Vấn đề đặt ra là công tác tổ chức và quản lý đã phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc, phong tục tập quán địa phương cũng như giữ gìn, phát huy được các giá trị văn hóa truyền thống và giải quyết tốt những vấn đề phát sinh trong khi lễ hội diễn ra chưa. Do đó, cần phải nghiên cứu, tìm hiểu về công tác tổ chức và quản lý lễ hội để góp phần làm phong phú thêm kho di sản văn hóa Việt Nam trong thời hiện nay. Được gắn bó và làm việc ở huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai một thời gian và tôi là một người học tập – nghiên cứu về văn hóa nên tôi quyết định chọn đề tài “Công tác tổ chức và quản lý lễ hội Lồng tồng của dân tộc Tày ở huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai” làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình.
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
Chương 1 6
GIỚI THIỆU VỀ HUYỆN BẢO THẮNG TỈNH LÀO CAI 6
1.1 Điều kiện địa lý 6
1.1.1 Vị trí địa lý 6
1.1.2 Diện tích, dân số, giao thông 6
1.1.3 Các đơn vị hành chính 6
1.2 Lịch sử và kinh tế, xã hội 7
1.2.1 Lịch sử 7
1.2.2 Kinh tế, xã hội 10
Chương 2: LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG VÀ QUẢN LÝ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG 11
2.1 Khái niệm lễ hội truyền thống 11
2.2 Quản lý Nhà nước về lễ hội truyền thống 14
2.3 Những phương diện cơ bản trong hoạt động quản lý, tổ chức lễ hội truyền thống 18
2.3.1 Quản lý, tổ chức nội dung hoạt động của lễ hội 18
2.3.2 Quản lý phương diện tài chính của lễ hội 18
2.3.3 Quản lý phương diện an ninh - xã hội của lễ hội 19
2.3.4 Quản lý vấn đề bảo vệ môi trường 19
2.3.5 Quản lý, bảo vệ khu di tích 19
Chương 3: LỄ HỘI LỒNG TỒNG – LỄ HỘI XUỐNG ĐỒNG CỦA DÂN TỘC TÀY Ở HUYỆN BẢO THẮNG TỈNH LÀO CAI 20
3.1 Giới thiệu về lễ hội Lồng tồng 20
3.2 Thời gian tổ chức 21
3.3 Ý nghĩa 22
Trang 23.3.1 Về giá trị văn hóa 22
3.3.2 Về giá trị lịch sử 23
3.3.3 Về giá trị kinh tế 23
3.3.4 Về giá trị xã hội trong đời sống đương đại 24
Chương 4: CÔNG TÁC TỔ CHỨC, QUẢN LÝ LỄ HỘI LỒNG TỒNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TỔ CHỨC QUẢN LÝ LỄ HỘI LỒNG TỒNG CỦA DÂN TỘC TÀY Ở HUYỆN BẢO THẮNG TỈNH LÀO CAI 26
4.1 Công tác tổ chức lễ hội 26
4.1.1 Công tác chuẩn bị 26
4.1.1.1 Thành lập ban tổ chức 26
4.1.1.2 Các công việc chuẩn bị cho lễ hội 27
4.1.2 Diễn trình tổ chức lễ hội 28
4.1.2.1 Phần lễ 28
4.1.2.2 Phần hội 30
4.2 Công tác quản lý lễ hội 31
4.2.1 Tuyên truyền phổ biến các văn bản về quản lý lễ hội 31
4.2.2 Quản lý các nguồn lực cho tổ chức lễ hội 33
4.2.2.1 Quản lý nguồn nhân lực 33
4.2.2.2 Quản lý nguồn tài chính 34
4.2.3 Quản lý dịch vụ, vệ sinh môi trường, trật tự công cộng 34
4.2.3.1 Quản lý dịch vụ 34
4.2.3.2 Quản lý công tác vệ sinh môi trường 35
4.2.3.3 Quản lý an ninh, trật tự công cộng 35
4.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức quản lý lễ hội Lồng tồng 36
4.3.1 Những thành tích và hạn chế 36
4.3.1.1 Những thành tích đạt được 36
Trang 34.3.1.2 Những hạn chế còn tồn đọng 37
4.3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tổ chức và quản lý lễ hội 38
4.3.2.1 Hoàn thiện cơ cấu bộ máy tổ chức và quản lý lễ hội 38
4.3.2.2 Hoàn thiện nội dung chương trình tổ chức lễ hội 39
4.3.2.3 Chú trọng bảo tồn giá trị lễ hội 39
4.3.2.4 Công tác tuyên truyền phổ biến các văn bản quy định của lễ hội 40
4.3.2.5 Đẩy mạnh công tác quản lý bảo vệ cảnh quan lễ hội 40
4.3.2.6 Tăng cường quản lý dịch vụ, vệ sinh môi trường, trật tự công cộng 41
KẾT LUẬN 43
PHỤ LỤC 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lễ hội truyền thống là một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Việt Nam và là một hiện tượng có tính chất tổng hợp chứa đựng trong nó cả tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán, diễn xướng dân gian và văn nghệ dân gian
Ngày nay, lễ hội đang được tổ chức ngày càng nhiều để đáp ứng những đòi hỏi trong đời sống sinh hoạt văn hóa tinh thần của mọi người dân Việc tham dự các lễ hội truyền thống là nhu cầu không thể thiếu được của nhân dân nhằm thỏa mãn khát vọng hướng về cội nguồn, đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh cũng như nhu cầu giao lưu trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng, góp phần tạo nên sự đa dạng của văn hóa Lễ hội truyền thống tồn tại đến hôm nay đều
