1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình hình thành và phát triển chủ nghĩa duy vật lịch sử trong triết học mác lênin

136 37 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, để góp phần hiểu biết một cách có hệ thống những cống hiến vĩ đại của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác trong tư tưởng triết học nhân loại chúng tôi quyết định lựa chọn đề tà

Trang 1

NGUYỄN THỊ THẢO

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ

TRONG TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH - 2014

Trang 2

NGUYỄN THỊ THẢO

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ

TRONG TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Hà Thiên Sơn Các số liệu trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khoa học, khách quan và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 3

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 5

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 5

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 6

7 Kết cấu của đề tài 6

Chương 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ CỦA C MÁC VÀ PH ĂNGGHEN 7

1.1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ CỦA C MÁC VÀ PH ĂNGGHEN 7

1.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội hình thành chủ nghĩa duy vật lịch sử của C Mác và Ph Ăngghen 7

1.1.2 Tiền đề lý luận hình thành chủ nghĩa duy vật lịch sử của C Mác và Ph Ăngghen 12

1.2 TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ TRONG TRIẾT HỌC MÁC - ĂNGGHEN, GIÁ TRỊ KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ 19

1.2.1 Các giai đoạn phát triển và nội dung tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử trong triết học Mác - Ăngghen 19

1.2.2 Giá trị khoa học và ý nghĩa lịch sử của chủ nghĩa duy vật lịch sử trong triết học Mác - Ăngghen 58

Kết luận Chương 1 65

Trang 5

PH ĂNGGHEN TRONG HOÀN CẢNH LỊCH SỬ MỚI 68

2.1 HOÀN CẢNH LỊCH SỬ THẾ GIỚI CUỐI THẾ KỶ XIX, ĐẦU THẾ KỶ XX VÀ CUỘC ĐẤU TRANH CỦA LÊNIN ĐỂ BẢO VỆ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ TRONG TRIẾT HỌC MÁC 68

2.1.1 Hoàn cảnh lịch sử thế giới cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX 68

2.1.2 Cuộc đấu tranh của V.I Lênin để bảo vệ chủ nghĩa duy vật lịch sử trong triết học Mác 73

2.2 V.I LÊNIN BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ TRONG TRIẾT HỌC MÁC VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ 98

2.2.1 V.I Lênin bổ sung, phát triển chủ nghĩa duy vật lịch sử trong

triết học Mác 98

2.2.2 Ý nghĩa lịch sử trong quan niệm duy vật về lịch sử của

V.I Lênin 111

Kết luận Chương 2 120

KẾT LUẬN 122

TÀI LIỆU THAM KHẢO 126

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người cách mạng Việt Nam đầu tiên tìm thấy ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin để soi tỏ con đường giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp cho cách mạng Việt Nam Người khẳng định rằng: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất,

cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin” [42, tr.268] Thế giới quan và phương pháp

luận của học thuyết Mác – Lênin luôn luôn là vũ khí sắc bén giúp cho Hồ Chí Minh đánh giá, phân tích, tổng hợp các học thuyết tư tưởng đương thời cũng như kinh nghiệm chính trị của bản thân của mình để tìm ra con đường đúng đắn cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc Từ đó, chủ nghĩa Mác - Lênin luôn là ngọn đuốc soi đường cho cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cách mạng Việt Nam đã vượt qua muôn vàn khó khăn giành được những thắng lợi vẻ vang, đưa nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một quốc gia độc lập tự do, có quan

hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu đã bước vào thời kỳ đổi mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Vì vậy, trong quá trình đổi mới hiện nay để tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức tạo nên sự phát triển nhanh

và bền vững; đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu, nắm chắc thực chất nội dung khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin Bởi vì, chủ nghĩa Mác – Lênin sẽ trang bị cho chúng ta một phương pháp nhận thức biện chứng, một thế giới quan khoa học, một lập trường giai cấp vững vàng Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ XI đã khẳng định: “Kiên định chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam, kiên

định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” [34, tr.838] Như vậy, trong

giai đoạn hiện nay cho dù xuất hiện rất nhiều học thuyết, chủ nghĩa mới nhưng chúng ta vẫn kiên định lựa chọn chủ nghĩa Mác – Lênnin là nền tảng lý luận, là

Trang 7

kim chỉ nam cho cách mạng Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Chủ nghĩa Mác – Lênin, trong đó có triết học – bộ phận cấu thành và hạt nhân lý luận của nó, là một hệ thống mở Tính mở, tính sáng tạo đối lập với tính khép kín, biệt phái và tính giáo điều, xa lạ với chủ nghĩa lạc quan không tưởng và duy ý chí V.I Lênin viết: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái

gì đã xong xuôi hẳn bất khả xâm phạm; trái lại chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành người lạc hậu so với cuộc sống” [62, tr.232] Hiểu đúng tính mở của Chủ nghĩa Mác – Lênin cho phép hình thành hướng nghiên cứu di sản tinh thần của các nhà kinh điển trong việc tiếp thêm nguồn năng lượng mới cho chủ nghĩa Mác từ chất liệu sống động của thực tiễn, nhu cầu của nhận thức, để khẳng định hơn nữa sức sống của nó trong thế giới

mở nhưng hết sức phức tạp hiện nay Do đó, khi nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển quan niệm duy vật về lịch sử trong triết học Mác – Lênin sẽ giúp chúng ta hiểu một cách sâu sắc tính mở của chủ nghĩa Mác - Lênin Bởi lẽ, từ khi quan niệm duy vật về lịch sử hình thành nó không phải là một vấn đề bất biến

mà luôn được bổ sung và phát triển theo xu thế vận động chung của lịch sử xã hội, đáp ứng những yêu cầu mới của thực tiễn

