1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu và định hướng xây dựng sản phẩm du lịch mới ở bắc ninh

38 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu và định hướng xây dựng sản phẩm du lịch mới ở bắc ninh
Thể loại Đề tài
Thành phố bắc ninh
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 740,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là điểm đến mới, với nguồn tài nguyên thiên nhiên và văn hóa phong phú, giá cả thấp, ngành du lịch Việt Nam nói chung và du lịch Kinh Bắc nói riêng phát triển khá nhanh trong thời gian qua, có tiềm năng, triển vọng tiến xa hơn. Song tương lai của ngành du lịch Kinh Bắc sẽ còn tùy thuộc vào hiệu quả của chính sách phát triển du lịch, việc bảo tồn, phát huy nguồn tài nguyên, nhân lực và sự đánh giá đúng mức hiện trạng và tiềm năng.

Trang 1

1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử nghiên cứu 4

3 Mục tiêu nghiên cứu 4

4 đối tượng nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Cấu trúc của đề tài 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG SẢN PHẨM DU LỊCH Ở BẮC NINH 5

1.1 Khái niệm du lịch 5

1.2 Sản phẩm du lịch 6

1.2.1 Khái niệm 6

1.2.2 Phân loại sản phẩm du lịch 7

1.2.3 Đặc trưng của sản phẩm du lịch 7

1.2.4 Sản phẩm du lịch mới 8

Chương 2:THỰC TRẠNG SẢN PHẨM DU LỊCH TẠI BẮC NINH 9

2.1 Điều kiện để phát triển du lịch lễ hội làng nghề 9

2.1.1.Điều kiện chung 9

2.1.2.Các điều kiện đặc trưng 10

2.2 Về sản phẩm du lịch loại hình (quan họ) 12

2.3 Về sản phẩm du lịch văn hóa - tâm linh (lễ hội – làng nghề) 16

Chương 3: ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG SẢN PHẨM DU LỊCH MỚI Ở BẮC NINH 26

3.1 Đánh giá thực trạng hoạt động Du lịch tỉnh Bắc Ninh 26

3.1.1 Thực trạng hoạt động Du lịch 26

3.2 Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ sở hạ tầng phục vụ Du lịch 28

3.2.1 Cơ sở vật chất kỹ thuật Du lịch 28

Trang 2

2

3.2.2 Cơ sở hạ tầng 29

3.3 Thực trạng đầu tư trong du lịch 30

3.4 Hiện trạng tổ chức và quản lý các hoạt động kinh doanh Du lịch 31

3.4.1 Những mặt làm được 31

3.4.2 Những mặt chưa làm được 32

3.5 Một số đề xuất để xây dựng sản phẩm du lịch ở Bắc Ninh 32

KẾT LUẬN 37

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 38

Trang 3

gần đây

Với Việt Nam, thực tế đã cho thấy du lịch – ngành siêu lợi nhuận đang ngày càng khẳng định vững chắc vị trí quan trọng của mình trong nền kinh tế quốc dân Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là động lực thúc đẩy ngành

du lịch phát triển Nhu cầu về nguồn nhân lực của ngành du lịch Việt Nam đòi hỏi lớn cả về số lượng và chất lượng Nguồn nhân lực này không chỉ phục vụ trong nội địa đất nước mà còn phục vụ ở nước ngoài thông qua các tập đoàn khách sạn và du lịch hoặc xuất khẩu lao động Vấn đề giải quyết đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng cũng như duy trì cơ cấu lao động hợp lý quyết định đối với sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam, đưa nước ta trở thành trung

tâm du lịch hàng đầu của khu vực

Là điểm đến mới, với nguồn tài nguyên thiên nhiên và văn hóa phong phú, giá cả thấp, ngành du lịch Việt Nam nói chung và du lịch Kinh Bắc nói riêng phát triển khá nhanh trong thời gian qua, có tiềm năng, triển vọng tiến xa hơn Song tương lai của ngành du lịch Kinh Bắc sẽ còn tùy thuộc vào hiệu quả của chính sách phát triển du lịch, việc bảo tồn, phát huy nguồn tài nguyên, nhân

lực và sự đánh giá đúng mức hiện trạng và tiềm năng

Xuất phát từ những yêu cầu trên và được sự giúp đỡ, hướng dẫn của cô

giáo, em tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu và định hướng xây dựng

sản phẩm du lịch mới ở Bắc Ninh"

Trang 4

4

2 Lịch sử nghiên cứu

- Các cuộc điều tra của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh về hoạt động du lịch, số lượng và chất lượng

của nguồn lao động tại Kinh Bắc

- Việc nghiên cứu về thực trạng nguồn lao động du lịch đã được cụ thể

bằng các chương trình, chiến lược phát triển du lịch của tỉnh và của cả nước

- Một số bài báo viết về hoạt động du lịch ở Kinh Bắc

Tuy nhiên, chưa có một đề tài nghiên cứu chính thức nào về xây dựng

sản phẩm du lịch mới ở Kinh Bắc

3 Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá thực trạng phát triển, khảo sát lại các ngành kinh doanh du lịch tại Kinh Bắc, từ đó đưa ra các ý tưởng mới trong việc phát triển du lịch ở Kinh Bắc