là kết quả của quá trình tiếp biến văn hóa lâu dài Quá trình tiếp biến ấy khiến cho lễ hội luôn mang dáng vẻ của thời đại mà vẫn không mất đi diện mạo ban đầu, cái cấu trúc hai mảng lễ và hội của nó
Vấn đề đặt ra là công tác tổ chức và quản lý đã phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc, phong tục tập quán địa phương cũng như giữ gìn, phát huy được các giá trị văn hóa truyền thống và giải quyết tốt những vấn đề phát sinh trong khi lễ hội diễn ra chưa Do đó, cần phải nghiên cứu, tìm hiểu về công tác tổ chức và quản lý lễ hội để góp phần làm phong phú thêm kho di sản văn hóa Việt Nam trong thời hiện nay
Được gắn bó và làm việc ở huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai một thời gian
và tôi là một người học tập – nghiên cứu về văn hóa nên tôi quyết định chọn
đề tài “Công tác tổ chức và quản lý lễ hội Lồng tồng của dân tộc Tày ở huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai” làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình
Trang 52 Đối tượng nghiên cứu
Công tác tổ chức và quản lý lễ hội Lồng tồng của dân tộc Tày ở huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu lễ hội Lồng tồng nhằm cung cấp một số thông tin về cơ sở
ra đời, quá trình hình thành, những đặc điểm cũng như tìm ra những giá trị tiêu biểu và thực trạng của công tác tổ chức và quản lý lễ hội Từ đó, đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác tổ chức và quản lý lễ hội Lồng tồng của dân tộc Tày ở huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp sau:
- Quan sát
- Nghiên cứu tài liệu
- Phân tích
5 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục đề tài có bố cục gồm 4 chương:
Chương 1: Giới thiệu về huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai
Chương 2: Lễ hội truyền thống và quản lý lễ hội truyền thống
Chương 3: Lễ hội Lồng tồng – Lễ hội xuống đồng của dân tộc Tày ở huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai
Chương 4: Công tác tổ chức, quản lý lễ hội Lồng tồng và giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức quản lý lễ hội Lồng tồng của dân tộc Tày ở huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai
Trang 6Chương 1 GIỚI THIỆU VỀ HUYỆN BẢO THẮNG TỈNH LÀO CAI 1.1 Điều kiện địa lý
1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện nằm ở trung tâm tỉnh Lào Cai, phía Bắc giáp với huyện Hà Khẩu (Vân Nam - Trung Quốc) với 7 km đường biên và huyện Mường Khương, phía Đông và Đông Bắc giáp với huyện Bắc Hà và Mường Khương, phía tây giáp huyện Sa Pa, tây bắc tiếp giáp thành phố Lào Cai, phía nam là huyện Bảo Yên và Văn Bàn
1.1.2 Diện tích, dân số, giao thông
Huyện có diện tích 691,55 km² và dân số 100.577 người (đông nhất tỉnh Lào Cai năm 2009) Huyện lỵ là thị trấn Phố Lu nằm cách thành phố Lào Cai khoảng 40 km về hướng đông nam Huyện lị là thị trấn Phố Lu Trên địa bàn huyện có Quốc lộ 70, có đường sắt Côn Minh-Hà Nội, quốc lộ 4E, sông Hồng
đi qua Ngoài ra còn có nhiều tỉnh lộ và đường liên xã tới các thôn bản
Trang 8phố: Lào Cai , Phố Mới, Trại Mới, Soi Mười, Sơn Mãn , Giang Đông, Cánh Chín, Thái Niên, Phố Lu, Xuân Quang, Phong Niên Còn châu Thuỷ Vĩ có 4
xã là xã Nhạc Sơn (16 thôn bản) xã Xuân Giao (14 thôn bản); xã Cam Đường (137 thôn, bản) xã Gia Phú (16 thôn bản) với tổng số 83 thôn bản
Ngày 9-3-1944, thống sứ Bắc Kỳ ban hành nghị định bãi bỏ châu Thuỷ
Vĩ, châu Bảo Thắng, thành lập phủ Thuỷ Vĩ, phủ Bảo Thắng, 3 châu Bát Xát,
Sa Pa, Bắc Hà và khu đô thị Lào Cai Phủ Bảo Thắng gồm 17 xã, làng: Nhạc Sơn, Cam Đường, Gia Phú, Xuân Giao, Pha Long, Mường Khương, Bản Lầu, Phong Niên, Xuân Quang, Phố Mới, Trại Mới, Soi Mười, Sơn Mãn, Cánh Chín, Giang Đông, Thái Niên, Phố Lu Lỵ sở của phủ đặt tại Lào Cai Từ
1944 mới gọi là huyện Tuy địa giới đã điều chỉnh nhiều lần nhưng địa danh
"Bảo Thắng" thì giữ nguyên suốt mấy chục năm và nó cũng không hàm ý chỉ vùng cửa khẩu với Trung Quốc nữa
Sau khi tái chiếm Lào Cai (tháng 12 năm 1947), thực hiện chính sách chia để trị, người Pháp đã lấy sông Hồng làm ranh giới thành lập 2 tỉnh Phong Thổ nằm trong xứ Thái tự trị bên hữu ngạn và tỉnh Lào Cai trong Xứ Nùng tự trị bên tả ngạn, khi đó Bảo Thắng chia đôi về 2 tỉnh Nhưng chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn giữ nguyên địa danh, địa giới cũ
