Giáo dục đại học ở Việt Nam những năm gần đây đã có nhiều biến chuyển theo hướng tích cực, các cơ sở đào tạo điều hướng tới mục tiêu giáo dục toàn diện người học. Tuy vậy, không ít sinh viên ra trường vẫn không xin được việc làm, nguyên nhân bắt nguồn từ những yếu tố chủ quan và khách quan, trong đó có sự yếu kém về các kỹ năng mềm.
Trang 1SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC GIÁO DỤC KỸ NĂNG MỀM
CHO SINH VIÊN TRONG DẠY HỌC MÔN TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ MINH Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HIỆN NAY
TS Dương Văn Khoa Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
ThS Nguyễn Hải Trung Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương
Tóm tắt
Hiểu một cách cụ thể và đơn giản "Kỹ năng mềm là những kỹ năng con người tích lũy được để làm cho mình dễ dàng được chấp nhận, làm việc thuận lợi và đạt được hiệu quả" Kỹ năng mềm rất cần thiết với con người, đặc biệt là sinh viên Xuất phát
từ bản chất, đặc trưng của kỹ năng mềm và môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng thực trạng giáo dục kỹ năng mềm ở các trường đại học hiện nay cho thấy sự cần thiết của việc giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường đại học
Từ khóa: Kỹ năng, kỹ năng mềm, dạy học, tư tưởng Hồ Chí Minh
I MỞ ĐẦU
Giáo dục đại học ở Việt Nam những năm gần đây đã có nhiều biến chuyển theo hướng tích cực, các cơ sở đào tạo đều hướng tới mục tiêu giáo dục toàn diện người học Tuy vậy, không ít sinh viên ra trường vẫn không xin được việc làm, nguyên nhân bắt nguồn từ những yếu tố chủ quan và khách quan, trong đó có sự yếu kém về các kỹ năng mềm Từ thực tế này, một số trường đã đưa thêm nội dung giáo dục kỹ năng sống vào chương trình đào tạo dưới hình thức một chuyên đề hoặc ngoại khóa, tích hợp dạy học
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một môn học thuộc khoa học chính trị Môn học có những lợi thế nhất định có thể tích hợp giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trong các trường đại học hiện nay
II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1 Kỹ năng mềm và phân loại kỹ năng mềm
Hiện nay, có nhiều nhiều quan niệm khác nhau về kỹ năng cũng như kỹ năng mềm (KNM) Về cơ bản, các nhà nghiên cứu đều coi kỹ năng mềm là một thuật ngữ xã
Trang 2hội học chỉ những kỹ năng có liên quan đến việc sử dụng ngôn ngữ, khả năng hòa nhập
xã hội, thái độ và hành vi ứng xử áp dụng vào việc giao tiếp giữa người với người Kỹ năng mềm (KNM) là những kỹ năng có liên quan đến việc hòa mình vào, sống với hay tương tác với xã hội, cộng đồng, tập thể hoặc tổ chức Hiểu một cách cụ thể và đơn giản "Kỹ năng mềm là những kỹ năng con người tích lũy được để làm cho mình dễ dàng được chấp nhận, làm việc thuận lợi và đạt được hiệu quả" Đơn cử như Forland, Jeremy cho rằng "Kỹ năng mềm là một thuật ngữ thiên về mặt xã hội để chỉ những kỹ năng có liên quan đến việc sử dụng ngôn ngữ giao tiếp, khả năng hòa nhập xã hội, thái
độ và hành vi ứng xử hiệu quả trong giao tiếp giữa người với người Nói khác đi, đó là
kỹ năng liên quan đến việc con người hòa mình, chung sống và tương tác với cá nhân khác, nhóm, tập thể, tổ chức và cộng đồng" [3]
Kỹ năng mềm có một số đặc điểm nổi bật, dễ nhận biết như: Không phải là yếu tố thuộc về bẩm sinh; không chỉ là biểu hiện của trí tuệ cảm xúc, kỹ năng mềm được bộc