Bước ngoặt cách mạng vĩ đại nhất mà chủ nghĩa Mác thực hiện là đã đưa ra quan điểm duy vật về lịch sử (chủ nghĩa duy vật lịch sử) Trước Mác, các nhà triết học hiểu sự phát triển của xã hội một cách duy tâm - coi động lực phát triển của xã hội là ở trong ý thức, tinh thần của con người Đối lập với quan điểm trên, C Mác

và Ph Ăngghen đã giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học trong đời sống

xã hội; không phải ý thức xã hội quyết định tồn tại xã hội, mà ngược lại tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội; sự phát triển của xã hội phụ thuộc vào nguyên nhân vật chất, chứ không phụ thuộc vào ý thức của con người; sự phát triển của xã hội mang tính quy luật, là quá trình lịch sử tự nhiên Do sự tác động của các quy luật vốn có của xã hội, các hình thái kinh tế - xã hội thay thế nhau một cách khách quan độc lập với ý chí và ý thức của con người; trong sự phát triển ấy, quần chúng

Trang 8

nhân dân là lực lượng quyết định sáng tạo ra lịch sử Triết học Mác – Lênin là học thuyết triết học duy vật triệt để nhất không những duy vật đối với tự nhiên mà

cả đối với lĩnh vực xã hội, là một thành tựu vĩ đại của tư tưởng triết học, là biểu hiện quan trọng nhất của bước chuyển cách mạng do C Mác và Ph Ăngghen thực hiện trong triết học Quá trình hình thành và phát triển chủ nghĩa duy vật lịch sử trong triết học Mác – Lênin đã khắc phục những hạn chế của chủ nghĩa duy vật trước Mác là duy vật không triệt để, duy vật trong tự nhiên nhưng duy tâm trong

xã hội Do đó, điều quan trọng chúng ta phải trực tiếp tìm hiểu hệ thống các tác phẩm của các nhà kinh điển mácxít để nắm được thực chất cuộc cách mạng trong triết học do C Mác và Ph Ăngghen thực hiện và V.I Lênin bổ sung, phát triển trong lịch sử tư tưởng triết học của nhân loại

Như vậy, để góp phần hiểu biết một cách có hệ thống những cống hiến vĩ

đại của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác trong tư tưởng triết học nhân loại

chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Quá trình hình thành và phát triển chủ nghĩa duy vật lịch sử trong triết học Mác - Lênin” với mong muốn góp một phần

nhỏ bảo vệ và phát triển lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, làm cho nó thực sự

có sức sống, mang tính thuyết phục cao về mặt khoa học và có ý nghĩa thực tiễn Đồng thời, thông qua việc nghiên cứu vấn đề này sẽ góp phần tạo niềm tin cho chúng ta trong việc tiếp tục kiên định lựa chọn chủ nghĩa Mác – Lênin làm ngọn

cờ lý luận dẫn đường cho cách mạng Việt Nam hiện nay

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Sự ra đời của chủ nghĩa duy vật lịch sử là một trong những phát minh vĩ đại nhất của chủ nghĩa Mác Từ đó cho tới nay, đã có nhiều các tác phẩm, công trình nghiên cứu,sách, báo đề cập đến vấn đề này

Thứ nhất, trong thời gian qua có nhiều công trình nghiên cứu trực tiếp hệ thống kinh điển triết học Mác như: Tập bài giảng tác phẩm kinh điển triết học của

C Mác và Ph Ăngghen của TS Bùi Văn Dũng và GVC Trần Vân Nam (dùng

cho sinh viên chuyên ngành GDCT, Vinh, 2003) đã phân tích một số tác phẩm quan trọng của C Mác và Ph Ăngghen giúp người đọc có cơ hội tiếp cận những

Trang 9

tư tưởng gốc của những nhà sáng lập chủ nghĩa Mác về chủ nghĩa duy vật biện

chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử; sách tham khảo Vấn đề triết học trong tác

Doãn Chính – TS Đinh Ngọc Thạch (chủ biên) đã đi sâu phân tích, giới thiệu những tác phẩm chủ yếu của các nhà kinh điển nhằm giúp người đọc nắm vững những vấn đề lý luận cốt lõi của chủ nghĩa Mác – Lênin một cách hệ thống; bài

viết “Hệ tư tưởng Đức” – Tác phẩm đánh dấu sự ra đời một thế giới quan mới, một quan niệm duy vật về lịch sử của PGS, TS Đặng Hữu Toàn đăng trên Tạp chí triết học, tháng 1 - 2006, số 1(176); Trần Ngọc Linh với bài viết: Tìm hiểu quan niệm duy vật lịch sử trong Hệ tư tưởng Đức của C Mác và Ph Ăngghen;… Đây là

những nguồn tài liệu quan trọng giúp chúng tôi rất nhiều trong phương pháp tiếp cận vấn đề, khai thác, phân tích một cách sâu sắc vấn đề