4 Đối tượng nghiên cứu

- Nguồn lao động du lịch và khách du lịch tại tỉnh Bắc Ninh

-Các sản phẩm du lịch đang được sử dụng tại Kinh Bắc

- Các cơ sở vật chất kỹ thuật và dịch vụ du lịch tại tỉnh Bắc Ninh

-Những ý tưởng, đề xuất cho công tác phát triển du lịch tại Kinh Bắc

5 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu, bài tiểu luận đã sử dụng các phương pháp :

- Thu thập thông tin, hệ thống hóa các thông tin từ nhiều nguồn tài liệu -Khảo sát thực tế tại địa phương

6 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, bài tiểu luận được chia thành ba chương Chương 1: Hệ thống hóa các vấn đề về xây dựng sản phẩm du lịch mới Chương 2: Thực trạng sản phẩm du lịch tại Kinh Bắc

Chương 3: Đề xuất xây dựng sản phẩm du lịch mới tại Kinh Bắc

Hình ảnh và danh mục tài liệu tham khảo

Trang 5

5

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG SẢN PHẨM DU LỊCH Ở BẮC NINH 1.1 Khái niệm du lịch

Về khái niệm du lịch, có người đã nói :" Đối với du lịch,có bao nhiêu người tham gia nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa" ( Giáo sư Berkener - chuyên gia có uy tín về du lịch thế giới ) Bởi mỗi nhà nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau, điều kiện, hoàn cảnh nghiên cứu khác nhau sẽ đưa ra

những khái niệm khác nhau về du lịch

Theo Tổ chức Du lịch thế giới ( United Nation World Tourism Organization), một tổ chức thuộc Liên Hợp Quốc, du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích là kiếm tiền du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư

Nhìn từ góc đọ thay đổi không gian của khách: du lịch là một trong những hình thức di chuyển tạm thời từ vùng này sang vùng khác, từ mọt nước này sang nước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay làm việc Nhìn từ góc độ kinh tế:

Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí nghỉ ngơi có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khao học và các nhu cầu khác

Ở Việt Nam, vấn đề du lịch được hiểu là: " Là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định"

Thực chất, du lịch là quá trình du ngoạn cảu con người theo một lịch trình nhất định để được thưởng thức cái đẹp, cái mới lạ, không nhằm mục đích sinh lợi bằng đồng tiền Với bản chất như vậy, ta có thể đưa ra một khái niệm tổng

Trang 6

6

thể về du lịch như sau: " Du lịch là quá trình hoạt động của con người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên đến một nơi khác với mục đích chủ yếu là được thẩm nhận những sắc thái văn hóa và cảnh quan thiên nhiên vùng, miền khác với nơi

cư trú thường xuyên Đồng thời có thể kết hợp với các mục đích khác nhau như nghỉ dưỡng, thăm thân " Khái niệm trên đây làm rõ được mục đích cơ bản của các chuyến du lịch là du ngoạn để được thẩm nhận các giá trị từ văn hóa và thiên nhiên mang lại Đó cũng chính là " cầu" trong thị trường cung cầu du lịch,

để các quốc gia, các nhà hoạch định chiến lược phát triển du lịch, các doanh nghiệp, doanh nhân kinh doanh du lịch định hướng được qui hoạch phát triển du lịch cũng như lựa chọn và làm mới cho sản phẩm kinh doanh của mình

1.2 Sản phẩm du lịch

1.2.1 Khái niệm

" Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thảo mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch" theo quan điểm Marketing: "Sản phẩm du lịch là những hàng hóa và dịch vụ có thể thảo mãn nhu cầu của khách

du lịch, mà các doanh nghiệp du lịch đưa ra chào bán trên thị trường, với mục đích thu hút sự chú ý mua sắm và tiêu dùng của khách du lịch"

Sản phẩm du lịch bao gồm các dịch vụ du lịch, các hàng hóa và tiện nghi cung ứng cho du khách, nó được tạo nên bởi sự kết hợp các yêu tố tự nhiên, cơ sở vật chất kĩ thuật và lao động du lịch tại một vùng hay một địa phương nào đó Như vậy, sản phẩm du lịch bao gồm những yếu tố hữu hình ( hàng hóa ) và vô hình ( dịch vụ ) để cung cấp cho khách hay nó bao gồm hàng hóa, các dịch vụ và tiện nghi phục vụ khách du lịch nhằm đáp ứng mọi mong muốn và nhu cầu của khách trong chuyến du lịch Có thể hiểu đơn giản: Sản phẩm du lịch được hình thành trên cơ sở tài nguyên du lịch được cung cấp các dịch vụ để thẩm nhận giá trị tài nguyên đó Có thể diễn đạt dưới dạng công thức sau:

