1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NÂNG CAO NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI (QUA KHẢO SÁT MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở HÀ NỘI)

19 134 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 712,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đến Hội nghị thế giới lần thứ 4 về phụ nữ được tổ chức tại Bắc Kinh, Trung Quốc vào năm 1995, 189 quốc gia thành viên của Liên hợp quốc, trong đó có Việt Nam đã cùng nhau cam kết thực hi

Trang 1

NÂNG CAO NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI

(QUA KHẢO SÁT MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở HÀ NỘI)

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Bình đẳng giới thực chất là quyền con người cơ bản được nêu ra trong

Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948, nghĩa là “mọi người sinh ra đều

được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền” Tuy nhiên trong nhiều thế

kỷ, sự bất bình đẳng giới đã bó hẹp vai trò của người phụ nữ khiến họ bị tước đi rất nhiều quyền cơ bản của con người, vô hình chung làm chậm sự phát triển của

xã hội Trải qua hàng trăm năm nhen nhóm và hàng chục năm đấu tranh, bình đẳng giới đã được toàn cầu công nhận với ba cột mốc quan trọng Đầu tiên là Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW) năm 1979 Đến Hội nghị thế giới lần thứ 4 về phụ nữ được tổ chức tại Bắc Kinh, Trung Quốc vào năm 1995, 189 quốc gia thành viên của Liên hợp quốc, trong đó có Việt Nam đã cùng nhau cam kết thực hiện Cương lĩnh hành động Bắc Kinh với 12 mục tiêu chiến lược nhằm tăng quyền năng và thúc đẩy

sự tiến bộ của phụ nữ phát triển Và tại Hội nghị Cấp cao Thiên niên kỷ được Liên hợp quốc tổ chức trong năm 2000 tại Niu-oóc (Mỹ) với sự tham gia của các nhà lãnh đạo cấp cao của gần 200 nước trên thế giới đã thông qua Tuyên bố Thiên niên kỷ với 8 mục tiêu, trong đó mục tiêu thứ 3 đề cập đến việc tăng cường bình đẳng giới và nâng cao năng lực, vị thế cho phụ nữ

Vì sự tiến bộ chung của nhân loại, vấn đề bình đẳng giới đang được đặc biệt quan tâm ở mọi quốc gia Ngày nay, rất nhiều người phụ nữ thành công trong những cương vị trước kia tưởng chừng chỉ giành cho nam giới đã chứng minh rằng, bình đẳng giới chính là phương tiện quan trọng để giải quyết các thách thức giảm nghèo, tăng cường phát triển bền vững và xây dựng bộ máy điều hành quốc gia tốt

1.2 Ngay từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, vấn đề bình đẳng giới đã được quan tâm Hiến pháp đầu tiên năm 1946 đã thể hiện quan điểm bình đẳng giới qua nguyên tắc “không phân biệt giống nòi, gái trai”, và đã quy định:

“Tất cả các công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện chính trị,

Trang 3

kinh tế, văn hóa, xã hội” (Điều 6) cũng như “Đàn bà ngang quyền với đàn ông

về mọi phương diện (Điều 9) Trong gần 70 năm xây dựng và bảo vệ đất nước,

tư tưởng đó đã được quán triệt sâu rộng, nhất quán Nhờ vai trò to lớn của người phụ nữ, dân tộc Việt Nam đã giành chiến thắng trong hai cuộc chiến tranh giành lại độc lập tự do, cũng như xây dựng đất nước ngày một phát triển hơn để sánh vai với các cường quốc năm châu Nhận thức được sự quan trọng của bình đẳng giới, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách về vấn đề này qua các lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1950, 1980, 1992 và năm 2013 Bên cạnh đó, Luật Bình đẳng giới (năm 2006), Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (năm 2007) và một số văn bản luật liên quan đến bình đẳng giới được triển khai thực hiện Ngày 24-12-2010, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới1 giai đoạn 2011 - 2020 với 7 mục tiêu và

