Là một người con gái dân tộc Dao Họ không sinh sống ở nơi đây, hiện đang theo chuyên ngành quản lý văn hóa nghệ thuật của Trường Đại học văn hóa Hà Nội muốn tìm hiểu thêm về nguồn gốc củ
Trang 1BÀI BÁO CÁO ĐÃ SỬA.docx
BÁO CÁO KIẾN TẬP
Đề tài: Tìm hiểu bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc Dao Họ
thôn Khe Mụ I – xã Sơn Hà – huyện Bảo Thắng – tỉnh Lào Cai
Trang 2Mục lục
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
2 Mục đích nghiên cứu
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
5 Bố cục đề tài
PHẦN II: NỘI DUNG
Chương 1: Vài nét khái quát về phong tục tập quán của người dân tộc Dao Họ thôn Khe Mụ I – xã Sơn Hà – huyện Bảo Thắng – tỉnh Lào Cai
1.1 Phong tục tập quán
1.1.1 Phong tục liên quan tới sinh đẻ
1.1.2 Lễ cúng giải hạn “cháy hoàn”
1.1.3 Lễ mừng trẻ tròn một tuổi “pòong tai”
1.1.4 Lễ đổi tên “oăn bủ”
1.2 Các phong tục lễ cưới của người Dao Họ
1.2.1 Lễ đi hỏi “nình ai áu”
1.2.2 Lễ ăn hỏi “nhin chay á”
1.2.3 Lễ cưới “ai con”
1.2.4 Tổ chức lễ cưới ở nhà gái
1.2.5 Tổ chức lễ cưới ở nhà trai
1.2.6 Lễ lại mặt “hui lâu”
1.3 Các phong tục tang ma của người Dao Họ
Trang 31.4 Tục làm nhà
1.5 Tôn giáo tín ngưỡng
1.5.1 Quan niệm về thần thánh
1.5.2 Thờ cúng tổ tiên
1.5.3 Hệ thống các loại ma
1.6 Văn hóa gia đình, dòng họ
Chương 2: Thực trạng việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống
của dân tộc Dao Họ
2.1 Cơ sở của công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thồng của ngươì Dao Họ
2.1.1 Cơ sở pháp lí
2.1.2 Cơ sở thực tiễn
2.2 Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc người Dao Họ
2.2.1 Tết Nguyên Đán “phám san rú”
2.2.2 Rằm tháng riêng “xí nhân nhẩu rú”
2.2.3 Tết 3/3 âm lịch
2.2.4 Tết rằm tháng bảy âm lịch
2.3 Hội hè – những lễ cúng không theo chu kì một năm
2.3.1 Lễ cúng làng “ang láy”
2.3.2 Lễ cơm mới “nhin xàng hằng”
2.3.3 Lễ lập tỉnh “chay”
2.3.4 Lễ chay “áy chay”
2.3.5 Cúng giải hạn “cháy hoan”
2.4 Các trò chơi dân gian
2.4.1 Trò đánh đu (đu tay)
2.4.2 Trò đánh quay (quay khắng)
2.4.3 Đánh khăng (nỏ khăng)
2.5 Văn hóa ẩm thực
2.5.1 Ăn trong ngày thường
2.5.2 Uống trong bữa ăn ngày thường
Trang 42.5.2 Các loại bánh ngày thường
2.5.3 Đồ hút của người Dao Họ
2.5.4 Các món ăn trong ngày Tết
2.5.5 Một số món ăn chính trong Lễ cưới
2.5.6 Các món ăn trong tang ma
2.5.7 Các món ăn mang tính đặc trưng riêng của người Dao Họ
2.6 Ngôn ngữ dân tộc
2.7 Nghệ thuật ngôn từ
2.7.1 Dân ca dân tộc
2.7.2 Các thể loại và các bài hát dân ca
2.7.3 Truyện cổ dân gian
2.7.4 Câu đố tục ngữ
2.8 Nghệ thuật biểu diễn và các loại hình dân gian mang bản sắc văn hóa người Dao Họ
2.8.1 Múa
2.8.2 Nghệ thuật tạo hình
2.9 Y học
2.10 Những biến đổi hiện nay về văn hóa
Chương 3: Những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả và công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của người Dao Họ
3.1 Đánh giá thực trạng công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của người Dao Họ
3.1.1 Tích cực
3.1.2 Hạn chế
3.1.3 Cơ hội
3.1.4 Thách thức
3.2 Biện pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa của người Dao Họ
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỤC LỤC
Trang 5PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
Văn hóa các dân tộc thiểu số ở nước ta rất phong phú và đặc sắc Với 54 thành
phần dân tộc cư trú rải rác ở khắp các vùng trên cả nước, tuy có những đặc điểm nhưng mỗi dân tộc lại có bản sắc riêng của mình
Trong sự đa dạng ấy, văn hóa của các dân tộc có nhiều nội dung mang ý nghĩa nhân văn, lành mạnh với nhiều hình thức biểu hiện độc đáo Tuy nhiên với trình độ nhận thức và hoàn cảnh lịch sử của mỗi tộc người, mỗi vùng trong từng giai đoạn không tránh khỏi những hạn chế và tiêu cực, thâm trí có những yếu tố mê tín, dị đoan cản trở sự phát triển của từng tộc người trong từng vùng
Hiện nay, văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số ở nước ta đang đứng trước
sự tác động của nhiều yếu tố đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống xưa như: xu hướng đồng hóa tự nhiên về văn hóa đang làm mai một văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số Ngày nay cơ sở hạ tầng thông tin, phương tiện đi lại đã đảm bảo một phần cho việc giao lưu kinh tế - văn hóa giữa các vùng, các dân tộc thuận lợi nhanh chóng Việc học hỏi nhau trên mọi phương tiện diễn ra phổ biến ở các dân tộc, ở nước ta các dân tộc thiểu số có xu hướng ngày một “kinh hóa”,