Sản phẩm du lịch = Tài nguyên du lịch + các dịch vụ và hàng hóa du lịch

Trang 7

7

Khái niệm sản phẩm du lịch phải được hiểu theo nghĩa sản phẩm hoàn chỉnh chứ không phải là sản phẩm riêng lẻ Việc nhận thức đúng khái niệm về sản phẩm du lịch là cần thiết để nâng cao tính hợp tác của các đơn vị, cá nhân tham gia cung cấp sản phẩm du lịch nhằm đem lại sự hài lòng nhất cho du khách

Các yếu tố của sản phẩm du lịch: Điểm thu hút khách, khả năng tiếp cận của điểm đến, các tiện nghi và dịch vụ của điểm đến, hình ảnh của điểm đến, giá

cả hàng hóa, dịch vụ của điểm đến

1.2.3 Đặc trưng của sản phẩm du lịch

- Sản phẩm du lịch có tính tổng hợp: được biểu hiện ở chỗ nó kết hợp với các loại dịch vụ do nhiều đơn vị, cá nhân thuộc các ngành khác nhau cung cấp nhằm thảo mãn các nhu cầu của khách du lịch Sản phẩm du lịch gồm nhiều yếu

tố không thể tách rời, đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận tham gia phục vụ khách để tạo ra một sản phẩm du lịch có chất lượng tốt, đem lại sự hài lòng cho khách hàng

-Sản phẩm du lịch chủ yếu tồn tại ở dạng vô hình: Ngoại trừ một số sản phẩm du lịch có tính hữu hình như : các hàng hóa, lưu niệm, đồ uống thì hầu hết các dịch vụ du lịch như dịch vụ lưu trú, tham quan, vận chuyển đều tồn tại

ở dạng vô hình, khách du lịch chỉ cảm nhận được chúng chứ không nhìn thấy việc chúng mang lại cảm giác phấn chấn, dễ chịu hay khó chịu, không cầm nắm được các dịch vụ đó như các hàng hóa khác, khong mang được chúng về nhà sau khi mua

Trang 8

8

- Phần lớn sản phẩm du lịch tự tiêu hao, không thể để tồn kho Hầu hết, các sản phẩm du lịch chưa bán được hôm nay không thể để bán vào dịp khác trong tương lai

- Qúa trình sản xuất và tiêu dùng sản phẩm du lịch diễn ra đồng thời Khác với các sản phẩm thông thường khác, việc sản xuất hầu hết các dịch vụ du lịch chỉ được thực hiện khi khách du lịch có mặt tại nơi cung cấp dịch vụ, việc tiếp nhận và tiêu dùng sản phẩm du lịch của khách du lịch cũng được thực hiện đồng thời với quá trình sản xuất

- Sản phẩm du lịch có tính không thể dịch chuyển được, khách du lịch chỉ

có thể tiến hành tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ du lịch tại nới sản xuất chứ không phải như những sản phẩm vật chất khác có thể chuyển từ nơi sản xuất đến nơi khác để tiêu thụ Tính không thể dịch chuyển sản phẩm du lịch còn được thể hiện ở chỗ không có sự chuyển quyền sở hữu sản phẩm giữa người bán và người mua Khách du lịch chỉ có quyền sử dụng tạm thời đối với sản phẩm du lịch trong một thời gian, địa điểm nhất định chứ không có quyền sở hữu sản phẩm

- Sản phẩm du lịch có tính không đồng nhất: Sản phẩm dịch vụ không thể tiêu chuẩn hóa được Các nhân viên cung cấp sản phẩm du lịch không thể tạo ra được các sản phẩm du lịch như nhau trong những thời gian làm việc khác nhau Một người có thể đánh giá chất lượng trương trình du lịch đó là tuyệt vời, còn người kia lại đánh giá không có gì đặc sắc

1.2.4 Sản phẩm du lịch mới

Đứng trước thời cuộc kinh tế khó khăn, mỗi doanh nghiệp, công ti càng đòi hỏi phải tự phát triển bằng cách làm mới các sản phẩm của mình Du lịch cũng không nằm ngoài vòng quay ấy thậm chí còn mạnh mẽ và quyết liệt hơn tất cả Một sản phẩm du lịch mới có thể là mới hoàn toàn hoặc là những sản phẩm cải tiến mà công ti muốn phát triển thông qua những nỗ lực của mình Sản phẩm mới hôm nay có thể bị coi là lạc hậu vào ngày mai Do đó đòi hỏi mọi công ti đều phải tiến hành phát triển sản phẩm mới