Trong Chiến dịch Lê Hồng Phong (từ ngày 08/2 tới ngày 10/3/1950), Bộ Chỉ huy quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã chọn đồn Phố Lu làm điểm khởi hoả và Trung đoàn 102 bằng chính những khẩu súng ĐKZ vừa được chế tạo tại xưởng quân khí Trần Đại Nghĩa ở Việt Bắc thực hiện 2 đại đội bị tiêu diệt, một máy bay bị hạ khiến binh lính trong đồn phải hàng và ngày 13 tháng
2 năm 1950 Phố Lu, tiếp là Xuân Quang, Gia Phú được giải phóng; các khu
du kích ở Phong Niên, Bản Lầu hoạt động mạnh Khu du kích tả ngạn sông Hồng đã đánh trả các đợt càn quét của đối phương hồi 5-8/1950, âm mưu lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt của Pháp bị
Trang 9phá vỡ Do có những khu căn cứ du kích hoạt động mạnh và vững nên trong kháng chiến Bảo Thắng thực sự trở thành cái nôi của phong trào Cách mạng trong hậu địch ở Lào Cai Trong màn II Chiến dịch Lê Hồng Phong (từ ngày 16/9 đến ngày 14/10/1950), Bảo Thắng và tạo đà cho toàn tỉnh Lào Cai hoàn toàn được giải phóng vào ngày 01/11/1950
Trong những năm 1960-1975, một số xã được tách ra lập thị xã Cam Đường (xã Cam Đường, Hợp Thành, Tả Phời và các thôn Cốc Xa, Lùng Thắng, Xóm Mới, Đồng Hồ, Tùng Tung của xã Nam Cường); có thôn nhập vào thị xã Lào Cai (Vạn Hoà); một số xã đổi tên (Lê Lợi, Bình Đẳng, Quang Trung) hay lập mới (Sơn Hải, Phong Hải) nên địa danh, địa giới có thay đổi Sau Chiến tranh biên giới tháng 2 năm 1979, Chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam có những điều chỉnh địa giới vùng Lào Cai Sau khi hợp nhất thị xã Lào Cai và Cam Đường thành thị xã Lào Cai đã điều chỉnh địa giới một số xã của các huyện Bảo Thắng, Mường Khương và thị xã Lào Cai thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn; theo đó, 2 xã Nam Cường (nay là phường Nam Cường) và Cam Đường được sáp nhập về thị xã Lào Cai
Bước vào công cuộc Đổi mới, Chính phủ CHXHCN Việt Nam đã giải thể xã Tằng Loỏng để thành lập thị trấn Tằng Loỏng (thị trấn công nghiệp) Tiếp theo là việc tách hai xã Tả Phời và Hợp Thành của huyện Bảo Thắng để sáp nhập vào thị xã Lao Cai Từ đó Bảo Thắng có 13 xã, 3 thị trấn
Khi tỉnh Lào Cai được tái lập (ngày 12 tháng 8 năm 1991), địa giới Bảo Thắng được giữ nguyên và thị trấn Phố Lu trở thành nơi tập kết của một số cơ quan tỉnh Khi thị xã Lào Cai cơ bản hoàn thành việc tái thiết cơ sở hạ tầng, các cây cầu, tuyến đường bộ, đường sắt nối thông (1994), Phố Lu chỉ còn là thị trấn huyện lị
Trang 101.2.2 Kinh tế, xã hội
Là huyện vùng thấp nằm ở trung tâm Lào Cai, dân số đông (100.577 người); thuận đường giao thông sắt, thủy, bộ, trình độ dân cư cao hơn một số huyện và là địa bàn có biên giới lại là cửa ngõ vào thành phố tỉnh lị có nhiều thuận lợi phát triển kinh tế- văn hóa- xã hội
Trang 11Chương 2
LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG VÀ QUẢN LÝ LỄ HỘI
TRUYỀN THỐNG
2.1 Khái niệm lễ hội truyền thống
Lễ hội là một từ ghép và có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau
Theo từ nguyên, lễ hội là sự kết hợp của hai từ là lễ và hội nên lễ hội gồm hai phần là lễ và hội
Trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam, Trần Ngọc Thêm cho rằng: “ Lễ hội là hệ thống phân bố theo không gian: vào mùa xuân và mua thu, khi công việc đồng áng rảnh rỗi nhất, lễ hội diễn ra liên tiếp hết chỗ này đến chỗ khác, mỗi vùng có lễ hội của riêng mình Lễ hội có phần lễ và phần hội: Phần lễ mang ý nghĩa tạ ơn và cầu xin thần linh bảo trợ cho cuộc sống của mình Phần hội gồm các trò vui chơi giải trí hết sức phong phú Xét về nguồn gốc, phần lớn các trò chơi này đều xuất phát từ những ước vọng thiêng liêng của con người nông nghiệp”
Bên cạnh lễ, hội có nghĩa là cuộc vui được tổ chức cho đông đảo người tham dự theo phong tục hoặc dịp đặc biệt Trong lễ hội, phần lễ là phần gốc
rễ, chủ đạo, phần hội là phần phái sinh tích hợp
Ngoài ra, trong Từ điển bách khoa Việt Nam (2005) có viết: Lễ là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện, còn hội là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ
sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ, sự sinh sôi nảy nở
Trang 12của gia súc, sự bội thu của mùa màng mà từ bao đời nay quy tụ niềm mơ cước chung vào bốn chữ “Nhân khang, vật thịnh”
Còn theo cuốn Văn hóa học (1997), tác giả Đoàn Văn Chúc cho rằng:
“Lễ là sự bày tỏ kính ý dối với một sự kiện xã hội, hay tự nhiên, tư tưởng hay
có thật, đã qua hay hiện tại được thực hiện theo nghi điển rộng lớn, mức độ rộng lớn, tùy thuộc cấp nhóm xã hội có nhiệm vụ cử hành, nhằm biểu hiện giá trị của đối tượng được cử lễ Hội là cuộc vui chơi bằng vô số hoạt động giải trí công cộng, diễn ra tại một địa điểm nhất định vào dịp cuộc lễ kỷ niệm một
sự kiện tự nhiên xã hội, nhằm diễn đạt sự phấn khích, hoan hỉ của công chúng
dự lễ
Như vậy, lễ hội là hoạt động của một tập thể người liên quan đến tín ngưỡng và tôn giáo Lễ hội bao gồm hai thành tố là lễ và hội kết hợp giữa tín ngưỡng và vui chơi, giữa con người với thần linh, giữa thế giới âm và dương,… để thông qua đó, con người có thể bảy tỏ niềm mong ước của mình vào các vị thần linh trên trời Đồng thời, thỏa mãn khát vọng trở về nguồn cội
và đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh cũng như nhu cầu giao lưu sinh hoạt văn hóa cộng đồng
Trước đây con người chưa có khả năng chinh phục, chế ngự và làm chủ thiên nhiên cũng như làm chủ xã hội nên bị bất lực và chi phối bởi những thiên tai, may rủi hay bất công do thiên nhiên hay con người gây nên Vì thế, thần linh là nơi họ đặt niềm tin vào đó như: trời đất, núi sông… Vậy nên ngày xưa đã có nhiều làng xây dựng miếu, đình để thờ các vị thần linh tại địa phương và thường tổ chức lễ hội tại những nơi đó, nhằm thể hiện sự biết ơn đối với các vị thần linh đã ban cho người dân nơi đó sức khỏe, mùa màng bội thu, vật nuôi sinh sôi phát triển Hơn thế nữa, họ còn cầu mong các vị thần tiếp tục che chờ, bảo vệ và ban phúc lành may mắn thịnh vượng cho họ Các
lễ hội truyền thống thể hiện rõ nhất điều này Trong lễ hội truyền thống có sự
Trang 13tác động và anh hưởng của yếu tố tôn giáo, tín ngưỡng Tôn giáo thong qua lễ hội làm phương tiên phô trương thanh thế, ngược lại lễ hội thông qua tốn giáo, tín ngưỡng để thần linh hóa trần tục
Lễ hội truyền thống là một bộ phận những giá trị tốt đẹp trong lễ hội cổ truyền của dân tộc được các thế hệ sau nối tiếp các thế hệ trước tái tạo và khẳng định để bảo tồn và phát huy theo hướng tích cực trong đời sống xã hội Như vậy, lễ hội truyền thống được coi như là một thành tố quan trọng cấu thành nên hình thái sinh hoạt văn hóa lịch sử tương ứng với những mô hình
xã hội được tổ chức theo những giai đoạn lịch sử khác nhau Trong Hán – Việt từ điển bách khoa, thống có nghĩa là mỗi tỏ, đường mỗi, đầu gốc, còn truyền là trao lại, trao cho và chúng luôn đi liền với nhau mang ý nghĩa đời nọ truyền xuống đời kia
Ngoài lễ hội truyền thống còn có lễ hội dân gian là lễ hội trong đời sống văn hóa tinh thần của các xã hội truyền thống Xã hội truyền thống có thể hiểu là những tập hợp người được tổ chức bởi các đơn vị cộng đồng, dựa trên ưu thế của tính chất cộng đồng Hơn nữa, xã hội truyền thống là các cộng đồng thị tộc, bộ lạc, liên minh bộ lạc, các xã hội tiền công nghiệp tồn tại trước khi hình thành những dân tộc quốc gia Từ đó có thể thấy, lễ hội truyền thống hay lễ hội dân gian đồng nhất với nhau nói về lễ hội trong sinh hoạt văn hóa tinh thần của người dân xưa và nay
Có nhiều định nghĩa khác nhau về lễ hội truyền thống, tùy thuộc vào tác giả tiếp cận ở khía cạnh nào theo phương thức nào Tuy nhiên các nhà nghiên cứu văn hóa cho rằng, lễ hội truyền thống là hình thái văn hóa có tính chất hai mặt trong một thể thống nhất Lễ hội truyền thống là một hệ thống hành vi nghi thức biểu đạt thế ứng xử của cộng đồng hướng tới một đối tượng thần linh nhất định và những hoạt động văn hóa để minh hoa cho các hành vi nghi lễ Lễ càng thiêng thì hội càng đông, hội càng đông thì sẽ càng thiêng
Trang 14Mặc dù vậy, đứng ở góc độ quản lý văn hóa để tiếp cận và tìm hiểu về lễ hội thì tất cả các yếu tố của lễ hội sẽ được quan tâm để nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống dân gian của dân tộc, đồng thời tái sang tạo những giá trị văn hóa bác học dựa trên những yếu tố dân gian Có thể nói quản lý văn hóa quan tâm đến việc bảo tồn, phát huy và khai thác những vốn văn hóa truyền thống cùng với sự tái sáng tạo để làm nên những lễ hội truyền thống mang đúng nghĩa của nó, đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt văn hóa tinh thần của mọi người dân