họ coi việc học hỏi mọi mặt của người Kinh là mốt thời thượng
Một khuynh hướng khác tác động không nhỏ đến văn hóa truyền thống đó là quá trình toàn cầu hóa Với cuộc cách mạng công nghệ hóa cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin truyền thống đã xuất hiện quá trình “thâm nhập” của văn hóa ngoại lai với những mặt tích cực và tiêu cực của nó
Trong quá trình giao lưu không tránh khỏi có một số bộ phận các dân tộc thiểu
số tự ý tiếp thu văn hóa của người ngoài không có chọn lọc Vì vậy sẽ ảnh hưởng ít nhiều
xa rời văn hóa truyền thống dân tộc của mình
Trong một vài năm gần đây, ở các khu sinh sống của các dân tộc thiểu số vùng cao của nước ta bị lợi dụng trình độ dân trí thấp, bị trói buộc về tinh thần một số phần tử hành nghề tôn giáo đã thực hiện truyền đạo trái phép, lôi kéo người dân tộc thiểu số cả tin
từ bỏ tín ngưỡng, phong tục tập quán của mình, từng bước mất dần đi bản sắc văn hóa riêng của dân tộc mình
Trang 6Vì vậy bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số muốn được bảo tồn và phát huy trong cuộc sống thì cần sự quan tâm chỉ đạo sát sao của các cấp chính quyền, sự quản lý của pháp luật nhà nước và cả ý thức giữ gìn bản sắc dân tộc mình của mỗi cá nhân Trong những năm qua, Đảng đã tiếp tục đề ra chính sách dân tộc, Nhà nước cũng đã có nhiều văn bản, quyết định nhằm phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong đó, rất chú ý đến việc bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc Dân tộc Dao Họ ở thôn Khe Mụ I – xã Sơn Hà – huyện Bảo Thắng – tỉnh Lào Cai có rất nhiều bản sắc văn hóa riêng và của các tộc người trên cả nước nói chung Bản sắc văn hóa truyền thống của người Dao Họ nơi đây cũng đã có nhiều ngành hay các tổ chức nghiên cứu đề cập đến nhưng việc khảo sát nghiên cứu một cách cụ thể, chi tiết về bảo tồn và phát triển thì chưa có ngành nào làm được
Là một người con gái dân tộc Dao Họ không sinh sống ở nơi đây, hiện đang theo chuyên ngành quản lý văn hóa nghệ thuật của Trường Đại học văn hóa Hà Nội muốn tìm hiểu thêm về nguồn gốc của dân tộc mình và bản sắc dân tộc mình đang có để
có những ý kiến, tìm ra những bất cập và những biện pháp riêng với mong muốn được đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình trong việc bảo tồn, giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của người dân tộc Dao Họ ở Lào Cai nói riêng và dân tộc Dao
Họ ở cả nước nói chung
2 Mục đích nghiên cứu
Khái quát được môi trường địa lí, kinh tế,văn hóa và các hoạt động, cách thức
tổ chức văn hóa truyền thống và công tác quản lý bản sắc văn hóa truyền thống của người Dao Trên cơ sở đó có thể đánh giá được những mặt tích cực và hạn chế, đưa ra được ý kiến đề xuất để phát huy giá trị văn hóa truyền thống của người Dao Họ
Thông qua việc tìm hiểu về bản sắc văn hóa của dân tộc người Dao Họ và công tác quản lý, tôi mong muốn được góp một phần tư liệu nhỏ làm cơ sở cho việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Dao Họ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng: Phong tục, tập quán truyền thống của dân tộc Dao Họ
* Phạm vi nghiên cứu: thôn Khe Mụ I - xã Sơn Hà – huyện Bảo Thắng – tỉnh Lào Cai
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 7Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng phương pháp sau:
5.Bố cục của báo cáo
Ngoài phần mở đầu và kết luận báo cáo gồm có 3 chương
Chương 1: Vài nét khái quát về phong tục, tập quán của người Dao Họ thôn Khe Mụ I – xã Sơn Hà – huyện Bảo Thắng – tỉnh Lào Cai
Chương 2: Thực trạng về việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của người Dao Họ
Chương 3: Những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả và công tác bảo tồn
và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của người Dao Họ
PHẦN II: NỘI DUNG
Trang 8Chương 1
VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ PHONG TỤC, TẬP QUÁN CỦA NGƯỜI DAO
HỌ THÔN KHE MỤ I – XÃ SƠN HÀ – HUYỆN BẢO THẮNG – TỈNH LÀO CAI
1.1 P hong tục tập quán
1.1.1Phong tục liên quan tới sinh đẻ
Khi mang thai người Dao Họ ở xã Sơn Hà có những phong tục, những cách
kiêng kỵ riêng để cho thai nhi phát triển tốt Những phong tục với ý nghĩa mong muốn cho người mẹ sinh được con an toàn đứa trẻ ra đời khỏe mạnh
Trong thời gian mang thai, khi thai nhi được từ 4 tháng trở lên người mẹ kiêng không ăn ngon, chỉ ăn những thức ăn lành tính vì người Dao Họ cho rằng nếu ăn ngon quá đứa trẻ sẽ to và bị khó đẻ