Trang 9

9

Chương 2: THỰC TRẠNG SẢN PHẨM DU LỊCH TẠI BẮC NINH

2.1 Điều kiện để phát triển du lịch lễ hội làng nghề

2.1.1.Điều kiện chung

Mức sống về vật chất của người dân cao

Thu nhập của nhan dân là chỉ tiêu quan trọng và là điều kiện vật chất để

họ có thể tham gia đi du lịch Khi đi du lịch và lưu trú ngoài nời ở thường xuyên, khách du lịch luôn là người tiêu dung nhiều dịch vụ, hàng hóa Con người để có thể đi du lịch và tiêu dung phải có phương tiện vật chất đầy đủ Đó

là điều kiên cần thiết để biến du lịch nói chung thành nhu cầu có khă năng thanh toán, vì khi đi du lịch ngoài phải trả tiền cho các nhu cầu hằng ngày, còn phải trả thêm các khoản tiền thuê tàu xe, nhà ở, tiền tham quan….Và xu hướng khi

đi du lịch con người có xu hướng tiêu dung rộng rãi hơn

Trình độ văn hóa nói chung của nhân dân cao

Nếu trình độ văn hóa chung của một địa phương được nâng cao thì động

cơ đi du lịch của người dân ở đó tăng lên rõ rệt Số người đi du lịch tăng, long ham hiểu biết và mong muốn “mở rộng tầm mắt” Mặt khác nếu trình độ văn hóa của nơi đó nâng cao thì địa phương đó khi phát triển du lịch sẽ dễ đảm bảo phục vụ khách du lịch một cách văn minh lịch sự và làm hài long khách đi du lịch tới đó

Giao thông vận tải là một nhân tố chính trong phát triển du lịch Đảm bảo phát triển về:

+ Phát triển về số lượng

+ Phát triển về chất lượng: phương tiện vận chuyển và chất lượng phục vụ + Tốc độ vận chuyển

+ Đảm bảo an toàn trong vận chuyển

+ Đảm bảo tiện lợi trong vận chuyển

+ Giá cả rẻ

Trang 10

10

+ Sự phối hợp khoa học trong vận chuyển giữa các loại phương tiện

Một đất nước cót thể phát triển du lịch nếu nước đó tự sản xuất được phần lớn của cải vật chất trong du lịch

Tình hình chính trị, hòa bình ổn định của đất nước là tiền đề cho sự phát triển kinh tế chính trị, văn hóa, xã hội của một đất nước Và cũng là tiền đề cho

du lịch phát triển

Các điều kiện an toàn đối với du khách:

Tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội

Lòng hận thù của người dân bản xứ đối với một quốc gia Một chủng tộc ngừơi

Các bệnh dịch như tả, hạch, sốt rét … Du khách lo sợ đến đó họ sẽ bị mắc bệnh

2.1.2.Các điều kiện đặc trưng

Các điều kiện về tài nguyên du lịch

Các điều kiện vè tài nguyên du lịch là điều kiện cần để phát triển du lịch Chúng ta không thể phát triển du lịch lễ hội làng nghề nếu ở đó không có các làng nghề truyền thống đặc sắc, các lễ hội dân gian có giá trị văn hóa cao (điều kiện quan trọng nhất, các phong tục tập quán lâu đời,cổ lạ)…bên cạnh đó là các điều kiện về thiên nhiên thuận lợi như: điều kiện về khí hậu điều hòa ổn định, lượng mưa ít vào thời vụ du lịch, số giờ nắng trung bình trong ngày cao, nhiệt

độ trung bình của không khí và ban ngày và ban đêm không quá cao, và không chênh lệch nhau qua nhiều, ngoài ra còn các điều kiện về hệ động thực vật, nguồn nước, vị trí địa lý lằm trong khu vực phát triển du lịch, khoảng cách từ điểm du lịch tới nguồn khách không được quá xa, các điều kiện thành tựu kinh

Trang 11

11

- Cấp trung ương: các bộ, tổng cục các phông ban trực thuộc chính phủ

có lien quan tới vấn đề du lịch

- Cấp địa phương: Chính quyền địa phương, sở du lịch

- Hệ thống các thể chế quản lý, các chính sách và cơ chế quản lý

- Sự có mặt của các tổ chức và doanh nghiệp chuyên trách về du lịch + Kinh doanh khách sạn

+ Kinh doanh lữ hành

+ Kinh doanh vận chuyển khách sạn

+ Kinh doạn các dịch vụ khác

Các điều kiện về kỹ thuật

- Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, bao gồm toàn bộ nhà cửa và các phương tiện vật chất kỹ thuật giúp cho việc phục vụ để thỏa mãn những nhu cầu của khách du lịch như: khách sạn, nhà hàng, phương tiện giao thông vận tải, các khu giải trí, cửa hàng, công viên đường xá, cầu cống , các dịch vụ công …

