CHƯƠNG I: PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết đề tài. Khởi sự doanh nghiệp (KSDN) luôn có mối quan hệ rất chặt chẽ với phát triển kinh tế của một quốc gia. Bởi vì doanh nghiệp là một trong những thành phần kinh tế chủ lực đóng góp to lớn vào tăng trưởng kinh tế, giảm đói nghèo và tạo ra công ăn việc làm. Một nền kinh tế phát triển được là nhờ sự phát triển về cả số lượng và chất lượng của các doanh nghiệp. Chính vì lẽ đó, chính phủ các nước phát triển cũng như đang phát triển đều dành nhiều chính sách hỗ trợ và nỗ lực để thúc đẩy việc khởi sự doanh nghiệp, đặc biệt trong giới sinh viên khuyến khích họ không đi làm thuê mà hãy tự tạo việc làm, gia tăng số lượng doanh nghiệp cho phát triển kinh tế. Lý do có sự quan tâm đặc biệt đến thúc đẩy tinh thần doanh nhân trong giới sinh viên bởi vì lực lượng sinh viên là nguồn lực quan trọng cho khởi nghiệp . Với nền một kinh tế chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, quy mô và nội lực còn yếu như ở Việt Nam thì việc thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp là hướng đi không thể thiếu. Tuy nhiên, ở Việt Nam, tỷ lệ khởi nghiệp kinh doanh (KNKD) ở sinh viên còn thấp, phần lớn sinh viên khi tốt nghiệp cao đẳng, đại học đều có xu hướng nộp đơn tuyển dụng vào các doanh nghiệp đang hoạt động, chỉ có một số rất ít muốn khởi nghiệp bằng việc tự kinh doanh. Theo báo cáo chỉ số khởi nghiệp Việt Nam 2014, tỷ lệ người có ý định khởi nghiệp ở Việt Nam năm 2014 ở mức thấp, chỉ 18,2%, giảm so với mức 24,1% của năm 2013 và kém xa so với mức trung bình của các nước cùng trình độ phát triển như Việt Nam. Thêm vào đó, theo thống kê của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Việt Nam, tính đến tháng 7 năm 2014 , số lượng người có trình độ đại học trở lên thất nghiệp trên cả nước đã tăng lên khoảng 162.400 người, trong đó tỉ lệ lao động từ 20 24 tuổi có trình độ đại học thất nghiệp trên cả nước lên tới 20%. Số liệu thống kê trên cho thấy rằng thực trạng sinh viên khi ra trường không tìm được việc hoặc tìm những công việc trái với chuyên ngành đang diễn ra ngày càng nhiều, gây ra những lo toan cho phần lớn giới trẻ ngày nay. Do vậy việc tìm ra những yếu tố có thể thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trở nên cấp bách và thiết thực hơn bao giờ hết. Đại học Thương Mại là một trường đại học với các chuyên ngành đào tạo thuộc lĩnh vực kinh tế, hàng năm tỉ lệ sinh viên ra trường rất đông nhưng không phải ai cũng tìm được một công việc phù hợp với yêu cầu và trình độ của mỗi người. Tuy nhiên có thể thấy, số lượng sinh viên quyết định khởi nghiệp chiếm tỉ lệ ít so với lượng sinh viên đi làm cho các công ty. Vậy điều gì đã ảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp của sinh viên Đại học Thương mại, ngăn cản sinh viên khởi nghiệp? Nhằm cung cấp thêm thông tin về vấn đề này, nhóm chúng tôi lựa chọn đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên tại Đại học Thương Mại” 2. Các vấn đề nghiên cứu 2.1 Mục đích nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu của đề tài là thông qua việc tìm hiểu, xây dựng và phân tích dữ liệu, chúng ta sẽ có một cái nhìn cụ thể, đầy đủ và khách quan nhất về những yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Đại học Thương Mại. Từ đó đưa ra những khuyến nghị và giải pháp để tránh được những hạn chế của đề tài. 2.2 Mục tiêu nghiên cứu Xuất phát từ các lý do trên, nghiên cứu tập trung vào các mục tiêu sau: Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên hiện nay. Đo lường mức độ tác động của các yếu tố đến ý định khởi nghiệp. Đề xuất một số hàm ý quản trị rút ra từ kết quả nghiên cứu nhằm tạo động lực khơi dậy tinh thần khởi nghiệp của sinh viên. 2.3 Câu hỏi nghiên cứu Đề tài tập trung trả lời các vấn đề sau đây để đạt được mục tiêu đề ra: Các yếu tố nào ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên? Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học ra sao? Các hàm ý quản trị nào giúp sinh viên có động lực để khởi nghiệp sau khi tốt nghiệp ra trường? 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên. Khách thể nghiên cứu: sinh viên Phạm vi nghiên cứu: trường Đại học Thương Mại Phạm vi nội dung: Có rất nhiều khái niệm và cách tiếp cận khác nhau về khởi sự doanh nghiệp (KSDN), trong nghiên cứu này tập trung vào việc xác định yếu tố nào ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ở Trường Đại học Thương Mại. Phạm vi không gian: Nghiên cứu tập trung chủ yếu ở sinh viên hệ đại trà của các ngành tại Trường Đại học Thương Mại vì với các ngành nghề khác nhau thì ý định khởi nghiệp của sinh viên cũng khác nhau. Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng đến tháng 042021 tại Trường Đại học Thương Mại, gồm các hoạt động như thu thập tài liệu tham khảo, thiết kế bảng câu hỏi điều tra, phỏng vấn sơ bộ đối tượng khảo sát, thu thập số liệu và thông tin từ sách, báo, internet, phỏng vấn chính thức đối tượng khảo sát, nhập và xử lý số liệu, phân tích dữ liệu, đánh giá lại nghiên cứu và đề xuất hàm ý quản trị.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KHÁCH SẠN – DU LỊCH
BÀI THẢO LUẬN
ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI
NGHIỆP CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI.
Học phần: Phương pháp nghiên cứu khoa học
Trang 2TÓM TẮT
Hoạt động khởi nghiệp kinh doanh với việc thành lập doanh nghiệp hoặc dự án kinh doanhmới đóng vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Nghiên cứu nàynhằm cung cấp bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của các yếu tố (thái độ cá nhân, nhậnthức kiểm soát hành vi, môi trường khởi nghiệp , chuẩn chủ quan, kiến thức khởi nghiệp) cóảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của giới trẻ (sinh viên) dựa trên dữ liệu khảo sát quy mômẫu 150 sinh viên Áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, kết quả phân tích chothấy, 03 yếu tố (Thái độ cá nhân; Chuẩn chủ quan; Môi trường khởi nghiệp) ảnh hưởng đến
ý định khởi nghiệp của sinh viên các trường đại học Thương Mại, trong đó, yếu tố thái độ cánhân có mức độ ảnh hưởng mạnh nhất
Trang 3
MỤC LỤC TÓM TẮT iii
CHƯƠNG I: PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết đề tài 1
2 Các vấn đề nghiên cứu 2
2.1 Mục đích nghiên cứu: 2
2.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2
2.1 Công trình nghiên cứu trong nước 2
2.2 Công trình nghiên cứu nước ngoài 3
CHƯƠNG III: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
3.2 Giả thuyết nghiên cứu 4
3.4.1 Nghiên cứu định tính 6
4.2 PHÂN TÍCH CRONBACH ALPHA 12
4.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA 15
Phụ lục 1: câu hỏi phỏng vấn 21
Phụ lục 2: Câu hỏi khảo sát 23
Trang 4
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH
Hình 1: Mô hình đề xuất nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh
viện ĐH Thương Mại 6
Y Bảng 4 1: Thống kê tần số 7
Bảng 4 2: Ý định khởi nghiệp 7
Bảng 4 3: Lĩnh vực khởi nghiệp 8
Bảng 4 4 Giới tính 9
Bảng 4 5: Năm đang học 10
Bảng 4 6: khoa đang theo học 11
Bảng 4 7: Thống kê mô tả về nhân tố “thái độ cá nhân” 12
Bảng 4 8: Thống kê mô tả của nhân tố “Nhận thức kiểm soát hành vi” 12
Bảng 4 9: Thống kê mô tả của nhân tố “Chuẩn chủ quan” 12
Bảng 4 10: Thống kê mô tả về nhân tố “Môi trường khởi nghiệp” 13
Bảng 4 11: Thống kê mô tả về nhân tố “Kiến thức khởi nghiệp” 13
Bảng 4 12: Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo “Thái độ cá nhân” 13
Bảng 4 13: Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo “Nhận thức kiểm soát hành vi” 14
Bảng 4 14: Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo “Chuẩn chủ quan” 14
Bảng 4 15: Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo “Môi trường khởi nghiệp” 14