1.1.2 Lễ cúng giải hạn trước khi sinh (cháy hoàn)
Theo phong tục vào tháng mang thai thứ 9 (trước khi sinh nở) người Dao Họ
phải tổ chức một lễ cúng giải hạn Lễ cúng này nhằm mục đích cầu xin tổ tiên gìn giữ thai nhi và cầu mong cho người mẹ sinh đẻ con được dễ dàng, tùy thuộc vào kinh tế của gia đình mà người dân sẽ chọn ngày cúng Ngày cúng giải hạn không quy định cụ thể miễn là tổ chức cúng trong tháng thứ 9 trước khi sinh nở Gia chủ mời thầy mo tới để cúng trong vòng một tiếng, thông thường lễ cúng được cúng vào buổi tối Lễ cúng gồm
ba con gà, một chút giấy bản làm tiền, gạo rượu Thầy cúng xem tuổi của người mẹ nằm
ở con giáp nào trong 12 con giáp để cúng con giáp đó để đứa trẻ sinh ra được dễ dàng Trước đây khi sinh nở họ thường sinh tại nhà, những người đỡ đẻ thường là bà nội hoặc bà ngoại (nếu nhà bà ngoại ở gần) hoặc những người là nữ giới có kinh nghiệm, hay đỡ đẻ Họ dùng cật nứa để cắt rốn cho trẻ họ không bao giờ dùng dao hay kéo để cắt rốn bởi họ sợ làm nhiễm trùng cho đứa trẻ Ngày nay trong các trung tâm y tế gần thôn bản cho nên khi sinh mọi người đều tới các cơ sở y tế
Sau khi sinh 3 ngày (trước đây là 7 ngày) gia đình sẽ tổ chức làm lễ đặt tên cho trẻ Trong lễ đặt tên này, gia đình phải mời thầy mo về nhà cúng, nhằm thông báo với tổ
Trang 9tiên về việc gia đình, dòng họ mình có thêm thành viên mới Tùy thuộc vào điều kiện của từng gia đình mà họ tổ chức lễ đặt tên cầu kỳ hay đơn giản Những gia đình khá giả sẽ
mổ lợn mời bà con hàng xóm, anh em trong bản tới dự, mừng cùng gia đình, mổ thêm 3 con gà làm lễ cúng Những nhà có điều kiện bình thường chỉ cần mổ 3 con gà để cúng và mời các cụ già trong dòng họ tới dự và đặt tên cho con Tên đứa trẻ được các cụ già trong dòng họ đặt trước (tên được đặt không được trùng với các tên trong dòng họ) Nhiều người đặt và chọn lấy một tên vừa đẹp lại không trùng với ai trong dòng họ mình
Theo phong tục của người Dao Họ,, khi gia đình mà chưa tổ chức lễ đặt tên cho con trẻ thì bố con anh em trong gia đình đó không được bước vào bất kỳ nhà ai trong làng Người dân cho rằng cái nhà đó đang có người đẻ do vậy nếu vào nhà khác sẽ mang
“cái bẩn” của nhà mình vào nhà hàng xóm, tổ tiên của nhà hàng xóm đó không chấp nhận vì chưa làm lễ đặt tên
1.1.3 Lễ mừng trẻ tròn một tuổi (pòong tai)
Đối với người Kinh khi còn trẻ tròn một tuồi sẽ được tổ chức lễ sinh nhật cho
con cái mình, còn người Dao Họ ở đây sẽ có một buổi làm lễ mừng con trẻ
Lễ pòong tai của người Dao Họ tổ chức rất to, hầu như các gia đình khá giả hay
trung bình đều tập trung tổ chức lễ này Họ mổ lợn, mổ gà mời mọi người trong làng và anh em ở những làng khác về mừng cho con trẻ
Lễ pòong tai được tổ chức vào tháng 12 sau khi sinh đứa trẻ, không nhất thiết
phải tổ chức vào ngày sinh mà tùy thuộc vào mỗi gia đình tự chon ngày tổ chức Trong ngày này, gia đình mời thầy cúng về, mổ 3 con gà làm lễ cúng để thầy cúng cầu xin với
tổ tiên phù hộ đứa trẻ để đứa trẻ mau lớn Khách tới tham dự thường mừng tuổi cho đứa trẻ cùng với lời chúc cho đứa trẻ đó
Ngoài ra người Dao Họ còn có thêm thủ thục đổi hoa “ oăn phăng” Đối với trẻ
nhỏ, sau khi sinh ra hay ốm yếu, kém ăn,…gia đình thường đi xem bói để biết nguyên nhân nếu thầy bói thấy đứa trẻ mang “ngược hoa” thì gia đình sẽ phải làm lễ “đổi hoa” để cho trẻ được khỏe mạnh trở lại Người Dao thường quan niệm rằng con trai thường mang
7 hoa và con gái thường mang 9 hoa, khi con trai mang hoa của con gái hoặc ngược lại thì người đó luôn bị ốm đau, bệnh tật muốn khỏe lại thì phải làm lễ “đồi hoa” Gia đình phải mời thầy cúng về để cúng Lễ vật cúng bao gồm 1 con gà, 3 cành hoa bằng giấy màu xanh và màu đỏ nếu là con trai phải làm 3 cành mỗi cành có 9 bông hoa, nếu là con
Trang 10gái thì mỗi cành có 7 bông hoa Thầy cúng sẽ xin tổ tiên đổi lại hoa cho đứa trẻ đúng với
số hoa ban đầu để đứa trẻ được khỏe mạnh
1.1.4 Lễ đổi tên (oăn bủ)
Người Dao Họ từ khi sinh ra cho tới lúc chết có hai lần đặt tên, một tên sử
dụng ngày thường và một tên sử dụng khi chết Bởi vậy, khi được 10 – 11 tuổi họ sẽ làm
lễ đổi tên để tổ chức lễ cúng tổ tiên, đặt tên khác và báo với tổ tiên để mai sau sử dụng tên
đó, chứ không dùng tên cũ
Gia đình sẽ mời thầy cúng về rồi mổ lợn, mổ gà và họ cũng mời anh em tới để