Thứ hai, từ khi chủ nghĩa duy vật lịch sử ra đời đã có nhiều giáo trình, sách, báo, bài viết đề cập đến chủ nghĩa duy vật lịch sử trong triết học Mác – Lênin như: Giáo trình Triết học Mác – Lênin (dùng cho các trường đại học, cao đẳng) của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành năm 2002; Nguyễn Quang Điển (chủ biên) C Mác – Ph Ăngghen – V.I Lênin: Về những vấn đề triết học; cuốn sách Giá trị bền vững và sức sống của chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa học của GS.TS Hoàng Chí Bảo; giáo trình “Lịch sử triết học” do Bùi Thanh Quất và Vũ Tình (đồng chủ biên); Đây là những cuốn sách mang tính lý luận cao đã trình

bày về những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, trong đó có nêu lên quan điểm của các nhà kinh điển Mácxít về chủ nghĩa duy vật lịch sử Những công trình, bài viết này giúp chúng tôi có thêm nguồn tài liệu tham khảo và kế thừa rất quý giá trong quá trình thực hiện đề tài luận văn

Như vậy, thông qua việc giới thiệu các tác phẩm, giáo trình, sách báo, công

trình nghiên cứu khoa học đề cập ở trên chứng tỏ đây là một vấn đề có giá trị khoa học và thực tiễn được nhiều tác giả quan tâm Tuy nhiên, những công trình đó còn

ở tầm vĩ mô và mang tính khái quát cao hoặc chỉ đề cập tới một khía cạnh, một

mặt nào đó Vì lẽ đó, chúng tôi chọn đề tài “Quá trình hình thành và phát triển

Trang 10

chủ nghĩa duy vật lịch sử trong triết học Mác - Lênin” là việc nghiên cứu mang

tính hệ thống về một vấn đề trong quá trình hình thành và phát triển của nó Hy vọng công trình nghiên cứu này sẽ góp phần làm sáng rõ hơn về quá trình hình thành và phát triển chủ nghĩa duy vật lịch sử trong triết học Mác – Lênin

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích của luận văn

Mục đích của luận văn là góp phần làm rõ một cách có hệ thống về quá

trình hình thành và phát triển quan niệm duy vật về lịch sử trong triết học Mác – Lênin; từ đó rút ra giá trị khoa học và ý nghĩa thực tiễn của nó

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết một số nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, phân tích quá trình hình thành và phát triển chủ nghĩa duy vật

lịch sử trong giai đoạn C Mác và Ph Ăngghen Từ đó, rút ra những giá trị khoa học và ý nghĩa lịch sử của nó

Thứ hai, phân tích quá trình V.I Lênin bảo vệ, bổ sung và phát triển chủ

nghĩa duy vật lịch sử Từ đó, rút ra ý nghĩa lịch sử trong quan niệm duy vật về lịch

sử của V.I Lênin

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

Trong phạm vi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi tập trung tìm hiểu một số tác phẩm tiêu biểu của các nhà mácxít để hiểu sâu sắc hơn quá trình hình thành và phát triển chủ nghĩa duy vật lịch sử trong triết học Mác – Lênin, cụ thể trong hai giai đoạn: giai đoạn C Mác và Ph Ăngghen hình thành và phát triển chủ nghĩa duy vật lịch sử và giai đoạn V.I Lênin bảo vệ, bổ sung và phát triển Từ việc nghiên cứu vấn đề này rút ra giá trị khoa học và ý nghĩa thực tiễn của nó

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này chúng tôi nghiên cứu các tác phẩm kinh điển của

C Mác, Ph Ăngghen và V.I Lênin, các giáo trình, sách báo, công trình nghiên cứu của các nhà khoa học có liên quan đến đề tài luận văn

Trang 11

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận chung của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Đọc và nghiên cứu văn bản, phân tích – tổng hợp, lôgíc – lịch sử, cụ thể - khái quát, khái quát hóa, trừu tượng hóa… Ngoài ra, đề tài còn có sự liên hệ giữa

lý luận và thực tiễn để có cách nhìn nhận đúng đắn, khoa học hơn

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa khoa học: Kết quả thực hiện của đề tài tìm hiểu góp phần trong

việc nghiên cứu một cách sâu sắc và mang tính hệ thống về quá trình hình thành

và phát triển chủ nghĩa duy vật lịch sử trong triết học Mác – Lênin

- Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho

học tập, nghiên cứu, giảng dạy triết học ở các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp quận, huyện và các trường đại học, cao đẳng…

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được kết cấu thành 2 chương, 4 tiết

Trang 12

Chương 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ CỦA C MÁC VÀ PH ĂNGGHEN

