Bài giảng Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản gồm có 3 chương, cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản về: Vật liệu, công nghệ chế tạo lưới cụ; kỹ thuật đánh bắt; bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản. Mời các bạn cùng tham khảo.
Vật liệu, công nghệ chế tạo lưới cụ
Vật liệu xơ, sợi
1.1.1 Các đặc trưng chủ yếu của vật liệu xơ, sợi:
Xơ sợi thành phần cơ bản để cấu tạo thành sợi, chỉ lưới Xơ sợi có các đặc trưng chủ yếu sau đây:
Sự ngậm ẩm của xơ, sợi là khả năng hút và nhả nước của chúng, diễn ra đồng thời và liên tục Sau một thời gian nhất định, xơ, sợi sẽ đạt trạng thái cân bằng động về ngậm ẩm, khi lượng nước hút vào bằng lượng nước nhả ra, dẫn đến độ ẩm xác định của xơ, sợi.
Độ ẩm của xơ sợi được tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa lượng nước có trong xơ sợi và trọng lượng của xơ sợi khi khô hoàn toàn Để xác định độ ẩm, chúng ta sử dụng biểu thức cụ thể.
Trong đó: WX - Độ ẩm xơ, sợi (%)
G - Khối lượng xơ lúc ẩm (g)
GK - Khối lượng xơ lúc khô (g)
Độ ẩm của xơ, sợi chịu ảnh hưởng bởi nhiệt độ môi trường và độ ẩm không khí Khi độ ẩm không khí vượt quá 80%, nhiệt độ môi trường sẽ giảm và độ ẩm của xơ, sợi tăng lên do khả năng hút nước tăng Ngược lại, khi độ ẩm không khí dưới 80%, nhiệt độ môi trường tăng sẽ dẫn đến sự giảm độ ẩm của xơ, sợi, làm giảm khả năng hút nước.
Để đánh giá và so sánh độ hút ẩm của các loại xơ sợi, cần thống nhất các điều kiện đo lường Độ hút ẩm của xơ sợi, được gọi là độ hút ẩm tiêu chuẩn (Wc), được xác định khi xơ sợi được để trong phòng kín trong 24 giờ, với nhiệt độ 203 o C và độ ẩm không khí là 655%.
Bảng 1 Giá trị độ ẩm tiêu chuẩn của một số loại xơ, sợi thường dùng trong nghề cá
Tên vật liệu Độ tiêu chuẩn (%) Tên vật liệu Độ tiêu chuẩn (%)
Độ ẩm xơ, sợi có ý nghĩa quan trọng trong việc duy trì chất lượng vật liệu Khi xơ sợi hấp thụ nước, đường kính của nó gia tăng và sinh ra nhiệt Trong môi trường nhiệt đới như Việt Nam, độ ẩm không khí cao khiến xơ, sợi dễ bị ẩm, tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển Sự phát triển này làm giảm độ bền của xơ, sợi do bị mục nát nhanh chóng.
Độ ẩm và nhiệt độ không khí luôn thay đổi, dẫn đến sự khác biệt về khối lượng xơ sợi tại các địa điểm và thời gian khác nhau Điều này gây khó khăn cho việc mua bán trên thị trường Do đó, khi giao dịch vật liệu xơ sợi hoặc các chế phẩm từ chúng, cần xác định độ ẩm tiêu chuẩn của vật liệu để tính toán khối lượng tiêu chuẩn theo công thức phù hợp.
Trong đó: G, W - Khối lượng, độ ẩm thực tế
GC, WC - Khối lượng, độ ẩm tiêu chuẩn
1.1.1.2 Độ dài, độ nhỏ của xơ sợi:
Độ dài của xơ, sợi là khoảng cách giữa hai đầu của xơ khi kéo căng và mỗi loại xơ có độ dài riêng Độ dài xơ ảnh hưởng đến tính chất của chế phẩm: xơ dài hơn mang lại độ bền cao hơn, đồng thời tăng tính đồng đều và năng suất cho máy gia công xơ sợi.
Nếu cùng vật liệu và hình dáng (đường kính, chiều dài) xơ, sợi nào có độ dài lớn hơn thì sản phẩm của nó bền hơn
Độ thô của xơ, sợi (độ to nhỏ) không thể đo trực tiếp do kích thước quá mảnh, vì vậy thường sử dụng các phương pháp biểu thị như số chi hay chi số (N) để thể hiện độ to nhỏ của chúng.
Số chi biểu thị độ to nhỏ của xơ tự nhiên
Số chi xác định bằng tỉ số giữa chiều dài và khối lượng lượng xơ sợi:
Trong bài viết này, chúng ta quy ước chiều dài xơ được ký hiệu là L và khối lượng là G, với G được chọn là 1.000g để thuận tiện cho việc tính toán Cụ thể, nếu N = 1, chiều dài xơ sẽ là 1.000m và khối lượng cũng là 1.000g Tương tự, khi N = 5, chiều dài xơ sẽ tăng lên 5.000m nhưng khối lượng vẫn giữ nguyên là 1.000g.
Nếu L, G tính bằng m, g thì chi số đó gọi là chi số quốc tế (Nm)
Nếu L, G tính bằng mã, bảng Anh thì chi số đó gọi là chi số Anh (Nc)
Mối quan hệ giữa Nm và Nc: Nm = 1,693Nc hay Nc= 0,591Nm b Biểu thị bằng số Denier(D):
Số Denier biểu thị độ nhỏ của sợi hóa học
Thường dùng ký hiệu: (chuẩn số) D Ví dụ: 210 D
Số Denier biểu thị bằng tỉ số giữa khối lượng trên chiều dài của 9000m xơ Hay là khối lượng tính bằng (g) của 9.000m xơ (sợi)
Ví dụ: 210 D nghĩa là 9.000m xơ, sợi nặng 210gam
D càng lớn sợi càng thô, ngược lại D càng nhỏ sợi càng thanh
Mối quan hệ giữa giữa D và N: D.Nm = 9.000 c Biểu thị bằng số Tex (T):
Số Tex biểu thị độ nhỏ của sợi hóa học
Số Tex biểu thị bằng tỉ số giữa khối lượng của sợi trên chiều dài của 1.000m sợi đó Hay Tex biểu thị bằng khối lượng của 1.000m sợi
Biểu diễn: Trị số của Tex rồi đến Tex 1Tex là trọng lượng 1 gam của 1.000m xơ, sợi Ví dụ: 29tex nghĩa là 1.000m xơ, sợi nặng 29gam
Mối quan hệ giữ T và Nm: T.Nm = 1000
Bảng 2: Mối quan hệ giữa N, D v à T N.Tex = 1.000 N.D = 9.000 1 D = 9 T T = 0,111 D
1.1.1.3 Những tính chất cơ học của xơ sợi: a Ý nghĩa:
Tính chất cơ học của xơ, sợi là những đặc điểm quan trọng xuất hiện khi chúng chịu tác động của ngoại lực Dưới áp lực, xơ, sợi có thể biến dạng và đến một mức độ nhất định sẽ bị phá hủy Do đó, việc hiểu rõ cách thức biến dạng của xơ, sợi và các điều kiện dẫn đến sự phá hủy là rất cần thiết trong thực tế sử dụng.
Có như vậy mới đặt ra được tiêu chuẩn kỹ thuật cho ngư cụ và bảo đảm an toàn khi thao tác b Tính chất:
- Biến dạng của xơ, sợi khi kéo dãn:
Tính biến dạng của xơ, sợi có đặc điểm khác biệt so với các loại vật liệu khác Khi tác dụng lực dọc theo trục xơ sợi có chiều dài ban đầu L0, chiều dài sẽ giãn ra thành L1, với điều kiện lực không vượt quá lực đứt của xơ Giá trị L1 phụ thuộc vào loại vật liệu, cường độ lực, thời gian tác dụng và trạng thái ẩm ướt hay khô của xơ sợi Khi ngừng tác dụng lực, chiều dài xơ sợi sẽ thu ngắn lại còn L2, và sau một thời gian, chiều dài sẽ giảm xuống còn L3 (L3 < L2), với L3 là giá trị nhỏ nhất không thể hồi phục về chiều dài ban đầu L0 Từ đó, ta có các đại lượng: độ biến dạng đàn hồi nhanh (L1 = L1 - L2), độ biến dạng đàn hồi chậm (L2 = L2 - L3), và độ biến dạng đàn hồi vĩnh cửu (L3 = L3 - L0).