dự lễ cúng đổi tên Nghi lễ được làm vào buổi tối, sau khi anh em và gia đình ăn cơm tối xong, thầy cúng sẽ cử hành các nghi thức của lễ đặt tên Người được đổi tên phải cần có một tên mới không trùng với bất kỳ ai trong dòng họ, kể cả bên nội và bên ngoại và không được trùng với tên các cụ đã mất cách đây 3 – 4 đời (tam đại, tứ đại) Họ sẽ đặt 4 tên và chọn lấy một tên để dùng, người đặt tên gồm 4 người là ông bà (nếu ông bà nội mất sẽ do ông bà ngoại đặt) và bố mẹ
Vào 3h-4h sáng ngày hôm sau thầy cúng làm lễ cúng chọn tên, thầy cúng sẽ mời tổ tiên về để thông báo và chứng kiến Nếu tên nào phù hợp thì sẽ sử dụng tên đó Bốn cái tên do ông bà, bố mẹ đặt sẽ được ghi vào bốn mẩu giấy nhỏ và vo tròn lại rồi đặt bốn mẩu giấy đó lên chốc một chiếc mẹt có cho khoảng 0,5kg gạo vào Thầy cúng sẩy gạo trong vài lần để cho một mẩu giấy rơi xuống đất, nếu như trong các lần sẩy tên nào rơi xuống đất 3 lần thì tên đó sẽ được sử dụng để thay thế tên cũ Tên được chọn sẽ mang đốt thành tro, tro được hòa tan với nước và cho người đổi tên uống Tới sáng gia đình mổ
gà, mổ lợn mời anh em, bà con lối xóm tới để mừng cho đứa trẻ đã có tên mới
1.2 Các phong tục liên quan tới lễ cưới của người Dao Họ
1.2.1 Lễ đi hỏi (nình ai áu)
Khi muốn lấy vợ, chàng trai đã tìm cho mình một người ưng ý (hoặc bố mẹ
tìm) thì gia đình nhà trai sẽ tổ chức lễ ăn hỏi Nhà trai phải nhờ một người gọi là ông mối trung tuổi người này có thể là anh em trong gia đình hoặc những người hay làm công việc mai mối để cùng đi với bố mẹ hoặc mẹ chàng trai sang nhà gái để hỏi vợ cho con trai mình
Lần đi hỏi vợ này chỉ có hai người, khi đi không phải mang theo nhiều lễ vật,
họ chỉ mang hai hào bạc trắng được đặt trong một chiếc đĩa nhỏ, khi tới nhà gái sẽ để nên
Trang 11bàn và nói chuyện về việc hỏi vợ cho chàng trai Thời gian đi thường vào buổi chiều, trên đường đi họ thường kiêng gặp rắn nằm ở giữa đường hay gặp con dúi, người trong làng
đi săn được bất kì con thú nào, trong làng có vật nuôi để hay có người đẻ Nếu gặp các trường hợp trên họ cho rằng không may mắn trong ngày hôm đó họ sẽ phải quay về và đợi ngày hôm khác đi hỏi vợ Nếu họ không găp các trường hợp trên thì người nhà trai sẽ tới nhà gái hỏi vợ rồi trình đĩa vật lên bàn thờ và trình bày việc hỏi vợ cho người con trai Gia đình nhà gái đồng ý gả người con gái cho người con trai thì nhà gái mổ gà mời cơm hai người của nhà trai ở lại ăn cơm cùng với gia đình Trường hợp không đồng
ý hoặc chưa đồng ý thì hai người của nhà trai sẽ ra về nhà trai luôn
Đối với gia đình nhà gái đồng ý gia đình nhà trai thì trong ngày hôm đó nhà gái cũng phải kiêng kỵ như nhà trai như trong làng nhà gái có ai sinh nở hay có người nào săn được thú rừng về thì kết quả đó sẽ bị hủy
Bước tiếp theo của nghi lễ là khi nhà gái đồng ý gả con gái cho gia đình nhà trai thì nhà trai sẽ tổ chức lễ ăn hỏi
1.2.2 Lễ ăn hỏi (nhin chay á)
Sau khi đi hỏi về, gia đình sẽ mời các cụ già trong làng, hoặc thầy mo, thầy
cúng xem ngày tốt để tổ chức lễ ăn hỏi Lần này nhà trai phải hẹn và thông báo ngày ăn hỏi trước với nhà gái để cho nhà gái chuẩn bị
Nhà trai ăn hỏi lần này cũng không phải mang theo lễ vật mà được nhà gái mổ
gà tiếp đón Trong khi ăn cơm sẽ diễn ra nghi thức ăn hỏi, hai gia đình bàn bạc, hỏi tên tuổi của chàng trai, cô gái và được thầy cúng do nhà gái mời về so tuổi cho 2 người trong
lễ ăn hỏi Khi bắt đầu ăn cơm, nhà trai sẽ lấy hai đồng xu đen có lỗ xỏ vào một sợi dây sau đó xiên một đôi đũa qua sợi dây đó thả hai đồng tiền xu vào bát cơm và để đôi đũa lên miệng bát sau đó nhà trai bắt đầu vào câu chuyện bàn bạc cho lễ cưới và lễ so tuổi Nhà trai cung cấp tên tuổi, ngày tháng năm sinh của chàng trai cho thầy cúng rồi so với tuổi của cô gái Nếu thầy cúng so thấy tuổi của hai người hợp nhau thì hai gia đình sẽ bàn tới chuyện lễ cưới Còn nếu hai tuổi không hợp nhau mà hai người vẫn muốn lấy nhau thì nhà gái phải mổ một con gà để thầy cúng xin tổ tiên, để bói về tương lai của hai người bằng cách bói chân gà Sau khi bói mà chân gà tốt theo quan niệm của người Dao Họ ở đây thì mai sau cuộc sống của hai người vẫn tốt không ốm đau bệnh tật Còn trường hợp chân gà mà xấu thì hai người đó sẽ không lấy được nhau
Trang 12Tiến hành nghi lễ so tuổi xong, hai nhà sẽ bàn bạc tới ngày cưới và lễ thách cưới Nhà gái sẽ được thách cưới và đồ lễ thách cưới thường là:
Ba đôi gà (phải có 2 đôi gà thiến)
12kg bánh rán
1 lít rượi
Trầu cau, thuốc lá