1.1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ CỦA C MÁC VÀ PH ĂNGGHEN

1.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội hình thành chủ nghĩa duy vật lịch sử của C Mác và Ph Ăngghen

Sự hình thành chủ nghĩa duy vật lịch sử trong triết học Mác không phải là một sản phẩm có tính chất chủ quan mà nó là sản phẩm tất yếu của lịch sử Sự ra đời của chủ nghĩa duy vật lịch sử gắn liền với những điều kiện khách quan của sự phát triển kinh tế - xã hội và sự phát triển của khoa học đương thời

Đến những năm 30 – 40 của thế kỷ XIX chủ nghĩa tư bản đã có hơn 100

năm tồn tại Vai trò tích cực của giai cấp tư sản đối với lịch sử nhân loại được thể hiện thông qua cuộc đấu tranh thủ tiêu chế độ phong kiến, giải phóng cá nhân, phát triển sức sản xuất Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã phá vỡ những quan hệ lỗi thời, mang nặng tính đẳng cấp Chủ nghĩa tư bản ở một số nước Tây

Âu như Anh, Pháp và một phần ở Đức có bước phát triển mới Nước Anh khi đó

đã là một nước tư bản, một cường quốc công nghiệp hùng mạnh Nước Pháp cũng hoàn thành cuộc cách mạng công nghiệp vào những năm 50 – 60 của thế kỷ XIX Nhờ cách mạng công nghiệp lực lượng sản xuất xã hội tăng lên rất nhiều Từ những năm 30 – 40 số máy hơi nước, độ dài đường sắt tăng lên hàng chục lần Các ngành công nghiệp nặng khai thác than đá, sản xuất gang, sắt thép cũng tăng nhiều lần Ở Đức tuy còn phụ thuộc vào nước Anh và Pháp nhưng cuộc cách mạng công nghiệp cũng làm cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa lớn lên nhanh chóng, tỷ trọng các ngành sản xuất công nghiệp càng tăng Ở một số nước Tây Âu khác như Hà Lan – Ý và Bắc Mỹ cũng có sự phát triển tương tự Sự phát triển nhanh chóng của sản xuất công nghiệp chứng minh rõ ràng tính chất tiến bộ của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa so với chế độ phong kiến và các chế

Trang 13

độ xã hội trước đây C Mác nói: “Giai cấp tư sản trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn

lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia cộng lại” [9, tr.603]

Có thể nói thời đại tư bản là thời đại năng động nhất so với các thời đại đã qua Tính biện chứng của thời đại tư bản thể hiện ở chỗ nó không thể tồn tại bình thường nếu không tạo ra những biến đổi liên tục trong các lĩnh vực của đời sống

xã hội, cải tiến liên tục công cụ sản xuất, tích cực khai thác và tìm kiếm các nguồn

tài nguyên và nguồn nhân lực phục vụ cho phát triển kinh tế Trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản C Mác và Ph Ăngghen viết: “Giai cấp tư sản đã đóng một vai

trò hết sức cách mạng trong lịch sử […] Giai cấp tư sản không thể tồn tại, nếu không luôn luôn cách mạng hóa công cụ sản xuất, do đó cách mạng hóa những quan hệ sản xuất, nghĩa là cách mạng hóa toàn bộ những quan hệ xã hội […] Tất

cả những quan hệ xã hội cứng đờ và hoen rỉ […] đều đang tiêu tan […] Tất cả những gì mang tính đẳng cấp và trì trệ đều tiêu tan như mây khói” [9, tr.599 - 601] Tuy nhiên, theo Mác, sự phát triển của nền sản xuất tư bản dựa trên các thành tựu khoa học, kỹ thuật của nhân loại, dù thúc đẩy về cơ bản sự vận động xã hội tiến về phía trước, vẫn không khắc phục được những mâu thuẫn cố hữu của xã hội có các giai cấp đối kháng, sự tha hóa con người, mà thậm chí còn làm cho những mâu thuẫn ấy ngày càng trở nên trầm trọng và không thể kiểm soát Xã hội

tư sản đào sâu thêm khoảng cách giữa thành thị với nông thôn, giữa sản xuất công nghiệp và sản xuất nông nghiệp, tạo nên những chênh lệch lớn trong đời sống kinh

tế lẫn môi trường văn hóa, nhận thức, sự phân hóa mới trong quan hệ giữa người với người Nó chẳng những không khắc phục được mâu thuẫn và xung đột xã hội

do trật tự phong kiến để lại, mà còn làm trầm trọng thêm C Mác chỉ rõ rằng, tích lũy của cải và “tích lũy” sự bần cùng dường như song hành, tạo nên bức tranh xã hội với những đường nét tương phản với nhau, và điều đó cũng có nghĩa việc cải tạo lại các quan hệ xã hội đã trở thành nhu cầu tất yếu, khách quan

Như vậy, sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa lại làm cho những mâu thuẫn bên trong vốn có của nó (mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất

Trang 14

có trình độ xã hội hóa cao với quan hệ sản xuất dựa trên cơ sở chế độ tư hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất), phát triển ngày thêm gay gắt Mâu thuẫn này biểu hiện thành sự xung đột giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản ngày một mạnh mẽ; đã xuất hiện nhiều cuộc đấu tranh của công nhân chống lại giai cấp

tư sản mang tính chất của cuộc đấu tranh giai cấp như cuộc khởi nghĩa của những người thợ dệt ở Lyông (Pháp) vào năm 1831 và 1834 Cuộc nổi dậy của công nhân Pari năm 1832; cuộc khởi nghĩa của những người thợ dệt ở Xilêdi của Đức năm 1844; phong trào Hiến chương ở Anh từ 1830 – 1840 mang tính chất chính trị

và quần chúng rộng lớn đã buộc nhà nước phải bảo đảm các quyền lợi của công nhân về tiền lương và giờ làm việc Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân ở Tây Âu những năm 30 – 40 của thế kỷ XIX chứng tỏ rằng:

Thứ nhất, xã hội tư bản không phải là sự hòa hợp lợi ích chung giữa tư bản

và lao động; không phải là sự kết hợp hài hòa hạnh phúc chung cho tất cả mọi người như các nhà tư tưởng tư sản quan niệm, mà trái lại trong chủ nghĩa tư bản đang diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt giữa tư sản và công nhân

Thứ hai, vai trò lịch sử của giai cấp tư sản về cơ bản đã bắt đầu mất dần

Trước đây trong quá trình làm cách mạng lật đổ chế độ phong kiến, giai cấp tư sản

đã từng giương cao ngọn cờ tự do, dân chủ, bình đẳng, bác ái và đã tập hợp được dưới ngọn cờ đó đông đảo nhân dân, bao gồm cả lực lượng là tiền thân của giai cấp vô sản sau này Nhưng sau khi giai cấp tư sản giành được địa vị thống trị, giai cấp công nhân trở thành lực lượng đối lập số một với giai cấp tư sản, thì giai cấp

tư sản liền thỏa hiệp với giai cấp phong kiến quý tộc để đàn áp phong trào công nhân Vì vậy một số học thuyết tư sản trước đây có giá trị khoa học nhất định, nay

do phải phục tùng mục đích chính trị của giai cấp thống trị nên không còn mang tính khách quan khoa học nữa Điều đó đòi hỏi phải xây dựng một hệ thống lý luận mới đáp ứng đòi hỏi mới của phong trào cách mạng của giai cấp công nhân

Thứ ba, giai cấp công nhân là sản phẩm của nền đại công nghiệp, nó không

ngừng lớn mạnh cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp đã thể hiện là một lực lượng xã hội to lớn, đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, chính trị,

Trang 15

xã hội, nó là lực lượng quyết định đến tương lai của xã hội Nhưng chính những người vô sản lại chưa ý thức được địa vị của mình trong tiến trình lịch sử; chưa nhận thức được con đường và thủ đoạn thực hiện việc giải phóng bản thân mình và giải phóng toàn xã hội Phong trào công nhân ở Tây Âu khi đó còn mang tính chất

tự phát chưa có tổ chức thống nhất, chưa có lý luận khoa học dẫn đường, còn chịu nhiều ảnh hưởng của các trào lưu tư tưởng tư sản Những học thuyết xã hội chủ nghĩa không tưởng của Xanhximông, Phurie, Ooen tuy có giá trị lớp trong việc phê phán xã hội tư bản, nhưng vẫn chưa phản ánh được lợi ích căn bản của giai cấp vô sản trong sự nghiệp giải phóng mình và giải phóng toàn thể quần chúng lao động bị

áp bức bóc lột Đến những năm 30- 40 của thế kỷ XIX giai cấp vô sản, con đẻ của nền công nghiệp, trở thành một lực lượng chính trị độc lập, phát triển cuộc đấu tranh từ trình độ tự phát lên trình độ tự giác, từ những yêu sách thuần túy kinh tế chuyển dần sang mục tiêu chính trị Để đạt được mục tiêu đó cần phải có một hệ thống lý luận mang tính định hướng, được xác lập trên cơ sở hiện thực, nắm bắt và phân tích khoa học những vấn đề của thời đại, vạch ra con đường giải phóng cho giai cấp vô sản và các tầng lớp người lao động bị áp bức, dự báo xu thế vận động của lịch sử… Chính C Mác và Ph Ăngghen đã khái quát kinh nghiệm đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản, sáng tạo ra lý luận khoa học trong đó phát minh ra quan niệm duy vật về lịch sử trong triết học Mác đã đáp được ứng nhu cầu lịch sử của phong trào vô sản Hệ thống lý luận như vậy ra đời là cần thiết và tất yếu; nó gắn liền với tên tuổi của Mác và Ăngghen từ giữa thập niên 40

Vào những năm 1845 – 1846, Tây Ây đang tiến nhanh đến cuộc cách mạng

vô sản, phong trào công nhân đã phát triển rộng nhưng lại chịu ảnh hưởng của nhiều môn phái xã hội không tưởng Lúc này, C Mác và Ph Ăngghen đã đi sâu vào vận động chính trị Hai ông thấy cần phải xây dựng lý luận chủ nghĩa xã hội một cách khoa học, phải phân ranh giới giữa hệ tư tưởng của giai cấp vô sản không những với hệ tư tưởng của giai cấp tư sản, mà cả hệ tư tưởng của giai cấp tiểu tư sản Từ đó, vạch ra con đường đấu tranh cách mạng một cách hiện thực mà giai cấp vô sản đang đi vào một cách tự phát, để có thể chuyển thành tự giác

