1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM

24 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 682,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có khoa học – công nghệ, năng suất lao động ngày càng tăng lên, hàng hóa của cải vật chất ngày càng nhiều, đất nước ngày càng phát triển và có vị thế lớn về kinh tế, nhất là trong quá tr

Trang 1

VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT

TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM

PHẦN A: MỞ ĐẦU

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Nếu như nói an ninh, quốc phòng, giáo dục, văn hóa – xã hội… là những lĩnh vực không thể thiếu cho sự ổn định và phát triển của đất nước thì khoa học – công nghệ là một lĩnh vực vô cùng quan trọng và cần thiết cho sự phát triển của mỗi đất nước chứ không riêng gì đất nước Việt Nam ta, đó là một lĩnh vực

mà có mối liên hệ mật thiết và bổ trợ cho sự phát triển của các lĩnh vực khác Đất nước Việt Nam tươi đẹp của chúng ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế thì khoa học – công nghệ ngày càng quan trọng

Khoa học – công nghệ mang lại rất nhiều lợi ích trong sự phát triển của đất nước Nó giúp đẩy nhanh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, đổi mới công nghệ máy móc cũ thay bằng công nghệ máy móc mới hiện đại và ngày càng giảm sức lao động của con người Có khoa học – công nghệ, năng suất lao động ngày càng tăng lên, hàng hóa của cải vật chất ngày càng nhiều, đất nước ngày càng phát triển và có vị thế lớn về kinh tế, nhất là trong quá trình hội nhập thì việc có vị thế lớn trong khu vực và thế giới là vô cùng cần thiết cho sự phát triển của đất nước Không chỉ vậy khoa học – công nghệ còn giúp nâng cao chất lượng y tế, quốc phòng, an ninh… về máy móc, phương tiện tạo điều kiện lớn cho sự phát triển của y tế nước nhà, đời sống nhân dân từng bước cải thiện, quốc phòng an ninh sẽ ngày càng hiện đại hơn và bảo vệ vững chắc an ninh và tăng cường sức mạnh phòng thủ đất nước Rõ ràng một điều là khoa học – công nghệ

sẽ giúp cho việc hiện đại hóa các máy móc, công nghệ trong các lĩnh vực khác như văn hóa, giáo dục, như vậy khoa học – công nghệ sẽ làm cho đất nước ngày càng văn minh hơn Trong quá trình hội nhập hiện nay thì khoa học – công nghệ

sẽ làm cho đất nước ngày càng văn minh hiện đại, đẩy nhanh, mạnh và vững chắc cho sự phát triển của đất nước Nâng cao sức cạnh tranh và tiếng nói của

Trang 2

đất nước Việt Nam trên trường khu vực và quốc tế Chính vì vậy mà khoa học – công nghệ là một trong những lĩnh vực trọng tâm mà Đảng và Nhà nước luôn coi trọng và tăng cường thúc đẩy phát triển trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay và cũng là lĩnh vực luôn được chú trọng xuyên suốt tiến trình đi lên chủ nghĩa xã hội

Khoa học công nghệ chính là chìa khóa cho việc hội nhập thành công, cho việc thực hiện rút ngắn quá trình CNH-HDH đất nước bắt kịp với các quốc gia khác trên thế giới Khoa học và công nghệ là yếu tố quyết định đến việc thực hiện mục tiêu chuyển nền kinh tế của nước ta sang nền kinh tế tri thức, cho tiến trình toàn cầu hóa Khoa học công nghệ có thể nói là nó đi vào mọi mặt của đời sống, nhưng đặc điểm của yếu tố công nghệ khó xác định sự đóng góp trực tiếp, chỉ được thể hiện thong qua việc sử dụng có hiệu quả các yếu tố khác như tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả sử dụng vốn, nâng cao công suất sử dụng máy móc thiết bị Do vậy đề tài này chỉ xin đưa ra một số vai trò cơ bản của khoa học công nghệ đối với sự phát triển của nền kinh tế đất nước

II TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Đã có rất nhiều các bài báo, luận văn, luận án hay các đề tài khoa học nghiên cứu về vai trò của Khoa học – Công nghệ Mỗi một đề tài đều có một nét riêng, khám phá những mặt tích cực và hạn chế mà khoa học công nghệ mang lại cho con người Sau đây là một số đề tài nghiên cứu trước đó:

1 Tiểu luận : Khoa học – công nghệ được coi là nền tảng và động lực của

sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước – Nguyễn Đình Bình Minh (Học viện Báo chí và Tuyên truyền)

2 Vai trò của Khoa học và công nghệ trong phát triển kinh tế xã hội ở tỉnh Sóc Trăng, giai đoạn 1992 – 2012 – Nguyễn Thành Duy – ĐHKHXH&NV

III MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu về vai trò của khoa học công nghệ đối với xã hội và con người như thế nào, đã đáp ứng được nhu cầu cơ bản của con người hay chưa, từ đó đưa

ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả của khoa học công nghệ ngày nay

Trang 3

Nội dung của phát triển kinh tế được khái quát theo ba tiêu thức: Một là, sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thu nhập bình quân đầu người Hai là, sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế Đây là tiêu thức phản ánh sự biến đổi về chất của nền kinh tế một quốc gia Ba là, sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội

2 Lý luận về khoa học và công nghệ

a Khoa học

Trong lịch sử phát triển tư duy của nhân loại có rất nhiều quan niệm khác nhau về khoa học, một mặt nó phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội, mặt khác phụ thuộc vào trình độ nhận thức Xét về phương diện xã hội, khoa học là một hiện tượng xã hội có nhiều mặt, trong đó biểu hiện sự thống nhất giữa những yếu tố vật chất và những yếu tố tinh thần Về phương diện triết học, khoa học là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt.Đặc biệt bởi vì khoa học không chỉ phản ánh tồn tại xã hội, phụ thuộc vào tồn tại xã hội, những chân lý của nó được thực tiễn xã hội kiểm nghiệm mà khoa học còn là kết quả của quá trình sáng tạo logic, của trực giác thiên tài Còn bởi vì khoa học (cùng với công nghệ) là những yếu tố ngày càng có vai trò đặc biệt quan trọng của lực lượng sản xuất, quyết định trình độ phát triển của lực lượng sản xuất nói riêng, của phương thức sản xuất và của xã hội nói chung Về phương diện nhận thức luận, khoa học là giai đoạn cao nhất của nhận thức – giai đoạn nhận thức lí luận

Trang 4

Ngày nay quan niệm về khoa học được phổ biến với những đặc trưng cơ bản sau đây:

─ Khoa học là một hệ thống tri thức về tự nhiên, về xã hội, về con người và

về tư duy của con người Nó nghiên cứu và vạch ra những mối quan hệ nội tại, bản chất của các sự vật, hiện tượng, quá trình từ đó chỉ ra những quy luật khách qua của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy

─ Hệ thống tri thức khoa học được hình thành trong quá tình nhận thức của con người từ trực quan sinh động, đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn khách quan, dưới dạng khái niệm, phạm trù, quy luật, lý thuyết Như vậy tri thức khoa học không chỉ phản ánh hiện thực mà còn được kiểm nghiệm qua thực tiễn

Như vậy qua một số những đặc điểm cơ bản trên đây về quan niệm khoa học, ta thấy nổi lên cái cốt lõi của khoa học về hệ thống tri thức chân thực về tự nhiên, xã hội và tư duy