Hai gia đình bàn bạc về ngày tổ chức lễ cưới Tuy nhiên việc chọn ngày cưới
sẽ do gia đình nhà gái quyết định và mời thầy cúng trong làng xem ngày cưới, chọn được ngày đẹp sẽ thông báo cho nhà trai sau Nhà trai sẽ nghỉ lại nhà gái đêm hôm đó, sáng hôm sau sẽ trở về nhà mình và chuẩn bị cho lễ cưới và đợi nhà gái sẽ thông báo ngày tổ chức lễ cưới
Khi đã chọn được ngày cưới, nhà gái sẽ cử hai người mang thư thông báo ngày cưới đến cho nhà trai có thời gian chuẩn bị (người đưa thư gồm 2 người thường là bố mẹ
cô gái) Trên đường đi nhà gái cũng kiêng gặp những điều kiêng kỵ như ở lễ đi hỏi của nhà trai, nếu gặp trường hợp nào đó nhà gái sẽ quay về để hôm khác sẽ đi Tới nhà trai, thì cũng được nhà trai mổ gà tiếp đón, họ nghỉ tại nhà trai một đêm và sáng hôm sau mới trở về nhà để chuẩn bị cho lễ cưới
1.2.3 Lễ cưới (ai con)
Tổ chức lễ ăn hỏi xong hai nhà bước vào các công việc để chuẩn bị cho lễ
cưới, chuẩn bị rượu, gạo, thịt và chuẩn bị quần áo, trang phục cưới
1.2.4 Tổ chức lễ cưới ở nhà gái
Vào ngày cưới nhà trai chuẩn bị một đoàn đón dâu để đi đón dâu, lễ đón dâu sẽ
được khởi hành vào buổi chiều, trước khi gia chủ phải làm lễ cúng khấn với tổ tiên thông báo về việc tổ chức lễ cưới ngày hôm đó và đoàn đón dâu lên đường đi xin tổ tiên phù
hộ
Trang 13Đoàn đi đón dâu bao gồm 11 người, trong đó: một ông mối chính, một ông mối phụ, chú rể, 8 người phụ giúp cho người đón dâu mang lễ vật đi và tổ chức làm cỗ bên nhà gái Khi đi đón dâu ngoài đồ lễ thách cưới còn mang theo hai chiếc ô, phía đầu chóp của ô được buộc một sợi dây đỏ Chiếc ô của người Dao Họ mang theo có ý nghĩa
là biểu tượng cho sự xum họp Khi kết thúc lễ cưới ông mối cho một nắm gạo vào trong
ô khi đi lại mặt sẽ xòe ô ra, đôi vợ chồng trẻ sẽ đứng dưới ô để đón những hạt gạo rơi từ trên đầu xuống
Trên quãng đường đón dâu trong ngày cưới, đoàn đón dâu không còn phải kiêng những điều không may như những lần trước nữa Khi đi đón dâu sẽ xuát hiện các hình thức hát giao duyên – đối đáp với các bài hát những bài hát xin mở đường đi thì các
cô gái đó mới cho họ qua làng của mình Đoàn đưa dâu tới cửa nhà gái sẽ gặp hai cô gái cầm hai chiếc khăn màu xanh, đỏ nối vào nhau đứng chắn đường (hai chiếc khăn tượng trưng cho cầu vồng 7 sắc) muốn qua được cổng, đoàn đón dâu lại phải hát đối đáp xin qua cổng trong khoảng thời gian từ 30 phút tới 1 tiếng Hát xong ông mối phải đặt 6.000 đồng vào trong chiếc khăn đó để mở cầu vồng thì hai cô gái mới bỏ khăn để cho đoàn chuẩn bị vào nhà
Theo phong tục tổ chức lễ cưới người Dao Họ ở đây, khi vào nhà chú rể phải vào thẳng một chiếc buồng nhà gái làm sẵn riêng cho chú rể, chú rể sẽ ăn uống nghỉ ngơi
ở đó cho tới sáng hôm sau sẽ tiến hành các nghi thức xin dâu Còn mọi người trong đoàn
sẽ ăn uống và hát giao duyên, giao lưu với khách, anh em của nhà gái trong suốt đêm hôm đó Sáng hôm sau, tại nhà gái đã diễn ra các nghi thức xin dâu nhà gái tổ chức cúng khấn với tổ tiên Tam đại, Tứ đại Sau đó, làm cỗ mời anh em họ hang tới ăn uống chia vui cùng cô dâu, chú rể
Ăn cơm gần xong hai gia đình lại hát đối đáp với nhau, ông mối hát xin dâu và nhà gái đáp lại, trao dâu cho nhà trai Trước khi xin dâu về nhà trai, chú rể phải quỳ lạy tổ tiên Tam Tứ đại, quỳ lạy hát chào ông bà, bố mẹ các cô dì chú bác với những người hơn tuổi tới tham dự lễ cưới đưa cô dâu về nhà trai
1.2.5 Lễ cưới tổ chức ở nhà trai
Đoàn đón dâu cùng cô dâu trở về nhà trai – trên đường về cũng diễn ra như lúc
đi Khi đến nhà trai, tại cửa nhà trai đoàn phải dừng lại hát hoàn thành nhiệm vụ do hai ông mối hát với người trong nhà Vào buổi tối hôm đó chỉ ăn uống và hát dân ca, đến
Trang 14sáng hôm sau nhà trai tổ chức lễ cúng khấn thông báo với tổ tiên về cô dâu mới là thành viên của gia đình Sau khi cúng bái xong, nhà trai lại tổ chức ăn uống và giao lưu ca hát đến đêm khuya Kết thúc lễ cúng nhà trai trả công cho hai ông mối mỗi người một đùi lợn
1.2.6 Lễ lại mặt (hui lâu)
Lễ lại mặt của người Dao Họ có ý nghĩa giới thiệu cô dâu chú rể với gia đình
dòng họ và được tổ chức hai lần ở cả nhà trai và nhà gái
Lễ lại mặt được tổ chức ở nhà gái trước vào ngay sau hôm lễ cưới, khi đi gồm 4 người (cô dâu, chú rể, hai người nhưng không phải bố mẹ cô dâu) Khi trở về lại mặt không phải mang theo bất kì lễ vật gì nữa, bởi lễ tổ chức ở cả hai gia đình do vậy khi lại mặt tại gia đình nhà trai hay nhà gái thì gia đình đó sẽ làm cơm mời an hem trong dòng