Trang 16

Tính tất yếu của sự ra đời của chủ nghĩa duy vật lịch sử trong triết học Mác phản ánh tính tất yếu của vận động lịch sử ở một nấc thang cụ thể, gắn với những nhu cầu cụ thể, những nhu cầu mà các thời đại trước còn chưa biết đến Tính chất của thời đại quy định về cơ bản tính chất của một học thuyết, nhưng ở thời đại nào cũng chứa đựng bên trong nó vô số các sự vật, hiện tượng, quá trình, các nhu cầu, các thiên hướng khác nhau, nên xuất hiện nhiều trường phái tư tưởng khác nhau, đôi khi đối lập nhau Vấn đề là ở chỗ trong số những khuynh hướng ấy khuynh hướng nào sẽ đóng vai trò chủ đạo, không chỉ thể hiện thành công các điểm nóng của thực tại, mà còn vạch được con đường đúng đắn nhất hướng đến chân lý

C Mác (1818 – 1883) và Ph Ăngghen (1820 – 1895) xuất thân từ tầng lớp cao trong xã hội tư sản Bản thân C Mác có trình độ học vấn tiến sỹ, có thể tiến thân bằng công việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học, hay các hoạt động phục

vụ chế độ xã hội hiện hành Ph Ăngghen là con của một nhà kinh doanh giàu có, buộc phải bỏ dở phổ thông trung học vì công việc kinh doanh của gia đình Từ vị trí xã hội như thế C Mác và Ph Ăngghen đến với những người vô sản (đúng nghĩa của hình ảnh công nhân làm thuê, không có tài sản gì khác lúc đầu, trừ sức lao động), và từ sự đồng cảm với họ hai người đã xây dựng hệ thống lý luận, học thuyết bảo vệ quyền lợi của họ và vạch hướng cho họ trong cuộc đấu tranh tự giải phóng Điều này cho thấy cùng với điều kiện lịch sử - xã hội, thì để có một hệ thống tư tưởng mang ý nghĩa vạch thời đại rất cần xuất hiện những cá nhân giàu bản lĩnh chính trị và tinh thần nhạy bén khoa học

Triết học là giá trị văn hóa tinh thần cô đọng nhất, tinh tuý nhất, là thời đại lịch sử hiện thực được tái hiện dưới hình thức tư tưởng, trong hệ thống các vấn đề triết học Những tư tưởng triết học được sinh ra, chịu sự quy định bởi những điều kiện lịch sử – xã hội của thời đại mình, cùng với các học thuyết, các

tư tưởng khác làm nên diện mạo tinh thần của thời đại, đóng góp vào giá trị chung của nhân loại Mác đã từng viết: “Các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất, họ là sản phẩm của thời đại mình, của dân tộc mình, mà dòng sữa tinh tế

nhất, quý giá và vô hình được tập trung lại trong những tư tưởng triết học” [6,

Trang 17

tr.156] Như vậy, sự xuất hiện của chủ nghĩa duy vật lịch sử trong triết học Mác

và chủ nghĩa Mác nói chung phản ánh nhu cầu khách quan của các quá trình kinh

tế - xã hội, phản ánh nhu cầu của cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản và

tư sản ở các nước Tây Âu giữa thế kỷ XIX

1.1.2 Tiền đề lý luận hình thành chủ nghĩa duy vật lịch sử của C Mác

và Ph Ăngghen

Sự xuất hiện của chủ duy vật lịch sử trong triết học Mác không chỉ được quyết định bởi những điều kiện kinh tế - xã hội mà còn bị quy định bởi đời sống văn hóa, những thành tựu của tư tưởng khoa học của nhân loại trước đó Triết học Mác không phải là một trào lưu biệt phái Sự ra đời của nó là sự kế thừa nền văn minh của nhân loại, trực tiếp nhất là những trào lưu tư tưởng và lý luận Tây Âu thế kỷ XIX như: triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị học Anh, chủ nghĩa xã hội Pháp và Anh Trên cơ sở kế thừa và phát triển những mặt tích cực của các hệ thống lý luận trên, C Mác và Ph Ăngghen đã xây dựng một thế giới quan triết học mới