Tóm lại, Khoa học là tập hợp những hiểu biết của con người về tự nhiên, xã hội và tư duy được thể hiện dưới dạng các lý thuyết, định lý, định luật, nguyên tắc Đó là những nội dung khách quan được con người phát hiện nhờ đó mà con người thay đổi nhận thức và vận dụng chúng vào thực tiễn để thay đổi và phát triển cuộc sống của mình Vì tồn tại dưới dạng các lý thuyết, quy luật, định lý, định luật, nguyên tắc nên khoa học không phải là đối tượng của mua – bán, không phải là đối tượng của sở hữu

b Công nghệ

Công nghệ theo nghĩa chung nhất có thể coi là sự tập hợp tất cả những hiểu biết của con người vào việc biến đổi, cải tạo thế giới nhằm đáp ứng nhu cầu sống của con người, sự tồn tại và phát triển của toàn xã hội Công nghệ trong sản xuất là một tập hợp các phương tiện vật chất, các phương pháp, các quy tắc, các kĩ năng được con người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động nhằm tạo ra một sản phẩm nào đó cần thiết cho xã hội

Có ba nghĩa chủ yếu về công nghệ được sử dụng phổ biến nhất hiện nay:

Trang 5

Một là công nghệ được coi như một bộ môn khoa học ứng dụng, triển khai (trong tương quan với khoa học cơ bản), trong việc vận dụng các quy luật tự nhiên và các nguyên lí khoa học nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao của con người

Hai là, công nghệ được hiểu với tư cách như là các phương tiện vật chất –

kĩ thuật, hay đó là sự thể hiện cụ thể của trí thức khoa học đã được vật thể hóa thành các công cụ, các phương tiện kĩ thuật cần cho sản xuất và đời sống

Ba là, công nghệ bao gồm các cách thức, các phương pháp, các thủ thuật, các kĩ năng có được nhờ dựa trên cơ sở trí thức khoa học và được sử dụng vào sản xuất trong các ngành khác nhau để tạo ra các sản phẩm

Ngày nay, trong thời đại của cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới, hay cách mạng thông tin công nghệ lần thứ năm, khi mà khoa học đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, trí tuệ con người đang giữ vững vai trò động lực trực tiếp và quyết định sự phát triển của công nghệ nói riêng và xã hội nói chung thì quan niệm về công nghệ, các thành phần cấu trúc của nó lại một lần nữa có sự

mở rộng và phát triển rất cơ bản

Tóm lại, Công nghệ là tập hợp những phương tiện, phương pháp, kỹ năng, thong tin để biến đổi nguồn tài nguyên thiên nhiên thành các sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của con người Ngoài phần cốt vật chất là các phương tiện kĩ thuật như máy móc, trang thiết bị…thì công nghệ còn hàm những nội dung cơ bản sau:

Trang 6

Vì tất cả những nội dung trên của công nghệ đều có thể trực tiếp áp dụng vào sản xuất, nên những nội dung đó trở thành đối tượng mua – bán, là đối tượng sở hữu và được pháp luật bảo hộ

c Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ

Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ phụ thuộc vào trình độ phát triển của từng giai đoạn lịch sử Trước thế kỷ XVIII, khoa học và công nghệ tiến hóa theo những con đường riêng, có những mặt công nghệ đi trước khoa học Sang thế kỷ XIX, khoa học và công nghệ có sự tiếp cận lại gần nhau những khó khăn của công nghệ trở thành các gợi ý cho sự phát triển của khoa học Từ thế kỷ XX, khoa học trở thành sự dẫn dắt cho những phát triển nhảy vọt của công nghệ, ngược lại sự đổi mới của công nghệ đưa lại những cơ sở cho nghiên cứu khoa học phát triển

II VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ

1 Khoa học kĩ thuật đã đưa loài người bước sang một nền văn minh mới – văn minh hậu công nghiệp

KT tự nhiên KT nông nghiệp KT công nghiệp

KT Tri thức

Trang 7

Ở nền văn minh này, con người có thể phát huy cao độ năng lực sang tạo trong sản xuất, đời sống, phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã làm thay đổi căn bản phương thức lao động của con người, từ lao động bằng chân tay thô sơ đến lao động bằng máy móc