Như vậy, có thể hiểu: Lễ hội truyền thống là lễ hội được sáng tạo và lưu truyền theo phương thức dân gian, được hình thành trong các hình thái văn hóa lịch sử, được truyền lại trong các cộng đồng nông nghiệp với tư cách như một phong tục tập quán
2.2 Quản lý Nhà nước về lễ hội truyền thống
Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại
và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế và đều phải thừa nhận, chịu một sự quản lý nào đó Như vậy, quản lý là một khái niệm được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác nhau như kinh tế, luật học, … Vì thế các nhà nghiên cứu ở từng lĩnh vực đã đưa ra những quan điểm khác nhau về quản lý Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người Theo nghĩa hẹp, quản lý là sự sắp đặt , chăm nom công việc
Hoặc có nhiều định nghĩa sau:
Quản lý là những hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi con người kết hợp với nhau tròng các nhóm, tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu chung
Trang 15Quản lý là quá trình cùng làm việc và thông qua các cá nhân, các nhóm cũng như các nguồn lực khác nhau để hoàn thành các mục đích chung của nhím người hay tổ chức
Quản lý là một nghệ thuật đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển,phối hợp, hướng dẫn, chỉ huy hoạt động của những người khác Quản lý là biết chính xác điều mình muốn người khác làm và sau đó thấy được rằng, họ đã hoàn thanh công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất
Quản lý là tổ chức điều khiển các hoạt động hoặc trông coi và giữu gìn theo những yêu cầu nhất định
Theo điều khiển học: quản lý là sự điều khiển, định hướng, chỉ đạo một
hệ thống hay một quá trình căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc, luật đinh tương ứng để cho quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt mục đích đã định trước
Như vậy, có thể định nghĩa tổng quát về quản lý như sau: Quản lý
là hoạt động nhằm tác động có tổ chức của chủ thể vào một đối tượng nhất định, để điều chỉnh các quá trình xã hội và các hành vi của con người nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục đích nhất định
Quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực nhà nước, chủ yếu bằng pháp luật tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội, đối ngoại của nhà nước Tất cả các cơ quan nhà nước đều làm chức năng quản lý nhà nước Bằng chính sách và pháp luật, nhà nước trao cho các tổ chức hoặc cá nhân để họ thay mặt nhà nước tiến hành hoạt động quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước về văn hóa là hoạt động của bộ máy nhà nước trong lĩnh vực hành pháp nhằm xây dựng và phát triền nền văn hóa Việt Nam Nhà nước với vai trò là thiết chế trung tâm trong hệ thống chính trị, đại diện cho
Trang 16nhân dân, đảm bảo cho mọi người dân đều được thực hiện các quyền cơ bản của mình, trong đó có các quyền về văn hóa như: quyền học tập, sang tạo, phê bình văn hóa nghệ thuật, tự do sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo… Nhà nước có trách nhiệm điều tiết để đảm bảo sự hài hòa giữa các yếu tố văn hó, điều tiết lợi ích văn hóa của các giai tầng, các yêu cầu phát triển và thỏa mãn nhu cầu văn hóa trên toàn xã hội
Ở trung ương, các cơ quan chức năng quản lý nhà nước về văn hóa là Chính phủ và Bộ văn hóa, Thể thao và Du lịch Chính phủ thống nhất quản lý
và phát triển sự nghiệp văn hóa – nghệ thuật trên cả nước thi hành các biện phát để bảo tồn và phát triển văn hóa, chống các hiện tượng, hành vi truyền bá
tư tưởng văn hóa phản động, đồi trụy, các hủ tục mê tín dị đoan Chính phủ và
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trình các dự án, pháp lệnh về tổ chức hoạt động và quản lý văn hóa, quyết định quy hoạch, kế hoạch xây dựng và phát triển văn hóa Ban hành các nghị định, chế tài quản lý, quyết định các chính sách, đầu tư, tài trợ, hợp tác với nước ngoài về việc tổ chức hoạt động phát triển văn hóa
Ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính pháp chế nhà nước ở các địa phương thực hiện chức năng quản lý nhà nước về văn hóa ở địa phương mình theo quy định của Pháp luật Các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch trực thuộc tỉnh, thành phố, các Phòng Văn hóa Thông tin cấp huyện, các Ban Văn hóa cấp phường, xã, thị trấn là cơ quan chuyên môn trực tiếp tham mưu tư vấn giúp Ủy ban nhân dân các cấp quản lý văn hóa ở địa phương mình