họ để giới thiệu về vai vế và tên tuổi của từng người cho cô dâu và chú rể biết để xưng
hô
1.3 Các phong tục liên quan tới tang ma người Dao Họ
Người Dao Họ quan niệm, khi chết đi con người sẽ về với tổ tiên bởi vậy người Dao Họ chỉ chôn xác một lần và tiến hành các nghi thức tiễn đưa linh hồn về với tổ tiên của họ Khi gia đình có người qua đời, người đầu tiên họ nghĩ tới là cử người đi mời thầy cúng trong làng về để lo các nghi thức theo phong tục tập quán của dân tộc mình và báo cho anh em trong dòng họ và bà con trong thôn bản để cùng tổ chức tang lễ cho người đã mất Nhà có đám tang kiêng không cho mượn đồ dung hay vay mượn bất cứ thứ gì của hàng xóm để tổ chức tang lễ vì họ quan niệm rằng gia đình có tang đen không nên mượn
đồ của của nhà khác vì sẽ mang sự đen đủi cho tới gia đình hàng xóm Trường hợp những người hàng xóm thân thiết, nếu có mượn đồ khi đi mượn nhà có tang phải mang theo một con dao cũ hay một lưỡi rìu cài vào vách nhà định mượn để chặn sự đen đủi của mình không lây sang nhà hàng xóm
Thời gian niệm xác tùy thuộc vào thời gian đóng áo quan, ở đây không quy định cụ thể về thời gian Con dâu, con rể và con cái trong gia đình cùng với các anh chị em dưới tuổi của người chết mới phải đội tang còn bố mẹ, các cháu và anh chị hơn tuổi không phải đội tang người đã mất Xác được để làm ma trong ngày hôm đó và một đêm, lễ cúng cho người mất gồm một mâm cúng đặt thường xuyên trên nóc áo quan gồm một bát cơm
và một đôi đũa cắm vào bát cơm (bát cơm này thường được cúng ngay sau khi người đó
Trang 15qua đời), một bỏt gạo và một ống cắm hương Vào 12h đờm hụm đú, thầy cỳng sẽ làm lễ cỳng cắt khẩu cho người mất Thầy cỳng Tam thanh, Tam nguyờn cắt khẩu trờn trần vào thời điểm này sẽ đỏnh chiờng và chũm chọe (khụng đỏnh trống trong đỏm ma)
Từ sau lễ cỳng cắt khẩu những phải đeo tang sẽ kiờng ăn, kiờng uống cho tới khi chụn xỏc xong mới được ăn uống Điều này thể hiện sự thương xút sự hiếu thảo của người dưới đối với người ở trờn, của con cỏi đối với bố mẹ
Tiếp theo là lễ cỳng thắp đốn cho người mất, cỳng vào thời điểm này thầy cỳng lấy bỏt cho mỡ và một chiếc bấc vào thắp đốn và cỳng gửi cho người mất Người Dao Họ quan niệm rằng khi người chết về thế giới bờn kia thỡ cũng cần cú đồ dựng như lỳc cũn sống, cũng cần cú ỏnh sỏng, do vậy họ phải cỳng đốn cho người mất Sỏng hụm sau, vào khoảng 6h sỏng họ mang xỏc đi chụn, chụn xong gia đỡnh sẽ đặt một đồng bạc trắng ngày nay là 50.000đ để thầy cỳng, cỳng lập gia đỡnh cho người đó mất Trong lời cỳng của thầy cỳng sắm sửa đồ dựng sinh hoạt từ nhà cửa, quần ỏo cho người mất sang thế giới bờn kia sinh sống
Trở về nhà, gia đỡnh mổ một con gà để làm lễ vật cho thầy cỳng cắt khẩu với tổ tiờn trong dũng họ với Tam Tứ Đại Sau khi ăn cơm xong thầy cỳng cắt giấy đỏ thành những miếng hỡnh chữ nhật cú khổ khoảng 9 x 15cm dỏn vào tất cả những đồ dựng của gia đỡnh, họ cho rằng làm như vậy để phõn biệt của cải của người sống với người chết Những đồ dựng đú khụng cũn là của người chết nữa cho nờn khụng được mang theo Người Dao Họ khụng làm lễ sửa mả 3 ngày Trong vòng 3 ngày kể từ ngày mất, con cháu anh em trong nhà ng-ời chết kiêng không đ-ợc tới bất kỳ nhà nào trong làng vì sẽ mang sự
đen đủi tới gia đình nhà đó
Trong năm đó, nếu gia đình chưa tổ chức “làm chay” cho người chết được thì ngày tết thanh minh 3/3 âm lịch, rằm tháng giêng, rằm tháng giêng, rằm tháng bảy - gia đình phải sắm lễ gồm một con gà, một lít r-ợu và ba quả bánh cúng (loại bánh cúng tuỳ thuộc vào từng ngày lễ tết hôm đó) cúng cho ng-ời chết, để ng-ời chết có đồ ăn nếu ch-a làm chay đ-ợc thì cũng phải cúng ba lần là
từ đó không phải cúng bất kỳ một lần nào nữa kể cả tết thanh minh năm sau cũng không cần phải cúng Trong vòng khoảng 3 năm, khi gia đình có điều kiện sẽ tổ chức làm chay cho ng-ời chết – lễ chay nh- một nghi thức tắm gội cho linh hồn ng-ời chết để linh hồn đ-ợc về hẳn với tổ tiên, với Tam
Đại, Tứ Đại từ đó gia đình chỉ thờ chung với Tam Đại, Tứ Đại mà không phải cúng riêng nữa
1.4 Tục làm nhà
Trang 16Trong các phong tục liên quan tới dựng nhà, thì việc đầu tiên và quan trọng nhất mà bất kỳ gia
đình nào trong ng-ời Dao họ ở đâu làm nhà mới đ-ợc thực hiện, đó là việc xem ngày dựng nhà sau khi đã tập hợp đủ nguyên vật liệu
Gia chủ sẽ mời thầy cúng xem hộ – tr-ớc hết phải xem bói cho ng-ời chủ ngôi nhà sẽ dựng