Xác định thời điểm độ biến dạng đàn hồi nhanh và chậm là một thách thức lớn Việc nghiên cứu độ biến dạng của xơ, sợi khi kéo dãn giúp đánh giá mức độ đàn hồi của vật liệu, từ đó lựa chọn vật liệu phù hợp cho từng loại ngư cụ Khi vật liệu xuất hiện đàn hồi vĩnh cửu, giá trị sử dụng của ngư cụ sẽ giảm đi.
+ Các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến dạng xơ, sợi:
Tốc độ kéo dài của xơ ảnh hưởng trực tiếp đến tính chất dãn dài của nó; khi tốc độ kéo dài tăng nhanh, xơ dễ bị đứt hơn.
Nhiệt độ và độ ẩm có ảnh hưởng khác nhau đến các loại xơ Đối với xơ thực vật, khi độ ẩm tăng, cường độ của xơ sẽ tăng theo Ngược lại, xơ nhân tạo sẽ giảm cường độ khi gặp độ ẩm cao.
Biến dạng của xơ, sợi khi bị kéo đứt được xác định bởi lực đứt (Pd), biểu thị tải trọng tối đa mà xơ có thể chịu đựng trước khi đứt, với đơn vị tính là Kg Độ bền này được đo bằng máy đo độ bền, và mỗi loại vật liệu xơ, sợi đều có độ bền đứt riêng biệt.
- Biến dạng của xơ, sợi khi bị uốn:
Dây lưới và dây thừng
1.2.1 Kết cấu dây: a Hướng xoắn:
Quá trình xe xoắn xơ và sợi thành dây tạo ra các đường xoắn bên ngoài sản phẩm, được gọi là hướng xoắn Hướng xoắn có hai loại chính: hướng xoắn phải và hướng xoắn trái.
+ Hướng xoắn phải (kí hiệu là S) là hướng xoắn khi nhìn vào chế phẩm từ trên xuống, đường xoắn đi từ trái sang phải (hình 2a)
+ Hướng xoắn trái (kí hiệu là Z) là hướng xoắn khi nhìn vào chế phẩm từ trên xuống, đường xoắn đi từ phải sang trái (hình 2b)
Hình 2: Hướng xoắn của chỉ lưới
- Quy ước về cách ghi, đọc hướng xoắn bên số hiệu chỉ lưới:
+ Hướng xoắn viết về bên phải ở vị trí ngoài cùng là hướng xoắn bên ngoài của chỉ lưới
+ Hướng xoắn viết về bên trái ở vị trí trong cùng là hướng xoắn ban đầu của xơ xe thành sợi
+ Hướng xoắn viết ở giữa là hướng xoắn của các quá trình xe trung gian
+ Trường hợp bên cạnh số hiệu chỉ lưới chỉ ghi một ký hiệu hướng xoắn hiểu đó là hướng xoắn bên ngoài của chỉ lưới b Kết cấu dây:
Sợi được hình thành từ việc sắp xếp các xơ lại với nhau chỉ qua một lần xe, do đó chúng tự mở xoắn và không thể đan thành lưới trực tiếp Các loại sợi bao gồm sợi thô (staple yam), sợi nguyên (single yam) và sợi con (folded yam).
Sợi nguyên là loại sợi được tạo thành từ những xơ dài có chiều dài đồng nhất và được xe một lần, mang lại chất lượng cao và bề mặt nhẵn bóng sau quá trình chải kỹ Sợi đơn, hay còn gọi là sợi nguyên, cũng được biết đến như sợi cơ bản hay sợi đơn vị, thường được sử dụng trong nghề cá.
Sợi thô có chất lượng kém do sự chắp nối của những xơ ngắn trong quá trình xe, dẫn đến bề mặt không mịn màng khi những đầu xơ lộ ra ngoài Vì vậy, sợi thô ít được sử dụng trong ngành nghề cá.
- Sợi con: Do sợi thô, sợi nguyên xe cùng chiều xe hoặc do một số sợi đơn xe lại với nhau
Sợi đơn là loại sợi dài vô hạn, không có vòng xoắn và có bề mặt trơn bóng, thường được biết đến với tên gọi sợi cước Với cấu trúc đặc biệt, sợi đơn có thể được sử dụng để đan trực tiếp thành lưới, như lưới rê, do đó nó còn được gọi là dây lưới hoặc chỉ lưới.
Căn cứ vào mức độ xe xoắn người ta chia ra hai loại dây: Dây đơn và dây phức
Dây đơn là loại dây được hình thành qua hai lần xe xoắn, đầu tiên là từ nhiều xơ thành sợi thô, sau đó từ nhiều sợi thô kết hợp lại thành dây Loại dây này thường được sử dụng để làm chỉ lưới.
Dây phức là loại dây được chế tạo qua ít nhất ba lần xe xoắn, thường được sử dụng làm dây diềng và các dây công tác khác Cách xe xoắn dây phức giúp tăng cường độ bền và khả năng chịu lực, làm cho nó trở thành lựa chọn lý tưởng cho nhiều ứng dụng.
Nhiều xơ chắp nối xe xoắn để trở thành sợi thô và nhiều sợi thô xe xoắn thành sợi đơn và nhiều sợi đơn xe xoăn thành dây lưới
Thông thường, lần xoắn xe sau sẽ ngược chiều với lần xoắn trước Đôi khi, trong quá trình trung gian, có thể xuất hiện xe xoắn cùng chiều để tạo độ mềm mại cho dây.
1.2.2 Các phương pháp biểu thị độ thô của dây: a Dây lưới: Độ thô là chỉ tiêu kỹ thuật quan trọng của dây lưới, độ thô của dây lưới có thể biểu diễn bằng diện tích mặt cắt ngang hoặc đường kính dây lưới Do dây lưới có cấu trúc đặc biệt, mặt ngoài dây lưới không đều nhau do các vòng xoắn không đều nhau Hơn nữa dây lưới là vật liệu mềm, có kích thước ngang nhỏ nên rất khó khăn để đo được chính xác các kích thước trên Để khắc phục những khó khăn đó có thể sử dụng đại lượng gián tiếp để biểu diễn độ thô Có ba phương pháp biểu diễn độ thô của dây lưới sau:
1 Biểu thị bằng phân số (N/n) Trong đó tử số là số chi, mẫu số là số lượng sợi
Cách biểu thị thông số kỹ thuật của dây lưới thường gặp là PA 210N/4 x 3, với các ví dụ như 20/12; 210/4 x 3; 210/6 Phương pháp này giúp đánh giá và so sánh độ thô của dây lưới một cách hiệu quả.
- Chỉ số độ thô của sợi nguyên
- Số lượng sợi thô, sợi con có trong một dây lưới
- Hướng xoắn của chỉ (dây) lưới thành phẩm
2 Biểu thị bằng hệ Tex (HT = T x n) Trong đó: T là số Tex, n là số lượng sợi
3 Biểu thị bằng đường kính (d): Xác định đường kính dây lưới bằng cách đo trực tiếp Đo bằng thiết bị chuyên dùng: đây là phương pháp có độ chính xác cao
Thiết bị đo là dụng cụ quang học bao gồm kính lúp và thước đo chính xác, thường được sử dụng trong phòng thí nghiệm Để đo, người ta căng dây lưới với độ căng nhất định và sử dụng kính lúp để xác định đường kính dây Phương pháp đo thủ công bao gồm việc quấn dây vào một vật tròn từ 10 đến 20 vòng, sau đó đo chiều dài của các vòng quấn Độ dài đo được chính là tổng số đường kính của các vòng quấn, từ đó tính toán đường kính chỉ lưới bằng một phép tính đơn giản Để đảm bảo độ chính xác, nên thực hiện nhiều lần đo và tính giá trị trung bình Đơn vị đo là mm, thường áp dụng cho dây gai, dây đay hoặc dây có độ thô lớn.