- Cơ sở vật chất hạ tầng xã hội : Là những cơ sở vật chất không phải do các tổ chức du lịch xây dựng mà là của toàn xã hội Đó là hệ thống đường xá cầu cống, nhà ga, sân bay, bến cảng đường sắt, công viên của toàn dân, mạng lưới thương nghiệp củ khu dân cư, hệ thống thông tin viễn thông, hệ thống cấp thoát nước…vv

Đối với ngành du lịch cơ sở vật chất kỹ thuật xã hội là yếu tố cơ sở nhằm khia thác tiềm năng du lịch và nâng cao chất lượng của của sản phẩm du lịch

Điều kiện về kinh tế

Việc đảm bảo nguồn vốn để duy trì và phát triển họat động kinh doanh du lịch Bởi vì ngành du lịch là một ngành đi đầu về phương tiện tiện nghi hiẹn đại

và là ngành lien tục đổi mới

Việc thiết lập kinh tế với các bạn hàng Để đảm bỏa việc cung ứng phải thường xuyên và có chất lượng tốt

Trang 12

12

Có một số tình hình và sự kiện đặc biệt

Có một số tình hình và sự kiện đặc biệt có thể thu hút khách du lịch và là điều kiện dặc trưng để phát triển du lịch.( Ví dụ : 006 một sự kiện khá dặc biệt là Bill Gates đã tới Việt Nam và đã tới Bắc Ninh)

2.2 Về sản phẩm du lịch loại hình (quan họ)

Về lịch sử phát triển văn hoá, kinh Bắc cũng là một vùng có những đặc điểm tương đối riêng và nổi bật Khảo cổ học đã chứng minh kinh Bắc có sự tụ cư lần lượt cả nhiều luồng dân cư từ lâu đời, trong đó có yếu

tố văn hoá Việt giữ vai trò chủ thể Tiến trình phát triển văn hoá bản địa trên đất này không diễn ra êm ả, xuôi dòng mà đã đụng đầu trực diện với

sự đồng hoá văn hoá gắn liền với mưu đồ sát nhập lãnh thổ của một kẻ thù mạnh, kẻ thắng trận và đô hộ quê hương này, đất nước này khi đứt khi nối hàng nghìn năm.Trong cuộc đụng đầu lịch sử hàng nghìn năm ấy, kết quả lịch sử đã chứng minh nền văn hoá bản địa trên quê hương này không những không bị đồng hoá, tiêu diệt mà ngược lại nền văn hoá ấy vẫn tiếp tục phát triển giá trị, bản sắc riêng để rồi khi đất nước độc lập vùng văn hoá dân gian xứ kinh Bắc lại trở thành vùng văn hoá nền tảng của văn hoá văn minh Thăng Long nước Đại Việt thế kỷ XI Cuộc thử thách lớn lao và kéo dài trong trận chiến giữ gìn phát triển giá trị, bản sắc văn hoá nghệ thuật quê hương đã có những cống hiến lơn lao trong công cuộc xây dựng văn hoá đất nước quê hương

Trong sinh hoạt văn hoá Quan họ thật sự tồn tại một tình người thắm thiết thuỷ chung Cùng với sự bình đẳng tương thân tương ái, người Quan họ rất coi trọng người đi trước, các lớp Quan họ trước biết cách ứng

xử có trên có dưới Những việc làm, những lời răn bảo khuyên can, chỉ dẫn của người đi trước thường được tôn trọng Sự có mặt của các Quan họ lớp trước trong mọi cuộc xum họp ca xướng Quan họ thường là niềm tự hào, niềm vui của Quan họ lớp trẻ Bao giờ các bậc đi trước cũng được

Trang 13

13

đối xử một cách quý trọng, chân thành Mối quan hệ này liên quan đến sự bảo tồn và phát triển các thành tựu văn hoá nghệ thuật Quan họ nói chung, mầu sẵc phong cách đa dạng của mỗi làng nói riêng Ngày xưa người vùng không có quan hệ đến với quan hệ thường có nhận xét:

“Người Quan họ nói như có văn có sách”.Ngôn ngữ của Quan họ là ngôn ngữ giàu chất thi ca của ca dao tục ngữ, chuyện nôm nhất là truyện Kiề u Ngôn ngữ giáo tiếp Quan họ tuy mềm mại, khéo léo tinh tế nhiều khi bóng bẩy, lững lờ nhưng không gợi lên những ẩn ý dối trá, lừa lọc mà đậm đà tình người, sự tôn trọng giữa người với người luôn hướng tới sự giàu đẹp của ngôn ngữ Vì vậy người Quan họ không thích, không chấp nhận sự thô kệch vụng về trong ngôn ngữ Người Quan họ rất coi trọng sự lịch thiệp, thanh nhã trong mọi cử chỉ giao tiếp Từ việc đỡ ô, đỡ nón khi đón bạn, nâng cơi trầu mời bạn, nâng chén nước chén rượu đến dáng đi dáng đứng thế ngồi, cái miệng, đôi mắt, tư thế khi chuyện trò cùng bạn… gần như đều có chuẩn mực, thế này là phải, là duyên, thế kia là không phải, vô duyên Một chùm hoa bưởi đặt trong cơi trầu, một nhành hoa sói cài lên mái tóc nép kín vào vành khăn, hoặc dấu trong khăn tay… vốn là

sự tinh tế của người Quan họ

Khi nhắc đến Quan họ không thể không kể đến các hội hè, đặc biệt trong đó là hội Lim Hội Lim mở ngày 13 tháng Giêng âm lịch trùng với ngày hội chợ đầu năm Lúc này là thời gian tốt nhất để mở hội, vì hội có trăng, một số hội đã mở lấy đà mọi người vừa ăn tết xong công việc đồng áng, bán buôn đang rỗi rãi, giao thông thuận lợi

Chùa Lim được làm từ hồi nào không rõ Theo truyền thuyết có một người đàn bà tên là Bà Mụ ả, người Duệ Đông đến tu ở đó Bà tu đắc đạo nên có phép hô phong hoàn vũ Mỗi khi hạn hán, nhân dân thường cầu bà làm mưa Do bà linh ứng như thế nên làng Lim tôn bà làm Thành Hoàng làng và ngày hội Chùa Lim tổ chức vào ngày mất của bà Bà vừa là Thần

Trang 14

đẽ nhất, những người hát Quan họ lại có quần áo đặc biệt như là lễ phục riêng Giữa trời đất mùa Xuân mưa phùn gió nhẹ, cây cối đâm chồi nảy lộc, từ xa nhìn vào đám hội ăn mặc đủ màu sắc tươi dói, trông rất rực rỡ Các trò đua vui, đua tài tổ chức giữa đồi Lim như: Đánh đu, đánh cờ người, trọi chim, trọi gà, bắt vịt… làm không khí ngày hội từng bừng náo nức

Hội thứ hai tiêu biểu được kể đến là Hội Ó (làng Ó tên chữ là Xuân

Ổ nay thuộc Tiên Sơn, Bắc Ninh) Chợ Ó có cái sầm uất còn vọng lại trong bài hát Quan họ cổ truyền theo điệu hát Đúm như sau:

“Mùng năm chợ ó Quan họ dồn về Hội vui lắm lắm Chưa kịp đi tắm Chưa kịp gội đầu Trầu chửa kịp têm Cau chưa kịp bổ Miếng lành miếng sổ Miếng lại quên vôi Người có yêu tôi Thì người cầm lấy…”

Bài hát tả lại ngày hội Quan họ ở chợ Ó Hội vui quá, hấp dẫn qúa đến nỗi các cô gái Quan họ lú lẫn vội vàng đến không kịp cả têm trầu

Trang 15

15

Cái chợ Ó ngày mùng 5 tháng Giêng âm lịch đó, các cụ gọi là ngày hội chợ bán gà (có sách còn gọi là chợ Âm dương) Tại sao lại gọi là hội chợ bán gà? Làng Ó có tục tế gà đen cho Thành Hoàng làng Gà đen nhà nào được chọn làm vật tế, nhà đó sẽ được hưởng nhiều may mắn trong năm ấy Các gia đình trong làng và các làng bên cạnh thi nhau đem gà đen đến chợ bán với giá rẻ để mong gà của mình được làm vật tế Chợ hợp vào lúc chạng vạng tối đấy là khoảng thời gian giao tiếp giữa ngày và đêm, theo quan niệm dân gian đó là lúc âm dương giao tiếp, lúc trao đổi giữa người và ma, giữa cõi âm và dương gian Vì vậy gọi là chợ Âm dương Lúc chợ họp cũng là lúc tất cả mọi vật trên đời chìm vào màn đêm Gà đen sẽ thâm nhập được vào sâu thế giới cõi âm để xem xét điều lành, điều dữ về báo lại với Thành Hoàng, Thành Hoàng sẽ liệu mà phù

hộ độ trì cho dân chúng Đặc biệt trong ngày chợ này, ngoài gà ra, ai có

đồ vật gì cũ kỹ thì đem bán, bán với giá rẻ, người mua không mặc cả, người bán không đếm tiền Người bán trao đồ vật nói số tiền Người mua

im lặng mở dây tiền đồng rút ra một đoạn ước chừng bỏ vào tay người bán Người bán lặng lẽ bỏ tiền vào bị cói Cuộc trao đổi thầm lặng ấy người ta gọi là “Mua may bán rủi” Đứng xa chỉ nhìn thấy những bóng đen đi lại và nghe tiếng xầm xì Cuộc mua bán diễn ra nhanh chóng Người ta quan niệm rằng mua bán như thế ma sẽ họp chung với người, hai bên trao đổi hàng hoá cho nhau Trong khi mua bán nhất định sẽ xảy ra người hơn kẻ thiệt Nhưng người thiệt lại chính là kẻ được hơn vì họ đã

có dịp làm phúc Mọi người đều muốn làm phúc, nhất là làm phúc cho cõi

âm Cho nên cuối cùng mọi người đều thanh thản vì sự thiệt, mà cũng vui

vẻ vì sự hơn Có lẽ đó là dấu vết của một ký ức thời nguyên thuỷ về việc mua bán, nó phù hợp với quan niệm chợ Âm dương và việc mua bán ở các chợ với quan niệm “may - rủi” như thế này cũng có tổ chức ở nhiều nơi khác

Trang 16

2.3 Về sản phẩm du lịch văn hóa - tâm linh (lễ hội – làng nghề)

Du lịch văn hóa (đặc biệt là du lịch lễ hội làng nghề) là một loại hình khá

mớ mẻ ở nước ta nói chung và ở Bắc Ninh nói riêng Ngành du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp nó phụ thuộc rất nhiều vào các ngành nghề kinh tế khác Đặc biệt là ngành văn hóa,tuy nhiên thực trạng lại co thấy giữa du lịch và văn hóa nói riêng và với các ngành kinh tế khác nói chung còn chưa có sự kết hợp hợp lý Sự quản lý chồng chéo, dẫn tới tình trạng cha trung không ai khóc, trách nhiệm của các bên là không rõ ràng, tình trạng lấn chiếm không gian của đình chùa, và khi các lễ hội diễn ra không có một chủ thể quản lý rõ ràng lên có tình trạng lộn xộn, chuộc lợi Các trò chơi chương trình tại các lễ hội không được quản lý,các trò chơi dân gian dần dần không còn thấy nữa thay vào đó là những trò như sóc đĩa, cờ bạc ăn tiền…điều đó làm cho các lễ hội mai một dần và mất dần bản sắc và ý nghĩa của nó Đánh mất đi sự hấp dẫn của mình Thử hỏi như vậy thì du lịch lễ hội làm sao có thể phát triển

Bắc Ninh có nhưng điều kiện khá thuận lợi để phát triển du lịch đặc biệt là

du lịch “lễ hội, làng nghề”( chỉ chiếm khoảng 0.3%-> 0.4% tổng doanh thud u lịch).Tuy nhiên nhưng thực tế cho thấy du lịch ở Bắc Ninh lại không hề phát triển Bởi tính chất nhỏ lẻ của các tài nguyên du lịch, đăc biệt bản thân người

Trang 17

17

dân nơi đây cũng không hề có khái niệm về du lịch chỉ đơn giản là những cuộc

đi chơi hoặc du xuân mang tính chất “truyền thống”.(Bắc Ninh hàng năm có tới

300 lễ hội nhưng đa số là những lễ hội nhỏ người ta chỉ biết một vài lễ hội điển hình như hội đền bà chúa kho, hội đền đô, hội lim…)

Bắc Ninh là một tỉnh nhỏ nhưng lại có rất nhiều các làng nghề lổi tiếng Tuy nhiên cũng giống như các lễ hội các làng nghề ở đây đang đứng trước nguy

cơ mai một và thực tế là đã có rất nhiều các làng nghề tưởng chừng đã mai một Nói tới nguyên nhân, đúng là cũng chẳng thể trách ai, nền kinh tế bung ra, nền sản xuất tiến tiến áp dụng khoa học kỹ thuật tỏ ra ưu việt hơn rất nhiêu kiều phương thức sản xuất thủ công, và dần dần các sản phẩm thủ công dần dần không thể cạnh tranh nổi, và mất dần Một số làng nghề tỏ ra nhạy bén với thị trường vẫn thích nghi được, nhưng ở tình trạng ngày nào hay ngày ấy không có

gì là đảm bảo bởi một kế hoạch lâu dài Đã có nhiều dự án để quy hoạch phát triển các làng nghề(xây dựng các khu công nghiệp ) Cùng với sự giúp đỡ của nhà nước:

“ Thứ nhất: Xây dựng và quản lý các cụm công nghiệp làng nghề Bắc Ninh coi việc quy hoạch tạo mặt bằng cho sản xuất ở các làng nghề là một khâu đột phá quan trọng trong phát triển làng nghề Hình thành các khu, cụm công nghiệp làng nghề, thực chất là chuyển một phần diện tích đất canh tác nông nghiệp của chính làng nghề sang đất chuyên dùng cho sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và tạo điều kiện cho các hộ sản xuất trong các làng nghề di dời ra khu sản xuất tập trung, tách sản xuất ra khỏi khu dân cư Theo quan điểm của tỉnh Bắc Ninh, việc làm này cần phù hợp với đặc điểm riêng của từng làng, từng nghề Vì vậy, tỉnh Bắc Ninh có chủ trương chỉ thực hiện việc di rời đối với những khâu sản xuất đồng bộ, những công đoạn lắp ráp hoàn chỉnh sản phẩm Đối với hoạt động sản xuất những chi tiết nhỏ lẻ, không ảnh hưởng đến môi trường, sức khoẻ của cộng đồng thì vẫn được sản xuất, kinh doanh ở từng hộ gia

Trang 18

Để các khu, cụm công nghiệp làng nghề được hình thành và hoạt động có hiệu quả, Bắc Ninh đã thành lập ra ban quản lý các khu công nghiệp làng nghề Ban quản lý các khu công nghiệp làng nghề có nhiệm vụ giúp các cấp, các ngành, trước hết là Uỷ ban nhân dân cấp xã, huyện thực hiện tốt chức năng quản

lý Nhà nước đối với các khu công nghiệp làng nghề Ban quản lý này là một đơn

vị sự nghiệp có thu, có tư cách pháp nhân, được sử dụng con dấu và mở tài khoản theo quy định hiện hành của Nhà nước Ban quản lý các khu công nghiệp làng nghề là cơ quan trực tiếp quản lý các khu công nghiệp làng nghề, đồng thời

là đầu mối phối hợp với các cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã, các tổ chức kinh tế - xã hội và Uỷ ban nhân dân các xã có khu công nghiệp làng nghề để giải quyết những vấn đề phát sinh trong việc quản lý Nhà nước đối với các khu công nghiệp làng nghề

Ban quản lý các khu công nghiệp làng nghề chịu sự lãnh đạo trực tiếp của

Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã dưới sự chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ của các ngành chức năng thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh Cơ quan này là đầu mối triển khai, thực hiện các văn bản qui phạm pháp luật có liên quan, trực tiếp xây dựng điều lệ quản lý các khu công nghiệp làng nghề, trực tiếp triển khai qui hoạch chi

Trang 19

19

tiết, được Uỷ ban nhân dân huyện uỷ quyền quản lý trước, trong và sau khi đầu

tư đối với các khu công nghiệp làng nghề

Thứ hai, vấn đề vốn cho sản xuất kinh doanh Để giải quyết vấn đề khó khăn về vốn cho sản xuất kinh doanh của các làng nghề, Bắc Ninh đã chú trọng đến hệ thống ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Với 7 chi nhánh cấp huyện, thị của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và nhiều chi nhánh liên xã hầu hết nằm ở khu vực kinh tế phát triển (bán kính bình quân 7 km

có một chi nhánh) Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Ninh thực hiện chủ trương tất cả các dự án khả thi của các hộ sản xuất đều được Ngân hàng cho vay 70% giá trị mua sắm tài sản cố định bằng nguồn vốn vay trung hạn và hỗ trợ cho vay từ 30-50% vốn lưu động Nhiều làng nghề được Ngân hàng cho vay đã nhanh chóng nâng cao được năng lực sản xuất, kinh doanh, có doanh thu hàng trăm tỷ đồng/năm, như làng mộc mỹ nghệ Đồng Kỵ, sắt Đa Hội… Đặc biệt, sự đầu tư của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã góp phần khôi phục làng nghề dâu tằm tơ truyền thống Vọng Nguyệt xã Tam Giang huyện Yên Phong Nhờ được khôi phục, làng nghề này đã thu hút trên 1.000 lao động, gồm 120 xưởng sản xuất và làm ra gần 40 tấn kén/năm.”( Báo Điện Tử Đảng Cộng Sản Việt Nam.htm)

Tuy vậy đó mới chỉ là mặt “ phải “ mà chúng ta nhìn thấy về thực trạng các làng nghề ở Bắc Ninh Sự phát triển thậm chí quá ồ ạt của các làng nghề đôi khi đã lằm ngoài tầm kiểm soát của chính quyền nơi đây :bên cạnh những khu công nghiệp được xây dựng thành công thì cũng có không ít các khu công nghiệp “thất bại” ví dụ như:cụm công nghiệp làng nghề “Quảng Bố_Đại Bái”đã tốn không ít tiền của và bây giờ đó chỉ còn là bãi đất chống và mấy ngôi nhà siêu vẹo Cái mất ở đây không chỉ là tiền của mà còn cả lòng tin của nhân dân nơi đây kéo theo đó là hàng loạt các hậu quả về chính quyền nơi đây…đó là những cụm công nghiệp thất bại còn đối với những cụm công nghiệp đã dược gọi là thành công thí sao? Tình trạng ô nhiễm môi trường không thể kiểm sóat

Ngày đăng: 05/05/2021, 13:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w