22 chỉ tiêu cụ thể Đây là công cụ quan trọng đưa Luật Bình đẳng giới vào cuộc sống và thể hiện cam kết cao của Việt Nam trong việc thực hiện Công ước quốc

tế xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ, Mục tiêu Phát triển

Thiên niên kỷ và Cương lĩnh hành động Bắc Kinh năm 1995

Nhờ việc ngày càng hoàn thiện về mặt chính sách cũng như những nỗ lực

để xóa bỏ bất bình đẳng giới, Việt Nam được Ngân hàng Thế giới đánh giá là một trong những nước dẫn đầu về tỷ lệ phụ nữ tham gia các hoạt động kinh tế, là quốc gia đạt được sự thay đổi nhanh chóng nhất về xoá bỏ khoảng cách giới trong hơn hai mươi năm qua ở khu vực Đông Á

Những thành tựu đạt được là đáng ghi nhận nhưng không thể bỏ qua một thực tế rằng vấn đề bình đẳng giới ở Việt Nam vẫn còn rất nhiều thách thức thể hiện qua một số thực trạng như: sự chênh lệch tỷ lệ nam nữ khi sinh, bạo lực gia đình, khoảng cách giới trong việc làm, thu nhập…

1.3 Thanh niên nói chung và sinh viên nói riêng chính là chủ nhân tương lai của đất nước, là nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp

1Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới1 giai đoạn 2011 - 2020 với 7 mục tiêu và 22 chỉ tiêu cụ thể trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động - việc làm, giáo dục và đào tạo, y tế, văn hóa, thông tin, gia đình và nâng cao năng lực quản lý nhà nước về bình đẳng giới được Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 24-12-2010

Trang 4

hóa, hiện đại hóa đất nước Trong thời điểm tình hình thế giới cũng như trong nước có nhiều biến động như hiện nay, sinh viên không chỉ cần kiến thức kỹ năng chuyên môn mà còn đòi hỏi phải được trang bị các kỹ năng mềm, các kỹ năng sống… để đáp ứng nhu cầu của thời đại mới Với tinh thần năng động, sáng tạo, sẵn sàng tiếp thu những giá trị mới dựa trên nền tảng tri thức khoa học, sinh viên chính là lực lượng nòng cốt đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy bình đẳng giới, xóa bỏ định kiến giới Việc tìm hiểu nhận thức của sinh viên

về bình đẳng giới, cũng như đề xuất một số nhóm giải pháp góp phần nâng cao

sự hiểu biết của sinh viên sẽ tạo ra những tác động xã hội tích cực, mang tính bền vững Điều đó không chỉ giúp cho những người chủ gia đình tương lai có được cách nhìn nhận, ứng xử tiến bộ, văn minh mà còn tạo ra một kênh tuyên truyền về vấn đề bình đẳng giới lan tỏa sâu rộng bởi sinh viên đến từ rất nhiều vùng miền khác nhau của đất nước, trở thành một tuyên truyền viên trên công tác chống bất bình đẳng giới

1.4 Từ nhiều năm nay, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã có những hoạt động thiết thực nâng cao nhận thức về giới và bình đẳng giới qua nhiều phương thức như tổ chức các hội thảo khoa học, đưa môn học văn hóa gia đình vào chương trình đào tạo chính quy Từ năm 2013, Trường đã chính thức tuyển sinh chuyên ngành quản lý nhà nước về gia đình Đây là tín hiệu tích cực thể hiện sự quan tâm của lãnh đạo nhà trường về vấn đề bình đẳng giới trước tình hình xã hội đặt ra

Để giảng viên và sinh viên chuyên ngành quản lý nhà nước về gia đình đồng hành cùng nhà trường nghiên cứu tìm hiểu bình đẳng giới, một khía cạnh của công tác quản lý nhà nước về gia đình, giúp sinh viên có điều kiện tìm hiểu

và cọ sát với việc làm dự án nhóm, một trong những công việc sẽ làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp Qua việc tìm hiểu suy nghĩ, nhận thức của sinh viên về bình đẳng giới, nhóm nghiên cứu sẽ có cơ sở đánh giá đúng tình hình nhận thức

và mong muốn của sinh viên về vấn đề này Đây sẽ là căn cứ giúp Nhà trường tiến hành các hoạt động thực tiễn nhằm góp phần tuyên truyền chống bất bình