Dây thừng có độ thô lớn, do đó có thể đo trực tiếp đường kính tiết diện ngang bằng thước, và độ thô được biểu thị qua đường kính () tương tự như dây lưới, với đơn vị tính là mm.
1.2.3 Các loại dây thường dùng trong nghề cá: a Yêu cầu chung:
- Dây có độ bền cao, mềm mại chịu ẩm tốt
- Nhẹ, ít ngấm nước, ít mục nát
- Tính ổn định cao, chịu được ma sát
Dây lưới bông có độ không đều thấp và tính kháng mục, phơi nắng tốt hơn so với gai Nó rơi chìm chậm và có độ dãn lớn, thích hợp để đan các loại lưới, ngoại trừ lưới lê.
Dây lưới gai có độ bền vượt trội hơn bông, với khả năng dãn và săn bé tốt, giúp rơi chìm nhanh chóng Tuy nhiên, dây này có độ không đều lớn, bề mặt thô ráp, dễ mục và chịu ma sát kém Loại dây này thường được sử dụng để làm lưới giã và lưới rê, với độ thô dao động từ 0,3 đến 3mm.
Lưới tấm, các đặc tính kỹ thuật của lưới tấm
Lưới tấm được tạo ra từ việc đan hoặc dệt chỉ lưới, từ đó người ta cắt và ghép để tạo thành áo lưới cho các lưới cụ hoàn chỉnh.
Mắt lưới là đơn vị nhỏ nhất của tấm lưới Mắt lưới có dạng hình thoi, gồm có cạnh mắt lưới và gút lưới (hình 3) a Cạnh mắt lưới:
Cạnh mắt lưới kí hiệu là a, với chiều dài mắt lưới là 2a và đơn vị tính là mm Tấm lưới yêu cầu có các cạnh mắt lưới đồng nhất.
Sự biến dạng thường gặp của cạnh và mắt lưới (hình 4)
Hình 4: Sự biến Dạng của mắt lưới b Gút lưới:
Gút lưới là điểm giới hạn của cạnh mắt lưới
Căn cứ vào cấu trúc, gút lưới được chia thành hai dạng cơ bản: gút dẹt và gút chân ếch Mỗi dạng này lại bao gồm các kiểu gút như gút đơn, gút kép và gút biến dạng.
Hình 5: Các kiểu gút lưới
- Gút dẹp đơn (5a): ưu điểm chịu lực dọc tốt, ít tốn chỉ lưới, gút nhỏ độ mài mòn ít, lưới mềm Nhược điểm: chịu lực ngang kém
Gút chân ếch đơn (5b) có ưu điểm là nhỏ gọn, tiết kiệm chỉ và chịu lực ngang tốt hơn so với gút dẹp Tuy nhiên, nhược điểm của nó là gút tròn có thể tích lớn, dễ bị mài mòn trong quá trình thao tác.
- Gút chân ếch kép (5c): chịu lực ngang tốt nhưng gút to, tốn chỉ dễ bị mài mòn
1.3.2 Rút gọn tấm lưới: a Khái niệm:
Rút gọn tấm lưới (RGTL) là quá trình luồn dây diềng qua từng mắt lưới ở mép trên và dưới của tấm lưới, nhằm ổn định dạng mắt lưới theo một hệ số nhất định, được gọi là hệ số rút gọn.
Hệ số rút gọn (HSRG) được tính bằng tỷ lệ giữa độ dài đường chéo của mắt lưới theo chiều ngang hoặc dọc so với kích thước của mắt lưới Lý luận về việc rút gọn tấm lưới tập trung vào mối quan hệ này để tối ưu hóa hiệu suất và khả năng sử dụng của lưới trong các ứng dụng khác nhau.
Giả sử có mắt lưới ABCD với cạnh a, O là điểm giữa của hai đường chéo, trong đó 2x là độ dài đường chéo ngang và 2y là độ dài đường chéo dọc Hình ảnh mô tả cấu trúc này theo khái niệm về HSRG.
Trong đó U1 và U2 là HSRG ngang và dọc của mắt lưới ABCD
* Xét cho một tấm lưới bất kỳ:
Giả sử một tấm lưới bất kỳ có n mắt lưới theo chiều ngang, có m mắt lưới theo chiều cao Từ biểu thức (1) và (1') ta có: n a n
Độ dài gây diềng (2x.n) và chiều cao dây diềng (2y.n) là các thông số quan trọng của tấm lưới sau khi rút gọn, với độ dài tấm lưới (L) và chiều cao (H) tương ứng Bên cạnh đó, độ dài kéo căng (2a.n) và độ cao kéo căng (2a.m) của tấm lưới trước khi rút gọn được xác định là độ dài trước rút gọn (L0) và độ cao trước rút gọn (H0).
(3) và (3) là biểu thức về HSRG ngang và dọc cho một tấm lưới c) Quan hệ giữa hệ số rút gọn ngang và dọc
Quan hệ giữ U1 và U2 theo biểu thức sau:
Từ các công thức trên ta lập được bảng giá trị về mối quan hệ giữa U1 và U2 như sau:
U1 và U2 có mối quan hệ nghịch trong khoảng từ 0 đến 1 Khi U1 = U2 = 0,707, mắt lưới sẽ có hình vuông và đạt diện tích lớn nhất Hiện tượng này được gọi là diện tích mắt lưới tối ưu.
Hình 6: tích tấm lưới ở HSRG giới hạn; hệ số rút gọn ngang cho các loại lưới được lựa chọn trong giới hạn: 0 < U1 < 0,707(lý thuyết); Thực tế 0,45 < U1 < 0,707
1.3.3 Tính khối lượng áo lưới
Mục đích của việc tính toán khối lượng áo lưới là để dự trù kinh phí mua số lượng lưới cần thiết cho việc lắp ráp một lưới cụ hoàn chỉnh Các phương pháp tính toán chủ yếu bao gồm việc tính theo diện tích giả của tấm lưới.
Quan niệm: diện tích giả S0 = L0 H0
Trong đó: M là khối lượng áo lưới cần tính;
M0 là khối lượng 1 m 2 diện tích giả của vật liệu lưới đan sẵn M0 có thể tra bảng hoặc xác định theo công thức: k k
Trong đó: Mk là khối lượng đoạn dây lưới tiêu chuẩn,
S0k là diện tích giả có được do đan từ đoạn dây ấy b) Tính theo diện tích thật của tấm lưới
Quan niệm: Diện tích thật của tấm lưới là S = L H
Trong đó: K là HSRG diện tích và K = U1 U2
Trong thực tế người ta tìm S dễ hơn S0 nên công thức này được áp dụng phổ biến
1.3.4 Quy cách và kiểm thu lưới tấm a) Quy cách
Mỗi tấm lưới sản xuất đều có quy cách nhất định, bao gồm các thông số như n, m, L0, H0, 2a, N/n, U1, kiểu rút lưới, M và màu sắc Những thông số này được ghi rõ trên nhãn hàng, giúp người dùng lựa chọn tấm lưới phù hợp với yêu cầu thiết kế và kiểm tra chất lượng sản phẩm tại nơi sản xuất.
Phương pháp kiểm tra các chỉ tiêu quy cách lưới tấm theo các phương pháp sau:
- Kích thước tấm lưới: kéo căng tấm lưới theo chiều dài, dùng thước đo chiều dài, sai số không lớn 0,1m Về chiều rộng đếm số mắt lưới
Khi đo kích thước mắt lưới, cần chọn các vị trí đại diện trên tấm lưới Đối với mắt lưới có kích thước 2a > 30mm, kiểm tra 20 mắt lưới; trong khi đó, với mắt lưới có kích thước 2a < 30mm, chỉ cần kiểm tra 10 mắt lưới Sai số cho phép trong quá trình kiểm tra không vượt quá 2-4% so với cạnh mắt lưới.
