1. Trang chủ
  2. » Kỹ Năng Mềm

Vận dụng phương pháp ngoại giao “tâm công” của Hồ Chí Minh trong việc phát triển kỹ năng gây thiện cảm

8 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 684,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong ngoại giao, Người sử dụng rất nhiều phương pháp, trong đó nổi bật là phương pháp ngoại giao tâm công, chính phương pháp này đã giúp Hồ Chí Minh gây được thiện cảm từ người đối diện, thậm chí cảm hoá được kẻ thù. Vì vậy, học tập và vận dụng phương pháp này trong việc phát triển kỹ năng gây thiện cảm trong giao tiếp của sinh viên hiện nay là vô cùng cần thiết và có ý nghĩa.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TP.HCM SỐ 01 THÁNG 10 NĂM 2013

*ThS Nguyễn Thị Tường Duy– Khoa LLCT

- Trường ĐH Công nghiệp Thực phẩm Tp.HCM

54

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP NGOẠI GI O “TÂM CÔNG” CỦA HỒ CHÍ MINH

TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GÂY THIỆN CẢM PPLYING HO CHI MINH’ HE RT FOREIGN METHOD IN DEVELOPING

LIKING COMMUNICATIVE SKILL OF STUDENTS

Nguyễn Thị Tường Duy* TÓM TẮT

Hồ Chí Minh không những là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới mà còn là nhà ngoại giao tài ba, khéo léo Trong ngoại giao, Người sử dụng rất nhiều phương pháp, trong đó nổi bật là phương pháp ngoại giao tâm công, chính phương pháp này đã giúp Hồ Chí Minh gây được thiện cảm từ người đối diện, thậm chí cảm hoá được kẻ thù Vì vậy, học tập và vận dụng phương pháp này trong việc phát triển kỹ năng gây thiện cảm trong giao tiếp của sinh viên hiện nay là vô cùng cần thiết và có ý nghĩa

ABSTRACT

Ho Chi Minh is not only hero of Vietnamese nation and culture famous man in the world but also is talent diplomat In diplomacy, he used a lot of medods In those medods, heart foreign medod is the most salient Ho Chi Minh is loved even he also convert his enemy by using that way So, students apply Ho Chi Minh‟ heart foreign medod in developing liking communicative skill of them is necessary and meaning today

1 Truyền thống ngoại giao hòa hiếu của

dân tộc Việt Nam - một trong những

nguồn gốc hình thành phương pháp

ngoại giao tâm công của Hồ Chí Minh

Việt Nam là nước có vị trí quan

trọng trong giao lưu quốc tế và có vị trí địa

chiến lược đặc biệt ở Đông Nam Á, là cửa

ng đi vào Đông Nam Á nói riêng và

Đông Á nói chung, phía Bắc giáp với

Trung Quốc rộng lớn, phía Tây và Tây

Nam giáp với Lào, Campuchia, phía Đông

và Nam nhìn ra biển Thái Bình Dương Vị

trí địa lý này tạo điều kiện thuận lợi cho

nước ta tiếp xúc với nhiều quốc gia, dân

tộc khác nhau Tranh thủ thuận lợi này,

ông cha ta đã không bỏ lỡ những cơ hội để

Việt Nam tiếp xúc với các nước bên ngoài,

với mong muốn bày tỏ tình thân thiện và

tìm kiếm cơ hội phát triển cho Việt Nam

Tuy nhiên, trong lịch sử, mối quan

hệ giữa dân tộc ta với các dân tộc khác

không phải lúc nào cũng hòa bình, phẳng

lặng Có những khoảng thời gian rất dài

nước ta bị dân tộc này, dân tộc khác gây

hấn và đem quân xâm lược Trong hoàn

cảnh đó, cách giải quyết ưu tiên và xuyên suốt của ta là chủ trương thương lượng, hoà bình Và khi xung đột chấm dứt, ta lại chủ động giao hảo với họ nhằm mục đích đem lại cuộc sống an bình cho nhân dân Phong cách ứng xử này đã trở thành truyền thống ngoại giao nhân văn, hoà hiếu của dân tộc ta Truyền thống quý báu đó được thể hiện trước hết ở tư tưởng hòa hiếu, trọng nhân nghĩa, đề cao sự khoan dung,