Trang 5

đẳng giới cho sinh viên trong toàn trường, cũng như từng bước hoàn thiện kế hoạch, nội dung những chương trình đào tạo chuyên ngành có liên quan đến vấn

đề bình đẳng giới cho phù hợp với mức độ nhận thức và mong muốn của cộng đồng

2 Mục tiêu nghiên cứu

Thông qua việc khảo sát đánh giá về nhận thức và hành động của sinh viên một số trường đại học ở Hà Nội về vấn đề bình đẳng giới, đề tài sẽ đưa ra những

đề xuất ban đầu nhằm nâng cao ý thức và định hướng hành động cho sinh viên trước những bất cập của bất bình đẳng, từ đó góp phần phát huy những tác động tích cực của bình đẳng giới, làm nền tảng cho xã hội phát triển bền vững

3 Đối tượng nghiên cứu

Sinh viên một số trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội

4 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu trường hợp sinh viên Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, Đại học Xây dựng, Đại học Nông Lâm và Trường Cao đẳng y tế cộng đồng

5 Phương pháp nghiên cứu

- Hướng tiếp cận của đề tài:

Đề tài được tiếp cận từ góc độ xã hội học, tâm lý học và quản lý văn hóa

- Các phương pháp thực hiện:

Thu thập và xử lý thông tin từ nguồn thứ cấp: từ sách báo, tạp chí, các công

trình nghiên cứu đã được công bố, thông tin trên các phương tiện truyền thông đại chúng

Thu thập và xử lý thông tin từ nguồn sơ cấp:

Phỏng vấn định lượng: Nhóm nghiên cứu dự kiến thiết kế một bảng hỏi gồm 31 câu hỏi liên quan đến nội dung đề tài nghiên cứu Trên cơ sở chọn mẫu ngẫu nhiên theo 04 trường đóng trên địa bàn Hà Nội (mang tính đại diện về khối ngành học) Các phân tích định lượng của đề tài dựa trên kết quả phiếu điều tra sau khi được xử lý sẽ là cơ sở đo lường nhận thức của sinh viên về bình đẳng giới

Trang 6

Phỏng vấn định tính bằng việc đặt những câu hỏi sâu về vấn đề bình đẳng giới để đánh giá suy nghĩ, nhận thức của sinh viên về vấn đề này

6 Lịch sử nghiên cứu

6.1 Những nghiên cứu ngoài nước

Bình đẳng giới là vấn đề mang tính toàn cầu luôn thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, học giả trong và ngoài nước Đầu tiên, phải kể đến các công trình khoa học của một nhà văn người Pháp là Christine de Pisan (1364 - 1430) bắt đầu đề cập đến vấn đề giới, nữ quyền và quyền bình đẳng vào thế kỉ XV Từ thế kỷ XVII – XVIII, ở nước Anh ngày càng xuất hiện nhiều công trình khoa học về nữ quyền và giới Bên cạnh nhiều công trình xuất bản vô danh, còn có một số tác phẩm của Aphra Behn (1640 - 1689), Mary Astell (1666 - 1731), một trong những nhà lý luận gia nữ quyền đi tiên phong ở nước Anh

Năm 1792, ở nước Anh, xuất hiện cuốn “A vindication of the rights of

women” (Một sự bênh vực cho quyền của phụ nữ) của tác giả Mary

Wollstonecraft (1759 - 1797) Tác phẩm ra đời trong buối cảnh tư tưởng nữ quyền theo chủ nghĩ tự do của Chủ nghĩa khai sáng được vận dụng để lý giải các vấn đề của phụ nữ và nam giới Tác phẩm phản ánh cuộc tranh luận nổi tiếng nhất về quyền phụ nữ mang tư tưởng của chủ nghĩ tự do Các tranh luận dựa trên phân tích tâm lý và sự bất lợi kinh tế của phụ nữ do pháp luật quy định buộc phải lệ thuộc vào đàn ông Phụ nữ có vị trí thấp kém, không được tham gia vào môi trường xã hội và phải chịu phân biệt đối xử so với đàn ông

Vào khoảng những năm 1850-1860 các cuộc tranh luận về quyền bầu cửa

của phụ nữ diễn ra gay gắt ở nước Anh Năm 1869, cuốn “The subjection of

women” (Sự áp bức phụ nữ) của John Stuart Mill và vợ ông là Harriet Taylor là

sự tranh luận theo hướng tự do cổ điển cho quyền bình đẳng phụ nữ Chính công trình này đã góp phần ủng hộ việc thành lập Hiệp hội Quốc gia về quyền bầu cử của phụ nữ và nó cũng gây ảnh hưởng tới các cuộc tranh luận trong Quốc hội về việc cải tổ chế độ bầu cử Nhờ sự nỗ lực của các phong trào đấu tranh đòi quyền bình đẳng, Hội liên hiệp Quốc gia các hiệp hội vì quyền bầu cử của phụ nữ

Trang 7

(NUWSS) và Liên hiệp tự do của phụ nữ (WFL) lần lượt ra đời làm cơ sở cho phong trào giải phóng phụ nữ Vào năm 1918, phụ nữ Anh đã giành được quyền bầu cử

Vào những năm 1970, các nhà lãnh đạo thuộc các nước đang phát triển cho rằng chính sách phát triển phương Tây có thể làm kinh tế các nước đang phát triển ở vào thế dễ bị sụp đổ Nhà lý luận nữ quyền Ester Boserup đã cho ra mắt

cuốn sách có nhan đề “Women Role in Economic Development” (Vai trò của phụ

nữ trong phát triển kinh tế, năm 1970) Nội dung cuốn sách tập trung phân tích ảnh hưởng của các dự án phát triển đối với phụ nữ ở các nước đang phát triển Tác giả Boserup đã khám phá ra rằng hầu hết các dự án phát triển đều bỏ qua vai trò của phụ nữ Đặc biệt là những dự án về kỹ thuật tinh xảo đã hạn chế các cơ hội nghề nghiệp, cơ hội thụ hưởng và sự tự chủ kinh tế của phụ nữ Tác giả cũng chỉ ra các cơ hội học tập, tập huấn về kỹ thuật mới, kỹ thuật tiên tiến thường chỉ dành cho nam giới Công trình nghiên cứu này đã rung hồi chuông cảnh báo cho các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách về mối quan hệ giữa bình đẳng giới với phát triển kinh tế, xã hội

Kể từ cuối thế kỷ XX, trên thế giới ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu về giới ở mọi góc độ và khía cạnh khác nhau, phong phú về thể loại, đa dạng về nội dung Năm 1982, tác giả Janet Sayer tiếp tục đề cập đến số phận

người phụ nữ và đòi hỏi quyền bình đẳng giới, nữ quyền trong cuốn “Feminist

and anti feminist perspectives” (Quan điểm về phụ nữ và chống nữ quyền) Tác

giả tập trung trình bày về sự khác biệt giới tính dưới góc độ sinh học Lập luận này hỗ trợ cho những tuyên bố của chủ nghĩa nữ quyền và thảo luận về tầm quan trọng của các yếu tố sinh học đối với vị trí của người phụ nữ trong xã hội

Năm 1985, hai tác giả Dr Connell Cowan và Dr Melvyn Kinder ra mắt

cuốn “Smart women - foolish choices: Finding the right men, avoiding the

wrong ones”(Phụ nữ thông minh - sự lựa chọn ngu ngốc: Tìm kiếm những

người đàn ông tốt, tránh những người xấu) Tác phẩm đã cung cấp những hiểu biết cần thiết, tư vấn cho “người phụ nữ thông minh” cách người phụ nữ có thể