Bảng 4 16: Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo “Kiến thức khởi nghiệp” 15
Bảng 4 17: Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo “ Ý định khởi nghiệp” 15
Bảng 4 18: Kết quả kiểm định KMO và Bartlett's Test 16
Bảng 4 19: Tổng phương sai được giải thích 17
Bảng 4 20: Bảng ma trận xoay các biến đọc lập 17
Bảng 4 21: Kết quả kiểm định KMO và Barlett’s của biến phụ thuộc 17
Bảng 4 22: Tổng phương sai được giải thích của biến phụ thuộc 18
Bảng 4 23: Ma trận xoay của biến phụ thuộc 18
Bảng 4 24: Kết quả phân tích tương quan 18
Bảng 4 25: Mức độ giải thích của mô hình 19
Bảng 4 26: Mức độ phù hợp của mô hình: Phân tích phương sai ANOVA 19
Bảng 4 27: Thống kê phân tích các hệ số hồi quy 19
Biểu đồ 4 1: Mô tả mẫu theo ý định khởi nghiệp 8
Biểu đồ 4 2: Mô tả theo lĩnh vực khởi nghiệp 9
Biểu đồ 4 3: Biểu đồ minh họa cho thống kê tần suất về giới tính 10
Biểu đồ 4 4: Biểu đồ minh họa cho thống kê tần số vầ năm học 11
Biểu đồ 4 5: Mô tả mẫu theo khoa đang theo học 12
Trang 5KSKD Khởi sự kinh doanh
KTKN Kiến thức khởi nghiệp
MTKN Môi trường khởi nghiệp
NTKSHV Nhận thức kiểm soát hành vi
TDCN Thái độ cá nhân
Trang 6ĐỀ TÀI: NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP CỦA SINH
VIÊN ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI.
Với nền một kinh tế chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, quy mô và nội lực còn yếunhư ở Việt Nam thì việc thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp là hướng đi không thể thiếu Tuynhiên, ở Việt Nam, tỷ lệ khởi nghiệp kinh doanh (KNKD) ở sinh viên còn thấp, phần lớnsinh viên khi tốt nghiệp cao đẳng, đại học đều có xu hướng nộp đơn tuyển dụng vào cácdoanh nghiệp đang hoạt động, chỉ có một số rất ít muốn khởi nghiệp bằng việc tự kinhdoanh Theo báo cáo chỉ số khởi nghiệp Việt Nam 2014, tỷ lệ người có ý định khởi nghiệp
ở Việt Nam năm 2014 ở mức thấp, chỉ 18,2%, giảm so với mức 24,1% của năm 2013 vàkém xa so với mức trung bình của các nước cùng trình độ phát triển như Việt Nam Thêmvào đó, theo thống kê của Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội Việt Nam, tính đến tháng 7năm 2014 , số lượng người có trình độ đại học trở lên thất nghiệp trên cả nước đã tăng lênkhoảng 162.400 người, trong đó tỉ lệ lao động từ 20 - 24 tuổi có trình độ đại học thất nghiệptrên cả nước lên tới 20% Số liệu thống kê trên cho thấy rằng thực trạng sinh viên khi ratrường không tìm được việc hoặc tìm những công việc trái với chuyên ngành đang diễn rangày càng nhiều, gây ra những lo toan cho phần lớn giới trẻ ngày nay Do vậy việc tìm ranhững yếu tố có thể thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trở nên cấp bách và thiếtthực hơn bao giờ hết Đại học Thương Mại là một trường đại học với các chuyên ngành đàotạo thuộc lĩnh vực kinh tế, hàng năm tỉ lệ sinh viên ra trường rất đông nhưng không phải aicũng tìm được một công việc phù hợp với yêu cầu và trình độ của mỗi người Tuy nhiên cóthể thấy, số lượng sinh viên quyết định khởi nghiệp chiếm tỉ lệ ít so với lượng sinh viên đilàm cho các công ty Vậy điều gì đã ảnh hưởng đến quyết định khởi nghiệp của sinh viênĐại học Thương mại, ngăn cản sinh viên khởi nghiệp? Nhằm cung cấp thêm thông tin vềvấn đề này, nhóm chúng tôi lựa chọn đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý địnhkhởi nghiệp của sinh viên tại Đại học Thương Mại”
Trang 72.2 Mục tiêu nghiên cứu
Xuất phát từ các lý do trên, nghiên cứu tập trung vào các mục tiêu sau:
Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên hiện nay
Đo lường mức độ tác động của các yếu tố đến ý định khởi nghiệp
Đề xuất một số hàm ý quản trị rút ra từ kết quả nghiên cứu nhằm tạo động lực khơi dậy tinhthần khởi nghiệp của sinh viên
2.3 Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài tập trung trả lời các vấn đề sau đây để đạt được mục tiêu đề ra:
Các yếu tố nào ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên?
Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học ra sao?
Các hàm ý quản trị nào giúp sinh viên có động lực để khởi nghiệp sau khi tốt nghiệp ratrường?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên
Khách thể nghiên cứu: sinh viên
Phạm vi nghiên cứu: trường Đại học Thương Mại
Phạm vi nội dung:
Có rất nhiều khái niệm và cách tiếp cận khác nhau về khởi sự doanh nghiệp (KSDN), trong
nghiên cứu này tập trung vào việc xác định yếu tố nào ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệpcủa sinh viên ở Trường Đại học Thương Mại
Phạm vi không gian:
Nghiên cứu tập trung chủ yếu ở sinh viên hệ đại trà của các ngành tại Trường Đại họcThương Mại vì với các ngành nghề khác nhau thì ý định khởi nghiệp của sinh viên cũngkhác nhau
Phạm vi thời gian:
Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng đến tháng 04/2021 tạiTrường Đại học Thương Mại, gồm các hoạt động như thu thập tài liệu tham khảo, thiết kếbảng câu hỏi điều tra, phỏng vấn sơ bộ đối tượng khảo sát, thu thập số liệu và thông tin từsách, báo, internet, phỏng vấn chính thức đối tượng khảo sát, nhập và xử lý số liệu, phântích dữ liệu, đánh giá lại nghiên cứu và đề xuất hàm ý quản trị
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Trang 8Nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Xuân Hiệp, Trần Hà Thanh, Nguyễn Thị YếnNhi (2018) cho thấy có 5 ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viênkhối ngành kinh tế các trường đại học tại thành phố Hồ Chí Minh : Giáo dục kinhdoanh, Chuẩn chủ quan, Môi trường khởi nghiệp, Đặc điểm tính cách, Nhận thức tínhkhả thi
Theo nghiên cứu của nhóm tác giả Bùi Thị Thu Loan, Nguyễn Thị Ngân, Nguyễn Thị Linh (2018) cũng đã kết luận 3 yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn thành phố Hà Nội, gồm có: Thái độ, Nhận thức kiểm soát hành vi, Chuẩn chủ quan
Nhóm tác giả Nguyễn Phương Mai, Lưu Thị Minh Ngọc, Trần Hoàng Dũng (2018) đã xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của nữ sinh viên ngành quản trị kinh doanh trên địa bàn Hà Nội, gồm có 5 yếu tố sau: Thái độ cá nhân, Tính cách cá nhân, Sự hỗ trợ từ chương trình đào tạo, Ảnh hưởng từ gia đình bạn bè và Chính sách hậu mãi
Ngoài ra, nghiên cứu của nhóm tác giả Dư Thị Hà và cộng sự có xem xét một số yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên khoa quốc tế đại học Thái Nguyên” (2018), kết quả khảo sát chỉ ra rằng các yếu tố Kiến thức khởi nghiệp, Kỹ năng khởi nghiệp, Hỗ trợ tài chính, Điều kiện kinh tế xã hội là những yếu tố quyết định ý định KSDN Còn theo nghiên cứu của Nguyễn Hải Quang và Cao Nguyễn Trung Cường khảo sát sinh viên Khoa Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Kinh tế - Luật” (2017), các tác giả cũng tìm thấy có 4 nhân tố ảnh hưởng đến ý định KSDN của sinh viên bao gồm: Nhận thức kiểm soát hành vi, Ý định khởi sự doanh nghiệp, Quy chuẩn chủ quan và Các yếu tố thái độ
Theo (Zain, Zahariah Mohd, Amalina Mohd Akram, and Erlane K Ghani,2010), kết quảnghiên cứu về ý định trong kinh doanh của sinh viên Malaysia cho thấy các yếu tố ảnhhưởng đến ý định kinh doanh là do tác động bởi các thành viên trong gia đình, tham gia cáckhóa học về kinh doanh, đặc điểm tính cách của cá nhân Theo (Wang, Weijun, Wei Lu, andJohn Kent Millington, 2011) đã chỉ ra rằng, sự ham muốn kinh doanh, sự sẵn sàng kinhdoanh và kinh nghiệm làm việc có tác động trực tiếp đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ởTrung Quốc và Mỹ Song song đó, nền tảng kinh doanh của gia đình, đạo đức kinh doanhcũng có ảnh hưởng gián tiếp đến ý định khởi nghiệp của đối tượng Song song đó, nền tảngkinh doanh của gia đình, đạo đức kinh doanh cũng có ảnh hưởng gián tiếp đến ý địnhKSDN của đối tượng này