độ lượng Đó là triết lý và là bản chất của ngoại giao truyền thống Việt Nam

Trong ứng xử, tổ tiên ta rất khéo léo vận dụng phương châm “nước chảy đá mòn”, vừa cương lại vừa nhu, cứng rắn nhưng rất uyển chuyển, linh hoạt Trong quan hệ bang giao cũng vậy, người Việt Nam luôn bày tỏ sự hòa hiếu, tôn trọng lẫn nhau, luôn ứng xử khiêm nhường, nhã nhặn và mềm dẻo Ngay cả khi buộc phải tiến hành chiến tranh để đánh đuổi kẻ thù bạo ngược, dân tộc ta cũng luôn tìm cách giải quyết cuộc xung đột bằng con đường

Trang 2

TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ THỰC PHẨM NGUYỄN THỊ TƯỜNG DUY

55

hòa bình, thương lượng Vì lợi ích lâu dài

của toàn dân tộc, hòa bình cho đất nước và

sự bình yên trong đời sống người dân, nên

khi cuộc kháng chiến chống giặc ngoại

xâm của nhân dân ta giành thắng lợi, ông

cha ta vẫn sẵn sàng dâng sớ cầu hòa, thậm

chí còn chịu nhận tước phong của các triều

đại phong kiến phương Bắc Chẳng hạn,

vào thời Lý, sau khi đánh bại quân Tống ở

sông Như Nguyệt, Lý Thường Kiệt đã chủ

động cử sứ sang doanh trại giặc đề nghị

giặc hạ chiếu rút lui đại binh về nước thì ta

sẽ lập tức sang “tạ tội” và tu cống Chủ

trương dùng “biện sĩ bàn hòa” của Lý

Thường Kiệt đã có tác dụng quan trọng

trong việc tạo lập hòa hiếu giữa hai bên

Việc giữ cho đất nước tạm yên trong

hai mươi lăm năm hòa hoãn của nhà Trần

đã thể hiện r tầm vóc và thiện chí hòa hảo

của ngoại giao Đại Việt Sau ba lần đại

thắng quân Nguyên – Mông lừng lẫy,

chúng ta hoàn toàn có thể đứng trên tư thế

của người chiến thắng, nhưng nhà Trần đã

kịp thời nhận thức là phải giữ gìn “giang

sơn mãi mãi vững âu vàng” bằng những

hoạt động ngoại giao mềm mỏng Nhà

Trần chủ động cử sứ giả đi hòa giải, viếng

thăm và chịu cống lễ Không chỉ trong lần

chiến thắng Nguyên - Mông đầu tiên mà

trong cả ba lần đại thắng đội quân xâm

lược này nhà Trần đều có hành động tương

tự như vậy Sự tài tình trong ứng xử ngoại

giao của nhà Trần đã góp phần làm tan rã

hoàn toàn ý đồ xâm lược nước ta của nhà

Nguyên, kết thúc chiến tranh, khôi phục

hòa hiếu giữa hai nước

Tư tưởng hòa hiếu một lần nữa được

nêu cao trong cuộc kháng chiến chống

quân Minh của nghĩa quân Lam Sơn

Những nhà lãnh đạo cuộc khởi nghĩa luôn

mong muốn “giữ hòa hiếu cho hai nước,

tắt muôn đời chiến tranh”, cho nên dù chiến thắng vẻ vang, Lê Lợi vẫn sai người sang cầu hòa viếng thăm, tặng vật phẩm để cốt xây dựng quan hệ bang giao thân thiện với nhà Minh

Đến thời Quang Trung – Nguyễn Huệ, dù quyết tâm “đánh cho sử tri nam

quốc anh hùng chi hữu chủ”[3, tr 353]

nhưng trước khi đánh giặc và cả sau khi đã thắng giặc, Quang Trung đều tính ngay tới việc giao hiếu với nhà Thanh để dẹp “nỗi hờn rửa nhục” của họ Đúc kết lịch sử bang giao của dân tộc, nhà sử học Phan Huy Chú khẳng định: “Trong việc trị nước, hòa hiếu với nước láng giềng là việc lớn,

mà những khi ứng thù thì lại rất quan hệ, không thể xem thường”[1, tr 44]