Chủ nghĩa duy vật lịch sử trong triết học Mác ra đời trong bối cảnh diễn ra quá trình phi cổ điển hóa trong tư duy triết học Vào những năm 20 – 30 của thế

kỷ XIX, khi Hêghen đang còn là thần tượng của giới trẻ có học thức và cách mạng tại Đức, những toan tính xem xét lại một cách có phê phán toàn bộ truyền thống

cổ điển phương Tây nói chung, triết học Hêghen nói riêng, đã hình thành dưới tác động của quá trình phi cổ điển hóa tư duy Sôpenhauơ (1788 – 1860) là một trong

những người đầu tiên khởi xướng quá trình đó Trong tác phẩm chủ yếu “Thế giới như ý chí và biểu tượng” (1818) Sôpenhauơ phê phán chủ nghĩa duy lý truyền

thống, đặc biệt là hệ thống Hêghen, thay sự sùng bái lý trí bằng sùng bái ý chí

Trong “Siêu hình học tình yêu và cái chết” Sôpenhauơ vạch ra bản chất vị kỷ của

con người, từ đó phát họa bức tranh bi quan về lịch sử Sau Sôpenhauơ tại Đan

Mạch nhà triết học Kiếckego (1813 – 1858), người sống hầu như cùng thời với

Mác, đặt nền móng cho Chủ nghĩa hiện sinh trong tương lai (nhánh Hiện sinh tôn

giáo) Tại Pháp Côntơ (1798 – 1857), người khởi xướng Chủ nghĩa thực chứng,

Trang 18

tuyên bố về một thứ triết học vượt qua cả chủ nghĩa duy vật lẫn chủ nghĩa duy

tâm, hình thành cái gọi là con đường thứ ba trong triết học Muộn hơn, các trào

lưu triết học tôn giáo thực hiện quá trình hiện đại hóa bằng cách kết hợp các vấn

đề của thời đại với giáo lý Kytô trung cổ Nói cách khác, bức tranh triết học nửa đầu thế kỷ XIX tại các nước Tây Âu được hình thành với ba khuynh hướng cơ bản

là khuynh hướng duy lý hiện đại, hay khuynh hướng khoa học (để phân biệt với duy lý truyền thống), khuynh hướng phi duy lý, và khuynh hướng tôn giáo

(khuynh hướng thứ hai này có nhiều mối liên hệ với khuynh hướng phi duy lý)

Trong tình hình phức tạp như thế, Mác đã thể hiện một thái độ khác đối với truyền thống Khi xác lập học thuyết triết học của mình Mác chẳng những không xét lại truyền thống một cách cực đoan, mà còn kế thừa và phát triển những yếu tố tích cực của nó C Mác và Ph Ăngghen tiếp tục nhấn mạnh sự cần thiết của việc phân tích hệ thống các vấn đề triết học do truyền thống để lại, trong đó có vấn đề cơ bản của triết học Bước ngoặt có tính cách mạng trong lịch sử triết học, do C Mác

và Ph Ăngghen thực hiện, thực chất là sự kế thừa, đổi mới, phát triển lên trình độ cao các giá trị truyền thống, đặc biệt là truyền thống phương Tây, cải tạo và khắc phục hạn chế của các học thuyết trước đó mà hai ông có dịp tìm hiểu

Tiền đề sâu xa của triết học Mác là toàn bộ tinh hoa tinh thần của nhân loại,

mà chủ yếu là tinh hoa phương Tây, được tích lũy trong các học thuyết triết học từ hơn hai ngàn năm qua, bắt đầu từ Hy Lạp cổ đại Triết học Mác là một vòng khâu trong chuỗi các vòng khâu nối tiếp nhau qua các thời đại, với sự mở rộng không ngừng tri thức triết học trong mối liên hệ với hoạt động thực tiễn, với khoa học và trình độ nhận thức chung Sự kế thừa ấy thể hiện ở các bình diện bản thể luận, nhận thức luận, phương pháp luận và nhân sinh – xã hội Khi tìm hiểu triết học Hy Lạp, Mác viết: “Mọi triết học chân chính đều là tinh hoa về mặt tinh thần của thời đại mình” […] Mác cũng chỉ rõ “Triết học hiện đại chỉ tiếp tục cái công việc mà Hêraclít và Arixtốt đã mở đầu mà thôi” [6, tr.157 - 166] Tư tưởng nhân văn Phục hưng, chủ nghĩa duy vật, nhận thức khoa học và phong trào Khai sáng của thời đại

Trang 19

các cuộc cách mạng tư sản thế kỷ XVII – XVIII đã trở thành tiền đề quan trọng

đối với quá trình hình thành chủ nghĩa duy vật lịch sử trong triết học Mác

Tiền đề trực tiếp của sự ra đời chủ nghĩa duy vật lịch sử nói riêng và triết

học Mác nói chung là triết học cổ điển Đức, đặc biệt là phép biện chứng Hêghen

và chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoiơbắc Cuộc hành trình tư tưởng của Mác bắt

đầu từ phép biện chứng Hêghen, và từ cuối năm 1842 chuyển dần sang chủ nghĩa

duy vật

Vào năm 1837, Mác đến với triết học Hêghen, một hệ thống triết học đã

chiếm một địa vị thống trị độc tôn nhất ở nước Đức thuộc giai đoạn 1830 - 1940

Ông đã tìm thấy nơi hệ thống triết học Hêghen một nguồn suối quan trọng nhất

cho sự hình thành tư tưởng của mình và gắn với nó cho đến cuối đời C Mác và

Ph Ăngghen đánh giá cao tư tưởng biện chứng của triết học Hêghen C Mác cho

rằng, tính chất thần bí mà phép biện chứng mắc phải ở triết học Hêghen tuyệt

nhiên không ngăn cản Hêghen trở thành người đầu tiên trình bày một cách bao

quát và có ý thức hình thái vận động chung của phép biện chứng ấy Ở Hêghen

phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất; chỉ cần dựng nó lại sẽ phát hiện

