xa nhau hơn Nhờ vậy các NST vừa được kéo về hai cực của tế bào đồng thời với sự dịch chuyển về hai phía ngược chiều nhau của hai trung thể.
IV TRUNG THỂ
Trung thể là nơi lắp ráp và tổ chức các vi ống trong tế bào động vật, là bào quan hình thànhnên thoi vô sắc trong quá trình phân chia tế bào Mỗi trung thể gồm hai trung tử xếp thẳng gócvới nhau theo trục dọc Trung tử là ống hình trụ, rỗng, dài, có đường kính vào khoảng 0,13µm,gồm nhiều (9) bộ ba vi ống xếp thành vòng
Trung thể nhân đôi vào pha S, theo nguyên tắc bán bảo tồn
*Vòng thắt phân bào: các siêu sợi actin và sợi myosin tạo nên vòng thắt nhằm phân đôi
bào tương của tế bào ban đầu Vòng thắt này được hình thành ngay sát mặt trong màng sinhchất và nằm trên một mặt phẳng thẳng góc với mặt phẳng của thoi phân bào Các sợi này kéomàng tế bào vào giữa và siết lại như một vòng thắt sao cho khi kết thúc tiến trình cytokinesishai tế bào vừa được sinh ra không chỉ có bộ gen giống nhau về mặt di truyền mà còn có đầy
đủ các thành phần trong bào tương và có kích thước bằng nhau Cơ chế của hoạt động củasiêu sợi actin và sợi myosin trong tiến trình cytokinesis phụ thuộc vào mức độ thay đổi Ca++trong bào tương tương tự như trong co cơ
Trang 13CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
Dưới kính hiển vi điện tử ta thấy ti thể có
cấu trúc màng kép (hai màng bao bọc)
+ Màng trong có cấu trúc đặc biệt tạo
nhiều nếp gấp, chúng làm tăng tổng diện
tích màng kép này rất nhiều Trên bề mặt
của màng chứa các protein chuyên biệt
đảm nhận 3 chức năng chính:
1 Thực hiện các phản ứng oxi-hoá
trong chuổi hô hấp của tế bào;
2 Một phức hợp enzim có tên là ATP synthetase (F0F1) tạo ra ATP trong khoang chất nền;
3 Có các protein vận chuyển đặc biệt điều hoà sự đi qua của các chất ra ngoài hoặc vào trong chất nền.
+ Màng ngoài nhờ các protein tạo kênh quan trọng nên màng ngoài có tính thấm với các
chất có trọng lượng phân tử ≤ 5000 daltons Các protein khác bao gồm các enzim tham giatổng hợp lipid trong ti thể, các enzim chuyển hoá lipid sang dạng tham gia trao đổi chất + Khoang gian màng chứa nhiều enzim sử dụng ATP từ chất nền tổng hợp chuyển ra đểphosphoryl hoá các nucleotid khác
* So sánh diện tích bề mặt giữa màng ngoài và màng trong của ti thể, màng nào có diện tích lớn hơn? Vì sao (điều đó liên quan gì đến chức năng của nó)?
* Hãy quan sát một cây xanh và cho biết màu sắc của những lá nhận được nhiều ánh sáng có điểm nào khác với những lá nhận được ít
ánh sáng? Vì sao? (thích nghi với việc hấp thụ
ánh sáng)
Trên bề mặt của màng tilacôit có hệ sắc tố (chất
diệp lục và sắc tố vàng) và các hệ enzim sắp xếp một
cách trật tự, tạo thành vô số các đơn vị cơ sở dạng hạt
hình cầu, kích thước từ 10 – 20nm gọi là đơn vị
quang hợp Trong lục lạp có chứa ADN và ribôxôm
nên nó có khả năng tự tổng hợp lượng prôtêin cần
Trang 14- Lục lạp là nơi thực hiện chức năng quang hợp của tế bào thực vật
- Số lượng ti thể và lục lạp trong tế bào được gia tăng bằng cách Sinh tổng hợp mới và phânchia
* Nêu những điểm giống và khác nhau giữa ti thể và lục lạp về cấu trúc và chức năng
VII LƯỚI NỘI CHẤT
* Hãy cho biết trong tế bào nhân thực có những loại lưới nội chất nào? Vị trí của lưới nội chất trong tế bào?
- Lưới nội chất là một hệ thống màng bên trong tế bào nhân thực, tập trung ở miền nội chất,tạo thành hệ thống các xoang dẹp và ống thông với nhau, ngăn cách với phần còn lại của tếbào chất
+ Lưới nội chất hạt (trên màng có nhiều ribôxôm gắn vào), có chức năng tổng hợpprôtêin để đưa ra ngoài tế bào và các prôtêin cấu tạo nên màng tế bào
* Các Riboxom gắn trên màng của lưới nội chất hạt qua mặt lưng của tiểu đơn vị 60 S, nơi có chuỗi polipeptit đùn ra Riboxom gắn trên màng có cấu trúc hoàn toàn giống với riboxom tự do trong bào tơng Màng LNC hạt chứa phức hợp protein tạo thành kênh chuyển sợi polipeptit đang kéo dài vào trong khoang chứa.
+ Lưới nội chất trơn có rất nhiều loại enzim, thực hiện chức năng tổng hợp lipit, chuyển hoáđường, phân huỷ chất độc hại đối với tế bào
Perôxixôm được hình thành từ lưới nội chất trơn, có chứa các enzim đặc hiệu, tham gia vào
quá trình chuyển hoá lipit hoặc khử độc cho tế bào
* Dựa vào các thông tin ở trên, hãy cho biết trong cơ thể người loại tế bào nào có lưới nội chất hạt phát triển, loại tế bào nào có lưới nội chất trơn phát triển?
VIII BỘ MÁY GÔNGI VÀ LIZÔXÔM
đã được tổng hợp ở một vị trí này đến sử dụng ở một vị trí khác trong tế bào Trong các tếbào thực vật, bộ máy Gôngi còn là nơi tổng hợp nên các phân tử pôlisaccarit cấu trúc nênthành tế bào
2 Lizôxôm
Lizôxôm là một loại bào quan dạng túi có kích thước trung bình từ 0,25 – 0,6µm, có mộtmàng bao bọc chứa nhiều enzim thuỷ phân làm nhiệm vụ tiêu hoá nội bào Các enzim nàyphân cắt nhanh chóng các đại phân tử như prôtêin, axit nuclêic, cacbohiđrat, lipit Lizôxômtham gia vào quá trình phân huỷ các tế bào già, các tế bào bị tổn thương cũng như các bàoquan đã hết thời hạn sử dụng Lizôxôm được hình thành từ bộ máy Gôngi theo cách giốngnhư túi tiết nhưng không bài xuất ra bên ngoài
* Điều gì sẽ xảy ra nếu vì lí do nào đó mà lizôxôm của tế bào bị vỡ ra?
(tế bào sẽ bị phá huỷ Lúc bình thường enzim trong lizôxôm ở trạng thái bất hoạt, khi có nhu cầu sử dụng thì các enzim này được hoạt hoá bằng cách hạ thấp độ pH trong ribôxôm)
IX KHÔNG BÀO
Là bào quan dễ nhận thấy trong tế bào thực vật Khi tế bào thực vật còn non thì có nhiềukhông bào nhỏ Không bào được tạo ra từ hệ thống lưới nội chất và bộ máy Gôngi (…)
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
Trang 151 Hình dạng tế bào là ổn định hay thay đổi? Trong cơ thể người có loại tế bào nào có khảnăng thay đổi hình dạng mà vẫn hoạt động bình thường?
2 Chọn phương án đúng
Điều nào dưới đây không phải là chức năng của bộ máy Gôngi?
a) Gắn thêm đường và prôtêin b) Tổng hợp lipit c) Bao gói các sản phẩm tiếtd) Tạo ra glicôlipit e) Tổng hợp pôlisaccarit từ các đường đơn
X MÀNG SINH CHẤT
Năm 1972, hai nhà khoa học là Singơ (Singer) và Nicônsơn (Nicolson) đã đưa ra mô hìnhcấu trúc màng sinh chất gọi là mô hình khảm - động
*Tính linh động của màng sinh chất
Tính chất lỏng cũng do thành phần lipid quyết định Mặc dù khi liên kết với nhau, cácchuỗi kỵ nước có xu hướng hình thành một cấu trúc tinh thể, nhưng là một "tinh thể lỏng" + Tính chất lỏng thể hiện trước hết qua chuyển động của các phân tử lipid:
* Chuyển động đổi chỗ cho phân tử lipid bên cạnh, cùng lớp chuyển động này có tần suấtkhoảng 1/107 giây
* Chuyển chổ sang lớp đối diện (flip-flop): muốn thực hiện điều này, không những phân tửphải quay đuôi kỵ nước 1800 mà còn phải đưa phần ưa nước chuyển động xuyên qua lớp
"mỡ" (acid béo) Vì vậy, tần suất chuyển động này rất thấp (1 lần/tháng ở TB người) Màng
tế bào chứa enzym đặc biệt xúc tác cho chuyển động này
* Chuyển động quay quanh trục phân tử
+ Tính chất lỏng một phần do khả năng chuyển dịch của các phân tử protein màng tronggiới hạn nhất định
+ Tính lỏng phụ thuộc vào:
- Nhiệt độ: nhiệt độ tăng thì tính lỏng tăng theo => ảnh hưởng tính thấm
- Thành phần hoá học của các lipid: đuôi kỵ nước ngắn thì tính lỏng tăng, tỷ lệ cholesteroltăng thì tính lỏng giảm
Màng sinh chất đảm nhận nhiều chức năng quan trọng của tế bào như: vận chuyển mộtcách có chọn lọc các chấtđi vào tế bào và ngược lại, tiếp nhận và truyền thông tin từ bênngoài vào trong tế bào, là nơi định vị của nhiều loại enzim, các prôtêin màng làm nhiệm vụghép nối các tế bào trong một mô…
Màng sinh chất có các “dấu chuẩn” là glicôprôtêin đặc trưng cho từng loại tế bào Nhờ vậy,các tế bào của cùng một cơ thể có thể nhận biết ra nhau và nhận biết được các tế bào lạ của
* Thành tế bào thực vật và thành tế bào vi khuẩn khác nhau như thế nào?
2 Chất nền ngoại bào
Bên ngoài màng sinh chất của tế bào người cũng như tế bào động vật còn có cấu trúc đượcgọi là chất nền ngoại bào Chất nền ngoại bào được cấu tạo chủ yếu từ các loại sợi
Trang 16glicôprôtêin (prôtêin liên kết với cacbohiđrat) kết hợp với các chất vô cơ và hữu cơ khácnhau Chất nền ngoại bào giúp các tế bào liên kết với nhau tạo nên các mô nhất định và giúp
tế bào thu nhận thông tin
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
1 Vẽ sơ đồ cấu trúc màng sinh chất và cho biết
chức năng của những thành phần tham gia cấu
trúc màng
2 Hãy cho biết trong tế bào nhân thực những bộ
phận nào có cấu trúc màng đơn, màng kép
4* Các lỗ nhỏ trên màng sinh chất được hình
thành trong các phân tử prôtêin nằm xuyên suốt
chiều dày của chúng (gọi là các kênh như
aquaporin…)
Màng sinh chất có chức năng kiểm soát sự vận
chuyển các chất và trao đổi thông tin giữa tế
bào và môi trường Các chất cũng như các
phân tử có thể vận chuyển qua màng về cả hai
phía theo 3 phương thức: thụ động, chủ động
(tích cực), xuất nhập bào.
BÀI 18 VẬN CHUYỂN CÁC CHẤT QUA
MÀNG SINH CHẤT.
I VẬN CHUYỂN THỤ ĐỘNG
Các chất hoà tan trong nước sẽ được vận chuyển qua màng theo građien nồng độ (từ nơi
nồng độ cao đến nơi nồng độ thấp – cơ chế khuếch tán)
Nước thấm qua màng theo građien áp suất thẩm thấu (từ nơi có thế nước cao đến nơi có thế
nước thấp – theo dốc nồng độ) được gọi là sự thẩm thấu
Môi trường đẳng trương; môi trường nhược trương; môi trường ưu trương so với môi
trường bên trong tế bào
Những chất trao đổi giữa tế bào và môi trường thường hoà tan trong dung môi (nước).
- Sự khuếch tán là phương thức vận chuyển thụ động các chất qua màng sinh chất (ví dụ )
- Khuếch tán có thể xảy ra trực tiếp qua lớp kép phôtpholipit (chất hoà tan trong mỡ dễ điqua màng), mặt khác có một số prôtêin màng đóng vai trò là các “kênh” cho các chất đi qua
- Sự khuếch tán của các phân tử nước qua màng gọi là sự thẩm thấu
II VẬN CHUYỂN CHỦ ĐỘNG (SỰ VẬN CHUYỂN TÍCH CỰC)
Lông, roi của tế bào nhân thực gồm có màng sinh chất ở ngoài, bên trong là các
vi ống theo công thức 9+2
Trang 17V ận chuyển chủ động là hình thức tế bào có thể chủ động vận chuyển các chất qua màng
nhờ tiêu dùng năng lượng ATP Tế bào hấp thụ nhiều phần tử ngược chiều građien nồng độnhư: đường axit amin để bổ sung cho kho dự trữ nội bào Một số ion như: cũng được tế bàobơm chủ động vào tế bào để dự trữ Tế bào cũng có thể loại bỏ những phần tử ngược chiềugrađien nồng độ
Vận chuyển chủ động cũng tham gia vào nhiều hoạt động chuyển hoá, ví dụ như hấp thụ vàtiêu hoá thức ăn, bài tiết và dẫn truyền xung thần kinh
Vận chuyển chủ động cần phải có các kênh prôtêin màng
Đơn vận, đồng vận, đối vận.
III XUẤT BÀO, NHẬP BÀO
Đối với các phân tử lớn (các thể rắn hoặc lỏng) không lọt qua các lỗ màng được thì tế bào sửdụng hình thức xuất nhập bào để chuyển tải chúng ra hoặc vào tế bào
Như vậy, trong hiện tượng xuất, nhập bào đòi hỏi phải có sự biến đổi của màng và tiêu thụnăng lượng
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
1 Thế nào là vận chuyển thụ động, vận chuyển chủ động các chất qua màng sinh chất? Phânbiệt vận chuyển chủ động và vận chuyển thụ động Hãy cho ví dụ minh hoạ
2 Điều kiện để xảy ra cơ chế vận chuyển thụ động và chủ động?
3* Cho 3 tế bào cùng loại vào: nước cất (A), dung dịch KOH nhược trương (B), dung dịch
nhược trương (C) cùng nồng độ với dung dịch KOH Sau một thời gian cho cả 3 tế bào vào
dung dịch saccarôzơ ưu trương Hãy giải thích các hiện tượng xảy ra (TB C co nguyên sinh sớm nhất)
ÁP SUẤT THẨM THẤU
P = RTCi ; trong đó: i = 1+α(n-1) ; α là độ điện li phụ thuộc nồng độ chất tan; n là số ion phân
li/phân tử
CHƯƠNG III CHUYỂN HOÁ VẬT CHẤT
VÀ NĂNG LƯỢNG TRONG TẾ BÀO Bài 21 CHUYẾN HOÁ NĂNG LƯỢNG
I KHÁI NIỆM VỀ NĂNG LƯỢNG VÀ CÁC DẠNG NĂNG LƯỢNG
* Hãy kể tên một vài dạng năng lượng mà em đã biết?
Năng lượng là đại lượng đặc trưng cho khả năng sinh công Có nhiều dạng năng lượng khácnhau như: điện năng, quang năng, cơ năng, hoá năng, nhiệt năng… Dựa vào nguồn cung cấpnăng lượng thiên nhiên ta có thể phân biệt năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượngnước…
Thế năng là trạng thái tiềm ẩn của năng lượng (nước hay vật nặng ở một độ cao nhất định,
Trang 18năng lượng các liên kết hoá học trong các hợp chất hữu cơ, chênh lệch các điện tích ngượcdấu ở hai bên màng…) Khi gặp các điều kiện nhất định năng lượng tiềm ẩn chuyển sang trạithái động năng có liên quan đến các hình thức chuyển động của vật chất (các ion, phân tử,các vật thể lớn) và tạo ra công tương ứng Các dạng năng lượng có thể chuyển hoá tương hỗ
và cuối cùng thành dạng nhiệt năng
II CHUYỂN HOÁ NĂNG LƯỢNG
Sự biến đổi năng lượng từ dạng này sang dạng khác cho các hoạt động sống gọi là chuyểnhoá năng lượng Ví dụ, quang hợp là sự chuyển hoá năng lượng ánh sáng sang năng lượnghoá học chứa trong các chất hữu cơ thực vật, hô hấp nội bào là sự chuyển hoá năng lượnghoá học trong các liên kết của các chất hữu cơ đã được tế bào tổng hợp thành năng lượngtrong các liên kết cao năng (ATP) dễ sử dụng
Dòng năng lượng sinh học là dòng năng lượng trong tế bào, dòng năng lượng từ tế bào nàysang tế bào khác hoặc từ cơ thể này sang cơ thể khác Trong các hệ sống năng lượng được dựtrữ trong các liên kết hoá học
III ATP - ĐỒNG TIỀN NĂNG LƯỢNG CỦA TẾ BÀO
Ađênôzin triphôtphat (ATP) là tiền tệ năng lượng của mọi tế bào, bởi ATP được dùng cho tất
cả các quá trình cần năng lượng
EM CÓ BIẾT?
- Một tế bào hoạt động trao đổi chất mạnh cần tới 1 triệu phân tử ATP trong một giây Trongvòng 1 phút sau khi tổng hợp, phân tử ATP đã được sử dụng ngay Khi ở trạng thái nghỉngơi, trung bình mỗi người trong một ngày đã sản sinh và phân huỷ tới 40 kg ATP Người taước tính mỗi tế bào trong một giây tổng hợp và phân huỷ tới 10 triệu phân tử ATP
- Các cơ thể sống cũng giống như một cỗ máy, muốn hoạt động cần được cung cấp nănglượng Các động cơ mà con người tạo ra, ví dụ như động cơ xe máy, chỉ mới chuyển đổiđược tối đa 25% năng lượng có trong nhiên liệu (xăng) thành dạng năng lượng hữu ích làm
xe chạy, còn 75% năng lượng của nhiên liệu bị lãng phí dưới dạng nhiệt năng Trong khi đó,các cơ thể sống lại chuyển đổi năng lượng hiệu quả hơn nhiều: khoảng 55% năng lượng hữuích được tích luỹ trong các hợp chất giàu năng lượng, còn 45% năng lượng chuyển thànhnhiệt năng Bí mật của điều kì diệu này sẽ được các em dần dần phát hiện ra khi học tiếpnhững bài sau
BÀI 22 ENZIM VÀ VAI TRÒ CỦA ENZIM TRONG CHUYỂN HOÁ VẬT CHẤT
Sự chuyển hoá vật chất trong tế bào bao gồm tất cả các phản ứng sinh hoá diễn ra trong
tế bào của cơ thể sống Đó là các phản ứng phân giải (analiz) các chất sống đặc trưng của
tế bào thành các chất đơn giản đồng thời giải phóng năng lượng và các phản ứng tổng hợp (sylthesize) các chất sống đặc trưng của tế bào đồng thời tích luỹ năng lượng.
I ENZIM VÀ CƠ CHẾ TÁC ĐỘNG CỦA ENZIM
* Dựa vào kiến thức đã được học trong chương trình Sinh học 8, hãy cho biết thế nào là
sự chuyển hoá vật chất? Sự chuyển hoá vật chất ở tế bào bao gồm những quá trình nào?
Hiện tượng cơ thể lấy một số chất từ môi trường kiến tạo nên sinh chất của mình và thải rangoài những chất cặn bã, được gọi là sự trao đổi chất Quá trình trao đổi chất bao gồm nhiềukhâu chuyển hoá trung gian Mỗi chuyển hoá trung gian là một mắt xích của một trong hai
quá trình cơ bản: đồng hoá và dị hoá.
1 Cấu trúc của enzim
* Pr thuần; * Pr (apoenzim) + nhóm ngoại (coenzim)
2 Cơ chế tác động của enzim
Trang 19Enzim làm giảm năng lượng hoạt hoá của phản ứng sinh hoá bằng cách tạo nhiều phản ứngtrung gian
Thoạt đầu, enzim liên kết với cơ chất để tạo hợp chất trung gian (enzim – cơ chất) Cuốiphản ứng, hợp chất đó sẽ phân giải để cho sản phẩm cảu phản ứng và giải phóng enzimnguyên vẹn Enzim được giải phóng lại có thể xúc tác phản ứng với cơ chất mới cùng loại
4 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt tính của enzim
- Nhiệt độ: (GV có thể nêu hiện tượng đổi màu lông ở thỏ Hymalaya)
Tốc độ của phản ứng enzim chịu ảnh hưởng của nhiệt độ Khi chưa đạt đến nhiệt độ tối ưucủa enzim thì sự gia tăng nhiệt độ sẽ làm tăng tốc độ phản ứng enzim Tuy nhiên, khi đã quanhiệt độ tối ưu của enzim thì sự gia tăng nhiệt độ sẽ làm giảm tốc độ phản ứng và có thểenzim bị mất hoàn toàn hoạt tính
- Chất ức chế enzim:
Một số chất hoá học có thể ức chế hoạt động của enzim nên tế bào khi cần ức chế enzimnào đó cũng có thể tạo ra các chất ức chế đặc hiệu cho enzim ấy Một số chất độc hại từ môitrường như thuốc trừ sâu DDT là những chất ức chế một số enzim quan trọng của hệ thầnkinh người và động vật
II VAI TRÒ CỦA ENZIM TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN HOÁ VẬT CHẤT
Nhờ enzim mà các quá trình sinh hóa trong cơ thể sống xảy ra rất nhạy với tốc độ lớn trongđiều kiện sinh lí bình thường
Tế bào có thể tự điều chỉnh quá trình chuyển hoá vật chất để thích ứng với môi trườngbằng cách điều chỉnh hoạt tính của các loại enzim
Ức chế ngược là kiểu điều hoà trong đó sản phẩm của con đường chuyển hoá quay lại tácđộng như một chất ức chế, làm bất hoạt enzim xúc tác cho phản ứng ở đầu của con đườngchuyển hoá
Khi một enzim nào đó trong tế bào không được tổng hợp hoặc bị bất hoạt thì sẽ bị bệnh rốiloạn chuyển hoá
Enzim là chất xúc tác sinh học có thành phần cơ bản là prôtêin Vai trò của enzim là làmgiảm năng lượng hoạt hoá của các chất tham gia phản ứng, do đó làm tăng tốc độ của phảnứng Mỗi enzim thường chỉ xúc tác cho một hay vài phản ứng Hoạt tính của enzim có thể bịảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như nhiệt độ, pH, nồng độ cơ chất…
Tế bào có thể thông qua việc điều khiển sự tổng hợp các enzim hay ức chế hoặc hoạt hoá cácenzim để điều hoà quá trình chuyển hoá vật chất trong tế bào
Trang 20CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
1 Enzim là gì? Nêu vai trò của enzim trong chuyển hoá vật chất của tế bào
2 Trình bày cơ chế tác dụng của enzim Cho ví dụ minh hoạ
3 Cho ví dụ và giải thích ảnh hưởng của nhiệt độ và độ pH tới hoạt tính của enzim
EM CÓ BIẾT?
Ngày nay, người ta đã biết khoảng 3500 enzim khác nhau …
BÀI 23 HÔ HẤP TẾ BÀO
I KHÁI NIỆM
Hô hấp tế bào là quá trình phân giải các chất hữu cơ thành nhiều sản phẩm trung gianrồi cuối cùng đến CO2 và H2O, đồng thời năng lượng tích luỹ trong các chất hữu cơ được giảiphóng chuyển thành dạng năng lượng dễ sử dụng cho mọi hoạt động của tế bào là ATP Hô hấp tế bào thực chất là một chuỗi các phản ứng ôxi hoá khử sinh học (chuỗi phảnứng enzim) Thông qua chuỗi các phản ứng này, phân tử chất hữu cơ (chủ yếu là glucôzơ)được phân giải dần dần và năng lượng của nó được lấy ra từng phần ở các giai đoạn khácnhau mà không giải phóng ồ ạt ngay một lúc (hình 23.1)
Phương trình tổng quát của quá trình phân giải hoàn toàn một phân tử glucôzơ:
+ năng lượng (ATP + nhiệt năng)
II CÁC GIAI ĐOẠN CHÍNH CỦA HÔ HẤP TẾ BÀO
Quá trình hô hấp tế bào có thể được chia làm 3 giai đoạn: đường phân, chu trình Crep vàchuỗi chuyền electron hô hấp
1 Đường phân
2 Chu trình Crep
Axit piruvic trong tế bào chất được chuyển qua màng kép để vào chất nền của ti thể Tại đây
2 phân tử axit piruvic bị oxi hoá thành 2 axêtyl-côenzimA (C – C – CoA) giải phóng CO2 và
2 NADH Axêtyl – côenzimA đi vào chu trình Crep
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
1 Hô hấp tế bào là gì? Có thể chia làm mấy giai đoạn chính, là những giai đoạn nào? Mỗigiai đoạn của quá trình hô hấp nội bào diễn ra ở đâu?