Có thể nói, tinh thần hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình luôn được thể hiện xuyên suốt trong quá trình đấu tranh ngoại giao của ông cha ta mà các thời đại của Lý Thường Kiệt, Lê Lợi, Quang Trung, là những mốc điển hình Hòa hiếu luôn là tư tưởng nhất quán trong phương cách của nền ngoại giao Việt Nam Mục đích duy nhất của hòa hiếu là bảo đảm độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững chủ quyền quốc gia và cuộc sống yên bình, hạnh phúc của nhân dân Hồ Chí Minh đã tiếp thu truyền thống quý báu này, làm phong phú thêm tư tưởng ngoại giao của Người, đặc biệt là đó là một trong những nguồn gốc quan trọng giúp Người định hình một phương pháp ngoại giao mang đậm dấu ấn

Hồ Chí Minh - phương pháp ngoại giao tâm công

2 Phương pháp ngoại giao tâm công của

Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh là người kế thừa, vận dụng sáng tạo có hiệu quả tinh thần hoà hiếu, trọng nhân nghĩa và khoan dung độ lượng của ngoại giao Việt Nam truyền

Trang 3

TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ THỰC PHẨM NGUYỄN THỊ TƯỜNG DUY

56

thống Người đã phát triển nó lên một tầm

cao mới, định hình một phương pháp ngoại

giao mà chính nghĩa được đặt làm nòng

cốt, lấy tình thương, lòng độ lượng làm sức

mạnh lay động lương tri con người Đó là

phương pháp ngoại giao “tâm công”

Ngoại giao “tâm công” có thể hiểu là

phương pháp ngoại giao “đánh vào lòng

người”, tức là phương pháp ngoại giao

dùng nhân nghĩa, đạo lý, lẽ phải để thuyết

phục và cảm hóa đối phương, khơi gợi

lòng nhân trong mỗi con người, gây được

thiện cảm nơi người đối thoại

Sinh thời, trong bất kỳ bài nói hay

bài viết nào của mình, Hồ Chí Minh chưa

bao giờ nhắc đến cụm từ này Nhưng quá

trình hoạt động ngoại giao đầy tính nhân

văn và đầy tình người của Người đã định

hình nên một phương pháp ngoại giao mới

mà chúng ta gọi là ngoại giao tâm công

Nội dung cơ bản của phương pháp

ngoại giao tâm công Hồ Chí Minh chính là

dựa trên cơ sở của chủ nghĩa nhân văn và

lòng nhân ái giữa con người với con người,

hướng tới mục tiêu hòa bình, hữu nghị

Theo Người: “Tuy phong tục mỗi dân mỗi

khác, nhưng có một điều thì dân nào cũng

phải giống nhau Ấy là dân nào cũng ưa sự

lành và ghét sự dữ” [4, tr 351] Trong hoạt

động cách mạng nói chung hay trong hoạt

động ngoại giao nói riêng và cả trong

những ứng xử đời thường, Hồ Chí Minh

luôn đối xử với mọi người bằng thái độ

bao dung, bác ái Riêng với ứng xử ngoại

giao, Người đặc biệt chú trọng đến yếu tố

nhân nghĩa, thấy được đây chính là điểm

tương đồng giữa các dân tộc, có tác dụng

thức tỉnh “lương tri nhân loại”, là cơ sở để

tranh thủ được sự ủng hộ của quốc tế đối

với cuộc chiến đấu vì chính nghĩa của dân

tộc Việt Nam Đọc đáp từ trong buổi chiêu

đãi của Thủ tướng Pháp G Bidault

(2-7-1946), Người nói: “Chúng ta đều được

kích thích bởi một tinh thần, triết lý Đạo Khổng và triết lý phương Tây đều tán dương một nguyên tắc: kỷ sở bất dục vật thi ư nhân” Tôi tin rằng trong những điều kiện ấy, Hội nghị sắp tới sẽ đi đến những kết quả tốt đẹp” [8, tr 397] Trong các cuộc tiếp xúc đối ngoại, tiếp xúc với mọi lớp người ở các cương vị và thuộc các dân tộc khác nhau, Hồ Chí Minh luôn tạo cho mọi người cảm giác gần gũi, thân tình và