- Kiểm tra độ thô dây lưới: đếm số lượng sợi
- Kiểm tra gút lưới: kiểm tra ở 5-7 gút xem cấu trúc gút lưới có đúng như ghi trên nhãn hàng
- Kiểm tra U1: đếm số mắt lưới trên chiều dài dây diềng là 0,5m, rồi xác định
U1 = 0,5/2a.n (n là số mắt lưới đếm được)
- Kiểm tra khối lượng áo lưới: lấy mẫu lưới đặt trong điều kiện tiêu chuẩn, xác định Wc từ đó xác định Gc, so sánh với M ghi ở nhãn hàng
- Kiểm tra chất lượng lưới: xem màu sắc lưới kết hợp với ngửi mùi Nếu lưới có lốm đốm bạc, ngửi phát hiện mùi mốc là lưới bị mục
Ngoài ra có điều kiện kiểm tra trọng lượng lưới, trắc định độ bền dây lưới.
Phao và chì
Trang bị phao chì cho lưới giúp định hình và giữ lưới ở vị trí cố định trong nước Mỗi loại lưới cần có loại phao chì phù hợp để đảm bảo hiệu quả sử dụng.
Vì vậy nghiên cứu trang bị phao chì cho lưới là quan trọng
1.4.1 Lý luận tính sức nổi của phao, sức chìm của chì
1.4.1.1.Tính sức nổi của phao
Theo định luật Acsimet, khi một vật được nhúng chìm trong chất lỏng, nó sẽ nhận được một lực đẩy hướng lên, lực này có độ lớn bằng trọng lượng của khối chất lỏng mà vật đó đã chiếm chỗ.
Xét 1 vật A có thể tích là V, nhúng chìm trong nước, khi đó nó chịu tác dụng: lực đẩy Acsimet (P) và trọng lực bản thân (G) Vật A có giá trị làm phao khi
P > G Giá trị lớn hơn đó gọi là sức nổi của phao (Qf)
Qf = P - G = V. n V. f V( n f ) mà V = Gf/ f nên ta có:
(qf gọi là tỷ suất nổi hay suất nổi của phao)
Ta có: Qf = Gf qf (KG)
1.4.1.2.Tính sức chìm của chì
Khi trọng lực của vật A (G) lớn hơn lực đẩy Acsimet (P), vật A sẽ chìm Giá trị này được gọi là sức chìm của chì (Qc).
Qc = G - P = V c V. n V( c n ) mà V = Gc/ c nên ta có:
= qc (qc gọi là tỷ suất chìm hay suất chìm của chì)
Khi đó có: Qc = Gc qc (KG)
1.4.1.3.Sức chìm tổng cộng (Q ctc )
Qctc = Qc + Qal + Qdd + … = Gc qc + Gal qal + Gdd qdd + …
dd n dd dd al n al al c n c c G G
1.4.2 Tính số lượng phao chì trang bị cho lưới
Trong thực tế thường khối lượng chì (Gc) trang bị cho lưới được tính bằng 10-30% khối lượng áo lưới và dây diềng (Gad)
Khi đó số lượng chì (nc) được tính: nc = Gc/gc (gc là khối lượng một viên chì)
1.4.2.2 Tính số lượng phao trang bị cho lưới
Khi lưới hoạt động trong nước, có sự khác biệt về sức nổi tùy thuộc vào tầng đánh cá: ở tầng nổi, Qf > Qctc; ở tầng đáy, Qf < Qctc; và ở tầng giữa, Qf = Qctc Tuy nhiên, lưới còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như sức chìm của cá, sóng gió và sức cản của nước Để đảm bảo an toàn cho lưới, người ta tăng cường sức nổi bằng cách áp dụng hệ số sức nổi an toàn (Ka).
Qf = Ka Qctc hay Gf qf = Ka Qctc
Nếu khối lượng một quả phao là gf thì số lượng phao (nf) là: nf f f ctc a g q
1.4.3 Các loại phao chì thường dùng trong nghề cá
1.4.3.1 Tính năng sử dụng của phao
Phao nhẹ, ít thấm nước, bền và dễ gia công là những yêu cầu chung cho các loại phao Trong đó, phao gỗ là loại phao phổ biến ở Việt Nam nhờ vào tính dễ kiếm, dễ làm và giá thành rẻ.
Phao được làm từ nhiều loại gỗ như vàng tâm, bồ đề, ngát, gạo với hình dáng khác nhau tùy thuộc vào yêu cầu về sức nổi và thao tác sử dụng Cụ thể, phao hình bầu dục thường được dùng cho lưới vây, trong khi phao hình trụ thích hợp cho lưới rê Phao ống làm từ nứa hoặc vầu có sức nổi lớn nhưng khá cồng kềnh và dễ hỏng, thường được sử dụng cho phao ganh lưới rê, lưới rút, và phao biên Kích thước của phao ống không có quy cách cụ thể mà phụ thuộc vào từng loại lưới Ngoài ra, phao thủy tinh cũng có sức nổi lớn và không thấm nước, nhưng cồng kềnh, dễ vỡ và dễ mất.
Phao hoá học và phao thuỷ động là hai loại phao phổ biến trong nghề đánh bắt Phao hoá học, với sức nổi lớn và không thấm nước, thường được sử dụng cho lưới vây có hình dạng trống Trong khi đó, phao thuỷ động có sức nổi lớn khi di chuyển trong nước, thích hợp cho các loại lưới giã và lưới vây rút.
Sức nổi thuỷ động phụ thuộc: tốc độ vận động của phao trong nước và hình dạng phao
1.4.3.2 Tính năng sử dụng của chì a) Chì bằng Pb: Nặng không sét rỉ, dễ gia công nhưng dễ rúc bùn Dùng phổ biến ở các loại lưới rê, vây, giã b) Chì bằng đá: Làm từ nguyên liệu rẻ tiền nhưng rất khó gia công, sử dụng thì cồng kềnh Dùng phổ biến ở lưới rê thu, lưới rút, lưới giã thủ công c) Chì bằng gang: Nặng, ít sét rỉ nhưng đắt tiền Dùng phổ biến ở lưới vây d) Chì bằng gốm: Rẻ tiền, dễ gia công, không sục bùn, nhưng dễ vỡ Thường dùng làm chì lưới giã e) Chì bằng sắt: Hay bị sét rỉ dùng làm chì lưới giã cơ giới.
Công nghệ lưới cụ
1.5.1.2 Các phương pháp gây lưới
- Gây bằng hàng nửa mắt lưới
- Gây từ hàng lưới cũ
- Gây từ một mắt lưới
1.5.1.3 Các phương pháp đan tăng giảm mắt lưới
- Đan tăng mắt lưới: Có hai cách là đan tăng trong tấm lưới (tăng treo, tăng nửa mắt lưới) và tăng ở biên lưới
- Đan giảm mắt lưới: Có hai cách giảm ở biên lưới (giảm hở cạnh) và giảm ghép mắt lưới
1.5.1.4 Tính tỷ số đan tăng giảm mắt lưới
Tỷ số đan tăng giảm mắt lưới được biểu thị bằng phân số a/b, trong đó a là số mắt lưới cần điều chỉnh theo chiều ngang và b là chu kỳ đan tăng giảm, được tính bằng số hàng mắt lưới.
Để xác định tỷ số đan lưới cho tấm lưới hình thang ABCD với đáy lớn n1, đáy nhỏ n2 và chiều cao m mắt lưới, ta sử dụng công thức tổng quát: m = (n1 - n2) / a.
- Mục đích cắt lưới là để tạo ra các mảnh áo lưới có hình dạng nhất định theo thiết kế
- Các phương pháp cắt lưới:
Cắt thẳng đứng là quá trình thực hiện phép cắt hai cạnh của một mắt lưới, đồng thời hướng về cùng một phía bên trái hoặc bên phải của điểm gút lưới theo phương thẳng đứng.