Trang 8

mở ra những cơ hội mới với những người đàn ông tốt, làm cho mối quan hệ của

họ hạnh phúc, tốt đẹp hơn

Năm 1986, Leela Dube, Eleanor Leacock, Shirley Ardener xuất bản cuốn

“Visibility and Power (essays on women in society and development)” (Tầm

nhìn và quyền lực (tiểu luận về phụ nữ trong xã hội phát triển) xuất bản năm

1986 Cuốn sách là một bộ sưu tập mười chín bài nghiên cứu về giới, phản ánh những mối quan tâm lớn về phụ nữ Các luận điểm lập luận khác nhau về tầm nhìn và quyền lực của người phụ nữ sẽ thay đổi như thế nào ở các khu vực có nền văn hóa khác nhau

Năm 2002, UNESCO ban hành “Bộ chỉ số về giới cho truyền thông” và

“Bộ chỉ số đánh giá bình đẳng giới trong quản lý và nội dung truyền thông”

Hai bộ chỉ số này chỉ ra những hành động, việc làm nhằm tăng cường bình đẳng giới trong truyền thông và phản ảnh giới trong nội dung truyền thông

Cũng trong năm 2002, cuốn sách Tương lai của gia đình do các Giáo sư,

tiến sĩ xã hội học Charles L.Jones, Lorne Tepperman, Susannah J.Wilson biên soạn đã được xuất bản Cuốn sách này là hệ thống sự biến đổi của gia đình, những vấn đề của gia đình đương đại và gia đình trong tương lai Đây cũng là cuốn sách xã hội học có tính đột phá trong lĩnh vực nghiên cứu về tương lai của gia đình

Năm 2007, tác giả Jacquelyn W White công bố cuốn “Taking Sides:

Clashing Views in Gender (Third Edition)” Cuốn sách đã tạo ra một tranh luận

theo kiểu thiết kế vấn đề dẫn dắt học sinh, sinh viên đến những tranh cãi về giới Bằng cách yêu cầu học sinh, sinh viên phân tích quan điểm đối lập và đặt ra tình huống xem xét, tác phẩm góp phần tích cực vào việc phát triển các kỹ năng tư duy phê phán cho sinh viên

Ngoài những tác phẩm trên, còn có nhiều công trình nghiên cứu khác như:

Cuốn “Pathway to Gender Equality” (Con đường tới bình đẳng giới) của Quỹ phát triển phụ nữ Liên hợp quốc, năm 2006; “Empowered and Equal, Gender

Equality strategy” (Trao quyền và bình đẳng, Chiến lược bình đẳng giới thuộc

Trang 9

Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc phát hành năm 2011; “Gender

Equality and Female Empowerment Policy” (Bình đẳng giới và chính sách nữ

quyền) của Cơ quan phát triển Hoa Kỳ - Usaid phát hành năm 2012; “Gender Equality and Sustainable Development” (Bình đẳng giới và phát triển bền vững) năm 2014 Phụ nữ Liên hợp quốc,

6.2 Những nghiên cứu trong nước

Nước ta hiện nay, mục tiêu chúng ta hướng tới chính là xây dựng gia đình

no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc Trong gia đình cần chú trọng xây dựng quan hệ dân chủ, bình đẳng giữa các thành viên, nhất là dân chủ bình đẳng giữa nam - nữ, giữa vợ - chồng, giữa cha mẹ - con cái tạo nên sự nề nếp, hoà thuận,

kỷ cương trong mỗi gia đình Các yếu tố này trở thành một trong những nội dung cơ bản và chủ yếu, cấp thiết trong xây dựng gia đình mới ở Việt Nam Trong những năm qua, Đảng và nhà nước ta đã không ngừng hoàn thiện khung luật pháp, chính sách về quyền bình đẳng trên lĩnh vực bình đẳng giới như Luật hôn nhân và gia đình, Luật phòng chống bạo lực gia đình, đặc biệt là Luật bình đẳng giới và thông qua các công ước quốc tế như Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, Công ước Liên hiệp quốc về quyền trẻ em… Nhờ đó mà phụ nữ và trẻ em ở nước ta đều được bảo vệ Cùng với chính sách và pháp luật, bình đẳng giới và phòng chống bạo lực gia đình thu hút được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu

Đầu tiên phải kể đến cuốn sách “Phụ nữ Việt Nam qua các thời đại” của

nhà dân tộc học Lê Thị Nhâm Tuyết Đây là công trình nghiên cứu về phụ nữ Việt Nam kinh điển và được đánh giá là cuốn cẩm nang của mọi nhà khoa học nghiên cứu về phụ nữ Việt Nam Cuốn sách được xuất bản lần đầu vào năm

1972, được dịch và xuất bản bằng tiếng Trung trước khi xuất bản bằng tiếng Việt, và sau đó được dịch và xuất bản sang tiếng Pháp và tiếng Anh Tác phẩm được xem là công trình khoa học đầu tiên ở Việt Nam ghi dấu ấn quan trọng, khởi đầu cho lĩnh vực nghiên cứu phụ nữ, nghiên cứu giới và gây được tiếng vang trong giới học giả và công chúng Cuốn sách đã sưu tầm được một số tài

Trang 10

liệu lớn và đồ sộ về phụ nữ Việt Nam qua các thời kỳ, lựa chọn và hệ thống hóa thành một mức độ nhất định

Năm 2011, Trung tâm nghiên cứu giới, gia đình và môi trường trong phát

triển (CGFED) xuất bản cuốn sách“Đặc thù giới ở Việt Nam và bản sắc dân

tộc” Cuốn sách ra đời nhằm mục đích tập hợp lại một cách hệ thống những

công trình nghiên cứu của nhà khoa học hàng đầu về nghiên cứu phụ nữ và giới

ở Việt Nam Tác phẩm tập hợp các công trình nghiên cứu của Bà Lê Thị Nhâm Tuyết từ những năm 60 của thế kỷ trước đến nay, trong thời gian Bà công tác tại

Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam (nay là Viện Khoa học Xã hội Việt Nam) cho đến khi sáng lập và điều hành Trung tâm nghiên cứu giới, gia đình và môi trường trong phát triển (CGFED) Những bài viết đều thể hiện quan điểm nghiên cứu xuyên suốt cả sự nghiệp khoa học của Bà, đó là vì quyền con người của phụ

nữ Do nội dung đa dạng của các chủ đề nghiên cứu, các bài viết trong sách này được sắp xếp theo thứ tự thời gian mà các tư liệu được công bố Đó là những báo cáo đã được trình bày ở các hội thảo khoa học trong và ngoài nước, hoặc đã được đăng trong các sách và tạp chí chuyên ngành xung quanh những nét hết sức đặc thù về ảnh hưởng nhiều mặt của phong tục - tập quán, của chính sách xã hội, của những biến động xã hội, những thay đổi văn hoá, môi trường, đến sức khoẻ người phụ nữ, đến hạnh phúc gia đình và vị thế xã hội của họ Có những vấn đề tác giả đề cập đến từ cách đây nửa thế kỷ vẫn mới mẻ và đang được đặt

ra trong xã hội Việt Nam đương đại như các vấn đề: phong tục tập quán, hủ tục, văn hóa truyền thống, các chức năng gia đình, bạo lực gia đình, giáo dục mầm non…

Năm 2007, nhóm tác giả Trần Thị Vân Anh, Đặng Bích Thủy, Hồng Lê ra mắt cuốn “Bình đẳng giới, kỹ năng sống và các quyền cơ bản trong cuộc sống

và tại nơi làm việc” Cuốn tài liệu là 1 công cụ tập huấn có sự tham gia tại cộng

đồng dành cho đối tượng người lớn, đặc biệt là đối với phụ nữ ở các vùng xa xôi

và nghèo khó, nhằm nâng cao nhận thức về bình đẳng giới, trang bị những kỹ năng sống và cung cấp những kiến thức cơ bản trong cuộc sông và tại nơi làm

Ngày đăng: 05/05/2021, 12:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w