họ thường bị thuyết phục không chỉ bởi nội dung, ngôn ngữ mà chủ yếu là ở thái

độ bình dị, chân thành

Một khía cạnh nữa của phương pháp ngoại giao tâm công Hồ Chí Minh là luôn tôn trọng người đối diện, biết khơi dậy điểm mạnh trong mỗi con người, biết phân biệt “bạn, thù” Suy rộng ra với các dân tộc, Hồ Chí Minh luôn phân biệt nhân dân của nước đi xâm lược với những kẻ cầm quyền gây chiến Đối với Hồ Chí Minh, chỉ những kẻ hiếu chiến, dã man mới là kẻ thù chính, còn những người dân vô tội thì vẫn có thể là bạn của dân tộc Việt Nam, cho nên ra sức tranh thủ sự đồng tình ủng

hộ của họ là vô cùng cần thiết Người đã khơi dậy được những tình cảm tốt đẹp của nhân dân Pháp, nhân dân Mỹ, thuyết phục

họ đứng về phía nhân dân Việt Nam, ủng

hộ nhân dân Việt Nam trong công cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do, thống nhất đất nước Người nói: “Nhân dân Pháp có truyền thống cách mạng tốt đẹp, trước đây

đã ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng của toàn thể nhân dân Việt Nam nay lại tỏ r

sự đồng tình và ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân miền Nam và cuộc đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước Việt Nam trên cơ sở hiệp định Giơnevơ, nhân dân Việt Nam rất biết ơn nhân dân Pháp về mối cảm tình đó”[7, tr 230] Với nhân dân Mỹ, Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng tôi không có xích

Trang 4

TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ THỰC PHẨM NGUYỄN THỊ TƯỜNG DUY

57

mích gì với nhân dân Mỹ, chúng tôi muốn

sống hòa bình và hữu nghị với nhân dân

Mỹ”[5, tr 117] Dù quyết liệt chống thực

dân Pháp, đế quốc Mỹ và vạch trần tội ác

của chúng, nhưng đối với nhân dân Pháp,

nhân dân Mỹ tiến bộ, Hồ Chí Minh luôn

khơi dậy niềm tự hào dân tộc của họ, luôn

đánh giá đúng những ưu điểm và những

cống hiến của họ đối với nhân loại Người

nói: “Chúng tôi muốn có những quan hệ

hữu nghị và anh em với nhân dân Mỹ mà

chúng tôi kính trọng vì nhân dân Mỹ là

một dân tộc tài năng, đã có nhiều cống

hiến cho khoa học nhất là gần đây đã lên

tiếng phản đối cuộc chiến tranh xâm lược

miền Nam Việt Nam”[5, tr 253]

Để thực hiện phương pháp ngoại giao

hướng tới lòng nhân, tranh thủ lòng người

một cách có hiệu quả, Hồ Chí Minh rất chú

ý tới cách thức thực hiện nó

Thứ nhất, Người cho rằng, muốn ngoại

giao thành công thì phải chú ý đến tác

phong, trang phục và phải có kiến thức

chuyên môn Thật sự, sự lịch lãm, tinh tế

và vốn kiến thức uyên bác là một điểm

mạnh đã đem lại sự thành công cho Hồ Chí

Minh trong mọi hoạt động ngoại giao

Không phải ngẫu nhiên mà trong vườn Phủ

Chủ Tịch, Bác trồng rất nhiều cây ăn trái

và nhiều hoa hồng, Người luôn tặng hoa

hoặc trái cây cho khách quốc tế khi họ đến

thăm Người Còn khi tiếp khách, Người

không bao giờ quên tặng hoa cho phụ nữ

Nhà báo Fracoise de Corrèze đã không bao

giờ quên hành động của Hồ Chí Minh: khi

cuộc họp báo năm 1946 kết thúc, nhân trên

bàn có trang trí lọ hoa hồng, Người đã lấy

một bông hồng tặng chị vì chị là nhà báo

nữ Tuần báo Regard đã đăng tấm hình ghi

nhận khoảnh khắc đó với lời bình: “ Gần

bốn mươi năm đấu tranh cách mạng mà

vẫn lịch thiệp như thường”[7, tr 251] Sau

này, khi hay tin Bác mất, Fracoise de Corrèze đã ôm bó hồng đến Đại sứ quán ta

ở Paris viếng Bác và khóc nức nở Đặc biệt, Hồ Chí Minh đã sử dụng có hiệu quả vốn tri thức của mình trong quan hệ ngoại giao Chẳng hạn, do tận dụng được ưu thế