Nhà nước quản lý văn hóa bằng chính sách và pháp luật về văn hóa Chính sách pháp luật về văn hóa được hiểu là những nguyên tắc thực hiện tư tưởng chủ đạo của nhà nước về chủ trương, đường lối, phương hướng xây dựng và phát triển nền văn hóa phù hợp với mục tiêu phát triển chung của đất nước Song song với việc tiến hành các chính sách về văn hóa, để quản lý văn
Trang 17hóa, nhà nước đã ban hành hệ thống các văn bản pháp luật về văn hóa nhằm phát huy tác dụng của văn hóa đối với việc hình thành nhân cách, nâng cao chất lượng đời sống tinh thần của con người, chế ước những ảnh hưởng tiêu cực, loại bỏ những hủ tục lạc hậu Quản lý văn hóa bằng pháp luật là một yêu cầu mang tính tất yếu khách quan Cùng với việc ban hành các văn bản pháp luật, Nhà nước tạo ra một hành lang pháp lý an toàn, rộng mở cho việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Quản lý lễ hội là một lĩnh vực cụ thể trong ngành văn hóa
Tóm lại, quản lý nhà nước đối với hoạt động lễ hội nói chung, lễ hội truyền thống nói riêng được hiểu là quá trình sử dụng các công cụ quản lý, chính sách, pháp luật, các nghị định, chế tài, tổ chức bộ máy vận hành và các nguồn lực để kiểm soát, can thiệp các hoạt động của lễ hội bằng các phương thức tổ chức thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm duy trì việc thực hiện hệ thống chính sách, hệ thống các văn bản pháp quy, chế tài của nhà nước đã ban hành Quản lý lễ hội là một quá trình thực hiện bốn công đoạn: xác định nội dung và phương thức tổ chức, xây dựng kế hoạch, tổ chức chỉ đạo thực hiện và kiểm tra giám sát việc thực hiện, tổng kết đúc rút kinh nghiệm
Cơ sở pháp lý của việc thực thi công tác quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống là dựa trên hệ thống các chính sách và pháp luật hiện hành của nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Luật pháp và văn bản mang tính pháp quy nêu trên đã thể hiện rõ mục tiêu của quản lý nhà nước đối với hoạt động lễ hội truyền thống là duy trì và thực hiện nghiêm minh các điều khoản đã được ghi trong luật và các văn bản pháp quy, nghị định, chế tài , các văn bản có liên quan
Theo quy định hiện hành, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm cấp phép kiểm tra, giám sát hoạt động lễ hội Đồng thời, phối hợp
Trang 18cùng các cơ quan chức năng như công an, quản lý thị trường, môi trường giao thông, y thế… xử lsy sai phạm trong lễ hội Việc chịu trách nhiệm quản lý nhà nước nói chung thuộc chính quyền sở tại, nhưng được phân chia trách nhiệm chụ thể cho các đơn vị chức năng thuộc cơ quan quản lý nhà nước có liên quan Do đó, công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm tùy từng vụ việc mà có những cơ quan chức năng chịu trách nhiệm giải quyết
2.3 Những phương diện cơ bản trong hoạt động quản lý, tổ chức lễ hội truyền thống
2.3.1 Quản lý, tổ chức nội dung hoạt động của lễ hội
Bao gồm các hoạt động thuộc về phần lễ như các nghi lễ, nghi thức tế,
lễ, rước, dâng hương, dâng lễ Một số lễ hội còn có các sinh hoạt tín ngưỡng mang tính riêng như hầu đồng, phát ấn
Tổ chức và quản lý các hoạt động mang tính hội: các diễn xướng dân gian và đương đại, các trò chơi, trò diễn, các chương trình nghệ thuật
Quản lý và tổ chức lễ hội tốt là làm thế nào vừa đảm bảo được tính thiêng của các nghi lễ cổ truyền, giữ gìn được những giá trị tốt đẹp, tính nghiêm cẩn, thiêng liêng của lễ hội, đồng thời tránh được những biểu hiện của
mê tín dị đoan, buôn thần bán thánh, lừa đảo Bên cạnh đó, phải làm sao cho các hoạt động hội hè đáp ứng được nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ văn hóa của người dân, vừa phải là những sinh hoạt văn hóa phong phú, hấp dẫn, phù hợp với thị hiếu công chúng, vừa đảm bảo tính giáo dục, nhân văn và lành mạnh
2.3.2 Quản lý phương diện tài chính của lễ hội
Mảng này gồm hai hoạt động chính:
Hoạt động tiếp nhận các khoản thu từ lễ hội và huy động các nguồn vốn
xã hội hóa: tiền công đức, tiền dầu nhang, nguồn thu từ các loại dịch vụ, các nguồn vốn xã hội hóa khác