2 Mở rộng khả năng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế

K Marx đã dự đoán rằng: Đến giai đoạn công nghiệp, việc sản sinh ra sự

giàu có thực sự không phụ thuộc nhiều vào thời gian lao động, mà lại phần lớn phụ thuộc vào tình trạng chung của khoa học và sự tiến bộ kĩ thuật hay sự vận dụng khoa học vào sản xuất

Trang 8

Như vậy KH & CN không chỉ tạo ra công cụ lao động mới mà cả phương pháp sản xuất mới, do đó mở ra khả năng mới về kết quả sản xuất và tăng năng

suất lao động KH & CN làm biến đổi điều kiện vật chất của sản xuất, làm tăng

khả năng khai thác và hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào để tăng quy mô sản xuất và quy mô sản lượng cả theo chiều rộng và chiều sâu (để gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển kinh tế)

Một hãng sản xuất hay một nền kinh tế nếu không có những áp dụng khoa học công nghệ mới, nếu không đổi mới được đáng kể những điều kiện sản xuất thì rõ ràng việc tăng quy mô sản phẩm của các thực thể kinh tế đó chủ yếu là do tăng các yếu tố đầu vào, khi đó tăng trưởng mà không có phát triển

Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật lần thứ nhất với sự mở đầu của máy hơi nước Giêm Óat (1784) kéo dài đến giữa thế kỉ XX với nội dung chủ yếu là cơ khí hóa, thay công cụ thủ công bằng công cụ máy móc, thay lao động thủ công bằng lao động máy móc đã đưa đến sự thay đổi lớn cả về quy mô, năng suất và chất lượng sản phẩm, giúp cho chủ nghĩa tư bản chỉ trong vòng chưa đầy ba thế

kỉ đã tạo ra một khối lượng của cải lớn hơn số của cải của tất cả các thời đại trước cộng lại

Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật lần thứ 2 từ năm 1945 đến nay đã trải qua hai giai đoạn phát triển: Giai đoạn từ năm 1945 đến những năm của thập kỉ

70 với nội dung chủ yếu là áp dụng những kĩ thuật đã áp dụng trong chiến tranh vào sản xuất để phát triển kinh tế Giai đoạn từ những năm giữa của thập kỉ 70 đến nay với các thành tựu nổi bật như tự động hóa, công nghệ sinh học, sử dụng vật liệu mới và máy tính trên cơ sở những phát minh khoa học mới nhất Những thành tựu khoa học công nghệ đó đã cho phép xã hội phát triển, khai thác và sử dụng hiệu quả các điều kiện tự nhiên, áp dụng các quy luật tự nhiên vào sản xuất, nâng cao hiệu quả quản lý…

Dưới tác động của khoa học – công nghệ các nguồn lực sản xuất được mở rộng Mở rộng khả năng phát hiện, khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên, làm biến đổi chất lượng nguồn lao động Cơ cấu lao động xã hội chuyển từ lao

Trang 9

động giản đơn là chủ yếu sang lao động bằng máy móc, có kỹ thuật nhờ đó nâng cao năng suất lao động Mở rộng khả năng huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn vốn đầu tư một cách có hiệu quả biểu hiện thông qua quá trình hiện đại hóa các tổ chức trung gian tài chính, hệ thống thông tin liên lạc, giao thông vận tải…

Khoa học công nghệ với sự ra đời của các công nghệ mới đã làm cho nền kinh tế chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu tức là tăng trưởng kinh tế đạt được dựa trên việc nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất Với vai trò này, KH & CN là phương tiện để chuyển nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế tri thức, trong đó phát triển nhanh các ngành công nghệ cao, sử dụng nhiều lao động trí tuệ là đặc điểm nổi bật