Nghiên cứu của (Francisco Liñán, Juan Carlos Rodríguez-Cohard, José M Reda-Cantuche,2011) cũng đã kết luận, 5 nhân tố ảnh hưởng chính đến ý định KSDN của sinh viên là sựsẵn sàng kinh doanh (sự nhìn nhận tích cực); thái độ cá nhân; hoạch định, liên minh và hìnhthành nhân viên (Planification, alliances and formation for employees); sự tăng trưởng -chìa khóa cho sự thành công (Growth as a key feature for success); sự ưu tiên cho các công
Trang 9việc có ích (Preference for remunerative jobs) là những nhân tố tác động đến ý định khởinghiệp của sinh viên đại học ở Tây Ban Nha.
(Maribel Guerrero, Josep Rialp, David Urbano, 2006) đã chỉ ra rằng, hầu hết sinh viên đạihọc mong muốn phát triển ý định KSDN thông qua một công ty mới mặc dù nhận thức vềtính khả thi là không tích cực Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy mối quan hệ tích cực giữa
sự tín nhiệm và ý định KSDN của sinh viên Kết quả nghiên cứu của Fatoki (2010) vềnhững động lực và trở ngại đối với ý định KSDN của sinh viên ở Nam Phi cho thấy, 5 động
cơ dẫn đến ý định khởi nghiệp của sinh viên là: việc làm, quyền tự chủ, sáng tạo, kinh tế vànguồn vốn; những trở ngại cho mục đích kinh doanh của sinh viên tốt nghiệp là nguồn vốn,
Ý định khởi nghiệp là một thái độ làm việc đề cao tính độc lập, tự chủ, độc lập, sáng tạo, luôn đổi mới và chấp nhận rủi ro để tạo ra giá trị mới trong doanh nghiệp hiện tại (Bird, 1988) Như vậy, ý định khởi nghiệp không phải là quyết định tại một thời điểm hiện tại mà
là kết quả của một quá trình, một cá nhân tiềm năng phải có ý định khởi nghiệp trước khi đưa ra quyết định khởi nghiệp Do đó, trên cơ sở các nghiên cứu trước đây, ý định khởi nghiệp trong nghiên cứu này hiểu theo nghĩa là một các nhân (tự mình hoặc cùng người khác) có khả năng sắp xếp nguồn lực để nắm bắt được cơ hội kinh doanh mới, trên tinh thầnđổi mới, sáng tạo để tạo một công việc kinh doanh riêng nhằm tạo ra nhiều cơ hội việc làm, đồng thời tạo ra giá trị có lợi cho nhóm khởi nghiệp, người lao động, cộng đồng Khởi nghiệp là một quá trình bắt đầu từ việc nhận biết cơ hội, nắm bắt cơ hội từ đó phát triển các
ý tưởng nhằm tạo dựng một doanh nghiệp mới Tuy nhiên không phải ai cũng có thể nắm bắt được cơ hội để đưa ra quyết định rằng có khởi nghiệp hay không? Một cá nhân có tiềm năng có ý định khởi nghiệp phải có mong muốn và nhận thấy tính khả thi của việc khởi nghiệp (Shapreo, 1982), hoặc có thái độ tích cực và nhận được sự ủng hộ của những người xung quanh, cũng như có khả năng kiểm soát, lường trước được các tình huống xấu nhất có khả năng xảy ra khi ta thực hiện khởi nghiệp, hoặc có mong muốn và sự tự tin về khả năng của bản thân để ý định khởi nghiệp (Krueger & Brazeal,1994)
Sau khi tham khảo các nguồn tài liệu trong nước và nước ngoài, cùng sự góp ý của giảngviên học phần nhóm nghiên cứu đã đề xuất ra mô hình nghiên cứu các nhân tố đã ảnh hưởng
Trang 10đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Đại học Thương mại thông qua các yếu tố: thái độ cánhân, nhận thức kiểm soát hành vi, chuẩn chủ quan, môi trường khởi nghiệp, kiến thức khởinghiệp Trong đó:
- Thái độ cá nhân: Mỗi cá nhân có một thái độ khác nhau trước những cơ hội mới TheoKirzner (1973) mô tả những người khởi nghiệp kinh doanh là những người có đủ khả năngnhạy bén để phát hiện được các cơ hội lợi nhuận mà trước đó chưa phát hiện ra, thế rồi tậndụng cơ hội đó Theo Kirner mô tả, quá trình khởi nghiệp liên quan chặt chẽ tới khả năngphát hiện và chú ý với tới những thứ mà trước đó chưa từng chú ý
Giả thuyết H0: Thái độ cá nhân có tác động cùng chiều đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Đại học Thương Mại.
- Nhận thức kiểm soát hành vi: (Perceived behavioural control): là nhận thức của một cá nhân
về sự dễ dàng hoặc khó khăn trong việc thực hiện hành vi cụ thể; điều này phụ thuộc vào sựsẵn có của các nguồn lực và các cơ hội để thực hiện hành vi Ajzen đề nghị rằng nhân tốnhận thức kiểm soát hành vi tác động trực tiếp đến xu hướng thực hiện hành vi, và nếu cánhân nhận thức chính xác về mức độ kiểm soát của mình, thì kiểm soát hành vi còn dự báo
cả hành vi Khái niệm nhận thức kiểm soát hành vi có liên quan về mặt khái niệm với sự tựchủ (Tiếng Anh: self-efficacy)
Giả thuyết H1: Nhận thức kiểm soát hành vi có tác động cùng chiều đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ĐH Thương Mại.
- Chuẩn chủ quan: (Subjective norms) được định nghĩa là nhận thức của một cá nhân, vớinhững người tham khảo quan trọng của cá nhân đó (như gia đình, bạn bè, anh em, đồngnghiệp) cho rằng hành vi nên hay không nên được thực hiện (Fishbein & Ajzen, 1975) Mức
độ ảnh hưởng của những người có liên quan đến xu hướng hành vi của người có ý định khởinghiệp và động cơ thúc đẩy người có ý định khởi nghiệp làm theo những người có liên quanchính là hai yếu tố cơ bản để đánh giá chuẩn chủ quan
Giả thuyết H2: chuẩn chủ quan là một yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên
ĐH Thương Mại.
- Môi trường khởi nghiệp: Môi trường giáo dục của tinh thần khởi nghiệp liên quan đến các
chương trình, các bài giảng ngoại khóa hoặc các khóa học cung cấp cho sinh viên nhữngkiến thức, kỹ năng, thái độ để theo đuổi sự nghiệp kinh doanh Nhiều nghiên cứu thựcnghiệm đã kiểm chứng Môi trường giáo dục của tinh thần khởi nghiệp và ý định khởinghiệp có mối liên hệ tích cực với nhau Môi trường giáo dục của tinh thần khởi nghiệptrang bị cho sinh viên những kiến thức, kỹ năng cần thiết để xây dựng ý tưởng khởi nghiệp
Giả thuyết H3: Môi trường giáo dục có tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Đại học Thương Mại.
- Kiến thức khởi nghiệp: là nền tảng giúp khởi nghiệp thành công Việc hiểu biết các kiếnthức cơ bản, chuyên môn trong lĩnh vực mình hoạt động hay nhiều khía cạnh khác nhautrong doanh nghiệp như sản phẩm, nhân lực, công nghệ, thị trường, hệ thống văn bản quy
Trang 11phạm pháp luật liên quan là một bước đệm quan trọng giúp tránh khỏi sự thất bại trong việcthiếu chuyên môn và những lí do ngoài ý muốn.