am tường về văn hoá Trung Hoa, truyền thống trung, tín, lễ, nghĩa mà người Trung Quốc rất tự hào, Hồ Chí Minh đã tạo dựng được mối quan hệ tốt đẹp với nước láng giềng to lớn này Vào ngày sinh lần thứ 74 của Chủ tịch Mao Trạch Đông năm 1967, trên trang nhất Nhân dân nhật báo đăng bút tích của Hồ Chí Minh viết bằng chữ Hán “ Kính chúc Mao Chủ Tịch vạn thọ vô cương” “ Vạn thọ vô cương” là khẩu hiệu chung của nhân dân Trung Quốc chúc tụng, tôn vinh lãnh tụ của mình

Thứ hai là dùng lý lẽ kết hợp với tình cảm, cảm hóa trái tim người đối thoại bằng tấm lòng nhân hậu, phải bày tỏ sự chân thành thật sự Hồ Chí Minh thường dùng

lý lẽ tự nhiên song đầy sức thuyết phục để khơi gợi tình cảm nhân văn của người đối thoại, thuyết phục họ chấp nhận lẽ phải Bằng ứng xử nhạy bén, tinh tế và rất mực khiêm nhường, những lập luận, lẽ phải mà

Hồ Chí Minh nêu ra nếu không cảm hóa được lòng người thì nó cũng khiến cho người ta không có lý lẽ nào để phản bác lại, nếu không làm cho người ta vui vẻ chấp nhận thì cũng khiến cho họ không thể hận thù Đối với từng đối tượng, từ tướng lĩnh cho đến binh lính, Người luôn tỏ r thái độ chân tình, mềm mỏng, nhân ái, thân tình và hữu nghị Trong điện mừng gởi Tổng thống De Gaulle (14/7/1967, Người viết: “Tôi chân thành cám ơn Ngài

đã ủng hộ mạnh mẽ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam chống xâm lược Mỹ để bảo vệ quyền dân tộc của mình theo đúng hiệp nghị Giơnevơ Chúc tình

Trang 5

TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ THỰC PHẨM NGUYỄN THỊ TƯỜNG DUY

58

hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân

dân Pháp ngày càng phát triển”[7, tr 232]

Hồ Chí Minh cũng để lại trong lòng binh

lính và sĩ quan Pháp niềm xúc động dạt

dào bằng những cử chỉ giản dị, thân thiện

Bản thân là chủ tịch nước nhưng Hồ Chí

Minh sẵn sàng bắt tay với từng sĩ quan

Pháp, bày tỏ lòng biết ơn trang trọng, nồng

hậu của Người đối với chính phủ và nhân

dân Pháp Đặc biệt Người đã khơi gợi

được tình cảm thân thuộc sâu kín trong

lòng mỗi người lính Pháp, khiến họ phải

cảm động, bùi ngùi và đánh thức được

lương tâm của họ Khi đứng trước sĩ quan,

binh lính Pháp, Hồ Chí Minh đã chuyển

những tình cảm và nguyện vọng của những

người thân của họ đến với họ bằng những

lời lẽ chân thành: “Tôi cũng xin nói thêm,

thời gian ở Pháp, tôi có dịp được tiếp xúc

với nhiều ông bố, bà mẹ, những người chị,

người vợ cô đơn của những sĩ quan binh

lính Pháp đang làm nhiệm vụ ở Đông

Dương Họ đều có mong muốn những

người con, người chồng của họ mạnh

khỏe, bình yên, sớm trở về để được đoàn

tụ với gia đình, xây dựng lại quê hương

Tôi đã hứa với họ khi về đến Việt Nam sẽ

nhanh chóng truyền đạt lại những nguyện

vọng thiết tha của họ tới các bạn”[6,tr 93]