3 Khoa học - công nghệ làm biến đổi cơ cấu kinh tế, chuyển nền kinh tế

từ trạng thái phát triển thấp lên trạng thái phát triển cao

Cơ cấu kinh tế phản ánh trạng thái phát triển của nền kinh tế ở một giai đoạn nhất định, vì vậy sự biến đổi hay chuyển dịch cơ cấu kinh tế chỉ diễn ra thực sự khi nền kinh tế đạt được sự phát triển mới, mà sự phát triển mới có được chủ yếu là nhờ áp dụng khoa học – kĩ thuật Khoa học kĩ thuật không chỉ tạo ra các ngành nghề mới mà còn đưa lại năng suất lao động mới (nhất là năng suất lao động trong nông nghiệp), cho phép xã hội thực hiện phân bổ lại lực lượng lao động theo yêu cầu của các ngành nghề, làm cho tỷ trọng sản phẩm, tỷ trọng lao động giữa các ngành cũng như vị trí của chúng trong nền kinh tế biến đổi

Sự phát triển mạnh mẽ của KH & CN không chỉ đẩy nhanh tốc độ phát triển của các ngành mà còn làm cho phân công lao động xã hội ngày càng trở nên sâu sắc và đưa đến phân chia ngành kinh tế theo nhiều ngành nhỏ, xuất hiện nhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh tế mới Từ đó làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực thể hiện:

Tỷ trọng trong GDP của ngành công nghiệp và dịch vụ có xu hướng tăng dần, còn của ngành nông nghiệp thì ngày càng giảm Đó là tỷ trọng trong GDP của ngành nông nghiệp đã giảm nhanh từ 38.1% năm 1990 xuống 27.2% năm

Trang 10

1995; 24.5% năm 2000; 20.9% năm 2005 và đến năm 2008 còn 20.6% Tỷ trọng công nghiệp trong GDP đã tăng nhanh, năm 1990 là 22.7%; năm 1995 tăng lên 28.8%; năm 2000 là 36.7%; năm 2005 là 41% và đến năm 2008 là 41.6% Tỷ trọng dịch vụ trong GDP chưa biến động nhiều, năm 1990 là 38.6%; năm 1995

là 44.0%; năm 2000 là 38.7%; năm 2005 là 38.1% và năm 2008 là khoảng 38.7%.(Số liệu ở Việt Nam)

Cơ cấu kinh tế trong nội bộ mỗi ngành cũng biến đổi theo hướng ngaỳ càng

mở rộng quy mô sản xuất ở những ngành có hàm lượng công nghệ cao Lao động trí thức ngày càng chiếm tỷ trọng lớn, mức độ đô thị hóa cũng ngày càng tăng nhanh Tất cả trở thành đặc trưng của sự phát triển khoa học – công nghệ

dịch vụ công nghiệp nông nghiệp

Biểu đồ: Cơ cấu kinh tế Hoa Kì 1960 (%)

Biểu đồ chuyển dịch cơ cấu GDP phân theo khu vực kinh tế ở nước ta qua

các năm (%)

Trang 11

Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật còn làm thay đổi phân bố sản xuất Nhờ các phát minh, sáng kiến, một số loại nguyên liệu, năng lượng mới được sử dụng, nhiều ngành sản xuất các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao phát triển đã làm cho nhiều vùng hoang vắng trở thành những trung tâm công nghiệp, kinh tế sầm uất Ví dụ: vùng phía Đông Nam Hoa Kỳ, vùng phía đông nam nước Pháp, vùng phía Tây nam Trung Quốc, vùng phía Nam Ân Độ

Tuy nhiên không phải sự áp dụng khoa học kĩ thuật nào cũng đưa đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, sự áp dụng khoa học – kĩ thuật đưa đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế khi sự áp dụng đó làm thay đổi năng suất lao động xã hội nói chung (hoặc chí ít cũng phải làm thay đổi năng suất lao động xã hội ở những ngành kinh tế chủ lực) Vì vậy, để thúc đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, việc đổi mới công nghệ sản xuất ở những ngành kinh tế chủ lực phỉ là hướng quan tâm đầu tư hàng đầu