đó xem năm đó có phải là năm hạn hay không nếu không phải năm hạn các thầy bói sẽ xem ngày dựng nhà vào ngày nào hợp với tuổi của chủ nhà
Việc xem ngày giờ dựng nhà đã có những nguyên tắc nhất định đ-ợc ghi trong sách cổ ng-ời Dao họ bằng chữ Nôm Dao
Ng-ời Dao họ kiêng dựng nhà vào các tháng 3, tháng 7, tháng 9 âm lịch, trong ba tháng này ng-ời Dao họ ở đây không ai đ-ợc dựng nhà cả
Sau khi đã nhờ thầy cúng xem ngày dựng nhà, thì gia chủ lại nhờ thầy cúng xem h-ớng nhà, ng-ời Dao họ vẫn giữ phong tục chọn h-ớng đất tuy nhiên việc chọn h-ớng lại phải kết hợp với thế
đất để có h-ớng nhà phù hợp Nếu h-ớng tốt nh-ng thế đất lại không phù hợp với h-ớng đó, dựng nhà lên đi lại, ăn ở không tiện ng-ời dân cũng không nhất thiết phải theo h-ớng đó
Nhà ng-ời Dao họ ở đây th-ờng là nhà ba gian, mái lợp bằng gianh, vách nhà đ-ợc làm bằng thân nứa (nứa đập dập đan thành phên để làm vách nhà) một số gia đình ngày nay đã thay mái gianh bằng mái ngói và đã thay vách nứa bằng gỗ (lịa ván)
Tr-ớc khi dựng nhà, gia đình phải tập kết đ-ợc nguyên vật liệu từ tr-ớc Mời thợ làm nhà về làm tr-ớc các vì nhà, tới ngày dựng sẽ mời anh em họ hàng và hàng xóm tới giúp gia đình cùng dựng nhà
Nóc nhà sẽ do ng-ời chủ gia đình, (ng-ời đ-ợc xem tuổi đặt) Trong ngày dựng nhà, gia chủ
sẽ mời thầy cúng đến để làm lễ cúng thổ công, cúng báo với tổ tiên về việc dựng nhà mới của gia
đình, để tổ tiên và thổ công chứng giám và phù hộ cho công việc của gia đình
Mâm cúng bao gồm một con gà, ba chén r-ợu hoặc là một con lợn
Ngày dựng nhà, ng-ời Dao họ chỉ dựng khung nhà và lợp mái, sau đó gia đình sẽ mổ lợn, mổ
gà làm cỗ thiết đãi mọi ng-ời tới giúp và những ng-ời tới mừng cho gia chủ có một ngôi nhà mới Các phần nền nhà và t-ờng, vách ch-a làm ngày trong ngày hôm đó hôm đó mọi ng-ời cùng ăn uống, ca hát mừng cho gia chủ Ng-ời Dao họ ở đây không có tục lên nhà mới do vậy trong ngày dựng nhà cũng đ-ợc xem nh- là ngày lên nhà mới Hôm đó trong bữa r-ợu mọi ng-ời các nam nữ hát đối đáp, giao duyên hát các bài hát mừng nhà mới, các bài hát chúc mừng gia đình hạnh phúc
và làm ăn phát đạt
Trang 17Vào những ngày hôm đó, gia đình và những ng-ời thợ làm nhà sẽ dần dần hoàn thành nốt những phần còn lại (nh- trên, vách) Thông th-ờng ở đây sau khi dựng nhà, ng-ời Dao họ chuyển dần lên ở trên nhà mới và họ vừa ở vừa hoàn thiện nốt những phần còn lại thiếu của ngôi nhà
Ngoài các thần thánh trên ng-ời Dao họ còn thờ 2 ông thánh Tam Thanh và Tam nguyên,
đây là hai ông thánh tổ của ng-ời Dao họ, hai ông này ngày x-a khi còn nhỏ không có mẹ, phải bú nhờ con chó (theo quan niệm của ng-ời dân), bởi thế để nhớ ơn con chó đã cứu tổ tiên mình mà ng-ời Dao họ ngày nay kiêng không bao giờ ăn thịt chó
1.5.2 Thờ cúng tổ tiên
Gia đình ng-ời Dao họ nào cũng có bàn thờ tổ tiên, thờ cúng tổ tiên mình là tín ng-ỡng thờ cúng chính ở đây khi chết sau khi đ-ợc gia đình tổ chức làm chay, thầy cúng sẽ cúng tiễn đ-a linh hồn về với tổ tiên, về với Tam Đại, Tứ đại và đ-ợc thờ cúng nơi bàn thờ tổ tiên, bởi vậy ng-ời dân không làm lễ giỗ cho từng ng-ời chết nữa
Bàn thờ của ng-ời Dao họ làm giống nhau, gồm một bàn thờ đ-ợc đóng bằng gỗ (giống nh- chiếc tủ chạn bát) gồm hai tầng Tầng trên dùng để thờ cúng tổ tiên, tầng d-ới
để các đồ vật đi làm lễ cúng của mình nh- các nhạc cụ chuông, chiêng và thanh la hay các bức tranh thờ, kiếm thờ
Hàng tháng vào ngày lễ tết, hội hè, rằm đ-ợc chủ nhà cúng khấn với tổ tiên tại đây bàn thờ của ng-ời Dao họ bao giờ cũng đ-ợc để tại gian giữa của ngôi nhà chính
1.5.3 Hệ thống các loại ma
Ma đói: Ng-ời dân trong làng th-ờng phải cúng ma đói, theo quan niệm của họ ma đói hay làm hại ng-ời dân, khi không đ-ợc cúng ma đói sẽ về làm cho ng-ời ốm đau, bệnh tật nếu trong gia đình có ng-ời ốm đau, bệnh tật, chữa không thấy khỏi gia đình sẽ mời thầy cúng về bói Nếu thầy cúng bói ra ma đói thì gia đình sẽ phải làm lễ cúng ma đói để cho bệnh nhân đ-ợc khoẻ mạnh
Trang 18Lễ cúng ma đói là các vật dụng quần áo bằng giấy, đồ ăn nh- cúng cơm, cúng gà để cho
ma không còn đói và không làm hại ng-ời ốm đau
Ma cờ trắng: theo ng-ời dân ở đây cho biết tên ngọn đồi cao ở Khe Thìn còn vết tích nơi đóng quân của giặc cờ trắng tr-ớc đây ngày x-a có nhiều giặc cờ trắng chết ở đó cũng nh- ma đói, ma
cờ trắng cũng là một dạng ma đói nh-ng không những xin ăn mà xin cả súng, đạn, ngựa Khi trong làng có ng-ời ốm đau, thầy cúng bói ra thấy ma trắng về làm hại thì gia đình đó phải làm lễ cúng ma
