Mô đun Quản lý động vật hại cây trồng và nông sản là mô đun chuyên môn nghề trong danh mục các môn học, mô đun bắt buộc đào tạo trình độ Cao đẳng nghề Bảo vệ thực vật. Mô đun gồm có 5 đơn vị bài học, phần 1 của giáo trình sau đây sẽ gồm 2 bài học đầu tiên, cung cấp cho người học những kiến thức về: Nhện hại cây trồng và biện pháp phòng chống, chuột và biện pháp phòng chống. Mời các bạn cùng tham khảo.
Khái niệm chung về động vật hại nông nghiệp
Trong bảo vệ cây trồng, có ba nhóm dịch hại chính: động vật, vi sinh vật và cỏ dại Nhóm động vật gây hại bao gồm nhiều đại diện từ các lớp động vật khác nhau, trong đó côn trùng (Insecta) là nhóm đông đảo nhất Ngoài côn trùng, một số lớp động vật khác như nhện (Arachnida), thú (Mammalia) và nhuyễn thể (Mollusca) cũng có thể gây hại, nhưng thường chỉ tập trung vào một số bộ nhất định như bộ ve bét.
Acarina, thuộc lớp Nhện, thường xuất hiện trong một số họ như họ ốc bươu vàng (Ampullariidae), họ ốc sên (Bradybaenae), và họ Sên trần (Arionae) của lớp Nhuyễn thể, cũng như trong họ Chuột (Muridae) thuộc lớp Thú.
Từ xa xưa, con người đã nhận thức được tác hại của côn trùng và tầm quan trọng ngày càng tăng của nhóm dịch hại này Do đó, các trường đại học nông nghiệp tại Việt Nam đã đưa môn “Côn trùng nông nghiệp” vào chương trình đào tạo, nhằm mô tả đặc điểm sinh học, sự phát triển, gây hại và biện pháp phòng chống côn trùng Ngoài côn trùng, giáo trình còn đề cập đến một số đại diện khác như nhện nhỏ, tuyến trùng, và các loài động vật như chuột, ốc, và chim, vì những tác hại của chúng đối với sản xuất nông nghiệp đang gia tăng cả ở Việt Nam và trên thế giới.
Thiệt hại kinh tế do động vật gây ra
Các tác hại chính của côn trùng bao gồm việc gây hại cho sức khỏe con người thông qua tấn công, cắn, đốt, chích và hút máu Chúng có thể ký sinh trên cơ thể và trong cơ thể con người, dẫn đến các bệnh tật và tổn thương Ngoài ra, côn trùng còn có thể là vật chủ hoặc vật trung gian truyền bệnh, góp phần hình thành các dịch bệnh nguy hiểm.
Nhiều loài động thực vật gây thiệt hại cho cuộc sống con người bằng cách phá hoại tài sản, làm hỏng đồ đạc và thiết bị, đồng thời gây ô nhiễm môi trường sống qua phân và nước tiểu Chúng cũng có thể tấn công và làm hại thú cưng, vật nuôi của con người, tạo ra sự phiền toái và khó chịu trong sinh hoạt hàng ngày.
Một thiệt hại nghiêm trọng khác là sự tấn công phá hoại mùa màng do con người gây ra, dẫn đến thiệt hại cho gia súc, vật nuôi và cây trồng, ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn sống của con người.
3 Nội dung và nhiệm vụ mô đun
Bài mở đầu: Giới thiệu mô đun
Bài 1: Nhện hại cây trồng và biện pháp phòng chống
Bài 2: Chuột và biện pháp phòng chống
Bài 3: Ốc bươu vàng và biện pháp phòng chống
Bài 4: Ốc sên và biện pháp phòng chống
Bài 5: Nhớt và biện pháp phòng chống
BÀI 1: NHỆN HẠI CÂY TRỒNG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG
Giới thiệu: Bài học trình bày về nhện hại cây trồng và biện pháp phòng chống Mục tiêu của bài: Sau khi học xong bài này người học
- Trình bày đƣợc khái niệm và đặc điểm của nhện hại cây trồng
- Quan sát được, nhận định được và đưa được phương hướng phòng chống nhện hại
1 Vai trò và vị trí phân loại của nhện hại cây trồng
Lớp Nhện (Arachnida) với khoảng 35.000 loài đƣợc chia thành 7 bộ:
3 Bộ Bò cạp giả Pseudoscorpiones
4 Bộ Đuôi roi Pedipalpi hoặc Uropigi
5 Bộ Chân dài Phalangidea hoặc Opiliones
Nhện nhỏ thuộc bộ Ve bét (Acarina), bộ lớn nhất trong lớp Nhện và là một trong ba bộ quan trọng nhất đối với con người Hầu hết các loài ve bét sống trên cạn, trong khi một số ít sống dưới nước (Hydracarina) Nhóm động vật này nổi bật với sự đa dạng lớn về kích thước, phương thức sinh sống và môi trường cư trú.