Lời nói của Người có sức cảm hóa mạnh

đến mức “một vài khẩu súng tuột khỏi tay

rơi, hàng ngũ đội danh dự của Pháp xáo

động”[6,tr 192] Đối với tù binh, Hồ Chí

Minh cũng hết sức độ lượng, Người nói

với tù binh Pháp rằng: “Các bạn thân

mến… nhân dân Việt Nam xem các bạn

như những người bạn và tìm mọi cách để

cuộc sống các bạn được tốt hơn”, Người

còn nhắn nhủ với tù binh châu Phi: “Trong

số các bạn thế nào chẳng có người còn cha

mẹ già và con nhỏ Hãy gửi tới họ những

cái hôn thắm thiết của già Hồ”[6,tr 192]

Thứ ba, để thực hiện thành công phương pháp ngoại giao “tâm công”, Hồ Chí Minh luôn bày tỏ sự nhã nhặn; phong thái giản dị; ngôn từ súc tích, khiêm tốn, phù hợp với tâm lý, tính cách của từng đối tượng giao tiếp Người ứng xử rất linh hoạt, nhạy bén, phù hợp với từng đối tượng, Bác căn dặn cán bộ ngoại giao cần

có thái độ và cách ứng xử phù hợp với tâm

lý, tính cách của từng đối tượng giao tiếp Người luôn căn dặn: “làm ngoại giao thì phải nhanh trí, biết đối đáp có lý lẽ, buộc đối phương phải chịu, mới giữ gìn được quốc thể” [7, tr 256] Tuy nhiên, Người cũng nhắc nhở: khi nói và viết phải chú ý bốn vấn đề có liên quan chặt chẽ với nhau,

đó là: Nói, viết cái gì? Nói, viết cho ai? Nói, viết để làm gì? Nói, viết như thế nào?” [5, tr 576] Và yêu cầu: “ chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết r , chớ nói, chớ viết”, “ những vấn đề chưa được kết luận, chúng ta cần phải hết sức thận trọng trong mọi lời nói và việc làm, nếu không

sẽ ảnh hưởng không tốt”[4, tr 185]

Tóm lại, tinh thần hoà hiếu, trọng đạo lý và tình người của ngoại giao Việt Nam truyền thống đã thâm nhập và ăn sâu vào nhà ngoại giao kiệt xuất Hồ Chí Minh

Nó được biến hoá huyền diệu thành phương pháp ngoại giao tâm công mà cho đến nay những giá trị lung linh của nó không hề bị thời gian che mờ Phương pháp ngoại giao “tâm công” đầy tình người này chỉ có thể được thực hiện một cách tự nhiên ở Hồ Chí Minh Những lời lẽ hợp đạo lý, những lời nói chân thành của Người không phải là những hình thức giả tạo, mà nó xuất phát từ con người với tấm lòng nhân ái thật sự, xuất phát từ nguyện vọng về một nền hòa bình hữu nghị bền vững và lâu dài cho thế giới Ngoại giao tâm công xứng đáng là dấu son đẹp trong lịch sử ngoại giao Việt Nam

Trang 6

TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ THỰC PHẨM NGUYỄN THỊ TƯỜNG DUY