cờ trắng Lễ vật cúng gồm gà, vịt, lấy giấy xanh đỏ gấp thành hình các khẩu súng, quần áo và ngựa, g-ơm, dao cúng sau đó đốt cho ma cờ trắng nhận để không về hại dân nữa Về các loại ma, ng-ời Dao họ ở đây chỉ quan niệm có hai loại ma trên khi ma đói về làm hại dân (nếu thầy bói bói thấy) thì ng-ời dân mới tổ chức lễ cúng cho những loại ma đó, còn trong ngày th-ờng họ không cúng ma
đói
1.6 Về cỏc loại tụn giỏo – đạo giỏo
Ở đây không xuất hiện các loại đạo giáo hay tôn giáo nào khác tuy ở gần đền Bảo Hà với Lăng Cô (cách Lăng Cô khoảng 0,5 km) nh-ng ng-ời dân ở đây không tin theo hay thờ cúng các loại tôn giáo hay đạo giáo khác họ chỉ có tín ng-ỡng thờ cúng tổ tiên mình là chính
Ng-ời Dao họ không sử dụng t-ợng thờ, trong bàn thờ tổ tiên của mỗi gia đình đều có các hình quần áo đ-ợc cắt bằng giấy dán trên bàn thờ Ng-ời dân cho biết áo này đ-ợc làm trong lễ làm chay, một phần đốt cho các cụ và một phần dán lên bàn thờ tổ tiên, quần áo có khổ 5 x 7 cm
1.6.2 Múa nghi lễ (múa thiêng)
Về múa nghi lễ, trong các nghi lễ lập tỉnh và lễ chay, ng-ời Dao họ có hình thức múa thiêng, múa trong nghi khi cúng Ng-ời múa là những thầy cúng phụ giúp cho thầy cúng còn các thầy phụ múa theo nhịp gõ của thanh la và trống
Đạo cụ của điệu múa thiêng trong lễ lập tỉnh và chay lễ là một thanh kiếm gỗ dài 50 cm, và dây dải tua rua nhiều màu sắc mỗi tay thầy cúng phụ sẽ cầm một đạo cụ
Trang 19Ở những điệu múa thiêng này khi múa ít nhất là hai ng-ời, đông hơn là 4 hay 6 ng-ời, không múa lẻ vì khi múa từng đôi một sẽ đứng đối diện để múa với nhau Tất cả những ng-ời tham gia múa đều phải mặc áo của thầy cúng
1.6.3 Nhạc lễ
Nhạc cụ phục vụ cho các nghi lễ cúng, khấn của ng-ời Dao họ (các lễ lập tỉnh, chay, tang ma ) chỉ sử dụng những nhạc cụ thuộc bộ gõ, không có những nhạc cụ thuộc bộ hơi hay bộ dây (bộ theo cách phân chia nhạc cụ trong âm nhạc)
Những nhạc cụ phục vụ trong nghi lễ của ng-ời Dao họ ở đây gồm có:
Trống, chiêng, chuông, thanh la, chũm choẹ, lão bạt
1.6.4 Ngôn từ
Ph-ơng tiện để giao tiếp giữa con ng-ời với thần thánh đó là các bài cúng, bài khấn của thầy
mo, thầy cúng Các bài cúng khấn này đều đ-ợc ghi và l-u giữ trong các cuốn sách cổ của ng-ời Dao họ đ-ợc ghi bằng chữ Nôm dao
đình trong làng có công việc gì là cả làng sẵn sàng bỏ việc gia đình nhà mình để giúp đỡ nhau Trong gia đình dòng họ của ng-ời Dao họ ở đây ít khi xảy ra xích mích, mất lòng nhau Mọi ng-ời đều tôn trọng các cụ già trong nhà, kính trọng lễ phép với ng-ời cao tuổi
Về mối quan hệ giữa anh em trong gia đình, dòng họ cũng giống nh- ng-ời Dao họ ở nơi khác, trong cách x-ng hô đối với anh em con chú con bác ở đâu thì ai sinh ra tr-ớc ng-ời đó đ-ợc gọi là anh, không có sự lẫn lộn về thứ bậc, dù là anh rất xa nh-ng khi đã nhận đ-ợc nhau là anh
em thì họ coi nhau nh- anh em ruột thịt cùng cha cùng mẹ vậy
Mọi ng-ời ở đây đều chăm chỉ làm ăn, cần cù trong lao động Ngày th-ờng khi ng-ời lạ vào làng ng-ời Dao họ chỉ thấy các cụ già và trẻ con ở làng làm những công việc nhỏ, còn hầu hết tất cả mọi ng-ời đều đi làm từ sáng sớm cho tới khuya mới về
Ngày nay ng-ời Dao họ ở đây vẫn còn giữ đ-ợc những nét văn hóa truyền thống tốt đẹp đó, cho dù cuộc sống xã hội phát triển ngày nay càng phức tạp
Trang 20Văn hoá truyền thống của các dân tộc thiểu số tồn tại và phổ biến chủ yếu ở văn hoá dân gian với các loại hình tiêu biểu nh-: Ngôn ngữ, văn học, dân vũ, kiến trúc, lễ hội, phong tục, tập quán Văn hoá truyền thống còn thể hiện ở sinh hoạt văn hoá nh- lễ hội, c-ới, tang lễ, sự hợp tác trong lao động, vui chơi đã hình thành nên thuần phong mỹ tục và trở thành nếp sống đặc tr-ng cho mỗi dân tộc Trong sự đa dạng ấy, văn hoá của các dân tộc có nhiều nội dung mang ý nghĩa nhân văn, lành mạnh Nh-ng ở đây từng vùng, từng giai đoạn không tránh khỏi những hạn chế và tiêu cực làm cản trở sự phát triển của từng tộc ng-ời trong từng vùng
Vì thế mà hiện nay cho đến sau này văn hoá của các dân tộc thiểu số đ-ợc bảo tồn và phát huy trong cuộc sống của nhân dân các dân tộc theo sự h-ớng dẫn và quản lý của pháp luật Nhà n-ớc
Trong những năm qua, Đảng và Nhà n-ớc ta đã liên tục để ra các chủ tr-ơng, đ-ờng lối, chính sách về vấn đề dân tộc Có nhiều văn bản, quyết định nhằm phát triển kinh tế – xã hội ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt chú ý đến việc bảo tồn và phát triển văn hoá dân tộc, đó là: