ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HOÀNG HIỆP Tên đề tài: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ MỘT SỐ MÔ HÌNH SẢN XUẤT DONG RIỀNG TẠI ĐỊA BÀN XÃ CƯ LỄ, HUYỆN NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN KHÓA LU
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG HIỆP
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ MỘT SỐ MÔ HÌNH SẢN XUẤT DONG RIỀNG TẠI ĐỊA BÀN XÃ CƯ LỄ, HUYỆN NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Định hướng đề tài : Hướng nghiên cứu Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG HIỆP
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ MỘT SỐ MÔ HÌNH SẢN XUẤT DONG RIỀNG TẠI ĐỊA BÀN XÃ CƯ LỄ, HUYỆN NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Định hướng đề tài : Hướng nghiên cứu Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Giảng viên hướng dẫn : TS Hà Quang Trung
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, nay em đã hoàn thành bài báo cáo thực tập tốt nghiệp theo kế hoạch của trường Đại học Nông lâm Thái
Nguyên với tên đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh tế một số mô hình sản xuất
dong riềng tại địa bàn xã Cư Lễ, huyện Na Rì, Tỉnh Bắc Kạn”
Cho phép em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến TS Hà Quang Trung
- Giảng viên khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn - giảng viên hướng dẫn em trong quá trình thực tập Cho phép em gửi lời cảm ơn đến các bạn trong nhóm thực tập đã động viên, chia sẻ cùng nhau hoàn thành tốt đợt thực tập này và cho phép em cảm ơn đến gia đình là nguồn động lực lớn nhất về mặt tinh thần
và tài chính giúp em yên tâm hoàn thành tốt đợt thực tập tốt nghiệp
Cuối cùng cho phép em gửi lời cảm ơn chân thành tới các cơ quan, đơn
vị, cán bộ, công chức của HĐND, UBND xã Cư Lễ huyện Na Rì đã nhiệt tình giúp đỡ em, cung cấp những thông tin và số liệu cần thiết để phục vụ cho bài báo cáo
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 06 năm 2018
Sinh viên
Hoàng Hiệp
Trang 4Pr/IC Lợi nhuận trên 1 đồng chi phí trung gian
Pr/L Lợi nhuận trên 1 ngày công lao động
PTNT Phát triển nông thôn
TM - DV Thương mại - Dịch vụ
VA/IC Giá trị gia tăng trên 1 đồng chi phí trung gian VA/L Giá trị gia tăng trên 1 ngày công lao động
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp tại xã Cư Lễ qua 3 năm 2015 - 2017 28 Bảng 4.2 Tình hình dân số và lao động của xã Cư Lễ qua 3 năm 2015 – 2017 30 Bảng 4.3 Một số chỉ tiêu kinh tế xã Cư Lễ qua 3 năm 2015 - 2017 31 Bảng 4.4 Tổng hợp số liệu các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội xã Cư Lễ trong những năm 2015 đến 2017 33 Bảng 4.5 Diện tích, năng suất và sản lượng dong riềng bình quân của xã Cư Lễ qua
3 năm 2015 - 2017 35 Bảng 4.6 Diện tích, năng suất và sản lượng bình quân của dong riềng trên vụ 36 Bảng 4.7 Tình hình giá dong riềng xã Cư Lễ qua 3 năm 2015 – 2017 36 Bảng 4.8 So sánh chi phí sản xuất cho 1 sào dong riềng và chi phí sản xuất cho 1 sào ngô 38 Bảng 4.9 Chi phí bình quân sản xuất của dong riềng trên một sào 39 Bảng 4.10 So sánh kết quả và hiệu quả kinh tế dong riềng và ngô năm 2017 40
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
MỤC LỤC iv
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 2
1.3.1 Trong học tập 2
1.3.2 Trong thực tiễn 3
PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Một số khái niệm về hiệu quả kinh tế 4
2.1.2 Các chỉ tiêu anh hưởng đến hiệu quả kinh tế 13
2.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế 14
2.2 Cơ sở thực tiễn 14
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ Dong riềng tại Việt Nam 14
2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ Dong riềng tại tỉnh Bắc Kạn 15
2.2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ Dong riềng tại xã Cư Lễ 16
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1 Đối tượng và pham vi nghiên cứu 18
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 18
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 18
3.2 Nội dung nghiên cứu 18
Trang 73.3 Phương pháp nghiên cứu 18
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 18
3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 19
3.3.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 19
3.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 20
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23
4.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội 23
4.1.2 Điều kiện tự nhiên 23
4.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 26
4.2 Phân tích hiệu quả kinh tế sản xuất cây dong riềng 35
4.2.1 Tình hình chung về sản xuất và tiêu thụ dong riềng trên địa bàn xã 35
4.2.2 Hiệu quả sản xuất, kinh doanh dong riềng tại xã Cư Lễ 38
4.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cho dong riềng 43
4.3.1 Giải pháp chung 43
4.3.2 Giải pháp cụ thể 43
PHẦN 5 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ MÔ HÌNH SẢN XUẤT DONG RIỀNG TRÊN ĐỊA BẦN XÃ CƯ LỄ, HUYỆN NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN 46
5.1 Phương hướng trồng cây dong riềng trên địa bàn xã Cư Lễ 46
5.2 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cây dong riềng trên địa bàn xã Cư Lễ, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn 46
5.2.1 Giải pháp đối với chính quyền địa phương 46
5.2.2.Giải pháp đối với nông hộ 48
5.3 Kết luận 49
5.4 Kiến nghị 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Trang 8PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước nông nghiệp, ngành nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước Có hơn 70% dân số sống dựa vào nông nghiệp, vì vậy nông nghiệp và nông thôn luôn
là lĩnh vực được các cấp, các ngành quan tâm Trong những năm gần đây, nền nông nghiệp nước ta đã có những chuyển biến rõ rệt, đây là nền tảng góp phần quan trọng trong chiến lược xóa đói giảm nghèo cho đất nước Một trong những ngành nông nghiệp của nước ta như sản xuất cây dong riềng và cây dong riềng như là một ngành nông nghiệp mũi nhọn của một số tỉnh ở nước ta
Tỉnh Bắc Kạn có diện tích đất tự nhiên là 485.996 ha, trong đó 459.705
ha là đất nông nghiệp, 19.011ha là đất phi nông nghiệp và 7.280ha là đất chưa
sử dụng Do đó, tỉnh có lợi thế về phát triển các sản phẩm nông, lâm nghiệp, trong đó nổi bật là các sản phẩm nông sản có thương hiệu tập thể, có chỉ dẫn địa lý Tỉnh tập trung phát triển sản xuất tập trung với quy mô tương đối lớn, sản phẩm đạt chất lượng, từng bước thâm nhập thị trường phân phối hiện đại trong nước và hướng tới xuất khẩu Bắc Kạn sở hữu những sản phẩm nổi bật như miến dong, cam, quýt, hồng không hạt, gạo Bao thai Chợ Đồn Từ lợi thế
về địa lý, tỉnh Bắc Kạn đã lấy ngành nông nghiệp là ngành mũi nhọn của tỉnh Tại Nghị quyết số 02-NQ/ĐH ngày 17/10/2015 của Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn lần thứ XI, nhiệm kỳ 2015-2020 đã đưa ra Chương trình trọng
tâm, nhiệm vụ và giải pháp: “thực hiện phát triển nông nghiệp theo hướng
sản xuất hàng hóa, tạo ra sản phẩm có thương hiệu, sức cạnh tranh trên thị trường ”, trong đó tỉnh Bắc Kạn đã phát triển cây dong riềng như là một
ngành nông nghiệp mũi nhọn của tỉnh Trong các đơn vị thuộc tỉnh Bắc Kạn thì huyện Na Rì là địa phương có diện tích đất trồng cây nông nghiệp khá lớn,
Trang 9do vậy địa phương đã chú trọng phát triển mạnh về trồng cây nông sản, trong
đó cây dong riềng là một lại nông sản có thế mạnh của địa phương Trong những năm qua, cây dong riềng trở thành nguồn nguyên liệu chính, huyện Na Rì đã không ngừng phát triển mạnh mẽ cả về diện tích và quy mô sản xuất, tỉnh đã tập trung hỗ trợ về cơ chế, chính sách và tài chính để các cơ sở sản xuất mặt hàng miến dong, một mặt hàng thương phẩm được nhiều người tiêu dùng trong và ngoài tỉnh ưa thích Đến nay huyện Na Rì đã mở rộng diện tích lên hơn 822 ha
Từ những lý do nêu trên, em đã chọn nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu
quả kinh tế một số mô hình sản xuất dong riềng tại địa bàn xã Cư Lễ, huyện Na Rì, Tỉnh Bắc Kạn ”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 10- Củng cố kiến thức đã được học, được nghiên cứu Rèn luyện những kỹ năng cần thiết cho bản thân
- Rút ra nhiều kinh nghiệm thực tế cho công tác sau này
- Vận dụng và phát huy được kiến thức đã học vào trong thực tiễn
1.3.2 Trong thực tiễn
Làm cơ sở cho công tác đánh giá, quy hoạch, lập kế hoạch, nhân rộng
và phát triển dong riềngđể có hiệu quả kinh tế cao cho địa phương
Trang 11PHẦN 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm về hiệu quả kinh tế
2.1.1.1 Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế trong Nông nghiệp: là tổng hợp các hao phí về lao động và lao động vật chất hóa để sản xuất ra sản phẩm nông nghiệp Nó thể hiện bằng cách so sánh kết quả sản xuất đạt được với khối lượng chi phí lao động và chi phí vật chất bỏ ra Lúc đó ta phải tình đến việc sử dụng đất đai và nguồn dự trữ vật chất, lao động, hay nguồn tiềm năng trong sản xuất nông nghiệp (vốn sản xuất, vốn lao động, vốn đất đai) Nghĩa là tiết kiệm tối đa các chi phí mà thực chất là hao phí lao động để tạo ra một đơn vị sản phẩm
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng các hoạt động kinh tế Vì vậy, nâng cao chất lượng hoạt động kinh tế là nâng cao hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế là thước đo một chỉ tiêu chất lượng, phản ánh trình độ tổ chức sản xuất, trình độ lựa chọn, sử dụng, quản lý và khả năng kết hợp các yếu tố đầu vào của sản xuất của từng cơ sở sản xuất, kinh doanh cũng như toàn bộ nền kinh tế Có thể nói hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế xã hội, phản ánh mặt chất lượng hiệu quả kinh tế và phản ánh lợi ích chung của toàn xã hội, là đặc lượng của mọi nền sản xuất xã hội Theo quy luật mối liên hệ phổ biến và sự vận động phát triển thì mọi hiệu quả kinh tế của các thành viên trong xã hội đều có mối quan hệ với nhau và có tác động đến hiệu quả kinh tế của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Song hiệu quả kinh tế không đơn thuần là một phạm trù kinh tế chỉ đề cập đến kinh tế tài chính mà
nó còn gắn liền với ý nghĩa xã hội [1]
Cơ sở của sự phát triển xã hội chính là sự tăng lên không ngừng của lực lượng vật chất và phát triển kinh tế có hiệu quả tăng khả năng tích luỹ và tiêu dùng không ngừng nâng cao trình độ văn hoá, khoa học, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, bảo vệ môi trường sinh thái, an ninh quốc gia…
Trang 12Do đó, trong quá trình sản xuất của con người không chỉ đơn thuần quan tâm đến hiệu quả kinh tế mà đòi hỏi phải xem xét đánh giá một cách tích cực
và hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường sinh thái tự nhiên xung quanh Tóm lại, hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế vốn có trong mọi hình thái kinh
tế xã hội, nó phản ánh mặt chất lượng các hoạt động sản xuất kinh doanh của con người Hiệu quả kinh tế là trong quá trình sản xuất kinh doanh phải biết tiết kiệm và sử dụng tối đa tiềm năng của nguồn lực, tiết kiệm chi phí, đồng thời phải thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng số lượng và chất lượng sản phẩm, hàng hoá dịch vụ cho xã hội Tuy vậy, kết quả sản xuất kinh doanh cuối cùng cái cần tìm là lợi nhuận Nhưng để đạt được mục đích tối đa hoá lợi nhuận và không ngừng phát triển tồn tại lâu dài thì cần quan tâm đến vấn đề hiệu quả kinh tế, phải tìm mọi biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế xã hội là hiệu quả chung phản ánh kết quả thực hiện mọi mục tiêu mà chủ thể đặt
ra trong một giai đoạn nhất định trong quan hệ với chi phí để có được những kết quả đó Hiệu quả kinh tế biểu thị mối tương quan giữa các kết quả đạt được tổng hợp ở các lĩnh vực kinh tế - xã hội, với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Do vậy, hiệu quả kinh tế - xã hội phản ánh một cách tổng quát dưới góc độ xã hội [1]
Hiệu quả xã hội biểu thị mối tương quan giữa kết quả sản xuất với các lợi ích xã hội do sản xuất mang lại Cùng với sự công bằng trong xã hội, nó kích thích phát triển sản xuất có hiệu quả kinh tế cao Nhờ phát triển sản xuất
mà xã hội ngày càng nâng cao được mức sống của người lao động cả về mặt vật chất và tinh thần, đồng thời tỷ lệ thất nghiệp giảm, các mối quan hệ xã hội được cải thiện, môi trường sống, điều kiện làm việc, trình độ xã hội cũng đều được nâng lên
Hiệu quả môi trường: Thể hiện bảo vệ tốt hơn môi trường như tăng độ che phủ mặt đất, giảm ô nhiễm đất, nước, không khí
Trang 13Trong các loại hiệu quả thì hiệu quả kinh tế là quan trọng nhất, nhưng không thể bỏ qua hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường Vì vậy khi nói tới hiệu quả kinh tế người ta thường có ý bao hàm cả hiệu quả xã hội [2]
* Một số công thức tính hiệu quả kinh tế
+ Công thức 1: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng tỷ số giữa giá trị kết quả thu được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó
Hiệu quả kinh tế = Kết quả thu được/Chi phí sản xuất
hay H = Q/C
Trong đó: H là hiệu quả kinh tế
Q là kết quả thu được
Trang 14Theo Ellis - 1988 thì "hộ nông dân là các nông hộ, thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bởi việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ hoàn chỉnh không cao [3]
b, Đặc điểm kinh tế hộ
Là đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là đơn vị sản xuất, vừa là đơn vị tiêu dùng
Hộ nông dân là đơn vị sản xuất nhưng với quy mô nhỏ, họ cũng có đầy đủ các yếu tố, các tư liệu phục vụ sản xuất Đó là các nguồn lực sẵn có của nông hộ như: lao động, đất đai, vốn, kỹ thuật, công cụ… Từ các yếu tố sản xuất đó nông hộ sẽ tạo ra các sản phẩm cung cấp cho gia đình và xã hội Do sản xuất với quy mô nhỏ nên số lượng hàng hóa tạo ra của từng hộ là không lớn Tư liệu sản xuất không đầy đủ nên chất lượng của sản phẩm làm ra cũng chưa cao
Hộ nông dân là đơn vị tiêu dùng Các sản phẩm tạo ra nhằm đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng của gia đình họ là chính, nếu còn dư họ sẽ cung cấp ra thị trường bằng cách trao đổi hoặc buôn bán Cũng có một số nông hộ chuyên sản xuất để cung cấp ra thị trường Hoạt động sản xuất chính của các nông hộ
là trồng trọt và chăn nuôi Trước kia, hầu hết các nông hộ đều sản xuất để cung cấp cho nhu cầu của gia đình họ Đó là đặc tính tự cung tự cấp của các
hộ nông dân Nhưng trong quá trình phát triển của đất nước, các hộ nông dân cũng đã có những bước đổi mới khá quan trọng Họ đã tiến hành sản xuất chuyên canh để cung cấp sản phẩm cho xã hội Điều đó cũng có nghĩa là họ phải hoàn thiện tư liệu sản xuất để tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế
Do đa số các hộ nông lớn, năng suất lao động cao nên thu nhập của họ cũng khá cao nhưng mức độ dân đều thiếu tư liệu sản xuất: thiếu vốn, thiếu đất đai, kỹ thuật nên họ thường đầu tư sản xuất thấp, họ luôn tránh rủi ro
Trang 15Cũng vì vậy nên hiệu quả kinh tế mang lại của nông hộ thường không cao Chỉ có một số nông hộ mạnh dạn đầu tư với quy mô rủi ro cũng khá lớn Đa
số các nông hộ đều chọn cho mình cách sản xuất khá an toàn đó là họ luôn trồng nhiều loại cây khác nhau trong cùng một thời kỳ hoặc chăn nuôi nhiều vật nuôi một lúc Điều này làm cho sản phẩm của họ luôn đa dạng nhưng số lượng thì không nhiều Điều đó đồng nghĩa với việc họ tránh được rủi ro, nếu giá cả hàng hóa này giảm xuống thấp thì còn có hàng hóa khác Nhưng cách sản xuất này không mang lại hiệu quả cao cho nông hộ [3]
c, Vai trò của kinh tế hộ
Tuy các hộ nông dân còn sản xuất một cách nhỏ lẻ, quy mô không lớn, năng suất chưa cao, hiệu quả kinh tế chưa cao Nhưng không thể phủ nhận vai trò quan trọng của kinh tế hộ trong sản xuất nông nghiệp Các hộ nông dân đã sử dụng những điều kiện sẵn có để sản xuất, ổn định cuộc sống Điều
đó cũng giải quyết được một số lượng lớn lao động nhàn rỗi trong xã hội Ngoài việc tạo ra các thành phẩm phục vụ cho nhu cầu của gia đình và xã hội, kinh tế hộ nông dân còn đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguyên liệu, hàng hóa, dịch vụ, là cầu nối hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất lớn đến với người tiêu dùng Vì mô hình kinh tế hộ có quy mô sản xuất nhỏ, vốn đầu
tư không lớn, công tác quản lý khá dễ dàng so với các loại hình sản xuất khác nên kinh tế hộ thường được chọn làm điểm khởi đầu Mô hình kinh tế hộ rất phù hợp với những nông hộ có ít vốn, chưa có nhiều kinh nghiệm sản xuất, tư liệu sản xuất còn hạn chế Nó cũng là tiền đề cho sự phát triển các loại hình sản xuất khác [4]
2.1.1.3 Khái niệm mô hình
Thực tiễn hoạt động của đời sống, kinh tế, xã hội rất phong phú, đa dạng
và phức tạp, người ta có thể sử dụng nhiều công cụ và phương pháp nghiên cứu để tiếp cận Mỗi công cụ và phương pháp nghiên cứu đều có ưu điểm riêng được sử dụng trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể Mô hình là một trong
Trang 16những phương pháp nghiên cứu được sử dụng rộng rãi, đặc biệt trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học
Theo các cách tiếp cận khác nhau thì mô hình có những quan niệm, nội dung và cách hiểu riêng Góc độ tiếp cận về mặt vật lý học thì mô hình là cùng hình dạng nhưng thu nhỏ lại Khi tiếp cận sự vật để nghiên cứu thì coi
mô hình là sự mô phỏng cấu tạo và hoạt động của một vật thể để trình bày và nghiên cứu
Khi mô hình hóa đối tượng nghiên cứu thì mô hình sẽ được trình bày đơn giản về một vấn đề phức tạp, giúp cho ta dễ nhận biết được đối tượng nghiên cứu Mô hình còn được coi là hình ảnh quy ước của đối tượng nghiên cứu về một hệ thống các mối quan hệ hay tình trạng kinh tế
Như vậy mô hình có thể có các quan niệm khác nhau, sự khác nhau đó tùy thuộc vào góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu, nhưng khi sử dụng mô hình người ta đều có chung một quan điểm là dùng để mô phỏng đối tượng nghiên cứu
Trong thực tế, để khái quát hóa các sự vật, hiện tượng, các quá trình, các mối quan hệ hay một ý tưởng nào đó, người ta thường thể hiện dưới dạng mô hình Có nhiều loại mô hình khác nhau, mỗi loại mô hình chỉ đặc trưng cho một điều kiện sinh thái hay sản xuất nhất định nên không thể có mô hình chung cho tất cả các điều kiện sản xuất khác nhau
Do đó, ở mỗi góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu riêng, tùy thuộc vào quan niệm và ý tưởng của người người nghiên cứu mà mô hình được sử dụng để mô phỏng và trình bày là khác nhau Song khi sử dụng mô hình để
mô phỏng đối tượng nghiên cứu, người ta thường có chung một quan điểm và
đều được thống nhất đó là: Mô hình là hình mẫu để mô phỏng hoặc thể hiện
đối tượng nghiên cứu, nó phản ánh những đặc trưng cơ bản nhất và giữ nguyên được bản chất của đối tượng nghiên cứu
Trang 17* Mô hình sản xuất
Sản xuất là một hoạt động có ý thức, có tổ chức của con người nhằm tạo
ra nhiều của cải vật chất cho xã hội bằng những tiềm năng, nguồn lực và sức lao động của chính mình Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh sự phát triển của các công cụ sản xuất – yếu tố không thể thiếu trong nền sản xuất Từ những công cụ thô sơ nay đã được thay thế bằng những công
cụ sản xuất hiện đại làm giảm hao phí về sức lao động trên một đơn vị sản phẩm, đó là mục tiêu quan trọng của nền sản xuất hiện đại
Trong sản xuất, mô hình sản xuất là một trong những nội dung kinh tế của sản xuất, nó thể hiện được sự tác động qua lại của các yếu tố kinh tế, ngoài những yếu tó kỹ thuật của sản xuất, do đó mà mô hình sản xuất là hình mẫu trong sản xuất thể hiện sự kết hợp của các điều kiện sản xuất trong điều kiện sản xuất cụ thể, nhằm đạt được mục tiêu về sản phẩm và lợi ích kinh tế
* Mô hình trồng trọt
Mô hình trồng trọt là mô hình tập trung vào các đối tượng cây trồng trong sản xuất nông nghiệp, là mô hình trình diễn các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới về cây trồng như: lúa, ngô, rau, khoai tây, lạc…
Mô hình trồng trọt giúp hoàn thiện quá trình nghiên cứu của nhà khoa học trong lĩnh vực nông nghiệp Mà nông dân vừa là chủ thể sản xuất vừa là nhà thực nghiệm, đồngthời nông dân là đối tượng tiếp thu trực tiếp các tiến bộ
kỹ thuật mới vào sản xuất, và họ cũng là người truyền bá kỹ thuật này cho các nông dân khác cùng làm theo Mô hình trồng trọt cần được thực hiện trên chính những thửa ruộng của người dân, trong đó người dân sẽ đóng vai trò chính trong quá trình thực hiện, còn nhà nghiên cứu và các bộ khuyến nông đóng vai trò là người hỗ trợ thúc đẩy để giúp nông dân thực hiện và giải quyết những khó khăn gặp phải
* Vai trò của mô hình
Trang 18Mô hình là công cụ nghiên cứu khoa học, phương pháp mô hình hóa là nghiên cứu hệ thống như một tổng thể Nó giúp cho các nhà khoa học hiểu biết và đánh giá tối ưu hóa hệ thống Nhờ mô hình mà ta có thể kiểm tra lại sự đúng đắn của số liệu quan sát được và các giả định rút ra, giúp ta hiểu sâu hơn các hệ thống phức tạp Và một mục tiêu khác của mô hình là giúp ta lựa chọn quyết định tốt nhất về quản lý hệ thống, giúp ta chọn phương pháp tốt nhất để điều khiển hệ thống
Việc thực hiện mô hình giúp cho nhà khoa học cùng người nông dân có thể đánh giá được sự phù hợp và khả năng nhân rộng của mô hình cây trồng vật nuôi tại một khu vực nào đó Từ đó đưa ra quyết định tốt nhất nhằm đem lại lợi ích tối đa cho nông dân, phát huy hiệu quả những gì nông dân đã có
2.1.1.2 Khái niệm đánh giá mô hình
- Đánh giá mô hình là nhìn nhận và phân tích tòan bộ quá trình triển khai thực hiện mô hình, các kết quả thực hiện cũng như hiệu quả thực tế đạt được của
mô hình trong mối quan hệ với nhiều yếu tố, so sánh với mục tiêu ban đầu
Đánh giá để khẳng định những gì đã thực hiện bằng nguồn lực của thôn bản và những hộ trợ từ bên ngoài với những gì thực sự đã đạt được
Đánh giá là so sánh những gì đã thực hiện bằng nguồn lực của thôn bản
và những hỗ trợ từ bên ngoài với những gì thực sự đã đạt được
Trong đánh giá mô hình người ta có thể hiểu như sau:
- Là quá trình thu thập và phân tích thông tin để khẳng định:
+ Liệu mô hình có đạt được các kết quả và tác động hay không
+ Mức độ mà mô hình đã đạt được so với mục tiêu của mô hình thông qua các hoạt động đã chỉ ra
- Đánh giá sử dụng các phương pháp để điều tra một cách có hệ thống các kết quả và hiệu quả của mô hình Nó cũng điều tra những vấn đề có thể làm chậm tiến độ thực hiện mô hình nếu như các vấn đề này không được giải quyết kịp thời
Trang 19- Trong quá trình đánh giá yêu cầu phải lập kế hoạch chi tiết và có khoa học, lấy mẫu theo phương pháp thống kê
- Việc đánh giá sẽ tiến hành đo lường định kỳ theo giai đoạn
- Việc đánh giá sẽ tập chung vào các chỉ số kết quả và đánh giá tác động Đánh giá có nhiều loại khác nhau Phạm vi ở đây có thể sắp xếp thành 3 loại chính như sau:
* Đánh giá tiền khả thi/ khả thi
Đánh giá tiền khả thi là đánh giá tính khả thi của hoạt động hay mô hình,
để xem xét xem liệu hoạt động hay mô hình có thể thực hiện được hay không trong điều kiện cụ thể nhất định Loại đánh giá này thường do tổ chức tài trợ thực hiện Tổ chứ tài trợ sẽ phân tích các khả năng thực hiện của mô hình hay hoạt động để làm căn cứ cho phê duyệt xem mô hình hay hoạt động có được đưa vào thực hiện hay không
* Đánh giá thực hiện
- Đánh giá định kỳ: Là đánh giá từng giai đoạn thực hiện, có thể là đánh giá toàn bộ các công việc trong một giai đoạn, nhưng cũng có thể đánh giá từng công việc ở từng giai đoạn nhất định
Nhìn chung đánh giá định kỳ thường áp dụng cho mô hình dài hạn Tùy theo mô hình mà có thể định ra các khoảng thời gian để đánh giá định kỳ, có thể là ba tháng, sáu tháng hay một năm một lần
Mục đích của đánh giá định kỳ là tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu,những khó khăn, thuận lợi trong một thời kỳ nhất định để có những thay đổi hay điều chỉnh phù hợp cho những giai đoạn tiếp theo
- Đánh giá cuối kỳ: Là đánh giá cuối cùng khi kết thúc mô hình hay hoạt động Đây là đánh giá toàn diện tất cả các hoạt động và kết quả của nó Mục đích của đánh giá cuối kỳ nhằm nhìn nhận lại toàn bộ quá trình thực hiện mô hình Những điểm mạnh, điểm yếu, những thành công và hạn chế, nguyên nhân của từng vấn đề, đưa ra những bài học cần phải rút kinh nghiệm và điều chỉnh cho mô hình hay hoạt động khác
Trang 20- Đánh giá tiến độ thực hiện: Là việc xem xét thời gian thực tế triển khai thực hiện các nội dung của mô hình hay nói cách khác là xét xem hoạt động
có đúng thời gian dự định hay không, nhanh hay chậm thế nào…
- Đánh giá tình hình chi tiêu tài chính: Là xem xét lại việc sử dụng kinh phí chi tiêu có đúng theo nguyên tắc đã được quy định hay không để có điều chỉnh và rút kinh nghiệm
- Đánh giá về tổ chức thực hiện: Đánh giá về việc tổ chức phối hợp thực hiện giữa các thành phần tham gia Ngoài ra có thể xem xét việc phối kết hợp giữa các mô hình hay hoạt động trên cùng một địa bàn và hiệu quả của sự phối hợp đó
- Đánh giá kỹ thuật mô hình: Là xem xét lại các kỹ thuật mà mô hình đã đưa vào có phải là mới không, quá trình thực hiện các khâu kỹ thuật có đảm bảo theo đúng quy trình kỹ thuật đã đặt ra không
- Đánh giá mức độ ảnh hưởng của môi trường: Hiện nay vấn đề môi trường là một vấn đề bức xúc của toàn cầu, vì vậy chúng ta cần phải quan tâm đến vấn đề môi trường
- Đánh giá khả năng mở rộng: Là quá trình xem xét kết quả của mô hình
có thể áp dụng rộng rãi hay không, nếu có áp dụng thì cần điều kiện gì không
* Đánh giá tổng kết
Thông thường sau khi kết thúc một mô hình hay hoạt động, người ta tổ chức hội nghị tổng kết để cùng nhau nhìn lại quá trình thực hiện, đánh giá về những thành công hay chưa thành công, phân tích các nguyên nhân gây thất bại, lấy đó làm các bài học để tránh vấp phải sai lầm cho các mô hình sau này
2.1.2 Các chỉ tiêu anh hưởng đến hiệu quả kinh tế
Các loại chỉ tiêu dùng cho hoạt động đánh giá là các chỉ tiêu mang tính toàn diện hơn Việc xác định các chỉ tiêu đánh giá phải căn cứ vào mục đích
và hoạt động của mô hình, thường có các nhóm chỉ tiêu sau đây:
- Nhóm chỉ tiêu đánh giá kết quả của hoạt động khuyến nông theo mục tiêu đã đề ra: diện tích, năng suất, cơ cấu, đầu tư, sử dụng vốn…
Trang 21- Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của mô hình hay hoạt động khuyến nông: tổng thu, tổng chi, thu – chi, hiệu quả lao động, hiệu quả đồng vốn
- Nhóm chỉ tiêu đánh giá ảnh hưởng của mô hình hay hoạt động khuyến nông đến đời sống, văn hóa, xã hội: ảnh hưởng đến môi trường đất (sói mòn,
độ phì, độ che phủ,…), ảnh hưởng đến đời sống (giảm nghèo, tạo công ăn việc làm, bình đẳng giới,…)
- Các chỉ tiêu đánh giá phục vụ quá trình xem xét, phân tích hoạt động khuyến nông với sự tham gia của cán bộ khuyến nông và nông dân
2.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế
Xét về mặt tổng thể, có 3 nhóm nhân tố chính tác động đến HQKT : Pháp luật chính sách; nhân tố tự nhiên, môi trường và nhân tố thuộc về đặc điểm của nông hộ
Pháp luật &
chính sách
Đặc điểm tự nhiên, môi trường
Đặc điểm của nông hộ
thông, thủy lợi, dịch vụ
sản xuất nông nghiệp
-Công tác khuyến nông
- Số lần đi tập huấn
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ Dong riềng tại Việt Nam
Ở nước ta Dong riềng được trồng với diện tích lớn và cho năng suất cao như: Hà Tây, Hưng Yên, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Quảng Ninh,… Để phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam, trong những năm qua xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế được thực hiện có hiệu quả ở nhiều địa phương Trong đó hoạt động chế biến các loại sản phẩmcây trồng, vật nuôi sản xuất tại chỗ để tạo sản phẩm có giá trị cao phục khẩu vụ nhu cầu
Trang 22trong nước và xuất khẩu đã được khuyến khích Nhiều lại sản phẩm đã được