Thuật ngữ “Acari” (Ve bét) lần đầu tiên được ghi nhận vào thế kỷ 17, tuy nhiên, bệnh “sốt do ve” đã được ghi chép từ năm 1550 trước Công nguyên trên giấy cỏ ở Ả rập, đánh dấu tài liệu đầu tiên về sự hiểu biết của con người về ve bét Hommer đã đề cập đến sự xuất hiện của ve trên chó vào năm 850 trước Công nguyên, và 500 năm sau, Aristote mô tả một loài ve ký sinh trên châu chấu Các tài liệu của Hypocrates và Plutarch cũng chứa đựng những hiểu biết tương tự về ve bét Đến những năm 1660, ve bét vẫn được coi là “chấy rận” hay côn trùng nhỏ.
Người đầu tiên đặt tên khoa học Acarus cho ve bét là Linnaeus vào năm
Vào năm 1735, trong cuốn "Hệ thống tự nhiên", Linnaeus đã chính xác đặt tên cho loài Acarus siro, và sau đó, trong lần tái bản thứ 10, ông đã định danh cho 29 loài ve bét thuộc giống Acarus Gần hai thế kỷ sau, nhiều nhà tự nhiên học và phân loại học như Lattreille, Leach, Duges, de Geer, Koch, cùng với các nhà nghiên cứu như Kramer, Megnin, Canestrini, Michael, Berlese, Reuter, Vitzthum và Oudemans đã có những đóng góp quan trọng trong việc hệ thống hóa ve bét Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào đặc tính sinh học và phát triển của các loài ve bét có ảnh hưởng kinh tế xã hội, mặc dù phần lớn các công trình này vẫn chủ yếu xoay quanh định loại và nghiên cứu cơ bản.
Cho đến năm 1950 đã có 30.000 loài ve bét đƣợc mô tả trong tổng số ƣớc tính hơn nửa triệu loài trên hành tinh (Krantz, 1978)
Trước đây, ve bét thường được coi là ký sinh trùng do sự hiện diện của chúng trên cơ thể động vật lớn, chim và thực vật Tuy nhiên, nghiên cứu gần đây cho thấy đất mới là môi trường sống phong phú của chúng Việc nghiên cứu ve bét hại cây, hay còn gọi là nhện nhỏ, chỉ được chú trọng từ nửa sau thế kỷ XX, với nhiều công trình quan trọng như "Giới thiệu về nhện nhỏ" của Baker và Whartson (1952) và "Hướng dẫn về các họ nhện nhỏ" của Baker và cộng sự (1958) Các nghiên cứu này không chỉ tập trung vào phân loại mà còn mô tả đặc điểm hình thái và tác hại của chúng, điển hình là cuốn "Nhện nhỏ hại cây trồng kinh tế" của Jeppson và cộng sự (1975).
”Nhện đỏ chăng tơ, đặc điểm sinh học và phòng chống” do Helle và Sabelis
Nhóm nhện nhỏ gây hại cho cây trồng chủ yếu thuộc hai tổng họ: Nhện chăng tơ Tetranychoidea và Nhện U sần Eriophyoidea Các nghiên cứu phân loại nhóm Tetranychid đã được thực hiện bởi Ewing (1913), McGregor (1950), cùng với Prichard và Baker.
Năm 1955, Jeppson và cộng sự đã thực hiện một nghiên cứu quan trọng, tiếp theo là sự tổng hợp và chỉnh lý vào năm 1975 Công trình của Meyer (1979) đã cung cấp cái nhìn toàn diện về họ Tenuipalpidae Jeppson và cộng sự (1975) cũng đã phân loại các giống trong nhóm Eriophid Nhiều nghiên cứu về tập tính gây hại của các loài nhện hại có ý nghĩa kinh tế và khả năng phòng chống chúng trong nông nghiệp chủ yếu được thực hiện ở các quốc gia phát triển như Pháp, Mỹ, Hà Lan và Nhật Bản.
Trong vùng Đông Nam Á, nghiên cứu về nhện nhỏ hại chƣa nhiều Baker
Theo ghi nhận năm 1975, Nhật Bản và Thái Lan có 90 loài nhện chăng tơ, trong khi Việt Nam có 19 loài thường gặp trên cây trồng (Nguyễn Văn Đĩnh, 1994) Nghiên cứu của Nguyễn Văn Đĩnh và Nguyễn Thái Thắng đã cung cấp thông tin chi tiết về đặc điểm sinh học và biện pháp phòng chống nhện nhỏ gây hại chè.
Nhện nhỏ là một loại sâu hại quan trọng đối với cây ăn quả, đã được nghiên cứu và ghi nhận bởi nhiều tác giả như Nguyễn Văn Đĩnh (1992, 1994), Nguyễn Thị Phương (1997), Nguyễn Thị Bình (2002) và Trần Xuân Dũng (2003) Chuyên khảo về nhện nhỏ hại và biện pháp phòng chống đã tóm lược các loài nhện nhỏ gây hại cũng như các biện pháp phòng ngừa hiệu quả tại Việt Nam (Nguyễn Văn Đĩnh, 2002).
1.3 Tầm quan trọng của nhện hại cây trồng
Đến cuối thế kỷ XX, nhện nhỏ hại cây và côn trùng đã được xác định là hai nhóm đối tượng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Trong hai mươi năm qua, nhiều loại cây trồng tại Việt Nam bị nhện nhỏ (Phytophagous mite) gây hại nặng, đặc biệt là những cây được thâm canh cao như bông, chè, cam, chanh, quýt, bưởi, nhãn, vải, đậu đỗ, cà chua, khoai tây, thảo dược, hoa hồng và nhiều loại cây thuốc, cây cảnh khác.
Nhện nhỏ gây hại nghiêm trọng cho cây trồng, dẫn đến hiện tượng còi cọc, chết điểm sinh trưởng, và rụng lá, hoa, quả, từ đó làm giảm năng suất và chất lượng sản phẩm Thường thì, triệu chứng gây hại của nhện nhỏ chỉ được phát hiện khi đã quá muộn, khi quả đã rụng, hoặc khi điểm sinh trưởng và lá xuất hiện tình trạng "cháy đen" hoặc "đốm bạc".
Theo thống kê, thiệt hại do nhện gây ra trên cây trồng có thể rất nghiêm trọng, với mức thiệt hại lên tới 50-60% đối với cây táo, 90% đối với cây lê, và 40-70% đối với dâu tây Cụ thể, tại tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc, cây tre - một loại cây trồng lâm nghiệp chủ yếu - cũng chịu ảnh hưởng nặng nề từ nhện trong các năm 1997.
Vào năm 2000, hai loài nhện hại đã làm giảm sản lượng măng từ 20-40%, dẫn đến việc nhiều rừng tre, trúc phải bị huỷ bỏ (Yan và Zhi, 2000) Một ví dụ điển hình khác là loài nhện xanh Mononychus tanajoa, hại sắn, cùng với rệp sáp, đã gây thiệt hại khoảng 1,8 tỷ đô la mỗi năm ở châu Phi trong những năm 1980.
Ngoài tác hại trực tiếp, một số loài nhện nhỏ hại còn truyền các bệnh virus nguy hiểm cho cây
Không chỉ có vậy, nhện nhỏ còn tấn công gây hại mạnh và giảm chất lƣợng sản phẩm nông sản sau thu hoạch và chế biến
2 Đặc điểm hình thái cấu tạo
2.1 Cấu tạo chung bên ngoài, bên trong
2.1.1 Đặc điểm hình thái của lớp Nhện (Arachnida)
Hình 1.1 Đặc điểm cấu tạo của lớp nhện ( theo Nguyễn Văn Đỉnh)
1 Mắt, 2 Kìm, 3 Chân xúc giác, 4 Đùi của chân xúc giác, 5 Chân, 6 Phổi,
7 Lỗ thở, 8 Ruột giữa, 9 Gan, 10 Tim, 11 Tuyến trứng, 12 Nhú tơ, 13 Các loại tuyến tơ, 14 Hậu môn
Lớp Nhện bao gồm các loài động vật có cơ thể chia làm 2 phần là đầu - ngực (cephalothorax) và bụng (abdomen), có 4 đôi chân nhƣng không có râu (hình 4.1)