59

3 Vận dụng phương pháp ngoại giao

tâm công của Hồ Chí Minh trong việc

phát triển kỹ năng gây thiện cảm trong

giao tiếp cho sinh viên

Giao tiếp là sự tác động qua lại giữa

con người với con người, mà qua đó nảy

sinh sự tiếp xúc tâm lý được thể hiện ở sự

trao đổi thông tin, sự ảnh hưởng, sự rung

cảm và sự hiểu biết lẫn nhau Giao tiếp trở

thành một vấn đề rộng lớn có ý nghĩa quan

trọng trong khoa học, cuộc sống và sự phát

triển của mỗi cá nhân Đó là nhu cầu tất

yếu trong đời sống của mỗi con người,

nhưng không phải ai trong chúng ta cũng

biết thiết lập cuộc giao tiếp thành công như

mong đợi mà còn phụ thuộc vào rất nhiều

yếu tố kỹ năng, trong đó yếu tố gây thiện

cảm là yếu tố quan trọng và quyết định sự

thành công của các cuộc giao tiếp ngay từ

những phút giây gặp gỡ lần đầu tiên Hồ

Chí Minh là người thầy vĩ đại và thành

công nhất trong việc gây được thiện cảm

với người đối điện, không chỉ với những

người bình thường mà ngay cả những

người bên kia chiến tuyến với Người, đôi

khi có cả những người là kẻ thù của

Người Người đã sử dụng hiệu quả phương

pháp ngoại giao tâm công mà cho đến nay

việc học tập và vận dụng nó đối với sinh

viên là vô cùng cần thiết đối với việc phát

triển kỹ năng gây thiện cảm trong giao

tiếp

Môi trường giao tiếp của sinh viên

rất đa dạng, từ gia đình, nhà trường cho

đến xã hội Trong đó môi trường nhà

trường là nơi sinh viên phải thể hiện sự

tiếp xúc, giao lưu phổ biến và thường

xuyên nhất Để có được sự tin yêu của cha

mẹ, người thân, bạn bè, thầy cô là điều mà

bất kỳ sinh viên nào cũng mong muốn và

cố gắng đạt được Hơn nữa, để tồn tại, phát

triển, làm chủ được bản thân, làm chủ

được công việc, thành công trong môi trường cạnh tranh, nhiều sức ép và tính cạnh tranh cao thì sinh viên không chỉ cần

có chuyên môn, kiến thức vững vàng (còn gọi là kỹ năng cứng) mà cần có thêm kỹ năng mềm Đây là một hành trang cực kỳ quan trọng đối với người lao động trong thời đại mới Và kỹ năng gây thiện cảm trong giao tiếp là một trong những kỹ năng mềm quan trọng nhất mà sinh viên cần phải trang bị để có thể nhanh chóng đạt được thành công trong học tập, công việc

và trở thành người có ích cho xã hội Tạo được thiện cảm là điều cần thiết

và khó nhất trong giao tiếp, đòi hỏi phải có nhiều yếu tố Vận dụng phương pháp ngoại giao tâm công của Hồ Chí Minh, để tạo được thiện cảm trong giao tiếp, chúng ta phải chú ý đến nhiều yếu tố

Trước hết, phải chú ý đến phong cách ăn mặc và trang phục lịch sự, phù hợp với không gian, thời gian và đối tượng tiếp xúc Nó là một thông điệp không lời, ăn mặc cũng là cách để chuyển tải thông tin Luôn gọn gàng, lịch sự thì mới có thể tạo được thiện cảm với người đối thoại, bởi vì trang phục xuề xoà, luộm thuộm thì khó tạo được ấn tượng tốt

Kế đến, lời nói phải tự tin, r ràng, mạch lạc; phải nắm chắc được nội dung mình cần nói và mục đích của cuộc giao tiếp Trước cuộc giao tiếp, phải chuẩn bị vấn đề, chuẩn bị trả lời các câu hỏi: Gặp người đó để làm gì? Lý do tại sao gặp mặt? Mình là ai, người đối diện là ai? Từ đó suy

ra thực hiện bằng cách nào? Khi nào thì tác động bằng ngôn ngữ, bằng nội dung nói: Nói cái gì? Nói những chuyện gì? Hỏi những câu hỏi gì? Dự định trả lời câu hỏi như thế nào?

Sau nữa, phải biết tôn trọng, khơi gợi những ưu điểm, thế mạnh của người đối

Trang 7

TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ THỰC PHẨM NGUYỄN THỊ TƯỜNG DUY

60

diện Ước muốn sâu xa của mỗi người là

được khen ngợi, được tôn trọng và được

quan tâm Bất cứ ai, nếu giao tiếp với tinh

thần tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau đều

thấy r ràng hiệu quả giao tiếp sẽ tốt hơn

Với niềm tin và sự tôn trọng, chúng ta sẽ

trao đổi cởi mở hơn và thẳng thắn hơn với

nhau Chính vì thế, trong giao tiếp, chúng

ta nên vận dụng linh hoạt, lồng ghép

những lời khen tặng ưu điểm của người đối

diện một cách khéo léo Điều này làm cho

họ cảm thấy gần gũi và quý mến chúng ta

hơn Tuy nhiên, khen ngợi phải đúng lúc,

đúng chỗ với ý khiêm nhường, tránh tâng

bốc sẽ khiến người đối thoại cảm thấy khó

chịu và không thiện cảm

Yếu tố không thể thiếu nữa để gây

được sự quý mến trong cuộc giao tiếp là

phải hiểu r người đối thoại cũng như tìm

hiểu tâm lý, tính cách của họ Cần phải

hiểu r người mà chúng ta đang nói

chuyện, họ thích và không thích điều gì

Chúng ta không thể lấy lòng người khác

khi không biết họ muốn, cần nghe những

gì Bởi vì biết nói những điều người đối

diện muốn nghe là một nghệ thuật trong

ứng xử

Cuối cùng, để giao tiếp tốt cần phải

biết cách vận dụng cả mặt bên ngoài và

bên trong của hoạt động giao tiếp Mặt bên

ngoài là những điều có thể thấy được như

trang phục, ngôn ngữ, hành vi Mặt bên

trong chính là những giá trị nội tâm, là sự

hiểu biết, thấu cảm, thông cảm, chia sẻ

Trong đó, suy cho cùng yếu tố quan trọng

nhất chính là sự chân thành, thân thiện

Lòng chân thành, sự thành thật là yếu tố

quan trọng nhất giúp chúng ta tạo được

niềm tin, sự quý mến Giao tiếp là một

hoạt động mà chúng ta phải đối mặt

thường xuyên, mọi lúc, mọi nơi, từ đơn

giản đến phức tạp, từ gia đình đến xã hội,

từ giao tiếp với một người đến đám đông

Để gây thiện cảm trong giao tiếp, điều đầu tiên chúng ta phải xuất phát từ sự chân thành và hướng đến sự thành thật trong tất

cả những mối quan hệ Nếu trong giao tiếp, chúng ta thiếu tinh thần ngay thẳng, giả dối thì dù vẻ bên ngoài từ hình dáng, trang phục, lời nói… có tốt đẹp đến mấy cũng đều trở thành vô nghĩa, thậm chí để lại hậu quả không lường sau cuộc giao tiếp

Tóm lại, ứng xử sao cho đẹp lòng người nhưng không thiệt cho mình, được

sự tin yêu của mọi người là cả một nghệ thuật Điều đó đòi hỏi sự nhảy cảm, tinh tế trong giao tiếp hằng ngày, đặc biệt là trong kinh doanh, học tập, lao động cũng như trong mọi lĩnh vực khác Điều này đặc biệt quan trọng với các bạn sinh viên - lực lượng lao động nòng cốt của đất nước trong tương lai Vì vậy, học tập, vận dụng phương pháp ngoại giao tâm công Hồ Chí Minh là vô cùng có giá trị, nó hướng mỗi người chúng ta đến cách ứng xử, đối xử giữa con người với nhau bằng sự chân thành và lòng nhân ái, hướng kết quả của mọi cuộc giao tiếp đến mục đích thân tình, thành thật và sự tin yêu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Học viện quan hệ quốc tế (2002), Góp phần t m hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao, Nxb Lao động, Hà Nội

2 Vũ Dương Huân (2000), Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao, Nxb Thanh niên,

Hà Nội

3 Lịch sử Việt Nam, (1971), Nxb Khoa

học xã hội, Hà Nội

4 Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Tập 4,

Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

5 Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Tập 11,

Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

Trang 8

TẠP CHÍ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ THỰC PHẨM NGUYỄN THỊ TƯỜNG DUY

61

6 Nhiều tác giả (2000.), Đánh địch mà

thắng là giỏi, không đánh mà thắng địch

càng giỏi hơn, Nxb Trẻ, Hồ Chí Minh

7 Nguyễn Dy Niên (2002), Tư tưởng

ngoại giao Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị

Quốc gia, Hà Nội

8 Song Thành (2005), Hồ Chí Minh nhà

tư tưởng lỗi lạc, Nxb Chính trị Quốc gia,

Hà Nội

9 Huỳnh Văn Sơn (2012), Kỹ năng mềm cho sinh viên đại học Sư phạm, Nxb Giáo

Dục, Hà Nội

10 Huỳnh Văn Sơn (2007), Giáo tr nh

giáo dục kỹ năng sống, Nxb Giáo Dục, Hà

Nội

Ngày đăng: 05/05/2021, 17:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w