Trang 19Hoạt động quản lý việc sử dụng, chi tiêu, phân bổ các nguồn vốn thu được sao cho hiệu quả và không xảy ra các tiêu cực, lãng phí, không minh bạch
2.3.3 Quản lý phương diện an ninh - xã hội của lễ hội
Các lễ hội thường là nơi thu hút rất đông nhân dân và du khách thập phương, từ hàng vạn đến hàng triệu người, do đó rất dễ xảy ra chen lấn, xô đẩy, mất trật tự an ninh, ùn tắc giao thông, tai nạn, dễ diễn ra các hiện tượng tiêu cực như móc túi, lừa đảo, bắt chẹt khách, cờ gian bạc lận
Quản lý và tổ chức lễ hội tốt là làm sao đảm bảo an ninh trật tự, an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ, trông coi phương tiện đi lại Bên cạnh đó,
lễ hội cũng là nơi dễ dẫn đến các vấn đề về vệ sinh, an toàn thực phẩm, rất cần tới công tác kiểm tra, giám sát vệ sinh và y tế
2.3.4 Quản lý vấn đề bảo vệ môi trường
Một lễ hội được tổ chức tốt là lễ hội phát triển đi đôi với bảo vệ tốt môi trường xung quanh, giữ gìn cảnh quan sinh thái, đảm bảo phát triển bền vững Bảo vệ môi trường tốt không chỉ thể hiện trong thời gian diễn ra lễ hội (không
xả rác bừa bãi, không xâm hại thiên nhiên, gây mất vệ sinh, ô nhiễm môi trường ), mà còn được duy trì trong quá trình chung sống hài hòa với tự nhiên, giữ gìn cảnh môi trường, hạn chế tác động tới thiên nhiên trong quá trình phát triển
2.3.5 Quản lý, bảo vệ khu di tích
Lễ hội là một loại hình văn hóa phi vật thể, nhưng nó không thể tồn tại tách rời với các di sản vật thể là các di tích, cơ sở thờ tự, các hiện vật, đồ thờ, không gian thiêng Các lễ hội được tổ chức thành công thường đi liền với việc trùng tu, tôn tạo, bảo vệ di tích tốt, cơ sở thờ tự khang trang, không bị bóp méo, biến dạng, công tác quản lý hiện vật, tài sản, đồ thờ tự tốt
Trang 20Chương 3
LỄ HỘI LỒNG TỒNG – LỄ HỘI XUỐNG ĐỒNG CỦA DÂN TỘC TÀY Ở HUYỆN BẢO THẮNG TỈNH LÀO CAI
3.1 Giới thiệu về lễ hội Lồng tồng
Lễ hội Lồng tồng - Một giá trị văn hóa giàu bản sắc
"Áo em thêu chỉ biếc hồng Mùa xuân ngày hội Lồng Tồng thêm vui”
(Tố Hữu)
Lễ hội Lồng tồng cũng thường gọi là Hội xuống đồng, là một lễ hội của đồng bào vùng núi phía Bắc và đây cũng là Lễ hội truyền thống và phong tục tập quán của dân tộc Tày huyện Bảo Thắng được tổ chức vào tháng Giêng hàng năm, được xem là hoạt động tín ngưỡng cầu trời cho mưa thuận gió hòa, cây cối tốt tươi, mùa màng bội thu, đời sống ấm no Nơi tổ chức tại những ruộng tốt nhất, to nhất Vẫn chưa có tài liệu nào nghiên cứu, khẳng định lễ hội này có từ bao giờ Nhưng chắc chắn rằng, khởi nguồn của lễ hội phải được sinh ra từ xã hội của đồng bào vùng núi phía Bắc khi đã sống thành làng bản quần cư trong cộng đồng
Từ xa xưa, đồng bào miền núi phía Bắc, nhất là đồng bào Tày - Nùng, đã sinh sống gắn bó với tự nhiên, thân thiết với bản làng, núi đồi, ruộng đồng, nương rẫy Cho đến ngày nay, nhiều tập quán và phong tục, nhiều ứng xử với thế giới chung quanh vẫn còn mang đậm nét truyền thống xưa kia Lễ hội Lồng tồng đã có từ rất lâu đời, được truyền từ đời này sang đời khác trong cộng đồng người dân tộc Tày, Nùng ở các tỉnh miền núi phía Bắc – Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn và một số tỉnh Tây Bắc
Lễ hội Lồng tồng cũng như lễ xuống đồng của người Kinh đều mang đậm dấu vết tín ngưỡng phồn thực và thành phần lễ hội sinh động: Chủ lễ
Trang 21vạch một đường cày đầu năm, bắt đầu cho cuộc sống nông tang, cày bừa, cấy, hái Chọn ngày lành để thực hiện nhằm cầu mưa thuận, gió hoà, dân khang, vật thịnh Sau nghi thức dâng hương kính cáo các vị thần, dân làng cử ra một người mắc ách vào con trâu mộng vạch một luống cày đầu năm mở đầu cho cuộc sống nhà nông
Tại Lễ hội, mỗi sản vật được dâng lên cúng trời đất, Thần Nông đều mang một ý nghĩa thể hiện được sự giao hoà của trời đất, là thành quả lao động của những bàn tay cần cù, chịu khó, chắt chiu làm lụng, thể hiện sự cảm
tạ trời đất, các vị tiền nhân, thánh thần luôn phù hộ, che chở cho nhân dân được thuận lợi và bội thu trong sản xuất, an khang trong đời sống
Bên cạnh phần lễ, phần hội của lễ hội Xuống đồng đã thực sự tạo nên sự rộn ràng, náo nức, đông vui Đó là các làn điệu dân ca, dân vũ, trò chơi, trò diễn, thể hiện được đậm chất dân gian truyền thống nhưng vẫn toát lên sự khỏe khoắn, hiện đại
Đã thành tập tục, sau những ngày vui xuân chấm dứt, một mùa đồng áng lại bắt đầu, các bản người Tày lại nhộn nhịp chuẩn bị lễ hội Lồng tồng Từ vài ngày trước hội, các cụ cao niên trong xã đã tổ chức họp bàn, phân công công việc chuẩn bị cho ngày hội Cánh trai trẻ thì chuẩn bị trang phục, giầy dép, các thiếu nữ thì ríu rít rủ nhau ngồi khâu còn, đan yến (để đá cầu) và làm bánh trái phục vụ lễ hội…
3.2 Thời gian tổ chức
Hầu hết các hội Lồng tồng lớn nhất đều được tổ chức vào ngày 4 - 10 tháng giêng, như Lồng tồng huyện Định Hóa (tỉnh Thái Nguyên), huyện Yên Sơn, Chiêm Hóa, Nà Hang (tỉnh Tuyên Quang), huyện Ba Bể (Bác Kạn) Tùy theo sự xắp xếp mỗi địa phương, trong các bản làng, ấn định cho phù hợp với địa hình Các địa phương gần nhau thì có thể thỏa thuận chọn ngày khác nhau để có điều kiện giao lưu, trao đổi
Trang 223.3 Ý nghĩa
Lễ hội Lồng tồng của người Tày, Nùng là một nghi thức đặc trưng của văn hóa vùng, mang tính chất tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng cầu mưa, tín ngưỡng thờ mặt trời Chứa đựng nhiều hoạt động tín ngưỡng dân gian, và cũng chính là Lễ hội cầu mưa của người làm nghề nông là nghề truyền thống của dân tộc Tày, Nùng với các nội dung chào mừng mùa xuân mới, mừng vụ mùa trước cho mùa vụ sau bội thu, cho mọi người, mọi nhà khỏe mạnh ấm
no, hạnh phúc, bản làng yên vui
Có thể nói, Lễ hội Lồng tồng là một trong những lễ hội truyền thống của tộc người Tày, Nùng ở khu vực phía Bắc, thực sự trở thành nơi bảo tồn, và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; được xem là một bảo tàng sống, được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Vì vậy, trong bối cảnh hiện nay Lễ hội truyền thống nói chung và Lễ hội Lồng tồng của tộc người Tày, Nùng nói riêng đã cho chúng ta nhiều giá trị, đó là:
3.3.1 Về giá trị văn hóa
Lễ hội Lồng tồng của người Tày, Nùng là nơi giao lưu giữa các loại hình văn hóa dân gian từ các nghi lễ, những câu truyện dân gian (huyền thoại, thần tích, các vị thần…) các làn điệu hát then, Sli, lượn, các trò chơi dân gian và các nghệ thuật trình diễn khác Lễ hội này đã trở thành bức tranh mô tả tương đối toàn diện đời sống văn hóa cộng đồng của tộc người Tày, Nùng ở các tỉnh phía Bắc; trở thành một nếp sinh hoạt văn hóa tinh thần không thể thiếu được sau một năm làm lụng vất vả trên ruộng đồng Việc tổ chức Lễ hội là dịp để mọi người nghỉ ngơi và đoàn tụ gia đình; gạt bỏ đi các điều ác để hướng tới cái thiện, làm tan đi những nỗi ưu tư, phiền muộn, lo lắng trong cuộc sống hằng ngày, để có sự thanh thản; đồng thời, cũng qua đó nhắc nhở, răn dạy con cháu biết ơn và tôn kính các vị thánh hiền, tiền nhân có công khai phá, xây dựng bảo vệ bản làng quê hương
Trang 233.3.2 Về giá trị lịch sử
Lễ hội Lồng tồng là điểm hội tụ của nhiều thế hệ thuộc cộng đồng người Tày, Nùng Thông qua Lễ hội, bằng những nghi thức, tín ngưỡng dân gian, chúng ta thấy được quá trình phát triển của tộc người qua các thời kỳ lịch sử Qua đó, khơi dậy tình yêu quê hương, giáo dục tính nhân văn, khơi dậy giá trị tiềm ẩn của văn hóa làng bản và là điểm hội tụ có nhiều giá trị lịch sử của làng và của tộc người
Lễ hội Lồng tồng được tổ chức hằng năm lưu truyền từ thế hệ nay sang thế hệ khác, gắn liền với công lao to lớn của vị nhân thần đã có công lao xây dựng quê hương, các vị tướng đã có công đánh giặc giữ làng và các vị thần phù hộ để cho nghề nông phát triển.Thông qua các nghi thức, các hình thức diễn xướng, các trò chơi truyền thống, có thể thấy được lịch sử phát triển của một làng quê từ xa xưa đến hiện đại, qua đó giáo dục truyền thống và tinh thần cố kết cộng đồng bền chặt
Dự Lễ hội, người xem không chỉ được chứng kiến các nghi thức về một
hệ thống lễ với những động tác thuần thục, uy nghi mang tính nghệ thuật và biểu tượng cao, mà còn có dịp cảm nhận được mối quan hệ hai chiều giữa làng và nước, giữa cá nhân và cộng đồng; quá khứ và hiện tại như hòa nhập với nhau vừa thiêng liêng, vừa huyền ảo Truyền thống yêu làng, yêu nước được gìn giữ như một tài sản văn hóa cố kết cộng đồng của đồng bào Tày, Nùng ở các tỉnh phía Bắc nước ta
3.3.3 Về giá trị kinh tế
Lễ hội Lồng tồng của người Tày, Nùng là những điểm du lịch hấp dẫn của các tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Cạn, Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái…, là những địa phương có vị trí thuận lợi cho các tourdu lịch ở phía Bắc