2 Phân biệt đường phân với chu trình Crep về: vị trí xảy ra, nguyên liệu, sản phẩm tạo ra vànăng lượng
3* Chọn phương án đúng
Tế bào không phân giải CO2 vì:
a) Liên kết đôi của nó quá bền vững b) Nguyên tử cacbon đã bị khử hoàn toànc) Phần lớn năng lượng của điện tử có được đã được giải phóng khi CO2 được hình thànhd) Phân tử CO2 có quá ít nguyên tử e) CO2 có ít điện tử liên kết hơn các hợp chất hữu cơkhác
3 Chuỗi chuyền êlectron hô hấp (hệ vận chuyển điện tử)
Trong giai đoạn này điện tử (êlectron) sẽ được chuyền từ NADH và FADH2 tới ôxi thôngqua một chuỗi các phản ứng ôxi hoá khử kế tiếp nhau Các thành phần của chuỗi hô hấp
Trang 21được định vị trên màng trong của ti thể (hình 24.1) Đây là giai đoạn giải phóng ra nhiềuATP nhất.
4 Sơ đồ tổng quát
III QUÁ TRÌNH PHÂN GIẢI CÁC CHẤT KHÁC
Hô hấp tế bào có ba giai đoạn chính: đường phân, chu trình Crep và chuỗi chuyền êlectron
hô hấp Mỗi giai đoạn đều giải phóng ATP nhưng ở giai đoạn chuỗi chuyền êlectron hô hấp
là giải phóng ra nhiều ATP nhất (34ATP)
Prôtêin phân giải thành axit amin rồi biến đổi thành axêtyl – CoA đi vào chu trình Crep Lipitphân giải thành axit béo và glixêrol rồi biến đổi thành axêtyl – CoA đi vào chu trình Crep
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
1 Phân biệt đường phân và chu trình Crep với chuỗi chuyền êlectron hô hấp về mặt nănglượng ATP Em đã phát hiện ra “điều bí mật” trong mục “Em có biết” ở bài 21 chưa?
(khoảng 55% NL giải phóng từ sự phân giải chất hữu cơ trong TB được tích luỹ trong các hợp chất giàu NL, 45% chuyển thành nhiệt năng Trong khi đó, các quá trình đốt cháy chỉ sử dụng được 25% NL để sinh công).
2 Giải thích tại sao tế bào cơ nếu co liên tục thì sẽ “mỏi” và không thể tiếp tục co được nữa?
3 Trong quá trình phân giải glucôzơ, giai đoạn nào sau đây sản xuất ra hầu hết các phân tửATP?
a) Chu trình Crep b) Chuỗi chuyền êlectron hô hấp c) Đường phân
Trong các hình thức tự dưỡng của sinh vật có hình thức hoá tổng hợp và hình thức quang tổng hợp Hóa tổng hợp là hình thức xuất hiện trước và quang tổng hợp là hình thức tiến hoá cao hơn.
BÀI 25 + 26 HOÁ TỔNG HỢP VÀ QUANG TỔNG HỢP
I HOÁ TỔNG HỢP
1 Khái niệm
Khi xuất hiện các loại vi sinh vật hoá tự dưỡng đầu tiên, chúng đã đồng hoá nhờ nănglượng của các phản ứng ôxi hoá để tổng hợp thành các chất hữu cơ khác nhau của cơ thể Đó
là con đường hoá tổng hợp
Phương trình tổng quát của hoá tổng hợp:
(Trong đó: năng lượng do các phản ứng ôxi hoá khử tạo ra; là chất cho hiđrô)
2 Các nhóm vi khuẩn hoá tổng hợp
a) Nhóm vi khuẩn lấy năng lượng từ các hợp chất chứa lưu huỳnh
Đây là nhóm vi khuẩn có khả năng ôxi hoá tạo ra năng lượng rồi sử dụng một phần nhỏnăng lượng đó để tổng hợp chất hữu cơ:
Trang 22* Hãy xác định phương trình hoá tổng hợp của vi khuẩn lưu huỳnh
Hoạt động của nhóm vi khuẩn này đã góp phần làm sạch môi trường nước
b) Nhóm vi khuẩn lấy năng lượng từ các hợp chất chứa nitơ
Nhóm vi khuẩn tự dưỡng này đông nhất và gồm 2 nhóm nhỏ:
- Các vi khuẩn nitrit hoá (như Nitrosomonas): ôxi hoá thành axit nitrơ để lấy nănglượng
c) Nhóm vi khuẩn lấy năng lượng từ các hợp chất chứa sắt
Vi khuẩn sắt lấy năng lượng từ phản ứng ôxi hoá sắt hoá trị 2 thành sắt hoá trị 3:
2 Sắc tố quang hợp
* Thế nào là sắc tố quang hợp? Trong tự nhiên, lá cây có màu gì?
Trong thực vật và tảo thường có ba loại sắc tố: clorophyl (chất diệp lục), carôtenôit (sắc tốvàng, da cam hay tím đỏ) và phicôbilin ở tảo (TV bậc thấp) Vi khuẩn quang hợp chỉ cóclorophyl
* Sắc tố quang hợp có vai trò gì trong quá trình quang hợp?
Cây xanh quang hợp được là nhờ có các sắc tố quang hợp mà chủ yếu là clorophyl (chất
diệp lục) chứa trong các lục lạp của tế bào Vai trò của diệp lục là hấp thu quang năng Nhờ
Trang 23năng lượng đó mà các phản ứng quang hợp diễn ra Chất diệp lục có khả năng hấp thu ánhsáng có chọn lọc, có khả năng cảm quang và tham gia trực tiếp trong các phản ứng quanghoá Các sắc tố phụ hấp thu được khoảng 10% - 20% tổng năng lượng do lá cây hấp thuđược Khi cường độ ánh sáng quá cao, các sắc tố phụ có tác dụng bảo vệ chất diệp lục khỏi bịphân huỷ.
Thí nghiệm:
Từ năm 1883 nhà khoa học người Đức, Ăngghenman (Enghenman) đã thấy loại vi khuẩn
hiếu khí Pseudomonas tập trung nhiều ở miền ánh sáng đỏ và xanh tím của quang phổ; đó làvùng quang phổ mà tảo Cladophora và tảo Spirogyra thoát nhiều ôxi
* Từ thí nghiệm trên rút ra nhận xét gi?
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
1 Hoá tổng hợp là gì? Viết phương trình tổng quát về hoá tổng hợp
2 Điểm khác nhau trong con đường tổng hợp chất hữu cơ ở các nhóm vi khuẩn hoá tổng hợp
là gì?
3 Quang hợp là gì? Viết phương trình tổng quát của quang hợp
4 Thế nào là sắc tố quang hợp? Tại sao mỗi cơ thể quang hợp lại có nhiều loại sắc tố quanghợp khác nhau mà không phải chỉ có một loại duy nhất?
có hai pha: pha sáng và pha tối
b) Pha sáng của quang hợp (pha cần ánh sáng)
Pha sáng xảy ra ở cấu trúc hạt (grana) của lục lạp, trong các túi dẹp (màng tilacôit) Trongpha sáng của quang hợp đã diễn ra các biến đổi quang lí (diệp lục hấp thu năng lượng củaánh sáng trở thành dạng kích động êlectron) và các biến đổi quang hoá, diệp lục ở trạng tháikích động chuyền năng lượng cho các chất nhận để thực hiện ba quá trình quan trọng làquang phân li nước, hình thành chất có tính khử mạnh (NADPH ở thực vật hoặc NADH ở vikhuẩn quang hợp) và tổng hợp ATP
c) Pha tối của quang hợp
Các phản ứng tối (không cần ánh sáng) được xúc tác bởi một chuỗi các enzim có trong chấtnền (strôma) của lục lạp ở cây xanh và tảo hoặc trong tế bào của vi khuẩn quang hợp Các cơthể quang hợp sử dụng ATP và NADPH (hay NADH) do pha sáng tạo ra để tổng hợpcacbohiđrat từ khí CO2 của khí quyển
Từ glucôzơ thông qua quá trình hô hấp sẽ tạo ra các axit hữu cơ, từ đó tổng hợp nên cáchợp chất khác (prôtêin, lipit…)
Ngoài con đường tổng hợp chất hữu cơ như đã nêu trên, ở các thực vật vùng sa mạc hayvùng nhiệt đới còn có những con đường khác
III MỐI LIÊN QUAN GIỮA HÔ HẤP VÀ QUANG HỢP
Quá trình quang hợp có thể chia làm hai pha: Pha sáng xảy ra tại các hạt (grana) của lục lạp
và pha tối xảy ra trong chất nền (cơ chất) của lục lạp Thông qua pha sáng, năng lượng ánhsáng được chuyển thành năng lượng ATP và NADPH cung cấp cho pha tối; quá trình quangphân li nước trong pha sáng giải phóng ôxi Trong pha tối, bị khử thành các sản phẩmhữu cơ
Trang 24CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
1 Nêu mối liên quan giữa hai pha của quang hợp
2* Ôxi được sinh ra trong quang hợp nhờ quá trình nào? Từ nơi được tạo ra, ôxi phải đi quamấy lớp màng để ra khỏi tế bào?
3 Mô tả pha tối của quang hợp? Tại sao gọi pha tối của quang hợp là chu trình cố định
1 Pha sáng của quang hợp diễn ra ở a) … cường độ quang hợp khác nhau
2 Các sắc tố quang hợp có nhiệm vụ b) … tổng hợp glucôzơ
3 Ôxi được tạo ra trong quang hợp từ c) … túi dẹp (màng tilacôit)
4 Pha tối của quang hợp diễn ra ở d) … hấp thu năng lượng ánh sáng
5 Cùng một giống cây trồng ở những điều
kiện khác nhau có thể có
e) … quá trình quang phân li nước
f) … quá trình cố định g) … cơ chất của lục lạp (strôma)
I SƠ LƯỢC VỀ CHU KÌ TẾ BÀO
1 Khái niệm về chu kì tế bào
Trình tự nhất định các sự kiện mà tế bào trải qua và lặp lại có tính chất chu kì qua các lầnnguyên phân liên tiếp
2 Kì trung gian
+ Pha G1 (Gaf 1)
+ Pha S (sylthesis) tiếp ngay sau pha G1 nếu tế bào vượt qua được điểm R
+ Pha G2 tiếp ngay sau pha S, tiếp tục tổng hợp prôtêin (tubulin) có vai trò đối với sự hìnhthành thoi phân bào
II CÁC HÌNH THỨC PHÂN BÀO
Chú ý các thuật ngữ chuẩn: Mitose; amitose
I QUÁ TRÌNH NGUYÊN PHÂN
Khi tế bào ở kì trung gian, sự tái bản của ADN dẫn đến sự nhân đôi của nhiễm sắc thể đượcdiễn ra ở trong nhân Khi kết thúc kì này, tế bào tiến hành nguyên phân Trong quá trìnhnguyên phân diễn ra sự phân chia nhân và phân chia tế bào chất
1 Sự phân chia nhân
Sự phân chia nhân tế bào diễn ra qua 4 kì: kì đầu (kì trước), kì giữa, kì sau và kì cuối Quátrình phân chia nhân có những diễn biến cơ bản sau đây:
Khi bắt đầu nguyên phân, hai trung tử phân li về hai cực tế bào và cùng với sao phân bào(ở tế bào động vật) bao gồm các sợi toả ra mọi hướng từ xung quanh trung tử là những bộphận cơ bản của trung tâm phân bào Các sợi cực được hình thành và kéo dài nối liền hai sao
(cùng với các sợi tâm động) tạo thành thoi phân bào Tế bào thực vật bậc cao không thấy
trung tử nhưng nó vẫn có vùng đặc trách hình thành thoi phân bào
2 Phân chia tế bào chất: bắt đầu từ cuối kì sau hoặc đầu kì cuối.
Trang 25a) Tế bào động vật
b) Tế bào thực vật
Trong thực tế sự phân chia nhân và tế bào chất là hai quá trình liên tục đan xen lẫn nhau
EM CÓ BIẾT?
VÌ SAO TỪ MỘT TẾ BÀO CÓ THỂ PHÁT TRIỂN THÀNH MỘT CÂY?
Câu chuyện tưởng tượng về Tôn Ngộ Không nhổ một nắm lông hà hơi vào là biến thànhđàn khi lại trở thành sự thật trong nuôi cấy tế bào thực vật Các nhà khoa học có thể nuôi cấymột tế bào tách từ một cây để phát triển thành một cơ thể giống như cây đó
Một tế bào tách ra khỏi cây, trong điều kiện môi trường thích hợp, có thể nguyên phânthành hai tế bào, sau đó lại không ngừng nguyên phân tạo thành một khối tế bào, đồng thờidiễn ra sự phân hoá tạo ra các tổ chức khác nhau hình thành các bộ phận rễ, mầm… dần dầnphát triển thành một cây hoàn chỉnh
Các tế bào của cây đều mang thông tin di truyền như nhau chủ yếu được lưu giữ trong ADN
ở nhiễm sắc thể, từ đó kiểm soát và điều khiển toàn bộ quá trình sinh trưởng và phát triển từ
tế bào tạo thành cây hoàn chỉnh như khi nào ra rễ hay nảy mầm, khi nào ra hoa hay kết quả,
có đặc tính sinh lí, hình thái và giải phẫu ra sao…
Bài 30 GIẢM PHÂN
I NHỮNG DIỄN BIẾN CƠ BẢN CỦA GIẢM PHÂN
Giảm phân là hình thức phân bào diễn ra ở tế bào sinh dục chín, gồm 2 lần phân bào liên tiếpnhưng nhiễm sắc thể chỉ nhân đôi có một lần ở kì trung gian trước lần phân bào I (giảm phânI) Lần phân bào II (giảm phân II) diễn ra sau một kì trung gian rất ngắn
1 Giảm phân I
+ Ở kì đầu, các nhiễm sắc thể kép xoắn, co ngắn, đính vào màng nhân sắp xếp định hướng.Sau đó diễn ra sự tiếp hợp cặp đôi của các nhiễm sắc thể kép tương đồng suốt theo chiều dọc
và có thể diễn ra sự trao đổi chéo giữa các nhiễm sắc tử không phải là chị em
+ Đến kì giữa, từng cặp nhiễm sắc thể kép tương đồng tập trung và xếp song song ở mặt
phẳng xích đạo của thoi phân bào (?! Tính ngẫu nhiên của sự sắp xếp các NST trong
từng cặp)
+ Ở kì sau, các cặp nhiễm sắc thể kép tương đồng phân li độc lập về hai cực tế bào
+ Tiếp đến kì cuối, hai nhân mới được tạo thành đều chứa bộ đơn bội kép (n nhiễm sắc thểkép),
nghĩa là có số lượng bằng một nửa của tế bào mẹ Sự phân chia tế bào chất diễn ra hình thànhhai tế bào con tuy đều chứa bộ n nhiễm sắc thể kép, nhưng lại khác nhau về nguồn gốc thậmchí cả cấu trúc (nếu sự trao đổi chéo xảy ra)
* Sau kì cuối giảm phân I là kì trung gian diễn ra rất nhanh, trong thời điểm này không xảy
ra sao chép ADN và nhân đôi nhiễm sắc thể, mà có sự nhân đôi trung thể
2 Giảm phân II
II Ý NGHĨA CỦA GIẢM PHÂN
- Nhờ có giảm phân, giao tử được tạo thành mang bộ nhiễm sắc thể đơn bội (n) và qua thụtinh giữa giao tử đực và cái mà bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội (2n) được phục hồi
- Sự phân li độc lập và trao đổi chéo đều của các cặp nhiễm sắc thể tương đồng trong giảmphân đã tạo ra nhiều loại giao tử khác nhau về nguồn gốc, cấu trúc nhiễm sắc thể cùng với sựkết hợp ngẫu nhiên của các loại giao tử qua thụ tinh đã tạo ra các hợp tử mang những tổ hợpnhiễm sắc thể khác nhau Đây chính là cơ sở tế bào học để giải thích nguyên nhân tạo ra sự
Trang 26đa dạng về kiểu gen và kiểu hình đưa đến sự xuất hiện nguồn biến dị tổ hợp phong phú ởnhững loài sinh sản hữu tính
- Giảm phân là cơ chế hình thành tế bào sinh dục,
mô đó sang môi trường nuôi dưỡng có tác dụng phân hoá, nó sẽ phân hoá thành rễ và mầm,trở thành một cây non; chuyển sang đất trồng, cây non tiếp tục sinh trưởng đến khi thành mộtcây hoàn chỉnh
B- PHƯƠNG HƯỚNG GIẢNG DẠY CHUNG PHẦN SINH HỌC TẾ BÀO :
+ Khuyến khích dùng giáo án điện tử
Phần sinh học tế bào có rất nhiều sơ đồ, hình vẽ, phim động về các cấu trúc và các cơ chế vi
mô của tế bào Đây là phần kiến thức có tính trừu tượng cao Theo qui luật nhận thức thìphần này phải có sự kết hợp các phương pháp trực quan với các phương pháp thích hợp khác Khi soạn và sử dụng giáo án điện tử cần đảm bảo các nguyên tắc chung của quá trình dạyhọc Đặc biệt lưu ý là phải khắc sâu được kiến thức cơ bản, bám sát các lệnh và các câu hỏicuối bài, xem đó là mục tiêu cần đạt được của bài dạy Tránh tình trạng chiếu hình, phimkhông chọn lọc làm loãng kiến thức, HS không nắm được nội dung chính của bài
Nên nhớ rằng máy chiếu và hệ thống hình ảnh, phim chỉ là phương tiện dạy học chứ không phải là phương pháp dạy học.
+ Triệt để khai thác các lệnh và câu hỏi cuối mỗi bài trong sách giáo khoa vào việc đặt vấn đề cho từng phần trong bài.
Phần nhiều lệnh trong từng bài có thể sử dụng như là các vấn đề cần đặt ra và hướng dẫn
Giải quyết về cấu tạo chung của axit amin
- Lệnh 2: * Tại sao chúng ta cần ăn nhiều loại thức ăn khác nhau?
Giải quyết nội dung: prôtêin có cấu trúc đa phân từ nhiều (20) loại đơn phân
khác nhau
- Lệnh 3: * Căn cứ vào đâu ta có thể phân biệt được các bậc cấu trúc của prôtêin?
Trang 27Giải quyết được sự khác nhau bản chất giữa các cấu trúc của prôtêin Đặc điểm
cấu tạo hoá học của các axitamin có trong chuỗi pôlipeptit bậc I quyết định sự hình thành bậccấu trúc không gian của prôtêin
- Câu hỏi 1 cuối bài: Viết công thức tổng quát của axit amin Phân biệt các thuật ngữ: axit amin, pôlipeptit và prôtêin.
Giải quyết: chuỗi pôlipeptit chính là cấu trúc bậc I; nó là cơ sở của cấu trúc bậccao hơn
Prôtêin là thuật ngữ chung để chỉ bất kì loại prôtêin nào
*Bài 16 Hô hấp tế bào (ban CB)
+ Luôn có sự liên hệ giữa cấu trúc và chức năng của các phân tử sinh học, các bào quan.
Đây là hướng rất quan trọng khi dạy các bài thuộc chương I và chương II
+ Chắt lọc thông tin trong mục “em có biết”.
Trang 28NHỮNG ĐIỀU CẦN LƯU TÂM TRONG DẠY HỌC
Nguyễn Lương Phùng THPT chuyên Phan Bội Châu
A KINH NGHIỆM CHƯA BAO GIỜ CŨ
Không chỉ học sinh phổ thông mà ngay cả sinh viên đại học vẫn bắt gặp những điều tương
tự Ở một lớp sinh viên năm thứ nhất sau một buổi thầy giáo lên lớp về chuyên đề toán giảitích thuộc chương trình toán cao cấp, buổi chiều học sinh làm bài tập ở nhà Hầu hết các bạntrong lớp nhanh chóng đọc đề và bắt tay vào giải, chỉ một vài người bắt đầu bằng việc nghiêncứu lại bài giảng trong sách giáo khoa, đọc lí thuyết, tìm hiểu các bài giải mẫu sau đó mớitìm lời giải cho các bài tập Kết quả những người này giải quyết được các nội dung tương đốinhẹ nhàng còn những người khác đều gặp nhiều vướng mắc, khó khăn
Có trường hợp một học sinh giỏi cấp quốc gia môn toán lại đạt điểm 4 môn toán trong kìthi tốt nghiệp Cũng đã có đội tuyển dự thi học sinh giỏi quốc gia được đánh giá cao, đượcnhiều người kì vọng lại có kết quả thi làm cho các thầy và học sinh không thật hài lòng Điềugiải thích là đề thi đã hạ độ khó và gần với cơ bản hơn trước làm các em lúng túng trong xử
lí Một thầy giáo dạy bồi dưỡng cho biết rằng, nếu đề thi ở mức cao hơn thì các em sẽ làm tốt
vì các em đã được chuẩn bị rất kĩ để xử lí các tình huống như vậy
Trong một dịp dạy bồi dưỡng đội tuyển của tỉnh chuẩn bị cho kì thi học sinh giỏi quốc gia.Buổi đầu gặp gỡ tôi giới thiệu với các em học sinh nội dung buổi học hôm nay là trả lời vàgiải một số câu hỏi và bài tập trong sách giáo khoa Nghe thông báo trên nét mặt học sinh lộ
rõ sự không hài lòng, vì đến nay các em đã được được chuẩn bị rất kĩ càng, nghiên cứunhiều tài liệu kể cả chương trình của hệ đại học, cái mà các em mong đợi ở thầy dạy bồidưỡng là những điều mới lạ bổ sung cho vốn kiến thức đã rất phong phú Mặc dù vậy các emcũng phải theo sự hướng dẫn của thầy Thật ngạc nhiên đội tuyển học sinh giỏi quốc gia lạiphải nhọc nhằn, lúng túng với những điều mà bất kì một học sinh bình thường nào cũng phảigiải quyết đó là trả lời câu hỏi và giải bài tập trong sách giáo khoa Về sau tôi có dịp nêuđiều này với thầy giáo ở các bộ môn khác, họ cũng cho hay, trong quá trình dạy bồi dưỡnghọc sinh giỏi, một số em trong đội tuyển, thậm chí kể cả em giỏi nhất cũng đành hạ bút bótay trước một số bài tập trong sách giáo khoa
Đã có lần một thầy giáo đại học được mời dạy đội tuyển dự thi học sinh giỏi quốc gia Sau
kì thi chúng tôi tìm hiểu qua học sinh về các nội dung giảng dạy của thầy Học sinh cho biết,trong quá trình học tập các em được biết thêm rất nhiều điều mới lạ , sâu sắc nhưng tiếc thaynhững điều đó lại không giúp ích gì cho kì thi Thế mới biết, vấn đề không phải riêng ai
II KINH NGHIỆM CHƯA BAO GIỜ CŨ
Có thầy giáo đã kể lại việc học của con trai trong dịp hè lớp 8 Người con học ở lớp năngkhiếu toán cấp 2 Tìm hiểu việc học qua bạn bè mới vỡ lẽ con mình đăng kí học bồi dưỡngxin chuyển từ lớp khá sang lớp trung bình Thật ngạc nhiên, cháu học lớp năng khiếu với cácthầy cô giáo giỏi, mỗi tuần bồi dưỡng ở trường 2 buổi, ngoài ra còn 3 buổi nữa ở thầy giáođược đánh giá là dạy giỏi nhất huyện thế mà phải thừa nhận học yếu, thật là lạ Vốn khôngphải là thầy giáo dạy toán song người bố đã quyết định, hè này con không tham gia các lớp
Trang 29bồi dưỡng mà sẽ học với bố Việc ôn tập được bắt đầu từ lớp 5 Thực tế người bố khônggiảng dạy mà hai bố con cùng học Cứ xong mỗi bài, người con phải trình bày cặn kẽ cácđiều trong sách giáo khoa, thuộc lòng các kiến thức cốt lõi như các khái niệm, tính chất, định
lí, công thức, cách chứng minh …bước tiếp theo trả lời câu hỏi và trình bày cách giải tất cảcác bài tập trong sách giáo khoa, kể cả những bài dễ nhất, người bố bình tĩnh lắng nghe cho ýkiến nhận xét, sữa lỗi, gỡ rối khi cần thiết Sau khi đã giải quyết được các vấn đề trong sáchgiáo khoa tiếp đến là các câu hỏi và bài tập trong cuốn bài tập đi kèm của nhà xuất bản giáodục Làm xong điều này người con được tự học và giải các bài tập trong tài liệu nâng cao.Dần dần người bố đã nhận ra rằng, con mình không phải năng lực yếu Ba tháng hè lớp 8 hai
bố con trao đổi từng khái niệm, câu hỏi, bài tập đã ôn xong chương trình các lớp cũ và hoànthành chương trình năm học tới – chương trình lớp 9 của 4 môn học : toán, lí, hóa, sinh Vàonăm học mới cô giáo và bạn bè vô cùng ngạc nhiên về một học sinh, kết thúc năm lớp 8 họctrung bình sau 3 tháng hè trở thành học sinh giỏi cả 4 môn khoa học tự nhiên và sau đó làhọc sinh giỏi lớp 9 của tỉnh Nghệ An Thế mới biết cách dạy, cách học quan trọng biếtnhường nào
Bản thân tôi đã được dự rất nhiều các cuộc trao đổi kinh nghiệm giảng dạy của các nhàgiáo, kinh nghiệm học tập của học sinh đối với việc học bình thường hàng ngày, của học sinhđạt thủ khoa đại học, đạt học sinh giỏi quốc gia, quốc tế Có nhiều giải pháp hay nâng caohiệu quả giảng dạy và học tập được nêu ra Để ý theo dõi tôi nhận thấy các báo cáo mặc dù
có nét riêng song đều có điểm chung và cũng là điều được xem là kinh nghiệm quý nhất chomọi đối tượng học sinh kể cả học sinh giỏi quốc gia, quốc tế đó là hãy dạy và học kĩ kiếnthức cơ bản trước khi đi tới chân trời bao la của kiến thức nhân loại
Quả là, việc dạy và học kĩ kiến thức cơ bản - một kinh nghiệm rất giản dị nhưng chưa baogiờ cũ
* * * * *
B TINH GIẢN, VỮNG CHẮC YÊU CẦU BỨC THIẾT CỦA QUÁ TRÌNH DẠY HỌC
I MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CHUNG
Việc thực hiện quá dạy học theo tinh thần tinh giản, vững chắc là một yêu cầu bức thiếttrong quá trình dạy học trước đây đặc biệt là hiện nay Tuy nhiên làm được điều đó không dễchút nào Điều này liên quan đến rất nhiều hoạt động trong giảng dạy, đòi hỏi người thầyphải dành nhiều công sức nghiên cứu, tìm tòi, rút kinh nghiệm thì mới dần dần thành công Chúng ta biết rằng học sinh phải tiếp nhận và xử lí thông tin của trên mười môn học, mỗibuổi học chính khoá 5 tiết, ngoài ra thời gian tham gia học luyện thi rất nhiều Học sinh hầunhư không có thời gian tự học lại, ôn lại kiến thức, đặc biệt là các môn không liên quan đếnthi đại học của từng em Thế là học sinh chỉ nhớ được một số điều qua tiết học trên lớp Rõràng nếu người thầy không chịu đối diện với thực tế, tiến hành giờ dạy một cách siêu hình,tham kiến thức, yêu cầu quá nhiều, giờ giảng ôm đồm, nặng nề sẽ tạo ra sự mệt mỏi, ức chếcủa học sinh thì những cố gắng, những điều cao siêu, những lý luận sắc sảo mà thầy giáovừa nói trong giờ dạy sẽ không có chỗ trong đầu học sinh Học sinh không hào hứng đón chờtiết dạy của thầy, vì thế những công sức những trăn trở, tâm huyết của người thầy sẽ đi vàochốn hư không
Thực tế cho thấy không ít người hiểu được sự cần thiết phải dạy học theo tinh thần tinhgiản, vững chắc song lại thể hiện không đúng với yêu cầu của nó Để tinh giản giờ dạy đượctiến hành một cách sơ sài, bỏ bớt kiến thức kể cả kiến thức cốt lõi Những hiểu biết đọng lại
Trang 30trong vở ghi và nhận thức của học sinh rất đơn sơ, vụn vặt, những mẫu câu cụt lủn, không cótính hệ thống Thật là nhầm lẫn.
Điều đó cho thấy thực hiện các tiết dạy theo tinh thần tinh giản và vững chắc là yêu cầubức thiết của quá trình dạy học Tuy nhiên để thực hiện được điều này một cách hiệu quả lạiđòi hỏi người thầy rất nhiều thời gian nghiên cứu, soạn bài, hiểu sâu biết rộng, sự linh hoạtsắc sảo, tính kiên trì và tâm huyết với nghề
Để thể hiện một tiết dạy theo tinh thần tinh giản và vững chắc cần phải lưu tâm một số điềusau:
- Xác định đúng mục tiêu, kiến thức cốt lõi của từng bài, từng phần
- Những điều cần đọng lại trong vở ghi của học sinh
- Nội dung cần có sự phối làm việc giữa thầy trò
- Những nội dung chỉ cần trình bày lướt qua hoặc học sinh tự đọc tại lớp
- Nội dung kiến thức cần vận dụng, luyện tập tại lớp
1 Xác định mục tiêu của bài
Mục tiêu là đích cần đạt được của bài dạy Điều này được cụ thể bằng các kiến thức cốt lõi Kiến thức cốt lõi là những kiến thức cần thiết, tối thiểu, cô đọng nhất người học cần có, làcác mắt xích gắn bó hữu cơ trong hệ thống kiến thức của chương trình
Từ những kiến thức cốt lõi tuỳ vào yêu cầu của từng người học mà chủ yếu chỉ cần ở mức
đó, hay mở rộng và hiểu sâu thêm qua con đường tự học, qua các lớp bồi dưỡng
Việc xác định mục tiêu, kiến thức cốt lõi của bài học tưởng là đơn giản nhưng thực tếkhông dễ thành công Nhiều người cho rằng, cứ khai thác, làm rõ tất cả những điều trình bàytrong bài học là được Quan niệm này thể hiện trong nhận thức còn có sự hạn chế Vì nếu thế
sẽ dẫn tới giờ dạy rất ôm đồm, nặng nề, học sinh và người thầy phải làm việc căng ra Ngườithầy thường đi tới nhận xét, nội dung kiến thức quá nhiều, làm việc vất vả và thời gian cầncho thực hiện tiết dạy quá ít Giờ dạy như thế để lại dấu ấn mờ nhạt và sẽ đi vào sự quyênlãng nhanh chóng Những giờ dạy đó tạo cho học sinh một dấu ấn nặng nề, sự ức chế vàkhông hào hứng chào đón giờ dạy tiếp theo của thầy
Có ý kiến cho rằng cứ theo đúng hướng dẫn trong sách giáo viên đi kèm là đạt được mụctiêu bài dạy Nếu thế điều này cũng dễ đi tới kết cục như nói ở trên, bởi vì những yêu cầunêu trong sách giáo viên là cho đối tượng người học lý tưởng, toàn tâm, toàn ý dành nhiềugian cho môn học, ngoài ra còn phải ôn luyện, vừa học tại lớp vừa nghiên cứu học hỏi ở nhàthì may ra mới thực hiện được điều đó Thực tế cho thấy ngày nay những môn học nào màcác em học sinh không có nhu cầu thi đại học thì những điều đó chỉ có thể có được tronggiấc mơ của những người thầy giàu cảm xúc
Để xác định được kiến thức cốt lõi cần dựa vào nội dung, vị trí của bài học trong chương,trong toàn bộ hệ thống chương trình, dựa vào hướng dẫn của sách giáo viên, những điều cầnghi nhớ, câu hỏi cuối bài, và cũng cần dựa vào đối tượng và yêu cầu người học
2 Những điều cần đọng lại trong vở ghi của học sinh:
Đây chính là những kiến thức cốt lõi tối thiểu của bài, lời văn phải ngắn gọn, súc tích, đảmbảo được yêu cầu văn phạm, học sinh dễ học, dễ nhớ Đương nhiên việc học và ôn tập phảikết hợp vở ghi và sách giáo khoa mà mỗi học sinh đều có Chúng ta biết rằng, đối với nhữngmôn mà không có nhu cầu thi đại học, học sinh hầu như chỉ học được những điều có đượctrong vở ghi Không thể nói vở ghi chỉ cần các mục, một số ý sơ lược còn chủ yếu học sinhphải học theo sách giáo khoa Đó chỉ là những suy nghĩ có tính chất sách vở và giáo điều, bởi
lẽ không phải tất cả nội dung trong sách giáo khoa học sinh đều phải nhớ Mặt khác đọc sáchgiáo khoa và tự tách ra được các kiến thức cốt lõi cần ghi nhớ là không tưởng đối với đa sốhọc sinh
Trang 31Để có nội dung đọng lại trong vở ghi của học sinh đạt yêu cầu đang còn cần có nhiều traođổi Những điều kiêng kị như đọc cho học sinh chép hoặc giảng giải xong giáo viên quay lạighi bảng để cho học sinh nhìn chép Có người cho rằng, thầy giáo cứ tập trung vào việcgiảng bài còn học sinh phải tự biết lấy các kiến thức cần thiết để ghi chép, đó chỉ là nhữngsuy nghĩ đầy chất lãng mạn Yêu cầu của vấn đề này là phải kết hợp một cách hài hoà giữa sựtrả lời của học trò, lời giảng và ghi bảng của thầy định hướng cho viêc ghi chép của học trò.
Để làm tốt việc này quả cũng cần có thời gian để ý, lưu tâm vận dụng, rút kinh nghiệm thìkết quả sẽ mới ngày càng tốt được
Có một những giờ dạy thầy giáo chuẩn bị công phu, giờ giảng rất sinh động, học sinh họctập hào hứng, song trong vở ghi lại rất sơ sài, chủ yếu là các mục bài, một số ý nào đó Thế làbài giảng dần dần đi vào quên lãng còn học trò cần ôn bài biết dựa vào đâu? vở ghi ư, sơ sàiquá, sách giáo khoa ư, dài dòng quá chúng em phải học hàng chục môn lấy thời gian đâu? Nói thế để thấy rằng, những điều để lại trong vở ghi của học sinh là rất quan trọng, mỗingười thầy phải lưu tâm
3 Những nội dung kiến thức cần có sự phối hợp làm việc giữa thầy và trò:
Những hoạt động phối hợp giữa thầy và trò để khám phá kiến thức chủ yếu tập trung vàocác nội dung liên quan trực tiếp đến các kiến thức cốt lõi của bài, điều này có tác dụng quantrọng đối với việc làm cho giờ dạy tinh giản, vững chắc Một điều đáng lưu ý là, nhiều khicác nội dung không phải trọng tâm lại dễ đưa ra các ví dụ minh hoạ, các câu hỏi để dẫn dắthọc sinh tìm hiểu kiến thức đã làm cho người dạy dễ sa đà vào đó gây tốn phí thời gian mộtcách không cần thiết, từ đó dẫn tới thời gian dành cho nội dung trọng tâm eo hẹp, việc khắchoạ kiến thức ở đây trở nên khó khăn, không vững chắc, giờ giảng ôm đồm và nặng nề
Sự phối hợp hoạt động giữa thầy và trò chủ yếu thực hiện thông qua các câu hỏi Dưới sựdẫn dắt của thầy, học sinh dần dần tìm hiểu, khám phá kiến thức Điều này vừa phát huy tínhtích cực của học sinh vừa làm cho giờ dạy trở nên hào hứng và sinh động Điểm cốt lõi làxây dựng được nội dung kiến thức thành hệ thống các tình huống có vấn đề để kích thích tưduy và định hướng quá trình nhận thức Mức độ thành công của yêu cầu được quyết định bởichất lượng câu hỏi và nghệ thuật của người thầy dẫn dắt học sinh giải quyết vấn đề Việc xâydựng các câu hỏi có giá trị phát huy tính tích cực của học sinh mặc dù được đặt ra từ rất lâunhưng đến nay vẫn còn là một câu chuyện dài
Có nhiều cách sử dụng câu hỏi cần tránh và hạn chế:
- Câu hỏi không định hướng, đó là những câu hỏi mập mờ, không thể hiện rõ ràng nhữngđiều cần hỏi, làm cho học sinh lúng túng mất nhiều thời gian suy nghĩ không hiểu được thầyđịnh hỏi điều gì, kết quả là không trả lời được hoặc đoán mò
- Câu hỏi lớn, nội dung trả lời gồm nhiều ý song không có hệ thống câu hỏi gợi mở, dẫndắt đi kèm cũng khó trả lời đạt yêu cầu hoặc không trả lời được
- Câu hỏi vụn vặt, đơn giản không có giá trị phát huy hoạt động tư duy hoặc chỉ cần trả lờinhư, có ạ, không ạ sẽ làm cho sự phối hợp hoạt động giữa thầy và trò được thực hiện mộtcách nhạt nhẽo
- Câu hỏi mà nội dung trả lời có sẵn trong sách giáo khoa, học sinh không cần tư duy, chỉtìm kiếm xem nội dung mà thầy hỏi có ở vị trí nào rồi đọc đúng là đạt yêu cầu Kiểu dạngcâu hỏi này mang lại những hậu quả tai hại, rèn cho học sinh cách học lười nhác, hời hợt vàdần dần rời xa những hoạt động có tính chất tích cực, độc lập Từ đó hình thành thói quen, cứmỗi lần thầy giáo đưa câu hỏi học sinh không động não gì mà nhanh chóng giở sách giáokhoa tìm xem câu trả lời có ở đâu Đáng lưu ý là hình như nhiều giáo viên và học sinh ưadùng loại câu hỏi này vì thấy sự phối hợp hoạt động giữa thầy và trò thật nhịp nhàng, đơngiản, khoẻ khoắn, mất ít thời gian soạn bài, thậm chí không soạn bài, đến giờ lên lớp thầy vàtrò giở sách ra cùng xem, thầy nhìn vào sách để hỏi, trò nhìn vào sách để tìm nội dung trả lời
Trang 32năng hoạt động độc lập, ngại động não, lười tư duy, luôn trông chờ vào những thứ có trongsách giáo khoa, những câu trả lời, những bài tập giải sẵn của thầy vì thế thời gian nghe giảngthật nhiều nhưng vốn tri thức có được vẫn ít, vì đó là kết quả của những quá trình nghe nhìn
và ghi nhớ chứ chủ yếu không phải là kết quả của sự tư duy
- Một xu hướng cũng cần nên tránh là đưa ra quá nhiều câu hỏi Điều này dễ tạo ra các câuhỏi ít có giá trị và làm cho bài giảng nát vụn ra, mất tính hệ thống, làm học sinh mệt mỏi, mấtnhiều thời gian không cần thiết
4 Những nội dung kiến thức chỉ cần trình bày lướt qua hoặc học sinh tự đọc tại lớp
Đó là những nội dung không phải kiến thức cốt lõi, đơn giản, học sinh dễ dàng tiếp thu vàđọc hiểu Để cho việc đọc hiệu quả, giáo viên nên đưa ra các câu hỏi định hướng những điềucần thu lượm Ví dụ như: khi đọc phần này các em cần trả lời được các câu hỏi sau
Như đã trình bày ở trên, nhiều khi những nội dung không phải là kiến thức trọng tâm lại dễtrình bày, dễ đặt câu hỏi, có nhiều ví dụ minh hoạ, nếu chúng ta sa đà say sưa trình bày sẽlàm mất nhiều thời gian không cần thiết, làm eo hẹp thời gian dành cho khu vực khám phá,tìm hiểu các kiến thức trọng tâm Từ đó yêu cầu khắc sâu các kiến thức cốt lõi sẽ không đạtđược
5 Những nội dung kiến thức cần vận dụng luyện tập tại lớp
Thường được thực hiện cuối tiết học nhằm cũng cố, khắc sâu các kiến thức cốt lõi của bàithông qua một số câu hỏi và bài tập ngắn gọn, súc tích
Một số người cũng cố bài học bằng cách nhắc lại vắn tắt hoặc hệ thống lại toàn bộ các kiếnthức có trong bài Điều này không đúng với yêu cầu của việc cũng cố bài học, không đúngvới yêu cầu của việc dạy học theo tinh thần tinh giản, vững chắc, làm cho việc cũng cố kiếnthức ít có ý nghĩa, tạo ít dấu ấn trong nhận thức của học sinh và cũng làm tốn thời gian khôngcần thiết
B KINH NGHIỆM
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIỜ LÊN LỚP
Công tác giảng dạy của giáo viên được thực hiện qua từng tiết lên lớp,bao gồm các nộidung: soạn giáo án, tiến trình giảng dạy và rút kinh nghiệm giờ dạy.Đây là việc làm thườngnhật của mỗi giáo viên, ở mọi cấp học.Đã có nhiều nghiên cứu bàn đến cùng sự thực hiện củahàng triệu thầy cô giáo và dù đã được học lý luận dạy học, dự giờ của các bạn đồng nghiệp,tham gia nhiều cuộc hội thảo song việc thực hiện tốt các tiết học vẫn là điều không dễ dàngđối với những người hàng ngày làm công tác giảng dạy Sau đây là đôi điều tôi nêu lên traođổi cùng các bạn
I SOẠN GIÁO ÁN
Việc soạn giáo án là một yếu tố có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả của giờ dạy và có tínhchất bắt buộc đối với mọi giáo viên trước lúc thực hiện giờ lên lớp Đó là điều hiển nhiên mà
ai cũng biết, thế nhưng vấn đề này vẫn đang còn phải trao đổi thêm.Hiện nay trên trang giáo
án điện tử của mạng Internet của tất cả các môn học đều có các giáo án sẵn và thế là một bộphận giáo viên đã tải về sử dụng, không dành nhiều thời gian nghiên cứu, không trăn trởnhiều cho việc chuẩn bị phương án giảng dạy vì thế hiệu quả của giờ dạy còn không ít hạnchế Mặc dù giáo viên THPT có trình độ Đại học nhưng điều đó không có nghĩa là việc hiểu
và giảng dạy chương trình phổ thông là một việc quá đơn giản Chúng ta đã từng chứng kiến
có những giáo viên gần về hưu nhưng một số điều trình bày trong sách giáo khoa hiểu vẫnkhông thấu đáo Dù sự giao lưu trao đổi giáo án giữa những người làm công tác giảng dạyhiện nay rất thuận lợi thì việc mỗi người tự mình trăn trở xây dựng phương án giảng dạy choriêng mình là điều cực kì quan trọng không ai thay thế được.Tuy nhiên để có một giáo án có
Trang 33chất lượng cũng không phải là điều dễ dàng Sau đây tôi xin được trao đổi thêm về vấn đềnày.
Tiến trình của việc soạn giáo án được thực hiện theo các bước sau:
- Bước 1: đọc kĩ sách giáo khoa, phần tóm tắt cuối bài, câu hỏi và bài tập sách giáo khoa đưa ra:
Tóm tắt chính là những kiến thức cốt lõi , câu hỏi và bài tập là những yêu cầu cơ bản vềkiến thức và kỹ năng của bài cần đạt được
- Bước 2 : xác định mục tiêu, kiến thức trọng tâm, kiến thức cốt lõi của bài:
Có người cho rằng, các kiến thức có trong bài cứ khai thác cho hết, thế là đạt mục tiêu bàihọc Đó chỉ là quan niệm có tính chất đơn giản Thực tế đây là điều rất quan trọng quyết địnhhướng đi của tiết dạy.Nếu xác định đúng bài giảng sẽ trở nên ngắn gọn, tinh giản ,vững chắc,đạt được mục tiêu, nếu xác định không đúng bài giảng sẽ trở nên ôm đồm, dàn trải, các kiếnthức trọng tâm, kiến thức cốt lõi khắc hoạ không rõ nét,phân bố thời gian không hợp lý , mấtnhiều thời gian vào các kiến thức không trọng tâm, không hoàn thành được khối lượng kiếnthức và kỹ năng, không đạt được mục tiêu bài học Vậy làm thế nào để xác định đúng mụctiêu, kiến thức trọng tâm, kiến thức cốt lõi của bài Điều này đòi hỏi người giáo viên phải đọc
kĩ nội dung sách giáo khoa và xác định vị trí của bài trong hệ thống kiến thức của chương,của giáo trình Trong đó tóm tắt sách giáo khoa , câu hỏi và bài tập cuối bài là gợi ý tốt vềkiến thức trọng tâm, kiến thức cốt lõi mà học sinh phải nắm được sau khi học
- Bước 3: đọc tài liệu tham khảo về các nội dung liên quan đến bài giảng:
Sách giáo khoa viết rất cô đọng và súc tích Nếu không dành thời gian thích đáng cho việc
đọc tài liệu tham khảo thì những điều chúng ta trình bày sẽ rất đơn sơ, ít có sức thuyết phục
và dễ mắc phải lỗi về mặt kiến thức, điều này thể hiện rõ trong các trường hợp thầy giáogiảng giải các kiến thức, vận dụng kiến thức vào thực tế Việc đọc các tài liệu tham khảo vềnội dung liên quan đến bài giảng giúp chúng ta hiểu sâu , hiểu thấu đáo các kiến thức, điều
đó làm cho việc trình bày bài giảng được thực hiện một cách tự tin, chính xác, sâu sắc.Tuynhiên, trong giờ giảng chỉ trình bày ở một mức độ nhất định phù hợp với mục tiêu và yêu cầucủa bài , của cấp học Có giáo viên để thể hiện bài giảng sâu bằng cách đưa vào bài giảng quánhiều ví dụ, nhiều kiến thức phức tạp, thậm chí dùng cả kiến thức đại học Điều đó chỉ làmcho bài giảng trở nên ôm đồm gây rối trí, mất thời gian vô ích của học sinh và đương nhiênkhông đạt được mục tiêu của bài học Bài giảng sâu được thể hiện là người thầy làm cho họcsinh hiểu rõ , hiểu đúng, nắm được bản chất của kiến thức, vận dụng được các kiến thức củabài học để trả lời các tình huống lý thuyết, bài tập và thực tiễn đặt ra
Khi soạn bài phải lưu ý đến tính thực tiễn, xác định xem những kiến thức nào của bài cần
có những ví dụ minh hoạ hoặc vận dụng để giải quyết các tình huống lý thuyết, tình huốngthực tiễn và bài tập đặt ra Điều này vừa là yêu cầu của bài giảng vừa làm tăng tính sinh độngcủa giờ dạy Tuy nhiên các dẫn chứng đưa ra chỉ cần vừa đủ, thật sự điển hình, tránh đưa quánhiều làm cho bài giảng ôm đồm, mất thời gian không cần thiết
- Bước 4: lựa chọn phương pháp giảng dạy
Phương pháp giảng dạy cần được vận dụng linh hoạt tuỳ từng nội dung cụ thể của bài Dùdùng phương pháp nào đều phải thể hiện được phương châm: lấy học sinh làm trung tâm, rènluyện khả năng tự học, tự nghiên cứu của học sinh Rèn luyện qua việc đọc thông tin , nghiêncứu hình vẽ, đồ thị , biểu đồ, thí nghiệm trong sách giáo khoa từ đó rút ra các kết luận cầnthiết phục vụ nội dung bài dạy, quan sát các hiện tượng trong tự nhiên và xã hội để rút ra cáckết luận về mặt kiến thức hoặc để giải thích nó Những điều này chính là điểm mới trongphương pháp dạy học hiện nay
Trong quá trình soạn giáo án nên cố gắng tìm cách chuyển đổi nội dung bài dạy thành cáctình huống có vấn đề để dẫn dắt học sinh khám phá kiến thức Điều này vừa là yêu cầu của
Trang 34phương pháp dạy học vừa làm tăng tính sinh động của giờ dạy Trong thực tiễn chúng ta thấyrằng, có những bài và nội dung kiến thức khó chuyển thành các tình huống có vấn đề, quảđúng như vậy Tuy nhiên trong trường hợp đó đòi hỏi người thầy phải dành nhiều thời giannghiên cứu, tìm tòi, cân chỉnh sẽ giúp chúng ta thu được nhiều cơ hội thành công Sự tâmhuyết, làm việc có trách nhiệm , kiên trì quán triệt tinh thần đổi mới phương pháp dạy học sẽgiúp chúng ta hình thành được khả năng chuyển đổi các nội dung phức tạp thành các tìnhhuống có vấn đề ngày càng dễ dàng Tuy nhiên các câu hỏi đặt ra phải hợp lý, có tính địnhhướng, có tác dụng phát huy trí lực học sinh, tránh sử dụng các câu hỏi vụn vặt, quá đơn giản
ít có ý nghĩa làm tốn thời gian và vô ích
- Soạn giáo án không quá lệ thuộc vào cách trình bày trong sách giáo khoa:
Nói chung các bài giảng được trình bày theo cấu trúc của sách giáo khoa, tuy nhiên ở một
số bài có thể trình bày theo cấu trúc khác tuỳ vào phương án giảng dạy của giáo viên, thểhiện ở các điểm như: sắp xếp lại trình tự các phần, thêm hoặc bớt một số mục, một số kiếnthức cần thiết Nghiên cứu kĩ lưỡng để có thể đưa ra cách trình bày các kiến thức phức tạptrong sách giáo khoa một cách tương đối đơn giản làm giảm bớt sự căng thẳng, nặng nề, khókhăn cho học sinh trong quá trình tiếp thu kiến thức
II TIẾN TRÌNH GIẢNG BÀI
Giờ giảng phải thể hiện được các yêu cầu đã nêu trong giáo án, sinh động, phân bố thờigian hợp lý, đảm bảo tinh giản vững chắc, phát huy được tính tích cực của học sinh
- Trình bày của người thầy phải sinh động: việc tạo cho giờ dạy có tính sinh động có ý nghĩacực kì quan trọng, chúng ta đã từng chứng kiến cùng một bài dạy được trình bày với cungcách giống nhau song do sự khác nhau trong trạng thái tâm lí mà có lớp giờ giảng rất sinhđộng, học sinh tiếp thu hào hứng, đưa lại hiệu quả cao, đó là bài giảng có hồn Có lớp giờgiảng diễn ra một cách nhạt nhẽo, buồn tẻ, nặng nề, mặc dù hoàn thành nhưng hiệu quả rấtthấp, những dấu ấn của bài giảng để lại trong trí não học sinh mờ nhạt, đó là những bài giảngkhông có hồn
Sự sinh động trong tiết học liên quan đến rất nhiều yếu tố: chuẩn bị bài kĩ lưỡng, nắm chắc,hiểu sâu, biết rộng những điều trình bày, lòng yêu nghề, tinh thần trách nhiệm đối với họcsinh Thầy giáo phải luôn có tâm thế hào hứng đón chờ giờ dạy, thả hồn vào giờ dạy, lời nói,
cử chỉ, ánh mắt thân thiện giao hòa với học sinh, có lòng bao dung, xử lí một cách mềm dẻo,
có chừng mực đối với các tình huống không bình thường mà học sinh có thể bộc lộ trong giờdạy Sự hào hứng trong lời giảng của thầy sẽ khơi dậy, lôi cuốn sự hào hứng tiếp thu và xâydựng bài của học sinh
- Phân bố thời gian hợp lý với yêu cầu từng phần, từng đơn vị kiến thức làm cho bài giảnghài hòa cân đối
- Tinh giản thể hiện ở chỗ: các nội dung kiến thức được trình bày ngắn gọn, vừa đủ, khôngđưa vào các vấn đề phức tạp không cần thiết, không phù hợp với yêu cầu bài dạy và trình độhọc sinh Các ví dụ và hình ảnh minh họa cho bài giảng phải thật điển hình số lượng vừa đủ,nếu đưa vào quá nhiều giờ giảng sẽ trở nên ôm đồm nặng nề, tốn phí thời gian không cầnthiết, đồng thời hạn chế thời gian diễn giải kiến thức Có giáo viên tưởng rằng đưa đượcnhiều tranh ảnh, ví dụ sẽ làm cho sự thành công của bài giảng tăng lên Thật là nhầm lẫn Giờ dạy tinh giản còn thể hiện ở chỗ là dành nhiều thời gian cho kiến thức trọng tâm, kiếnthức cốt lõi còn kiến thức không phải trọng tâm không cần dành nhiều thời gian để giảng giãi, khai thác, thậm chí có thể cho học sinh tự học , tự đọc Lưu ý rằng có nhiều kiến thức bàidạy không phải trọng tâm lại dễ trình bày, dễ nêu vấn đề, có nhiều ví dụ và hình ảnh minhhọa đã làm cho một số giáo viên tập trung nhiều thời gian vào đó làm cho nội dung kiến thứctrọng tâm phân bổ ít thời gian vì thế khắc họa một cách mờ nhạt hoặc không hoàn thành mụctiêu bài giảng
Trang 35Kết thúc giờ dạy thầy giáo và học sinh phải có cảm giác thoải mái, nhẹ nhõm mới thực sựthành công Nếu thầy giáo và học sinh phải làm việc cật lực, vội vã thì dù những điều thầytrình bày được chuẩn bị rất công phu thì những thông tin lắng đọng trong trí não học sinh vẫn
ít, hiệu quả giờ dạy vẫn thấp
- Giờ dạy vững chắc thể hiện: dạy đủ, đúng, sâu các kiến thức trọng tâm, học sinh hiểu vàvận dụng được các kiến thức giải quyết được các tình huống lý thuyết, bài tập và thực tiễnđặt ra
- Trình bày bảng hợp lý: đảm bảo hài hoà giữa trả lời của học sinh với lời giảng và việc ghibảng của thầy Điều này tưởng như đơn giản nhưng thực tế không ít giáo viên thực hiệnkhông thành công Lỗi thường mắc phải trong trường hợp này là : thầy giáo nêu câu hỏi, họcsinh trả lời, thầy giảng giải, phân tích xong và cuối cùng là ghi bảng Cung cách này tạo ra sựkhập khiễng, không hài hoà, không ăn khớp giữa hoạt động của thầy và trò, tốn thời gian vàlàm cho giờ giảng giảm bớt tính sinh động
III RÚT KINH NGHIỆM GIỜ DẠY
Sau khi tiến hành giờ dạy cần rút kinh nghiệm bổ sung bên cạnh giáo án để các giờ dạy sau
kế thừa được ưu điểm và tránh được các nhược điểm của giờ dạy mình đã trãi qua Nóichung nếu để tâm, sau một giờ dạy chúng ta đều nhận ra được những điểm thành công vàchưa thành công Tuy nhiên do nhiều lý do mà chúng ta không ghi lại, qua thời gian dần dầnquên đi, năm sau khi trở lại các tiết đó lại phải làm từ đầu, những nhược điểm của năm trướcchúng ta tiếp tục mắc phải, chất lượng giờ dạy của năm sau so với năm trước không khácnhau bao nhiêu Qua thời gian trình độ chuyên môn nghiệp vụ sẽ không thay đổi là mấy Việc rút kinh nghiệm cần lưu ý các điểm sau:
- Phân bố thời gian ở các phần
- Tính hợp lý của hệ thống câu hỏi dẫn dắt
- Tính rõ ràng, dễ hiểu, ngắn gọn, chính xác trong những lời diễn giảng của thầy
- Sự tinh giản và vững chắc của giờ dạy
- Sự hợp lý, hài hòa giữa câu hỏi của thầy, trả lời của học sinh, lời giảng và ghi bảng củathầy
- Khả năng hiểu bài của học sinh và tính sinh động của giờ dạy
Từng nội dung đó phải chỉ ra được ưu, nhược điểm Đặc biệt là nhược điểm phải đưa raphương án khắc phục
Là những người trực tiếp làm công tác giảng dạy, chúng ta biết rằng, để có một giờ dạy tốtquả không dễ chút nào Dù là người có năng lực giỏi, tận tuỵ và tâm huyết với nghề nghiệpvẫn không dám nói rằng, tất cả các giờ dạy đều thành công.Tuy nhiên với lòng yêu nghề ,tinh thần trách nhiệm , làm việc có phương pháp, luôn có chí tiến thủ chúng ta sẽ có nhiềugiờ dạy hiệu quả ngày càng cao
C KINH NGHIỆM SỬ DỤNG CÂU HỎI TRONG GIẢNG DẠY
Phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập là một nguyên lí dạy học được đặt ra từ rấtlâu vì tính ưu việt của nó Việc chuyển đổi nội dung kiến thức bài học thành một hệ thốngcác tình huống có vấn đề đã khơi dậy sự tò mò tìm hiểu thế giới tự nhiên và xã hội, từ đó họcsinh chủ động khám phá kiến thức dưới sự hướng dẫn của thầy giáo, giờ dạy trở nên hàohứng, sinh động, học sinh thực sự trở thành chủ thể của quá trình nhận thức, chất lượng ,hiệu quả giờ dạy tăng lên rất nhiều
Trang 36Việc dạy học theo phương pháp nêu vấn đề mặc dù là yêu cầu bức thiết được đặt ra từ rấtlâu song đến nay vẫn có tính chất thời sự và là một câu chuyện dài Bởi vì để thực hiện nóhiệu quả không phải đơn giản mà liên quan đến nhiều yếu tố: tâm huyết người thầy, ý thứchọc tập của học trò, sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, đời sống người thầy…
Hệ thống câu hỏi trong dạy học có ý nghĩa cực kì quan trọng trong việc làm cho bài giảngthực sự tạo được tình huống có vấn đề từ đó phát huy tính tích cực của học sinh trong họctập Để xây dựng được một hệ thống câu hỏi đạt yêu cầu đòi hỏi người thầy phải dành nhiềuthời gian, công sức nghiên cứu, tìm tòi, cân chỉnh, rút kinh nghiệm qua soạn bài, qua sự thểhiện ở các giờ lên lớp, qua nhiều năm công tác
Mỗi tiết dạy đưa ra nhiều hay ít câu hỏi, còn tùy thuộc vào từng bài và đối tượng học sinh.Điều quan trọng nhất là đưa ra được các câu hỏi cần thiết vừa đủ, có chất lượng, có tác dụngthiết thực tạo được các tình huống có vấn đề, kích thích tư duy của học sinh khám phá kiếnthức Có bài hầu như chỉ phù hợp với phương pháp thuyết trình, tuy nhiên nếu chịu khó tìmtòi, cân nhắc chúng ta vẫn có cơ hội đưa ra được một số câu hỏi tạo tình huống có vấn đề làmtăng hiệu quả giờ dạy
Sau đây tôi xin đưa ra một số ý kiến về những câu hỏi nên và không nên sử dụng
I NHỮNG CÂU HỎI NÊN DÙNG
- Câu hỏi có tác dụng phát huy trí lực học sinh, phải có sự động não mới làm sáng tỏ đượcnhững điều mà giáo viên đặt ra
- Câu hỏi dựa trên nền kiến thức cũ tạo cho học sinh kết nối, kế thừa giữa vốn kiến thức cũvới việc tìm hiểu kiến thức mới
- Câu hỏi có tính định hướng làm học sinh hiểu rõ, hiểu đúng yêu cầu thầy giáo đặt ra
- Cần thiết có hệ thống gợi ý, dẫn dắt để học sinh trả lời các ý , từ đó hoàn chỉnh vấn đề cầntrả lời
II NHỮNG CÂU HỎI KHÔNG NÊN DÙNG
Câu hỏi là phương tiện cần thiết cho việc dạy theo phương pháp nêu vấn đề Tuy nhiên thực
tế cho thấy để đưa ra được các câu hỏi đạt yêu cầu quả không phải dễ dàng Có không ít câuhỏi sử dụng đã tạo ra tác dụng ngược lại làm cho giờ dạy nhạt nhẽo, lũng cũng, tốn phí thờigian, tạo dấu ấn rất mờ nhạt, không có giá trị phát huy tính tích cực của học sinh Xin nêu rađây một số ví dụ:
1 Câu hỏi không dựa trên nền kiến thức cũ: làm học sinh lúng túng và thường phản ứngbằng cách đoán mò hoặc đọc sách giáo khoa tìm câu trả lời
2 Câu hỏi không định hướng: khó xác định hoặc xác định sai yêu cầu, điều này làm học sinhrối trí, mất nhiều thời gian đồng thời không hoàn thành được yêu cầu thầy giáo đặt ra Dạngcâu hỏi này thực tế dẫn tới người giải quyết vấn đề lại chính là thầy giáo
3 Đưa ra quá nhiều câu hỏi trong một bài học: làm cho bài giảng nát vụn ra, mất tính hệthống, giờ giảng bị căng, học sinh mệt mỏi, tốn nhiều thời gian, các kiến thức cốt lõi ít đượcgiảng giải phân tích
4 Các câu hỏi quá đơn giản không có giá trị phát huy trí lực học sinh, các câu hỏi vụn vặtvới những trả lời như: có, không, đúng ạ… loại câu hỏi này đưa ra vừa làm mất thời gian vừalàm cho giờ dạy đơn điệu nhạt nhẽo
III VẤN ĐỀ SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA TRONG TIẾT HỌC
Trang 37Một trong những đổi mới trong phương pháp dạy học hiện nay đó là rèn luyện khả năng tựhọc, tự nghiên cứu của học sinh Sách giáo khoa trở thành một phương tiện dùng cho mụcđích này và sử dụng trong các trường hợp sau:
- Nghiên cứu SGK để rút ra các kết luận về mặt lí thuyết hoặc so sánh các kiến thức các nộidung liên quan…
- Từ vốn kiến thức SGK để giải thích các tình huống lí thuyết hoặc thực tiễn đặt ra (ví dụtrả lời các lệnh trong SGK)
- Từ các hình ảnh, biểu đồ học sinh phân tích so sánh và rút ra các kết luận cần thiết theoyêu cầu của bài học
- Hình ảnh, biểu đồ được sử dụng minh họa giúp học sinh hiểu thêm những điều mà thầygiáo trình bày
- Một số nội dung được nêu trong sách giáo khoa không phải là kiến thức cốt lõi và đơngiản học sinh có thể tự đọc để hiểu
Hiện trạng đáng lưu ý hiện nay đó là một bộ phận giáo viên lạm dụng SGK trong quá trìnhgiảng dạy thể hiện:
- Câu hỏi mà nội dung trả lời có sẵn trong SGK, học sinh không cần phải động não, chỉ đọcđúng là trả lời được vấn đề mà thầy giáo nêu lên
- Giáo viên phát phiếu học tập, câu hỏi nêu lên trong phiếu học sinh chỉ cần dựa vào sáchgiáo khoa chép lại nguyên xi là đạt yêu cầu…
Việc sử dụng SGK theo cung cách nêu trên sẽ dần dần hình thành tật xấu cho học sinh đó
là cứ mỗi khi giáo viên đưa ra câu hỏi học sinh không động não, không tư duy mà nhanhchóng nhìn vào SGK để tìm câu trả lời Với cách làm này giờ dạy diễn ra có vẻ trôi chảy nhẹnhàng và hình như một bộ phận đáng kể giáo viên và nhiều em học sinh cũng thích cungcách này vì việc học tập diễn ra thật dễ dàng khỏe khoắn, thầy giáo thậm chí không cần đọcsách giáo khoa và soạn bài trước mà đến lớp cùng học trò đọc luôn thể Tuy nhiên hiệu quảgiờ dạy rất thấp, dấu ấn các kiến thức được khắc họa trong trí não học sinh rất mờ nhạt,không đạt được các yêu cầu và mục tiêu của việc dạy học Các câu hỏi mà giáo viên đưa rakhông những không phát huy tính tích cực mà trái lại làm cho học sinh có thói quen trôngchờ ỷ lại, ít cố gắng, lười biếng Người thầy cũng thấy việc dạy học thật nhẹ nhàng, khôngmất nhiều công sức cho việc soạn bài, không cần phải nghiên cứu học hỏi gì nhiều và cảmthấy rồi mọi việc cũng ổn.Thật là tai hại, thời gian cứ trôi đi còn người thầy “sống lâu màkhông lên được lão làng”
IV NHỮNG HẠN CHẾ TRONG VIỆC SỬ DỤNG CÁC CÂU HỎI
- Một bộ phận giáo viên chưa thật sự nắm bắt được các nguyên tắc cơ bản của phương phápdạy học nêu vấn đề Có người nhầm tưởng rằng trong giờ dạy đưa ra nhiều câu hỏi như thế là
đã dạy học nêu vấn đề, là phát huy tính tích cực của học sinh
- Tâm huyết nghề nghiệp và trách nhiệm của một bộ phận giáo viên đối với tiết học chưanhiều Ngại sử dụng phương pháp nêu vấn đề, vì để dạy theo phương pháp này một cáchđúng nghĩa đòi hỏi phải soạn bài và nghiên cứu tài liệu công phu, mất rất nhiều thời gian vàcông sức, trong giờ dạy giáo viên phải tập trung tâm lực mới có thể thực hiện được
- Một bộ phận đáng kể học sinh lười học hoặc học lệch không có vốn kiến thức cần thiết đểcùng tham gia xây dựng bài với thầy giáo
- Một bộ phận học sinh ngại trả lời câu hỏi, học tập thụ động không hăng hái trong học tập… Cũng lưu ý thêm rằng, có một số giáo viên ý thức rất rõ sự cần thiết của việc dạy học nêuvấn đề nhưng chỉ quan tâm thực hiện trong các tiết thực tập thao giảng còn lại chủ yếu dạytheo phương pháp thuyết trình Làm như vậy sẽ không tạo được động hình, kĩ năng, thói
Trang 38quen hình thành các tình huống có vấn đề và thế là vẫn xa lạ với việc đổi mới phương phápgiảng dạy
V.KẾT LUẬN
Dạy học theo phương pháp nêu vấn đề ngày càng được nhiều nhà giáo quan tâm thực hiệnvới chất lượng ngày càng cao, trở thành suy nghĩ thường nhật trong quá trình soạn bài vàgiảng dạy đã có tác dụng thiết thực nâng cao hiệu quả của quá trình công tác qua từng tiết lênlớp Quan tâm đến nó sẽ làm cho chúng ta hình thành được hệ thống câu hỏi ngày càng dễdàng, chất lượng , thực hiện giờ dạy hào hứng, hiệu quả, qua đó người thầy cảm thấy tự tin,yêu nghề hơn Qua thực tiễn bản thân chúng ta và mọi người đều biết rằng, dạy học khôngphải là nghề khỏe khoắn dễ dàng mà phải trải qua bao nhọc nhằn, trăn trở mới có được giờdạy thành công
HƯỚNG DẪN HỌC SINH GIẢI BÀI TẬP
CƠ SỞ PHÂN TỬ DI TRUYỀN BẰNG PHƯƠNG PHÁP
DẠY CÁC TÌNH HUỐNG RA ĐỀ
I NHẬN THỨC CŨ, GIẢI PHÁP CŨ
Bài tập về cơ sở của tính di truyền rất đa dạng, kiểm tra và thi cử đều gặp nó.Các sách vở ớng dẫn giải bài tập di truyền và bản thân tôi trước đây trong quá trình giảng dạy đều làmtheo trình tự: hướng dẫn học lí thuyết cơ bản, xây dựng các công thức giải bài tập, phân loạicác dạng và phương pháp giải đối với mỗi dạng.Mỗi dạng đưa ra một số bài vận dụng để làmquen và cuối cùng là giới thiệu các bài để học sinh tự giải
Cách làm này có tính bài bản và cũng có tác dụng tốt Tuy nhiên khi đi vào các bài giải cụthể, tiếp xúc với nhiều tình huống ra đề khác nhau khiến học sinh lúng túng, phải giải rấtnhiều bài và với thời gian dài mới có thể làm quen được với các tình huống ra đề rất đa dạng
II NHẬN THỨC MỚI, GIẢI PHÁP MỚI
Bộ môn sinh học có một hệ thống bài tập di truyền rất đa dạng và khá phức tạp Phân phốichương trình hướng dẫn giải bài tập rất ít đã làm cho giáo viên khó khăn trong việc hướngdẫn học sinh giải bài tập Mặc dù hướng dẫn giải bài tập một cách bài bản như nêu trên họcsinh vẫn phải giải rất nhiều bài và qua nhiều thời gian mới có được vốn hiểu biết cần thiếtcho việc giải bài tập đáp ứng yêu cầu học tập và thi cử
Dựa vào vốn hiểu biết và kinh nghiệm của bản thân thấy rằng, thực chất của bài tập là một
hệ thống các tình huống ra đề, vậy thì phải dạy thế nào để trong một thời gia ngắn nhất họcsinh có thể nắm một cách nhiều nhất các tình huống ra đề và phương pháp giải quyết, đó làcon đường đi có hiệu quả cao của thầy và trò từ đó tôi đã rút ra phương pháp giải quyết nhưsau:
Việc giảng dạy được thực hiện theo trình tự : cung cấp lí thuyết cơ bản liên quan đến việcgiải bài tập, xây dựng các công thức, phân loại các dạng bài tập và các tình huống ra đề th-ường gặp đối với mỗi dạng Điểm mới ở đây là mỗi dạng bài tập tôi đã cố gắng tổng hợp hầuhết các tình huống ra đề và phương pháp giải tương ứng đã được giới thiệu trong các tài liệu
và đề thi Sau này đi vào bất kì bài và đề thi cụ thể nào hầu như học sinh đều gặp lại các tìnhhuống ra đề và phương pháp giải tương ứng đã được cung cấp làm cho việc giải bài tập trởnên ít tốn công sức, thời gian và lại dễ dàng hơn
Sau đây tôi đưa ra một thể loại để chứng minh: hướng dẫn học sinh giải bài tập tính tổngnuclêôtit của phân tử ADN bằng phương pháp dạy các tình huống ra đề:
Tổng hợp ở nhiều tài liệu và đề thi tôi nhận thấy có 16 tình huống tính tổng số nuclêôtitthường gặp:
Trang 391 Một gen dài 5100A0 Tính tổng số nuclêôtit của gen ( N )
7 Một gen có A = 20% và có 3900 liên kết hidro Tính tổng số nuclêôtit của gen
- Tỉ lệ % các loại nuclêôtit của gen
9 Hai gen có chiều dài bằng nhau, khi tái sinh đã lấy từ môi trường24000 nuclêôtit Biết gen
có số nuclêôtit trong khoảng1800 – 3000 Tính tổng số nuclêôtit của mỗi gen
Gọi số lần nhân đôi của gen thứ nhất lá x, số lần nhân đôi của gen thứ hai là y ( x,y nguyêndương).Ta có phương trình
- Tỉ lệ các loại nuclêôtit của gen
+ Giả sử hai loại có tổng 40% là G và X
Trang 402N.30% + 3N.20% = 3900 → N = 3250
Kết quả này không thỏa mãn vì 3250 không phải là bội số của 3 Như vậy hai loại nuclêôtit
có tổng 40% phải là A và T Với cách giải tương tự tìm được N = 3000
11 Một gen điều khiẻn giải mã môi trường cung cấp1660 axit amin Phân tử mARN sinh từgen có A : U : G : X = 5:3:3:1 Biết một phân tử prôtêin hoàn chỉnh có số axit amin nằmtrong khoảng 198 – 498 Tính tổng số nuclêôtit của gen
Gọi số phân tử prôtêin là x( x nguyên dương) Số axit amin của một phân tử prôtêin do môitrường cung cấp là
III KẾT LUẬN VỀ GIẢI PHÁP MỚI
Hướng dẫn học sinh giải bài tập theo phương pháp nêu trên, khi đi vào mỗi dạng giới thiệucác tình huống ra đề thường gặp và phương pháp giải tương ứng có tác dụng giúp học sinhchỉ cần một thời gian ngắn và giải một số ít bài vẫn có vốn hiểu biết phong phú cho việc giảicác bài tập, làm cho học sinh khi đi vào giải các bài cụ thể hầu như đã gặp lại các tình huống
ra đề và phương pháp giải đã giới thiệu Điều này có tác dụng làm cho việc học và giải bàitập của học sinh trở nên nhẹ nhàng và hiệu quả hơn
Kinh nghiệm này áp dụng được cho mọi đối tượng học sinh
* * *
SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP NÊU VẤN ĐỀ KHI DẠY VỀ
“sự tăng cường sức đề kháng của sâu bọ và vi khuẩn”
I NHẬN THỨC CŨ, GIẢI PHÁP CŨ
“Sự tăng cường sức đề kháng của sâu bọ và vi khuẩn” là phần kiến thức trọng tâm khôngnhững của bài mà còn là một trong những kiến thức trọng tâm của chương Đây cũng là mộtnội dung kiến thức khó áp dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề, bản thân nhiều năm chủyếu dạy theo phương pháp thuyết trình Nhận thấy học sinh không hào hứng tiếp thu, khôngnắm chắc bản chất kiến thức vì thế khi đi vào vận dụng giải thích các tình huống thực tiễnthường gặp nhiều lúng túng
II NHẬN THỨC MỚI, GIẢI PHÁP MỚI
Trong giảng dạy luôn có suy nghĩ, tìm tòi để có thể chuyển được nội dung bài dạy thành cáctình huống có vấn đề mới tạo được sự hào hứng cho giờ dạy, kích thích trí tò mò tìm hiểu,khám phá kiến thức của học sinh, qua đó hiểu rõ bản chất kiến thức
Tôi đã nghiên cứu kĩ lưỡng để nắm chắc mục tiêu và bản chất kiến thức của phần, từ đó tìmtòi cách chuyển đổi các nội dung kiến thức thành các tình huống có vấn đề Sau nhiều lần rútkinh nghiệm tôi đã xây dựng kiến thức bài dạy thành hệ thống các câu hỏi có chất lượng để