tổ chức sản xuất ở quy mô làng nghề Miến dong là một loại sản phẩm chế biến từ tinh bột của Dong riềng, một loại cây trồng phù hợp với nhiều vùng đất miền núi Nhiều địa hình cấp xã, huyện ở các tỉnh miền núi đã chọn cây Dong riềng và sản phẩm miến Dong là sản phẩm chủ lực trong cơ cấu thu nhập từ trồng trọt của nhiều hộ nông dân Các làng nghề miến Dong nổi tiếng
ở huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên, Huyện Na Rì, huyện Ba Bể - Bắc Kạn, huyện Nguyên Bình - Cao Bằng,… Trong một số năm qua đã nâng diện tích trồng Dong riềng lên hàng nghìn ha, do áp dụng giống mới nên sản lượng củ thu được lên tới hàng vạn tấn Từ củ Dong riềng hàng nghìn hộ dân đã có thêm việc làm để nâng cao thu nhập bằng việc sản xuất miến, góp phần cải thiện tích cực cuộc sống gia đình cũng như điều kiện kinh tế xã hội của địa phương [5]
2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ Dong riềng tại tỉnh Bắc Kạn
Trong vài năm trở lại đây, cây dong riềng đã khẳng định ưu thế của mình trong việc giúp người dân xoá đói, giảm nghèo và làm giàu hiệu quả Từ chỗ chỉ được canh tác và chế biến tại một số thôn thuộc xã Côn Minh (Na Rì) Thì nay đã có rất nhiều xã và huyện đã đưa cây dong riềng vào canh tác Sản phẩm miến dong Na Rì, Ba Bể… được thị trường trong và ngoài tỉnh ngày càng ưa chuộng.[6]
Hiện nay cây Dong riềng mang lại thu nhập từ 80- 90 triệu đồng/ ha cho nông dân, chủ yếu là người dân tộc ở Bắc Kạn Chế biến tinh bột dong riềng cũng mang lại lợi nhuận cao, giải quyết việc làm cho nhiều lao động nên đến nay toàn tỉnh có 108 nhà máy, dây chuyền, cơ sở chế biến tinh bột dong riềng
ở khắp các địa phương trong tỉnh Năm 2013, cây dong riềng được trồng nhiều ở Bắc Kạn, do điều kiện địa lý, thổ nhưỡng, cây dong riềng phát triển tốt,hàm lượng tinh bột cao phù hợp với địa hình có độ dốc cao, Ngoài ra, sản phẩm miến dong Bắc Kạn trong những năm gần đây đã thành thương hiệu,
Trang 23được nhiều người tin dùng Từ tình hình thực tế ở địa phương, theo đánh giá của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tỉnh Bắc Kạn đã chọn cây dong riềng là cây thế mạnh, cho năng suất, giá trị thu nhập cao trên một diện tích so với các loại cây trồng khác Tuy nhiên, để sản phẩm củ dong riềng khi thu hoạch tiêu thụ hết, không bị ép giá, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bắc Kạn đã chỉ đạo các huyện, thị xã chủ động các phương án chế biến, tổ chức ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm với các cơ sở chế biến bột dong, chế biến miến dong để bao tiêu sản phẩm củ dong riềng cho nông dân Sở KH&CN tỉnh Bắc Kạn đã thực hiện xong đề tài bảo hộ sản phẩm trí tuệ tập thể miến Dong Bắc Kạn (một loại hàng hóa có giá tr ị được người nội trợ nhiều nơi tin dùng vì chất lượng đặc biệt) Việc bảo hộ nhãn hiệu tập thể miến dong Bắc Kạn có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn, phát triển các sản phẩm có nguồn gốc từ cây nông nghiệp và các ngành nghề thủ công truyền thống, đồng thời tạo công cụ pháp lý để nhà sản xuất, kinh doanh chống lại các hành vi giả mạo nhãn hiệu tập thể Tuy nhiên, bản thân các nhà sản xuất cũng phải tự hoàn thiện và bảo đảm quy trình sản xuất, kinh doanh sản phẩm đồng nhất theo quy chế sử dụng chung, để có thể đưa ra thị trường các sản phẩm có chất lượng ổn định, nguồn gốc rõ ràng
2.2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ Dong riềng tại xã Cư Lễ
Xã Cư Lễ vẫn là địa phương thực hiện trồng, chế biến và sản xuất các sản phẩm từ củ dong nhiều nhất của huyện Vụ này, toàn xã thực hiện trồng gần 229,2ha (chiếm gần 30% trong tổng diện tích trồng của huyện) tại các vùng đã được quy hoạch như thôn Nà Dài, Cạm Mjầu,Khau Pần, Phia Khao, Theo chính quyền xã, diện tích trồng năm nay của bà con nông dân giảm khoảng một nửa so với năm trước, tuy nhiên thực hiện quy hoạch vùng trồng theo sự chỉ đạo của huyện sẽ đảm bảo được đầu ra cho củ dong của người nông dân Mặt khác, hơn 20 cơ sở chế biến tinh bột, sản xuất miến dong của xã cũng yên tâm, bởi đã có các vùng trồng quy hoạch sẽ đảm bảo
Trang 24cung cấp đủ nguyên liệu cho các cơ sở này chế biến, sản xuất Nghề miến dong Cư Lễ (Na Rì - Bắc Kạn) đã bước đầu chiếm lĩnh được thị trường trong
và ngoài tỉnh Nghề làm miến dong đã thực sự góp phần xóa đói, giảm nghèo cho người dân xã vùng cao này Cùng với việc phát triển nghề làm miến dong, xã Cư Lễ đã có chủ trương mở rộng vùng trồng cây dong riềng, tạo vùng nguyên liệu tại chỗ để sản xuất miến dong Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra
là khi diện tích trồng dong riềng tăng thì nỗi lo về đầu ra cho loại cây này cũng tăng theo.[6]
Vụ năm nay giá tinh bột giảm nên giá thu mua củ dong tại Cư Lễ từ 1.200 1.000 đồng/kg Tuy mất giá nhưng sau khi hạch toán trừ chi phí, mỗi 1.000mdong người dân vẫn có thể thu lãi từ 3 triệu đồng trở lên Cây dong riềng dễ trồng, ít sâu bệnh, chi phí chăm sóc thấp, năng suất cũng như sản lượng luôn đạt cao nên đã đem lại nguồn thu đáng kể, giúp nhiều hộ đồng bào xóa đói, giảm nghèo và làm giàu hiệu quả Năm 2009 được sự hỗ trợ về cơ chế, giống, vốn, phân bón của Nhà nước, cây dong riềng ở Cư Lễ đang ngày càng phát huy hiệu quả giúp dân xóa đói, giảm nghèo và làm giàu Mỗi vụ sản xuất, các cơ sở chế biến tinh bột dong trên địa bàn thu hút từ 220-240 lao động Lãnh đạo xã nhận định: Cây dong riềng giúp người dân có việc làm và thu nhập trong vụ 3 (vụ trước đây dân thường không canh tác gì); tình trạng khai thác rừng trái phép cũng vì thế mà giảm đáng kể Thu nhập từ cây dong riềng giúp 3,8% số hộ xây dựng được nhà ở kiên cố, khang trang; 96,1% nhà bán kiên cố Các ngành dịch vụ phát triển, sức mua của người dân tăng mạnh [7]
Trang 25-PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và pham vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Các hộ nông dân trồng dong riềng và các vấn đề về hiệu quả kinh tế cây dong riềng
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội của xã Cư Lễ, huyện Na
Rì, tỉnh Bắc Kạn
- Tìm hiểu tình hình chung về sản xuất và tiêu thụ của giống dong riềng
DR1 của các hộ trên địa bàn xã Cư lễ, huyện Na rì, tỉnh Bắc Kạn
- Phân tích được hiệu quả sản xuất của các mô hình sản xuất dong riềng
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Phương pháp thu thập số liệu gián tiếp liên quan đến: Diện tích trồng, sản lượng, giá cả, công tác khuyến nông, sự áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật…Tại Ủy ban nhân dân xã Cư Lễ; thông tin qua một số sách, báo, internet có liên quan
Trang 26Thu thập thông qua báo cáo qua các năm của Trạm khuyến nông của huyện và Trung tâm khuyến nông của tỉnh về dong riềng
Thu thập thông tin qua các báo cáo của xã Cư Lễ qua 3 năm 2015 - 2017
3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
a, Chọn mẫu điều tra
Căn cứ vào số lượng, quy mô, diện tích trồng dong riềng, cách tổ chức sản xuất, xu hướng và tiềm năng về nâng cao hiệu quả kinh tế dong riềng ở các thôn trong xã Cư Lễ Em chọn ra 60 hộ ngẫu nhiên để điều tra ở 2 thôn:
30 hộ thôn Nà Dài, 30 hộ thôn Cạm Mjầu bởi theo điều tra cho em thấy đây là
2 thôn trọng điểm của xã vì có diện tích lớn gieo trồng dong riềng
b, Điều tra và phỏng vẫn trực tiếp người dân
Em đã tiến hành điều tra phỏng vẫn trực tiếp 60 chủ hộ trong 2 thôn: Nà Dài, Cạm Mjầu bằng bảng hỏi đã in sẵn Bên cạnh đó em cũng phỏng vấn những người cung cấp thông tin chính xác như cán bộ xã, trưởng thôn
3.3.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Sau khi thu thập thông tin sử dụng phần mềm Excel để tính toán kết quả, HQSX dong riềng
Sử dụng các phương pháp như : Thống kê mô tả, so sánh, SWOT
Phương pháp thống kê mô tả
Được sử dụng để mô tả những đặc tính cơ bản của dữ liệu thu thập
được từ nghiên cứu thực nghiệm qua các cách thức khác nhau Thống kê mô
tả và thống kê suy luận cùng cung cấp những tóm tắt đơn giản về mẫu và các thước đo Cùng với phân tích đồ họa đơn giản, chúng tạo ra nền tảng của mọi phân tích định lượng về số liệu Để hiểu được các hiện tượng và ra quyết định đúng đắn, cần nắm được các phương pháp cơ bản của mô tả dữ liệu Có rất
nhiều kỹ thuật hay được sử dụng Có thể phân loại các kỹ thuật này như sau:
Trang 27Biểu diễn dữ liệu bằng đồ họa trong đó các đồ thị mô tả dữ liệu hoặc giúp so sánh dữ liệu;
Biểu diễn dữ liệu thành các bảng số liệu tóm tắt về dữ liệu;
Thống kê tóm tắt (dưới dạng các giá trị thống kê đơn nhất) mô tả dữ liệu
Phương pháp so sánh
Là phương pháp được áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau Dùng để so sánh các yếu tố định tính hoặc định lượng, so sánh các chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế, xã hội đã được lượng hóa có cùng nội dung, tính chất tương tự để xác nhận mức độ biến động của các nội dung
Sử dụng phương pháp này ta tiến hành lập bảng để xét mức độ biến động tăng giảm của các chỉ tiêu theo thời gian, dùng số tuyệt đối, tương đối, số bình quân chung để xem xét
3.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
- Năng suất: Là chỉ tiêu cho biết sản lượng thu hoạch được trên một đơn
vị diện tích
Năng suất = sản lượng thu hoạch/diện tích trồng
- Giá trị sản xuất nông nghiệp (GO): là toàn bộ giá trị của cải vật chất và
dịch vụ do lao động trong lĩnh vực nông nghiệp sáng tạo ra trong một thời kỳ
nhất định, thường là một vụ hoặc một năm
𝑮𝑶 = ∑ Qi x Pi
𝒏
𝒊=𝟏
Trong đó: Qi là sản lượng sản phẩm loại i
Pi là đơn giá sản phẩm loại i
Ý nghĩa:
+ Làm căn cứ để đánh giá kết quả sản xuất của nhành nông nghiệp
+ Là cơ sở để tính toán một số chỉ tiêu quan trọng khác như giá trị gia tăng, năng suất lao động
Trang 28- Chi phí trung gian (IC): ngành nông nghiệp là toàn bộ chi phí vật chất
và dịch vụ thực tế đã chi ra của các ngành trồng trọt, chăn nuôi, săn bắt và thuần dưỡng thú, dịch vụ nông nghiệp của tất cả các thành phần kinh tế trên địa bàn
Ý nghĩa:
+ Chi phí trung gian ngành nông nghiệp làm cơ sở để tính toán giá trị gia tăng, từ đó đánh giá kết quả sản xuất nông nghiệp
- Giá trị tăng thêm (VA): là một trong những chỉ tiêu quan trọng phản
ánh kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất ngành nông nghiệp Giá trị gia tăng ngành nông nghiệp chính là chênh lệch giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian của ngành nông nghiệp
Ý nghĩa:
+ Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp thể hiện kết quả sản xuất ngành nông nghiệp Nó dùng đánh giá tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp (tốc độ phát triển hay tốc độ tăng trưởng GDP)
+ Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp thể hiện vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
+ Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp dùng tính toán các chỉ tiêu thống
kê quan trọng khác: Như năng suất lao động, thu nhập hỗn hợp (MI), lợi nhuận (Pr)
VA = GO – IC
Trong đó: GO là tổng giá trị sản xuất
IC là chi phí trung gian
- Thu nhập hỗn hợp (MI): Là phần thu nhập thuần túy của người sản xuất
gồm công lao động và lợi nhuận trên một đơn vị diện tích hoặc trên một công lao động
MI = VA – (A + T + L)
Trong đó: MI là thu nhập hỗn hợp
Trang 29A là khấu hao tài sản cố định
T là các khoản thuế phải nộp
L là tiền công lao động thuê ngoài (nếu có)
- Lợi nhuận sản xuất (Pr): là chỉ tiêu phản ánh thu nhập ròng của quá
trình sản xuất Lợi nhuận càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao
Pr = MI – L*Pi
Trong đó: MI là thu nhập hỗn hợp
L là lao động gia đình
Pi là chi phí cơ hội của lao động gia đình
- Hiệu quả tính trên một đồng chi phí trung gian
+ GO/IC: Là giá trị sản xuất trên 1 đồng chi phí trung gian
+ MI/IC: Là thu nhập hỗn hợp trên 1 đồng chi phí trung gian
- Hiệu quả kinh tế tính trên một ngày công lao động
+ MI/L: Là thu nhập hỗn hợp trên 1 ngày công lao động
+ GO/L: Là giá trị sản xuất trên 1 ngày công lao động
Trang 30PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội
4.1.2 Điều kiện tự nhiên
4.1.2.1 Vị trí địa lý
Cư Lễ là một xã nằm cách trung tâm huyện Na Rì 10km về phía Nam, nằm trên trục đường chính quốc lộ 3B và là nút giao thông của tuyến đường nối huyện Na Rì với tỉnh Lạng Sơn, có tổng diện tích tự nhiên là 6017,36 ha
với các vị trí tiếp giáp như sau:
+ Phía Bắc giáp xã Lam Sơn huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
+ Phía Nam giáp xã Hữu Thác và xã Hảo Nghĩa huyện Na Rì
+ Phía Đông giáp xã Kim Lư huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn và tỉnh Lạng Sơn + Phía Tây giáp xã Văn Minh huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
Với vị trí địa lý như vậy đã tạo cho xã có điều kiện rất thuận lợi cho việc trao đổi hàng hoá giao lưu kinh tế với các xã trong huyện và các vùng lân cận của tỉnh Lạng Sơn
4.1.2.2 Địa hình, địa mạo
Cư Lễ là xã vùng núi nên có địa hình đặc trưng là các dãy núi có độ dốc lớn và bị chia cắt bởi hệ thống sông suối và khe rạch Do cấu trúc điạ chất nên địa hình của xã nghiêng dần từ phía Tây Nam xuống phía Đông Bắc Độ cao trung bình khoảng 500m, điểm cao nhất là núi Phya Ngoàm có độ cao 1.193
m Địa hình được chia làm 2 dạng chính là điạ hình núi đất và địa hình núi đá
- Địa hình núi đá: Tập trung nhiều ở phía Tây Nam và Đông Nam có độ cao trung bình là 700m so với mực nước biển Hầu hết các núi đá ở đây là núi
đá vôi địa hình cao, hiểm trở, quá trình Kastơ diễn ra mạnh mẽ dẫn đến mực nước ngầm của vùng là khá sâu gây hiện tượng khô hạn vào mùa khô
Trang 31- Địa hình vùng núi đất: Phân bố rải rác chủ yếu tập trung ở gần trung tâm Xã, ven các trục đường độ cao trung bình khoảng 300m đến 500m hầu hết các dãy núi đất đã được bà con khai thác để trồng màu
- Nhìn chung địa hình của Cư Lễ là vùng núi cao, có địa hình khá phức tạp độ dốc sườn núi lớn, địa hình bị chia cắt nhiều nên việc bảo vệ và phát triển rừng, đặc biệt là rừng đầu nguồn là hết sức cấp thiết
4.1.2.3 Khí hậu – thời tiết
* Khí hậu:
Theo phân vùng khí hậu Cư Lễ chịu ảnh hưởng của vùng khí hậu miền núi vùng Đông Bắc Việt Nam
Nhiệt độ:
- Nhiệt độ trung bình hằng năm là: 22,10C
- Nhiệt độ cao trung bình năm là 27,10C vào tháng 6 và tháng 7
- Nhiệt độ tối thấp trung bình là 150C vào tháng 12, 1, 2
- Mùa đông thường xuyên xuất hiện sương muối
Sự chênh lệch nhiệt độ giữa tháng cao nhất và tháng thấp nhất từ 10 -
120C Cá biệt có những ngày nhiệt độ lên tới 38,60C vào mùa hè và xuống thấp dưới 100C vào mùa đông làm ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây trồng
Lượng mưa: Lượng mưa trung bình hàng năm là 1384 mm/năm Nhìn
chung lượng mưa phân bố không đều trong năm, cụ thể là:
- Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9 chiếm 70% lượng mưa cả năm, tập trung chủ yếu vào tháng 6, 7, 8
- Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Mùa này chỉ chiếm từ 10 - 20% lượng mưa cả năm
Độ ẩm: Độ ẩm trung bình năm giao động từ 70 - 80% trong đó 3 tháng
có độ ẩm cao 85% là tháng 6, 7, 8, độ ẩm thấp nhất là tháng 12 có 79%
Trang 32Gió: Có hai loại gió chính là gió mùa Đông Bắc và gió Đông Nam Gió
mùa đông bắc kèm theo khí hậu lạnh làm ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng vụ Đông Xuân, thường xuất hiện từ tháng 12 năm trước đến tháng 3 năm sau, đôi khi xuất hiện một số đợt sương muối Gió Đông Nam xuất hiện từ tháng 4 đến tháng 11 trong năm khí hậu mát mẻ kèm theo mưa nhiều Ngoài ra còn có gió Tây Nam thường xuyên xuất hiện xen kẽ trong mùa thịnh hành của gió Đông Nam, mỗi đợt kéo dài từ 2 đến 3 ngày, gió Tây Nam khô, nóng ẩm, độ ẩm không khí thấp, nhiều khi xuất hiện sương muối
Ngoài các yếu tố khí hậu kể trên Cư Lễ nói riêng và huyện Na Rì nói chung còn chịu ảnh hưởng của những cơn bão gây mưa tập trung làm xói lở đất và gây ra lũ quét làm ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân Trong các tháng mùa đông vào những ngày rét đêm còn có sương muối gây thiệt hại cho sản xuất và sức khoẻ của người dân
* Thuỷ văn
Cũng giống như các xã miền núi khác Cư Lễ có một hệ thống thuỷ văn chủ yếu dựa vào các hệ thống sông, suối, ao hồ được bắt nguồn từ các khe núi, lượng nước phụ thuộc chủ yếu và nguồn nước mưa Trong đó đáng kể nhất là hồ Kéo Coi, hệ thống suối Cư Lễ, suối Nà Dài, suối Khuổi Quân, suối Pác Phàn hệ thống ao hồ và các con suối trên địa bàn phần nào đã đáp ứng được nhu cầu nước sinh hoạt và sản xuất cho bà con trong xã
Qua số liệu thống kê cho thấy xã có 10,03 ha đất mặt nước nuôi trồng thuỷ sản và 41,78 ha sông suối và mặt nước chuyên dung, chế độ dòng chảy của các dòng suối và trữ lượng nước của các hồ đập phụ thuộc nhiều vào lượng mưa hàng năm
+ Nguồn nước mặt:
Tập trung chủ yếu là nước ở các khe suối và một số ao hồ trên địa bàn
xã Nhìn chung nguồn nước mặt của xã khá thuận lợi cho việc tưới tiêu sản xuất nông nghiệp Do địa hình đồi núi và mưa nhiều tập trung làm cho chế độ