Đối với một nước khi mà lực lượng lao động còn tập trung chủ yếu trong nông nghiệp, để sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra vững chắc và hiệu quả thì công nghệ sinh học phải là sự lựa chọn trước tiên và cần phải được ưu tiên, vì vậy năng suất trong sản xuất nông nghiệp trước hết là thuộc về năng suất sinh học (thuộc về giống cây, giống con) Đối với những nước nông nghiệp như nước

ta, công nghệ sinh học là một bước tiến mới nhất trong nỗ lực chinh phục tự nhiên để nâng cao điều kiện sống của con người Những năm gần đây, trong bản đại hợp tấu khoa học và công nghệ, bộ đàn dây công nghệ sinh học đã bắt đầu tấu lên những khúc nhạc mới lạ với nhiều cung bậc, nhiều tiết tấu mà thậm chí cũng ta chưa từng nghe Với sự sang tạo về khoa học, các nhà khoa học Trung Quốc đã tìm ra được những giống lúa cao sản, kháng mặn với năng suất đến 21 tấn/0.4ha (2014)

4 Nâng cao khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường để phát triển Cạnh tranh là phương thức để doanh nghiệp đạt lợi ích, tồn tại và phát triển trong điều kiện cơ chế thị trường Các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau trên ba phương diện cơ bản: cạnh tranh về giá trị sử dụng, cạnh tranh về tổ chức tiêu thụ

Trang 12

và cạnh tranh về giá cả hàng hóa Cơ sở để các doanh nghiệp tiến hành cạnh tranh với nhau là chi phí, chất lượng, hình thức, mẫu mã, kiểu dáng, bao bì, nhãn hiệu hàng hóa mà mỗi doanh nghiệp có Vì vậy để thắng trong cạnh tranh, mở rộng thị trường thì việc làm quan trọng nhất của doanh nghiệp là phải lựa chọn được công nghệ và kỹ thuật sản xuất thích hợp, bởi công nghệ và kỹ thuật chính

là nhân tố cơ bản quyết định chi phí và chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, việc áp dụng tiến bộ KH & CN đã có những tác động sau:

 Các yếu tố sản xuất như tư liệu sản xuất, lao động ngày càng hiện đại

và đồng bộ

 Quy mô sản xuất mở rộng, thúc đẩy sự ra đời và phát triển của nhiều loại hình doanh nghiệp mới

 Tạo nhịp độ cao hơn trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh

 Chiến lược kinh doanh từ chỗ hướng nội, thay thế hàng nhập khẩu sang hướng ngoại, hướng vào xuất khẩu, từ thị trường trong nước hướng ra thị trường thế giới, tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế

Khoa học – công nghệ không chỉ nâng cao sức cạnh tranh, cho phép các doanh nghiệp mở rộng thị trường để phát triển mà còn đưa lại công suất và quy

mô sản xuất lớn cũng như các phương tiện cần thiết để đáp ứng nhu cầu của thị trường vươt ra khỏi biên giới quốc gia và ngày càng mang tính chất toàn cầu Ngày nay, các nước đi đầu về khoa học công nghệ không chỉ có ưu thế trong cạnh tranh thị trường thế giới, mà còn có ưu thế về xuất khẩu tư bản, chuyển giao khoa học và công nghệ sang các nước khác

5 Khoa học và công nghệ là một công cụ mạnh đối với phát triển con người

Khoa hoc công nghệ đặc biệt là công nghệ sinh học, công nghệ gen…ngày càng phát triển và được ứng dụng rộng rãi vào công tác chăm sóc sức khỏe người dân Đã có những bước nhảy vọt trong lĩnh vực y tế nhất là trong việc phát minh ra những loại thuốc, vắc – xin, các thiết bị y tế… Đồng thời việc phát

Ngày đăng: 05/05/2021, 12:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w