+ Cắt thẳng ngang là thực hiện phép cắt hai cạnh của một mắt lưới cùng vế một phía trên hay dưới điểm gút lưới theo hướng thẳng ngang.(b)
+ Cắt xiên là thực hiện phép cắt hai cạnh đối lập trong một mắt lưới theo hướng xiên phải hay xiên trái.(c)
+ Cắt kết hợp là thực hiện cắt kết hợp giữa hai hay ba phương pháp cắt lưới trên
Hình 7: Các phương pháp cắt lưới
- Tính tỷ số cắt lưới:
Để cắt một mảnh lưới phức tạp, cần dựa vào thiết kế để tính tỷ số cắt lưới, được biểu thị bằng phân số c/d Trong đó, c là số mắt lưới cắt thẳng đứng và d là số mắt lưới cắt ngang, với điều kiện c/d > 0.
Để tính tỷ số cắt lưới cho một mảnh áo lưới hình thang ABCD, trong đó đáy lớn có n1 mắt lưới, đáy nhỏ có n2 mắt lưới và chiều cao là h mắt lưới, ta sử dụng công thức tổng quát: d = (h * (n1 - n2)) Phương pháp này giúp xác định chính xác tỷ số cắt lưới dựa trên các thông số của áo lưới.
Khi tỷ số cắt lưới đã được tối giản nhưng vẫn là phân số lớn, cần phân tích thành các tỷ số nhỏ Tổng tử số của các tỷ số nhỏ phải bằng tử số của phân số lớn, và tổng mẫu số cũng phải bằng mẫu số của phân số lớn Sau đó, thực hiện cắt lưới theo các tỷ số nhỏ đã phân tích.
Có hai phương pháp ghép lưới: sươn lưới và keo lưới
Sươn lưới là phương pháp ghép nối các tấm lưới hoặc mảnh áo lưới với nhau để tạo ra một cấu trúc tạm thời, có thể tháo ra sau khi sử dụng Phương pháp này có ưu điểm là dễ thực hiện và nhanh chóng, nhưng nhược điểm là độ chắc chắn không cao.
Kéo lưới là phương pháp thường được sử dụng để ghép các tấm lưới và mảnh áo lưới nhằm tạo ra sản phẩm bền vững, không có ý định tháo ra Phương pháp này có ưu điểm nổi bật về độ chắc chắn cao, nhưng cũng tồn tại nhược điểm như khó thực hiện, tốn thời gian và tiêu tốn nhiều chỉ lưới.
Liên kết các vật liệu như áo lưới, dây diềng, phao và chì theo các thông số kỹ thuật đã được xác định để tạo ra một lưới cụ hoàn chỉnh.
Phương pháp thực hiện trình tự các bước cơ bản sau:
- Bước 1: Chuẩn bị mặt bằng để thi công lắp ráp lưới
Diện tích mặt bằng Smb được tính theo công thức Smb = 1,2.(L + H) nếu có điều kiện về mặt bằng, và Smb = 1/3L + 1,2H trong trường hợp không có điều kiện Sau khi tính toán, tiến hành rải lưới và luồn dây diềng qua từng mắt lưới ở mép trên và dưới theo chiều dài của tấm lưới.
- Bước 2: Rút gọn tấm lưới, ổn định hình dạng mắt lưới theo U1 đã xác định + Căn cứ vào L, 2a L0, U1 tính số lượng mắt lưới (n1) trong 0,5m chiều dài dây diềng
Đếm n1 mắt lưới vào 0,5m dây diềng và cố định lại Tiếp tục thực hiện cho đến khi hoàn thành chiều dài tấm lưới rút gọn (L), tạo ra diềng luồn lưới ở cả phía trên và phía dưới của tấm lưới.
+ Xác định chiều dài khoảng cách giữa hai quả phao: lf = L/nf - 1
+ Liên kết phao vào dây diềng theo lf và cố định, gọi là diềng băng phao
+ Liên kết diềng băng phao vào diềng luồn lưới phía trên, có diềng phao
+ Xác định chiều dài khoảng cách giữa hai viên chì: lc = L/nc -1
+ Kẹp chì vào dây diềng theo lc và cố định, gọi là diềng băng chì
+ Liên kết diềng băng phao vào diềng luồn lưới phía dưới, có diềng chì
+ Căn cứ vào H, 2a, H0, U2 tính số lượng mắt lưới (m1) trong 0,5m chiều dài diềng biên
Đếm m1 mắt lưới vào 0,5m dây diềng biên và cố định lại Tiếp tục thực hiện cho hết chiều cao của tấm lưới rút gọn (H) để tạo ra diềng biên ở hai bên trái và phải của tấm lưới.
Lưới đánh cá sau một thời gian sử dụng sẽ bị biến dạng và rách, nếu không được sửa chữa kịp thời, lưới sẽ hư hỏng nghiêm trọng.
Sau một thời gian sử dụng, các bộ phận của lưới có thể bị co giãn không đều do tác động của ngoại lực Để duy trì hình dạng và độ bền của lưới, cần tiến hành điều chỉnh Đầu tiên, hãy đo lại độ dài của dây diềng và kiểm tra các mép lưới Nếu mép lưới và dây diềng bị biến dạng nhiều, cần tháo rời các bộ phận này và điều chỉnh lại cho phù hợp với thiết kế ban đầu.
Hình 8: Lắp ráp chì Hình 9: Lắp ráp phao
Trong quá trình sử dụng lưới, việc vá chỗ rách kịp thời là rất quan trọng để duy trì hiệu suất sử dụng và hiệu quả đánh cá Khi tiến hành vá, cần phải thực hiện nhanh chóng và chất lượng, đảm bảo chỗ vá chắc chắn và đều đặn như các mắt lưới cũ Điều này giúp bảo vệ hình dáng và độ bền của tấm lưới Khi chỉnh lý lưới rách, cần chú ý đến các chi tiết để đảm bảo tính hiệu quả trong việc sửa chữa.
- Mắt lưới nào rạn nứt, tuy chưa rách hẳn cũng cắt đi
Bảo quản lưới cụ
1.6.1 Nguyên nhân chủ yếu làm hư hỏng lưới cụ
1.6.1.1 Do tác dụng của vi sinh vật:
Vi sinh vật gây hại cho lưới chủ yếu là các loại vi khuẩn như Bacillus coli, Bacillus welchii, Staphylococcus aureus và nấm như Aspergillus, Penicillium Chúng phát triển mạnh mẽ trong điều kiện xơ, sợi ẩm ướt với độ ẩm trên 9% và không khí có độ ẩm 75-80% ở nhiệt độ 20-24°C Trong số các nguyên liệu làm lưới, xơ, sợi thực vật là đối tượng dễ bị vi sinh vật tấn công nhất, trong khi tơ ít bị ảnh hưởng và sợi hóa học hầu như không bị phá hoại.
Vi sinh vật sản sinh ra chất men để phân hủy các thành phần hóa học của xơ và sợi, dẫn đến sự mục nát của lưới Những vùng bị nấm tấn công sẽ xuất hiện các vết có màu sắc khác nhau tùy thuộc vào loại nấm Mặc dù sự phát triển của vi khuẩn thường không thấy rõ bên ngoài dây lưới, nhưng dây lưới bị vi khuẩn tấn công có thể hòa tan trong kiềm Kết quả từ sự phá hoại của vi khuẩn và nấm, khối lượng xơ sợi có thể giảm đến 17-18%.
1.6.1.2 Do tác dụng của ánh nắng mặt trời:
Dây lưới phơi ngoài nắng có ưu điểm là khô nhanh và chống mục, nhưng tia tử ngoại từ ánh sáng mặt trời có thể làm phân huỷ các thành phần hoá học của xơ sợi Thêm vào đó, hiện tượng oxy hoá trong không khí cũng ảnh hưởng đến cấu trúc xơ sợi, dẫn đến biến dạng của lưới và làm giảm độ bền cũng như độ giãn dài của nó.
Tốc độ bền của áo lưới khô và áo lưới ướt khi phơi ngoài nắng khác nhau, với áo lưới ướt giảm độ bền gần 2 lần so với áo lưới khô.
So sánh tính phơi nắng của các loại dây lưới thì xơ ly be ổn định hơn xơ tổng hợp, xơ tổng hợp ổn định hơn tơ tằm
1.6.1.3 Do các nguyên nhân khác:
Cá nhám và các loài động vật tiết thủy mẫu như sứa là những sinh vật thủy sinh phổ biến gây hại cho lưới đánh cá Chúng tiết ra các chất nhờn có tính axit cao, làm cho dây lưới nhanh chóng bị ăn mòn và giảm độ bền.
- Một số động vật gậm nhấm như chuột, gián… phá hoại lưới
Sự cọ sát của lưới với các chướng ngại vật trong ngư trường như mạn thuyền và vây cá gây ra hiện tượng mòn và rách lưới, ảnh hưởng đến hiệu quả đánh bắt.
1.6.2 Biện pháp bảo quản lưới cụ
Khi xác định phương pháp phòng mục cho lưới, cần xem xét tính chất sử dụng của từng loại lưới để đảm bảo lưới nhuộm phù hợp với yêu cầu sản xuất Lưới vây và lưới giã là hai loại lưới thường xuyên tiếp xúc với độ ẩm, vì vậy yêu cầu phòng mục của chúng phải cao, nhưng không cần chú trọng đến màu sắc Đối với lưới giã, dây lưới không cần phải mềm mại, trong khi lưới rê và lưới vây rút yêu cầu dây lưới mềm mại và có màu sắc phù hợp với màu nước để nâng cao hiệu suất đánh cá Do đó, việc chọn nguyên liệu nhuộm phù hợp với tính chất từng loại lưới là rất quan trọng.
1.6.2.2 Bảo quản và giữ gìn lưới
Sau khi kéo lưới bắt cá, cần giặt sạch lưới và hong khô Đối với những mẻ lưới có nhiều động vật tiết thủy mẫu, việc giặt sạch ngay và kỹ càng là rất quan trọng Khi thuyền về bờ, hãy sử dụng nước ngọt để giặt lưới, sau đó phơi khô và cất giữ trong kho.
Kho cất lưới cần được đặt ở những nơi khô ráo, có sàn nhà sạch và thông gió tốt Cửa thông gió phải được trang bị lưới thép để ngăn chuột xâm nhập Lưới không nên để trực tiếp trên sàn mà cần có giá đỡ Cần kiểm tra định kỳ lưới trong kho; nếu phát hiện lưới ẩm, hãy phơi ngay Đối với lưới bị nấm mốc nhẹ, sử dụng dung dịch NaCl 5% hoặc dung dịch Bicromatkali (K2Cr2O7), Bicomatnatri (Na2Cr2O7) nồng độ 2ppm để phun Nếu lưới bị nấm mốc nặng, cần giặt và ngâm trong dung dịch trên từ 2-3 giờ Nếu tình trạng quá nặng, lưới không còn sử dụng được nữa thì phải cắt bỏ để tránh lây lan.
Để duy trì độ khô ráo trong kho, nên đặt một vài chậu vôi bột nhằm hút ẩm từ không khí Đồng thời, để giảm thiểu sự mòn của lưới, các mạn thuyền kéo lưới và các thiết bị tiếp xúc với lưới cần được bào nhẵn.
Lưới diệt được làm từ sợi tơ hoặc sợi hóa học cần được bảo quản tránh ánh nắng mặt trời trực tiếp để giảm thiểu tác động tiêu cực từ tia tử ngoại.
Kỹ thuật đánh bắt
Lưới cụ đánh bắt cá trong ao hồ nhỏ
2.1.1 Nguyên lý và đối tượng đánh bắt
Trong quá trình sản xuất cá giống, cá thương phẩm và các động vật thủy sản khác, các cơ sở sản xuất cần sử dụng nhiều loại lưới cụ khác nhau, bao gồm lưới cá hương, lưới cá giống, lưới cá thịt và lưới cá đánh bắt cá bố mẹ Nguyên lý đánh bắt là yếu tố quan trọng để đảm bảo hiệu quả và chất lượng trong quá trình nuôi trồng thủy sản.
Lưới được thả từ một đầu ao hồ và di chuyển về bờ đối diện nhờ lực kéo của người Trong quá trình này, lưới hoạt động theo nguyên tắc kéo vét, với diềng phao nổi trên mặt nước và diềng chì sát đáy Khi đến bờ đối diện, lưới được thu lại ở vị trí thích hợp, giữ lại cá bên trong.
Các loại lưới đánh bắt được thiết kế chuyên dụng, với mỗi loại lưới phục vụ cho việc đánh bắt một loại cá cụ thể, bao gồm cá hương, cá giống, cá thịt và cá bố mẹ, nhằm đảm bảo hiệu quả cao trong quá trình khai thác.
2.1.2 Cấu tạo a) Cấu tạo chung
Bốn loại lưới này đều có cấu trúc chung là một tấm lưới hình chữ nhật được gắn trong một khung dây diềng hình chữ nhật, với 2a đồng nhất trên toàn bộ tấm lưới, và có trang bị phao cùng chì Thông số kỹ thuật của các loại lưới này cần được chú ý để đảm bảo hiệu quả sử dụng.
Các thông số kỹ thuật của lưới cá hương, cá giống, cá thịt và cá bố mẹ thể hiện ở bảng 3
Bảng 3: Thông số kỹ thuật các loại lưới đánh cá trong ao hồ nhỏ
Lưới Cá hương Cá giống Cá bố mẹ Cá thịt
7 Gl (kg) = Ka.Qctc/qf
8 Màu sắc lưới nâu, vàng nâu, vàng, xanh nâu, vàng nâu, vàng, xám tro
Cần thực hiện tốt 4 bước kỹ thuật đánh bắt sau:
1) Chuẩn bị: Bao gồm chuẩn bị nơi thả lưới; số lượng và chất lượng lưới; nhân lực kéo lưới; các dụng cụ bắt giữ cá và phương án tiêu thụ sản phẩm
2) Thả lưới: Thả lưới ở một đầu ao, hồ thích hợp (có độ sâu mực nước thấp, hướng kéo lưới thuận theo chiều gió); kiểm tra độ an toàn đường lưới sau thả (tránh để cuốn lưới, treo lưới)
3) Kéo lưới: Quá trình lưới làm việc trong nước phải được đảm bảo diềng phao luôn nổi trên mặt nước, diềng chì luôn sát đáy Kéo đều hai đầu lưới, để cho lưới cong tự nhiên
4) Thu lưới bắt cá: khi tới bờ đối diện, lựa chọn vị trí thích hợp (mái bờ ao thoải, lượng bùn đáy ít, bờ ao rộng, chắc chắn…) để thu lưới bắt cá Khi thu lưới: kéo diềng chì, rồi thu phần thịt lưới, sau cùng là kéo diềng phao Thu đều hai đầu lưới.
Một số lưới cụ đánh bắt cá trong các mặt nước lớn nội địa
2.2.1 Lưới rê a) Đặc điểm chung
- Tính chất đánh bắt bị động
- Kỹ thuật sử dụng đơn giản
- Đối tượng và phạm vi sử dụng lưới tương đối rộng b) Phân loại
- Căn cứ vào cấu tạo chia ra: Lưới rê đơn; lưới rê khuông; lưới rê 3 lớp; lưới rê hỗn hợp
- Căn cứ vào phương thức hoạt động chia ra: Lưới rê cố định; lưới rê vây; lưới rê trôi; lưới rê kéo c) Lưới rê đơn cố định
1) Nguyên lý và đối tượng đánh bắt;
Một tấm lưới rê đơn hoặc nhiều tấm liên kết tạo thành một vàng lưới rê đơn được sử dụng để chắn ngang đường di chuyển của cá Với độ thô chỉ lưới nhỏ và kích thước mắt lưới phù hợp với cỡ cá, cùng màu sắc lưới hòa hợp với màu nước, cá sẽ khó phát hiện và dễ dàng mắc vào lưới khi bơi qua.
Ta thu lưới lên bắt được cá
Lưới rê đơn, dựa trên nguyên lý đánh bắt mô tả, có khả năng đánh bắt các loại cá có vẩy với kích thước phù hợp với mắt lưới 2a.
Lưới rê đơn có cấu tạo đơn giản với hình dạng chữ nhật và kích thước mắt lưới đồng nhất trên toàn bộ tấm lưới Sản phẩm này được trang bị phao và chì để tăng hiệu quả sử dụng.
* Các thông số kỹ thuật:
Kích thước mắt lưới (2a) ở lưới rê đơn đòi hỏi nghiêm ngặt và phụ thuộc vào cỡ cá đánh bắt
+ Dựa vào chiều dài thân cá: áp dụng công thức: a = K L
Trong đó: a là chiều dài cạnh mắt lưới (mm)
L là chiều dài thân cá định đánh bắt (m);
Hệ số K là tỷ lệ được xác định qua việc đánh bắt thí nghiệm, dựa vào chu vi mặt cắt thân cá Hệ số này phụ thuộc vào loài cá và thường được xác định cụ thể như sau: đối với trắm đen, K = 0,126, còn với mè hoa, K = 1,103.
+ Dựa vào khối lượng thân cá: áp dụng công thức: a = K 3 G Trong đó: G là khối lượng cá định đánh bắt (g)
Hệ số tỷ lệ K phụ thuộc vào hình dạng của cá, với giá trị K là 5 cho cá thoi dài, 7 cho cá ngắn mình và rộng bản, và 6 cho cá có hình dạng trung gian giữa hai loại trên.
Để đảm bảo hiệu quả trong việc đánh bắt cá, lưới cần có độ thô mảnh nhằm tránh cho cá phát hiện, nhưng đồng thời cũng phải đủ chắc chắn để giữ cá không bị tuột ra khi mắc vào lưới.
Theo khuyến nghị của một số chuyên gia Nga, trong quá trình thử nghiệm đánh cá tại hồ chứa Thác Bà (1970 - 1975), Việt Nam nên lựa chọn độ thô của lưới có mối tương quan với độ dài cạnh mặt lưới như sau: với độ thô a = 12 - 16mm, tỷ lệ d/a là 0,02; với a = 30 - 50mm, tỷ lệ d/a là 0,01; và với a > 50mm, tỷ lệ d/a nằm trong khoảng 0,005 - 0,007.
Hệ số rút gọn trong lưới rê thuộc bộ lưới đóng có ảnh hưởng lớn đến hiệu suất đánh cá Việc chọn U1 cao có thể mang lại lợi ích về diện tích tấm lưới, nhưng lại làm tăng sức căng của lưới, dẫn đến hiệu suất đánh cá giảm.
Mặt khác, để ngoại lực P nhỏ (sức căng chỉ lưới thấp) thì lượng phao chì trang bị cho lưới ở mức nhỏ nhất cho phép Thực tế thường chọn U1 = 0,45 - 0,55
- Dây diềng: diềng phao, chì = 4-6mm; diềng biên = 2-4mm
- Khối lượng chì: Gc = (12-15%) Gad
- Khối lượng phao: nguyên tắc chung Qf > Qctc f ctc a f q
Để xác định số lượng phao cần thiết cho lưới, ta sử dụng công thức nf, trong đó qf là suất nổi của loại phao được sử dụng và gf là khối lượng của một quả phao lắp vào lưới.
Ka hệ số an toàn thường chọn Ka = 1,3
- Màu sắc lưới, chọn phù hợp với màu sắc ngư trường
3) Kỹ thuật đánh bắt (bằng lưới rê cố định)
Cần thực hiện tốt 3 bước kỹ thuật đánh bắt sau:
- Bước 1: Chuẩn bị: Nội dung bao gồm chuẩn bị ngư trường thả lưới, lưới, tầu thuyền, nhân lực, tiêu thụ sản phẩm…
Bước 2: Thả lưới và cố định lưới Dựa vào vị trí đã xác định, hãy thả lưới vào buổi chiều và thực hiện việc cố định lưới Có ba phương pháp để cố định lưới hiệu quả.
+ Cố định lưới bằng cọc dài: áp dụng cho trường hợp nước nông, nền đáy mềm, sóng gió ít (Hình 10a)
Hình 10a: cố định lưới bằng cọc dài
+ Cố định lưới bằng cọc ngắn: áp dụng cho trường hợp mực nước sâu hơn, nền đáy cứng hơn và sóng gió lớn hơn (Hình 10b)
Hình 10b: cố định lưới bằng cọc ngắn
+ Cố định lưới bằng neo: áp dụng cho trường hợp mực nước sâu, nền đáy cứng, sóng gió to không thể đóng cọc được (hình 10c)
Hình 10c: cố định lưới bằng neo
Bước 3 trong quy trình bắt cá là thu lưới sau khi đã ngâm qua đêm Vào sáng sớm, nếu cá đóng lưới nhiều, chỉ cần tháo lưới ra khỏi các dụng cụ cố định và tiếp tục thả lưới vào buổi chiều Ngược lại, nếu cá ít, cần thu toàn bộ lưới và các dụng cụ cố định để chuyển đến vị trí khác để đánh bắt Lưới rê 3 lớp là một trong những loại lưới được sử dụng trong quá trình này.
1) Nguyên lý và đối tượng đánh bắt
Lưới rê ba lớp là một loại lưới được tạo thành từ nhiều lớp lưới liên kết với nhau, thường được thả chắn ngang đường đi của cá Với cấu trúc đặc biệt, lưới này cho phép cá chui qua mắt lưới lớn ở lớp ngoài, sau đó bị giữ lại bởi mắt lưới nhỏ ở lớp giữa và cuối cùng mắc vào mắt lưới lớn đối diện, tạo thành một túi linh động giữ cá Khi thu lưới, người dùng có thể bắt được cá một cách hiệu quả.
Lưới rê ba lớp có khả năng đánh bắt nhiều loài cá với kích thước khác nhau, trong đó các đối tượng bị đánh bắt phải lớn hơn kích thước mắt lưới ở lớp giữa.
Lưới rê ba lớp được cấu tạo từ ba lớp lưới kết hợp trong một khung dây diềng hình chữ nhật Hai lớp lưới bên ngoài có kích thước 2a bằng nhau và lớn hơn từ 4 đến 6 lần so với kích thước 2a của lớp lưới giữa Kích thước mắt lưới được thiết kế đồng nhất trên toàn bộ tấm lưới, và lưới được trang bị phao và chì để tăng tính hiệu quả khi sử dụng.
Kích thước mắt lưới giữa (2ag) thường được xác định là 100-110mm, điều này ảnh hưởng đến việc chọn giống cá trong lưới rê đơn Kích thước mắt lưới ngoài (2an) thường gấp 4-6 lần kích thước mắt lưới giữa, tương ứng với khoảng 440-660mm.
- Độ thô chỉ lưới: d/ a (lớp giữa) = 0,006 – 0,009; d(lớp ngoài) = (1,8-2)d lớp giữa
Ngư cụ cố định
2.3.1 Lưới đăng: a Nguyên lý, đối tượng đánh bắt
Lưới được thả ở ven hồ nơi có đàn cá tập trung, với vách lưới chắn ngang đường đi của cá, giúp hướng cá về phía cửa lưới Cửa lưới thiết kế dạng cửa hom để dẫn cá vào chuồng lưới và ngăn không cho cá thoát ra Khi thu chuồng lưới, cá sẽ được giữ lại và thu hoạch.
Lưới đăng có khả năng đánh bắt các loài cá và động vật thủy sản khác khi kích thước của chúng lớn hơn 2a của chuồng lưới Cấu tạo của lưới đăng cho phép thu hút và giữ lại các đối tượng đánh bắt hiệu quả.
Lưới đăng có 3 bộ phận chính: Vách lưới, cửa lưới và chuồng lưới
+ Nhiệm vụ: Chắn ngang đường cá qua lại, hướng cá đi về phía cửa lưới
Vách lưới có chiều dài từ 10 đến hàng trăm mét, được cấu thành từ nhiều tấm vách lưới, mỗi tấm có kích thước chiều dài từ 3 đến 5 mét và chiều cao từ 1,2 đến 1,8 mét Đối với lưới rê đơn, kích thước 2a dao động từ 0,7 đến 1 mét, phù hợp cho việc đánh bắt cá cùng kích cỡ Dây diềng, hay còn gọi là dây diềng trung ương, bao gồm hai dây (một dây trên và một dây dưới) và không được lắp phao hay chì.
+ Nhiệm vụ: Cho cá, tôm vào chuồng lưới và giữ không cho chúng ra
+ Có hai loại: Cửa lưới đơn và cửa lưới kép
+ Thông số kỹ thuật: L=1,5-2m Các thông số kỹ thuật khác giống vách lưới
+ Nhiệm vụ: Giữ cá, tôm lại để bắt
+ Hình dạng: Trụ tròn hay trụ vuông
+ Thông số kỹ thuật: H = 1,2 - 1,8 Dạng trụ tròn có = 1,2 - 1,5m, dạng trụ vuông có cạnh bằng 1,2m 2a = 2a vách lưới c Kỹ thuật đánh bắt
Để chuẩn bị thả lưới hiệu quả, cần chú ý đến vị trí thả lưới và các thành phần của bộ lưới đăng Bộ lưới này bao gồm một chuồng lưới, 1-2 cửa lưới, vách lưới dài từ 10-50m, cùng với 10-15 cọc tre dài 1,5-2m để cố định lưới Ngoài ra, một chiếc thuyền nan hoặc thuyền tôn nhỏ cũng là dụng cụ cần thiết cho quá trình này.
Trình tự thả lưới bao gồm các bước sau: đầu tiên, thả vách lưới và cố định, đảm bảo vách lưới vuông góc hoặc gần vuông góc với bờ, với một đầu khép kín bờ Tiếp theo, thả chuồng lưới và cố định, đảm bảo cửa chuồng lưới thẳng với phương của vách lưới Cuối cùng, thả cửa lưới và cố định, áp sát cửa lưới vào cửa chuồng lưới, điều chỉnh độ mở của cửa lưới tùy theo kích cỡ cá cần đánh bắt Nên hoàn thành việc thả lưới trước khi trời tối.
Thời gian lưới làm việc trong nước để bắt cá thường kéo dài từ 12 đến 14 giờ, và người dân thường thu lưới vào sáng sớm hôm sau Nếu cá vào lưới nhiều, họ sẽ chỉ thu chuồng lưới và thả lại vào buổi chiều ở vị trí cũ Ngược lại, nếu lượng cá vào chuồng lưới ít, họ sẽ thu toàn bộ lưới và không đánh bắt tiếp ở đó Sản lượng cá đánh bắt được dao động từ 10-120 kg cho mỗi chuồng lưới ở sông, và từ 30-400 kg cho mỗi chuồng lưới ở hồ tự nhiên hoặc hồ chứa.
2.3.2 Đó đèn a Nguyên lý đánh bắt: Đến mùa vụ thu tôm ở ao đầm nước lợ, đó được thả ở nơi có tôm tập trung, hay qua lại Dựa vào đặc tính hướng quang của tôm, người ta treo một chiếc đèn vào trong đó Nhờ có đăng đường dẫn tôm đi về phía đăng ve Đăng ve được bố trí dạng cửa hom đơn hay cửa hom kép cho tôm vào đó, ngăn không cho tôm quay trở ra Tôm bị giữ ở đó, ta thu đó bắt được tôm b Cấu tạo Đó đèn cấu tạo gồm có 3 bộ phận chính: Đăng đường, đăng ve và đó
Đăng đường là công cụ quan trọng giúp hướng tôm di chuyển về phía cửa, được làm từ tre với chiều cao từ 1,2-1,5m và đường kính 4-5mm Các nan tre được liên kết chắc chắn bằng dây sợi hóa học, tạo thành một tấm đăng đường có chiều dài từ 2-3m.
Đăng ve là dụng cụ dùng để giữ tôm, ngăn không cho chúng thoát ra ngoài Cấu tạo của đăng ve tương tự như đương đường, nhưng chiều dài thường dao động từ 1 đến 1,2 mét.
- Đó có nhiệm vụ giữ tôm lại để bắt Đó có dạng hình nơm hay trụ tròn (thường các cơ sở sản xuất dùng đó có dạng trụ tròn)
Bảng 5 : Các chỉ số kỹ thuật của hai dạng đó
Kích thước Dạng nơm Dạng trụ tròn
2 Bề rộng vách đó (cm) 1,5 - 2 1,5 – 2
3 Bề rộng nan đó (cm) 0,5 - 0,7 0,5 - 0,7
4 Khoảng cách giữa hai vành đó (cm) 20 - 25 20 – 25
5 Khoảng cách giữa hai nan đó (cm) 0,4 - 0,5 0,4 - 0,5
10 Khoảng cách cửa đó (cm) 5 - 7 5 – 7
Hình 13b: Đó dạng trụ tròn
10 Kích thước mắt sàng đáy đó (cm) 0,5 x 0,5 0,5 x 0,5 c Kỹ thuật khai thác
Trước khi thu tôm, cần nắm vững đặc điểm sinh học của các loại tôm như tôm rảo, tôm mương và tôm sú Việc kiểm tra kích thước tôm trong đầm là cần thiết để xác định thời gian và cường độ thu hoạch tôm một cách hợp lý.
- Chuẩn bị đủ số lượng bộ đó (0,5 - 2 ha/ 1 bộ đó), đèn, thuyền, nhân lực và tiêu thụ sản phẩm
Vào ngày nước lớn, để thực hiện thao tác kỹ thuật đặt đó, cần lấy nước vào đầm vào ban ngày Đến khoảng 17-18 giờ, tháo nước ra qua cửa cống Trước đó, từ 16 giờ, đặt đó vào vị trí thích hợp, yêu cầu vị trí này phải có dòng nước chảy nhẹ, giàu thức ăn, nơi tôm tập trung đông và có đường di chuyển qua lại của tôm, với nền đáy tương đối phẳng.
Để đặt đó một cách hiệu quả, trước tiên bạn cần cắm đăng đường và cố định Tiếp theo, hãy đặt đó sao cho cửa đó trùng với phương của đăng đường và cũng cố định Cuối cùng, cắm đăng ve áp sát vào cửa đó và đảm bảo nó được cố định Đừng quên treo đèn vào trong đó và hoàn thành tất cả các bước trước khi trời tối.
Thu tôm phụ thuộc vào số lượng tôm có trong ao, do đó cần xác định thời điểm thu hợp lý Trong chính vụ, sau khi thả tôm khoảng 4-5 giờ, nên thu tôm và để lại vị trí cũ đến sáng hôm sau Đối với đầu và cuối vụ, chỉ cần thu tôm một lần vào sáng sớm hôm sau.
Chài là một ngư cụ nhẹ và linh hoạt, được sử dụng rộng rãi trên toàn quốc Nó chủ yếu được dùng để đánh bắt các loại cá như cá rô, cá chép, cá diếc, cũng như thu tôm ở các vùng nước mặn và lợ Mùa vụ khai thác của chài diễn ra mạnh mẽ vào những tháng mà cá đi đẻ, bắt đầu từ tháng này.
Thời điểm khai thác cá lý tưởng là vào buổi sáng hoặc chiều tối khi cá thường đi kiếm ăn, với sản lượng đạt từ 4 đến 6 kg mỗi mẻ Thiết bị khai thác bao gồm ba phần chính: chóp chài, thân chài và dụi chài, với các thông số cơ bản được thể hiện trong bảng (3 – 21).
Chóp chài: được nối với dây nilon (gọi là dây dong)