Giả thuyết H4: Kiến thức khởi nghiệp có tác động cùng chiều đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ĐH Thương Mại
3.3. Mô hình nghiên cứu
Mô hình nghiên cứu được nhóm đề xuất có 5 biến độc lập:
Hình 1: Mô hình đề xuất nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viện ĐH Thương Mại
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng
3.4.1 Nghiên cứu định tính
Đầu tiên , nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu tài tiệu, thu thập dữ liệu thứ cấp Qua quá trình đọc và nghiên cứu tài liệu nhóm nghiên cứu đã thu thập và tổng hợp
thông tin vào báo cáo của mình
Ngoài ra, nhóm nghiên cứu còn thu thập dữ liệu định tính bằng bảng hỏi phỏng vấn (phụ lục 1) Qua đó nhóm nghiên cứu thu thập được thêm một số thông tin mới
3.4.2 Nghiên cứu định lượng
Phương pháp nghiên cứu định lượng thu thập dữ liệu sơ cấp bằng hình thức khảo sát Mẫu phiếu khảo sát được xây dựng gồm có 27 mục hỏi (phụ lục 1) Nghiên cứu định lượng chínhthức được thực hiện bằng phương pháp khảo sát 150 sinh viên đại học Thương Mại Khi có kết quả, nhóm nghiên cứu tiến hàng tổng hợp thống kê dựa trên những thông tin thu được từcuộc khảo sát Xử lý dữ liệu, kiểm tra độ tin cậy từng thành phần thang đo thông qua hệ số Crobach’s Alpha, phân tích yếu tố khám phá (EFA), kiểm định giả thuyết nghiên cứu bằng
mô hình hồi quy với phần mềm SPSS (phụ lục 2)
Môi trường khởi nghiệp
Kiến thức khởi nghiệp
Trang 12CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN.
Để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học ThươngMại, nhóm tác giả sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để hỗ trợ phân tích kết quả ước lượng môhình nghiên cứu theo từng bước được trình bày như sau:
4.1. Phân tích thống kê mô tả
Nghiên cứu được tiến hành khảo sát 150 sinh viên của trường đại học Thương Mại Kết quảthu về được :
4.1.1 Kết quả thông kê mô tả về ý định khởi nghiệp.
Theo kết quả khảo sát cho thấy, số lượng sinh viên có ý định khởi nghiệp chiếm 82,7% (124sinh viên) và sinh viên không có ý định khởi nghiệp chiếm 17,3% (26 sinh viên) được nêutrong bảng dưới đây
Bảng 4 2: Ý định khởi nghiệp
Frequency Percent Valid Percent Cumulative
Percent Valid
Trang 13Biểu đồ 4 1: Mô tả mẫu theo ý định khởi nghiệp
(nguồn phân tích kết quả điều tra của nhóm tác giả)
4.1.2 Kết quả thống kê mô tả về ý định khởi nghiệp.
Theo kết quả khảo sát cho thấy, hai lĩnh vực khởi nghiệp của sinh viên Đại học Thương Mạichiếm tỉ lệ cao nhất là kinh doanh quần áo (30.7%) và kinh doanh ẩm thực (30%), tiếp theo
là kinh doanh mĩ phẩm (21,3%) và 7,3% có ý định kinh doanh ở những lĩnh vực khác
Trang 14Biểu đồ 4 2: Mô tả theo lĩnh vực khởi nghiệp
(Nguồn phân tích kết quả điều tra của nhóm tác giả)
4.1.3 Kết quả thống kê mô tả giới tính
Trường đại học Thương Mại là trường đại học theo khối ngành kinh tế nên tỉ lệ sinh viên nữtham gia khảo sát chiếm khá cao (67,3% ), sinh viên nam chiếm 30% (50 sinh viên)
Bảng 4 4 Giới tính
Giới tính
Frequency Percent Valid Percent Cumulative
PercentValid
Trang 15Biểu đồ 4 3: Biểu đồ minh họa cho thống kê tần suất về giới tính
(Nguồn kết quả phân tích dữ liệu điều tra của nhóm tác giả)
4.1.4 Kết quả thống kê mô tả về sinh viên theo học tại trường.
Theo khảo sát cho thấy, đa phần sinh viên tham gia khảo sát là năm hai, chiếm 74,7%, năm nhấtchiếm 11,3%, năm ba chiếm 9,3%, và ít nhất là năm tư chiếm 4,7%