lộ và thể hiện sức mạnh của mình ở việc thiết lập mối quan hệ với người khác và duy trì mối quan hệ ấy; được hình thành bằng con đường trải nghiệm chứ không phải là sự
"nạp" kiến thức đơn thuần: góp phần hỗ trợ cho kiến thức và kỹ năng chuyên môn, mà đặc biệt là kỹ năng cứng; mang tính đặc thù và không ngừng được hoàn thiện theo sự phát triển của quá trình giáo dục - đào tạo nói riêng và xã hội nói chung;
Có nhiều cách tiếp cận, căn cứ để phân loại kỹ năng mềm như: Căn cứ vào tính chất của sự tương tác giữa người với người; căn cứ vào tính chất quan hệ của mỗi cá nhân trong hoạt động nghề nghiệp; căn cứ vào tính chất định hướng hoạt động nghề nghiệp căn cứ vào đặc thù hoạt động nghề nghiệp Trong các trường đại học, do đặc thù của hoạt động nghề nghiệp nên chúng tôi phân chia kỹ năng mềm thành các loại sau [7]:
Kỹ năng tự nhận thức: Kỹ năng tự nhận thức là khả năng cá nhân vận dụng hệ
thống tri thức, kinh nghiệm đã có vào quá trình tự khám phá, thấu hiểu bản thân, góp phần giúp họ xác định được những ưu điểm, hạn chế của mình, trên cơ sở đó, xây dựng những mục tiêu phù hợp với bản thân trong quá trình hoạt động
Kỹ năng tự nhận thức được biểu hiện qua các dấu hiệu sau:
- Nhận thức về các giá trị của bản thân
- Nhận thức về khả năng hoạt động của bản thân
- Nhận thức về yêu cầu của hoạt động nghề nghiệp, yêu cầu của xã hội
Kỹ năng làm việc theo nhóm: Kỹ năng làm việc nhóm là sự thành thạo và có kết
quả một hoặc một số hành động nào đó của mỗi cá nhân trong nhóm trên cơ sở vận
Trang 3dụng những tri thức, kinh nghiệm, phù hợp với bối cảnh và điều kiện cụ thể nhằm phối hợp hiệu quả với nhau để giải quyết vấn đề đặt ra, đạt được mục tiêu của hoạt động đã
đề ra
Kỹ năng làm việc theo nhóm được biểu hiện qua các dấu hiệu sau: Thực hiện nhiệm vụ để đạt mục tiêu chung của nhóm; Phối hợp với các thành viên khác trong nhóm một cách hiệu quả; Đóng góp vào sự phát triển của nhóm về mặt giao tiếp, chia
sẻ ý tưởng, lắng nghe và thống nhất ý kiến; Thể hiện được các vai trò khác nhau trong nhóm một cách hiệu quả
Kỹ năng quản lý thời gian: Kỹ năng quản lý thời gian là khả năng vận dụng tri
thức, kinh nghiệm của mỗi cá nhân vào quá trình sử dụng thời gian một cách hiệu quả trong hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu đã được xác định thông qua việc lên kế hoạch, tổ chức và kiểm tra việc sử dụng thời gian một cách tối ưu
Kỹ năng quản lý thời gian được biểu hiện qua các dấu hiệu sau:
- Xác định và lựa chọn công việc ưu tiên
- Phân bổ nguồn lực thời gian
- Thói quen tích cực trong quản lý thời gian
- Tích cực, chủ động tìm kiếm các công cụ quản lý thời gian
Kỹ năng giao tiếp: Kỹ năng giao tiếp là khả năng vận dụng tri thức, kinh nghiệm
của mỗi cá nhân vào quá trình tiếp xúc tâm lý với những người xung quanh tham gia vào hoạt động, thông qua đó, có sự trao đổi qua lại về thông tin, về cảm xúc, tác động qua lại lẫn nhau nhằm xây dựng mối quan hệ tốt đẹp góp phần thực hiện có hiệu quả mục tiêu và nhiệm vụ đã đề ra
Kỹ năng giao tiếp được biểu hiện qua các dấu hiệu sau:
- Định hướng giao tiếp
- Định vị đối tượng giao tiếp
- Điều khiển, điều chỉnh quá trình giao tiếp
- Sử dụng phương tiện giao tiếp
- Khả năng lắng nghe và phản hồi
Kỹ năng lãnh đạo bản thân: Kỹ năng lãnh đạo là khả năng hiểu biết, làm chủ bản
thân, quản lý về mặt tinh thần, hoạt động cá nhân của mỗi cá nhân trong quá trình hoạt động trên cơ sở vận dụng những tri thức và kinh nghiệm vốn có của mình nhằm chủ động tổ chức hoạt động nghề nghiệp của bản thân góp phần thực hiện có hiệu quả mục tiêu và các nhiệm vụ hoạt động đã đặt ra
Trang 4Kỹ năng lãnh đạo bản thân được biểu hiện qua các dấu hiệu sau:
- Xác định được mục tiêu, giá trị của bản thân
- Tự giác và trách nhiệm đối với hoạt động của bản thân
- Ra quyết định cho hoạt động của bản thân
Kỹ năng kiểm soát cảm xúc: Kỹ năng kiểm soát cảm xúc là khả năng vận dụng tri
thức, kinh nghiệm của mỗi cá nhân vào việc nhận biết và điều khiển, điều chỉnh, chuyển hóa cảm xúc của bản thân trong quá trình hoạt động nhằm tổ chức, thực hiện hiệu quả hoạt động của mình Kỹ năng kiểm soát cảm xúc được biểu hiện qua các dấu hiệu sau: Điều chỉnh hành động của cơ thể; Tìm kiếm biện pháp kiểm soát cảm xúc
Kỹ năng vượt qua khủng hoảng: Kỹ năng vượt qua khủng hoảng là khả năng
vận dụng tri thức, kinh nghiệm của mỗi cá nhân vào việc nhận diện những tác nhân gây nên sư khủng hoảng và những biểu hiện của stress do khủng hoảng gây nên có liên quan đến hoạt động học tập, giáo dục nghề nghiệp, từ đó xác định những cách thức ứng phó khủng hoảng, thực hiện có hiệu quả hoạt động của mình Kỹ năng vượt qua khủng hoảng được biểu hiện qua các dấu hiệu sau: Xác định nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng của bản thân; cân bằng tâm lý trước những rủi ro, thất bại; tạo động lực cho bản thân
Kỹ năng giải quyết xung đột: Kỹ năng giải quyết xung đột là khả năng vận dụng
tri thức, kinh nghiệm của mỗi cá nhân vào quá trình giải quyết xung đột nội tại, xung đột giữa các cá nhân trong nhóm hay trong tổ chức một cách hiệu quả trên tinh thần chủ động, tích cực, luôn sẵn sàng hợp tác nhằm giúp cho họ duy trì tốt các mối quan
hệ để có thể thanh công hơn trong quá trình hoạt động
Kỹ năng giải quyết xung đột được biểu hiện qua các dấu hiệu sau: Xác định được phạm vi, nguyên nhân xung đột; giảng giải, thuyết phục những người xung quanh; hợp tác trong quá trình giải quyết xung đột
Kỹ năng sáng tạo: Kỹ năng sáng tạo là khả năng vận dụng tri thức, kinh nghiệm
của mỗi cá nhân vào quá trình tạo ra những ý tưởng mới về cách thức hoạt động, trên
cơ sở đó, ứng dụng những ý tưởng này vào hoạt động nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của bản thân
Kỹ năng sáng tạo được biểu hiện qua các dấu hiệu sau: Xử lý nội dung của hoạt động; xử lý các nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động; tư duy tích cực
Trang 52.2 Ưu thế giáo dục kỹ năng mềm trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường đại học hiện nay
Theo Quyết định số 52/2008/QĐ-BGDĐT ngày 18/9/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, chương trình, nội dung môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh được ban hành và áp dụng giảng dạy ở các trường đại học, cao đẳng trong cả nước
Môn học cung cấp những hiểu biết có tính hệ thống về tư tưởng, đạo đức, giá trị văn hóa, Hồ Chí Minh; tiếp tục cung cấp những kiến thức cơ bản về chủ nghĩa Mác - Lênin; cùng với môn học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin tạo lập những hiểu biết về nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam hành động của Đảng và của cách mạng nước ta; góp phần xây dựng nền tảng đạo đức con người mới
Nội dung của môn học đề cập đến những vấn đề cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng
xã hội chủ nghĩa Trong quá trình dạy học, giảng viên (GV) thường yêu cầu sinnh viên (SV) phải nghiên cứu giáo trình, chuẩn bị các ý kiến, hỏi, đề xuất khi nghe giảng; chuẩn bị thảo luận và đọc, sưu tầm các tư liệu có liên quan đến nội dung của chương; dành thời gian cho việc nghiên cứu trước bài giảng dưới sự hướng dẫn của GV; tham
dự các buổi thảo luận, các buổi lên lớp theo quy định
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một môn khoa học thuộc ngành Hồ Chí Minh học Bên cạnh những điểm giống với các khoa học lý luận chính trị khác, tri thức môn Tư tưởng
Hồ Chí Minh có những đặc điểm khác biệt, cụ thể là:
Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết tinh từ những giá trị văn hóa của dân tộc, nhân loại và sự vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng của C Mác và V.I Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam Biểu hiện của sự kết tinh những giá trị văn hóa đó là hệ thống những quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam hướng tới sự giải phóng triệt để cho dân tộc, giai cấp bị áp bức, bóc lột và cả nhân loại
Đặc điểm trên cho ta thấy, tri thức tư tưởng Hồ Chí Minh vừa thực tiễn, vừa trừu tượng Bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm những vấn đề hết sức trừu tượng
và có sự khái quát cao (là hệ thống các quan điểm về cách mạng Việt Nam), nhưng được Hồ Chí Minh diễn đạt bằng những ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu và mang tính hình ảnh cao Ví dụ, khi nói về chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh thể hiện bằng những ngôn ngữ hết sức gần gũi: “chủ nghĩa xã hội là lấy nhà máy, xe lửa, ngân hàng,… làm của
Trang 6chung Ai làm nhiều thì ăn nhiều, ai làm ít thì ăn ít, ai không làm thì không ăn, tất
nhiên là trừ những người già cả, đau yếu và trẻ con” [5; tr.390]
Tuy nhiên, do vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện của Việt Nam nên có những khái niệm thuộc về cuộc cách mạng
vô sản, Hồ Chí Minh vẫn phải sử dụng nguyên văn Ví dụ như cách mạng “tư sản dân quyền”, “cách mạng vô sản ở chính quốc”, “chủ nghĩa đế quốc”, “chủ nghĩa thực dân”… Đặc điểm này đòi hỏi GV cần sử dụng nhiều thời gian, với các hình ảnh dễ nhận biết, liên hệ, so sánh, giải thích giúp người học hiểu bản chất của vấn đề
Tri thức môn Tư tưởng Hồ Chí Minh có mối quan hệ chặt chẽ với tri thức môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và môn Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam Sự quan hệ chặt chẽ này xuất phát từ nguồn gốc ra đời và mục đích của tư tưởng Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh đã vận dụng, kế thừa học thuyết Mác - Lênin vào hoàn cảnh của Việt Nam; đồng thời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào chỉ đạo thực tiễn cách mạng Đặc điểm này đòi hỏi GV cần khai thác tri thức của môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin để làm rõ, sâu sắc hơn nội dung môn Tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng thời, liên hệ tới thực tiễn cách mạng của Đất nước để thấy được kết quả tác động của tư tưởng Hồ Chí Minh
Giáo dục kỹ năng mềm không phải là một môn học, đó là hoạt động giáo dục, hoạt động đó hướng tới hình thành ở người học các kỹ năng mềm cụ thể như: kỹ năng
tự nhận thức, giao tiếp, sáng tạo, làm việc nhóm… Vì vậy, việc tích hợp dạy học môn
Tư tưởng Hồ Chí Minh với giáo dục kỹ năng mềm không thể tiến hành một cách thông thường, giống như tích hợp tri thức của hai môn học mà giáo viên vẫn thường tiến hành GV phải căn cứ vào mục tiêu (kiến thức, kỹ năng, tư tưởng), nội dung, tính đặc thù, đặc biệt là hoạt động của thầy và trò trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh và bản chất của giáo dục kỹ năng mềm để tiến hành tích hợp
Như chúng ta đã biết, về cơ bản kỹ năng mềm chỉ hình thành thông qua trải nghiệm thực tiễn (thông qua các hoạt động thực tiễn) Trong thực tế, khi dạy học môn
Tư tưởng Hồ Chí Minh, GV sẽ tổ chức nhiều hoạt động để SV trải nghiệm dưới nhiều hình thức khác nhau: trải nghiệm qua bài giảng, trải nghiệm qua xem phim tài liệu, trải nghiệm qua các hoạt động thực hiện nhiệm vụ học tập, trải nghiệm qua tham quan khu
di tích, bảo tàng Hồ Chí Minh, di tích lịch sử… Thông qua các hoạt động trải nghiệm
đó, SV thích thú và dễ dàng nắm bắt được tri thức của môn học; đồng thời sẽ hình thành và phát triển các kỹ năng mềm [7]
Trang 7Hơn nữa, học tập môn Tư tưởng Hồ Chí Minh là học tập cả phương pháp, phong cách, nhân cách của Hồ Chí Minh Mặc dù giáo trình không hiển thị rõ ràng vấn đề này, nhưng GV cần giúp SV tiếp cận đến Bản thân Hồ Chí Minh là một người
đã đạt đến sự chuẩn mực về mọi mặt, trong đó có kỹ năng mềm Cụ thể của các
phương pháp là: “Dĩ bất biến ứng vạn biến”, ví dụ: Theo kế hoạch, tháng 5/1946, Hồ
Chí Minh sẽ sang thăm nước Pháp, trong thời gian Bác sang Pháp, cụ Huỳnh Thúc Kháng sẽ thay Bác giữ chức Chủ tịch nước Đúng 6h, ngày ngày 31/5/1946, Hồ Chí Minh và phái đoàn lên sân bay Gia Lâm để sang Pháp, lúc ấy Cụ Huỳnh cũng ra sân bay tiễn đoàn Cụ Hồ đã nắm tay Cụ Huỳnh căn dặn: “Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phó phải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự khó khăn nhờ cậy ở Cụ cùng anh em giải quyết cho Mong cụ “dĩ bất biến, ứng vạn biến” Cái bất biến trong thời gian này là gì: Độc lập, thống nhất dân tộc; tự do, hạnh phúc của nhân dân “Tôi có một ham muốn là…”; cái ứng vạn biến là gì? Có thể thương lượng, nhân nhượng với kẻ thù về một số phương diện ngoài cái dĩ bất biến Cụ thể: Hồ Chí Minh cùng với chính phủ đã nhường cho thành viên của Đảng Việt Quốc, Việt Cách 70 ghế trong quốc hội không qua bầu cử; đề
bạt 4 chức bộ trưởng, 1 chức phó chủ tịch nước; “Phương pháp nắm vững thời cơ,
giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa thời, thế và lực”, ví dụ như: Hồ Chí Minh cùng
với Đảng ta chỉ đạo chớp thời cơ giành chính quyền cách mạng năm 1945, Người nói: Thời cơ ngàn năm đã tới, dù phải hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường
Sơn cũng phải quyết giành cho được độc lập; “Phương pháp biết thắng từng bước,
không nôn nóng, đốt cháy giai đoạn”, ví dụ: Trước năm 1945, khi Hồ Chí Minh chủ
trì Hội nghị Trung ương 8 (1941) đã đưa ra chủ trương thực hiện cách mạng từng
phần tiến tới tổng khởi nghĩa; “Phương pháp lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ
thù”, thể hiện rõ trong sách lược của Đảng và Hồ Chí Minh trong việc hòa hoãn với
quân Pháp và Tưởng năm 1946: “phương pháp tâm công”; “phương pháp cách mạng
bạo lực”; “phong cách tư duy”; “phong cách làm việc”; “phong cách ứng xử”;
“phong cách diễn đạt”; “phong cách nêu gương” GV có thể khai thác thêm tấm
gương Hồ Chí Minh ở khía cạnh kỹ năng mềm để giáo dục cho SV Đây là hoạt động hoàn toàn phù hợp và giá trị trong việc thể hiện nhiệm vụ, chức năng của môn học Bản thân nội hàm tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống những quan điểm sáng tạo, cách mạng, khoa học Đó là một sức mạnh mềm, sức mạnh của tư tưởng, tư duy Do vậy, nội dung KNM và tư tưởng Hồ Chí Minh có sự gần gũi, tương đồng Ví dụ, Hồ Chí Minh nói: Cách mạng thuộc địa cần tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc Đây là một luận điểm sáng tạo,
Trang 8thể hiện khả năng tư duy, trí tuệ linh hoạt, khoa học, không rập khuôn máy móc của
Hồ Chí Minh Đặc biệt, chương 1: “Cơ sở, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng
Hồ Chí Minh” trình bày thiên về thực tiễn liên qua đến cá nhân con người cũng như
tư tưởng Hồ Chí Minh Vì vậy, nội dung của chương thể hiện rõ nét KNM của Hồ Chí Minh, biểu hiện qua phong cách và phương pháp của Người
“Thực tiễn công tác giáo dục học sinh, sinh viên ở nước ta hiện nay cho thấy, không ít SV thiếu và yếu về kỹ năng sống nói chung, kỹ năng mềm nói riêng Hệ thống giáo dục đại học đã chú ý nhiều đến việc rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp cho người học (kỹ năng cứng), nhưng thiếu vắng những giờ học, học phần, hoạt động giáo dục kỹ năng mềm cho các em Chính vì vậy, một trong những lý do của nhiều SV sau khi tốt nghiệp đã thất bại trong các cuộc phỏng vấn xin việc của các doanh nghiệp là yếu về kỹ năng mềm (đơn giản như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng sáng tạo)
Kỹ năng mềm là những yếu tố quan trọng và cần thiết thuộc về năng lực của con người Đặc biệt trong xã hội hiện đại với sự bùng nổ nhanh chóng của khoa học công nghệ, kỹ năng mềm lại càng trở nên quan trọng
Tư tưởng Hồ Chí Minh là môn học có nhiều lợi thế trong việc tích hợp giáo dục
kỹ năng mềm cho SV (đã trình bày ở trên); đồng thời, giáo dục kỹ năng mềm cho SV không chỉ là nhu cầu của người học, trường học mà của toàn xã hội Xuất phát từ thực tiễn và những lý do trên cho thấy, giáo dục kỹ năng mềm cho SV trong dạy học môn
Tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề cần thiết và có tính khả thi cao” [7]
Có thể nói rằng, giáo dục KNM cho SV trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh là hoạt động hết sức cần thiết Để hoạt động này được tiến hành một cách thuận lợi và hiệu quả, GV giảng dạy môn học này cần quan tâm xác định mục tiêu, hình thức, phương pháp giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên, bên cạnh đó, cần quan tâm thực hiện thường xuyên và hiệu quả việc kiểm tra, đánh giá kết quả tích hợp giáo dục KNM cho SV trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh
2.3 Thực trạng giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên trong dạy học môn Tư tưởng
Hồ Chí Minh ở các trường đại học hiện nay
Để có thêm thông tin, dữ liệu khẳng định về sự cần thiết của việc giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên ở các trường đại học hiện nay, chúng tôi tiến hành điều tra, khảo sát tại một số trường đại học trên địa bàn tỉnh Hải Dương hiện nay Kết quả được hiện thị ở các bảng số số liệu dưới đây:
Trang 9Bảng 1 Thực trạng thực hiện nội dung giáo dục kỹ năng mềm
cho sinh viên các trường Đại học trên địa bàn tỉnh Hải Dương [7]
Nội dung giáo dục
KNM cho SV
Giảng viên (%) Sinh viên (%)
Rất thường xuyên (TX)
Khá
TX TX Ít TX
Chưa thực hiện
Rất
TX
Khá
TX TX Ít TX
Chưa thực hiện
Giáo dục kỹ năng
Giáo dục kỹ năng
làm việc theo nhóm 0,0 0,0 3.0 42.4 51.5 0.7 3.3 14.1 81,9 0,0
Giáo dục kỹ năng
quản lý thời gian 0,0 0,0 3.0 42.4 51.5 1.6 5.2 11.0 82,2 0,0
Giáo dục kỹ năng
Giáo dục kỹ năng
lãnh đạo bản thân 0,0 0,0 3.0 30.3 66.7 0.2 5.2 12.4 82,2 0,0 Giáo dục kỹ năng
kiểm soát cảm xúc 0,0 0,0 0 42.4 51.5 0.2 3.7 14.3 81,8 0,0
Giáo dục kỹ năng
vượt qua khủng
hoảng
0,0 0,0 6.1 33.3 60.6 0.5 5.2 14.5 79,8 0,0
Giáo dục kỹ năng
giải quyết xung đột 0,0 0,0 0 45.5 51.5 0.9 14,1 40,0 36,9 0,0
Giáo dục kỹ năng
Số liệu của bảng trên cho thấy, những năm gần đây tại các trường đại học trên địa bàn tỉnh Hải Dương, các nội dung giáo dục KNM cho SV đã được triển khai thực hiện Tuy nhiên, đối tượng tham gia khảo sát, đánh giá việc thực hiện các nội dung giáo
dục KNM tại các trường Đại học trên địa bàn tỉnh Hải Dương chủ yếu ở mức “Ít
thường xuyên”
Chúng tôi tiếp tục tìm hiểu thực trạng thực hiện các con đường giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên các trường Đại học trên địa bàn tỉnh Hải Dương, kết quả cho thấy:
Trang 10Bảng 2 Thực trạng thực hiện các con đường giáo dục kỹ năng mềm cho sinh viên
các trường Đại học trên địa bàn tỉnh Hải Dương [7]
Các con đường giáo
dục KNM
cho SV
Giảng viên (%)
Sinh viên (%)
Rất
TX
Khá
TX TX Ít TX
Chưa thực hiện
Rất
TX
Khá
TX TX
Ít
TX
Chưa thực hiện
Giáo dục KNM cho SV
các trường Đại học
thông qua hoạt động
dạy học các môn học
0,0 0,0 3.0 42.4 51.5 0.2 3.7 14.3 81,8 0,0
Giáo dục KNM cho SV
các trường Đại học
thông qua các hoạt động
sinh hoạt tập thể của SV
0,0 0,0 3.0 42.4 45.5 1.6 5.2 11.0 82,2 0,0
Giáo dục KNM cho SV
các trường Đại học
thông qua cac hoạt động
xã hội dành cho SV
0,0 0,0 3.0 30.3 66.7 0.5 4.9 12.6 82,6 0,0
Giáo dục KNM cho SV
các trường Đại học
thông qua hoạt động tự
rèn luyện, tự tu dưỡng
của SV
0,0 0,0 6.1 33.3 60.6 0.9 14,1 40,0 36,9 0,0
Số liệu bảng 2 cho thấy, các con đường giáo dục KNM nêu trên đã được triển khai trong thực tiễn giáo dục của các trường đại học trên địa bàn tỉnh Hải Dương thời gian qua Tuy vậy, GV và SV tham gia khảo sát đánh gia mức độ thực hiện các con
đường giáo dục KNM cho SV chủ yếu ở mức “Ít thường xuyên” Thực trạng này đòi
hỏi các trường Đại học trên địa bàn tỉnh Hải Dương nói riêng, các trường đại học trên
cả nước nói chung, cụ thể là cán bộ quản lý nhà trường, cùng đội ngũ GV cần quan tâm hơn nữa tới công tác giáo dục kỹ năng mềm, nhất là các biện pháp, con đường giáo dục
KNM phù hợp với đối tượng người học
III KẾT LUẬN
Kỹ năng mềm là những kỹ năng mà mỗi người sử dụng để chuẩn bị, thiết lập và phát triển mối quan hệ tương tác qua lại giữa mình với những người xung quanh nhằm giúp hoạt động nghề nghiệp đạt được kết quả tối ưu Đây là kỹ năng có ý nghĩa hết sức