được cái hợp lý của nó ở đằng sau lớp vỏ thần bí Chính cái “hạt nhân hợp lý” đó

đã được Mác kế thừa bằng cách cải tạo, lột bỏ cái vỏ thần bí để xây dựng nên lý

luận mới của phép biện chứng – phép biện chứng duy vật Trên cơ sở phép biện

chứng duy vật, Mác đã tạo ra một phương pháp luận khoa học cho việc nghiên

cứu tiến trình phát triển của xã hội loài người

Trong khi phê phán chủ nghĩa duy tâm của triết học Hêghen, C Mác đã

dựa vào truyền thống của chủ nghĩa duy vật triết học mà trực tiếp là chủ nghĩa duy

vật của L Phoiơbắc Hai tác phẩm tác động tích cực đến sự chuyển tiếp này là

Bản chất Kytô giáo (1841) và Luận cương sơ bộ về cải cách triết học (1842) của

L Phoiơbắc Trong Bản chất Kytô giáo Phoiơbắc vạch ra cơ sở tâm lý của sự ra

đời tôn giáo như cảm giác bất lực và yếu đuối của con người trước các lực lượng

hùng mạnh và bí hiểm xung quanh, nhấn mạnh rằng tôn giáo là hình thức sinh

hoạt tinh thần cần thiết của nhiều dân tộc, rằng Chúa của Kytô giáo là mục tiêu

Trang 20

cao nhất, là cái Tuyệt đối mà con người phấn đấu vươn tới, nói khác đi con người tạo ra Thượng đế, chứ không phải Thượng đế sáng tạo ra con người Phoiơbắc đưa bản chất tôn giáo về bản chất con người, bản chất của thế giới trần tục, đồng thời vạch ra hạn chế của chủ nghĩa duy tâm Hêghen, chứng minh mối liên hệ giữa chủ nghĩa duy tâm trên trời và chủ nghĩa duy tâm dưới mặt đất, tức hệ thống Hêghen

Ý tưởng cải cách mà Phoiơbắc đặt ra trong Luận cương sơ bộ về cải cách triết học

đã kích thích C Mác xây dựng một học thuyết triết học thâm nhập vào đời sống hiện thực thông qua các nguyên lý có tính khoa học của nó, khắc phục tính tư biện

cố hữu ở triết học Hêghen Phoiơbắc chỉ ra sự cần thiết thay thế chủ nghĩa kinh viện mới (ám chỉ triết học Hêghen) bằng thuyết nhân bản, xem con người là nền tảng, xem tự nhiên là hiện thực duy nhất, loại bỏ Thượng đế ra khỏi đối tượng nghiên cứu Cải tổ triết học cũng có nghĩa là giải phóng triết học ra khỏi thần học dưới bất kỳ hình thức nào Triết học Phoiơbắc là chiếc cầu nối để Mác đi đến chủ nghĩa duy vật biện chứng như sự thống nhất chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng, khắc phục những hạn chế lịch sử của các bậc tiền bối trực tiếp Hình thức hiện đại của chủ nghĩa duy vật (chủ nghĩa duy vật biện chứng) và phép biện chứng (phép biện chứng duy vật), gắn liền với tên tuổi của C Mác và Ph Ăngghen, là sự phát triển mới về chất của lịch sử triết học nói chung, của chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng nói riêng Trong tiền đề lý luận Đức không thể không đề cập đến vai trò của phái Hêghen trẻ, bởi lẽ chính thông qua phái Hêghen trẻ mà C Mác và

Ph Ăngghen trưởng thành dần về tư tưởng Trong quá trình chuyển biến thế giới quan phái Hêghen trẻ không chỉ đóng vai trò cầu nối, mà còn là phép thử tư tưởng đối với C Mác và Ph Ăngghen, nhất là khi cả hai đang đứng trước sự lựa chọn quyết định

Triết học chính trị của C Mác tập trung vào việc tìm kiếm phương thức tồn tại và phát triển của xã hội trong điều kiện phân hóa gay gắt Quá trình làm quen với chủ nghĩa cộng sản không tưởng của Xanhximông, Phuriê, Ooen đưa C Mác

và Ph Ăngghen đến với tư tưởng cốt lõi của họ như xóa bỏ tình trạng người bóc lột người, xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh hơn nền dân chủ

Trang 21

hiện tại với sở hữu cộng đồng về tư liệu sản xuất và sự phân phối sản phẩm xã hội một cách hợp lý C Mác và Ph Ăngghen tiếp thu có chọn lọc những tư tưởng ấy

và vận dụng vào triết học chính trị của mình, hình thành nên lý luận về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, học thuyết về giai cấp và đấu tranh giai cấp, về nhà nước và cách mạng xã hội, đặc biệt là lý luận giải phóng con người Do chịu

sự chi phối của điều kiện lịch sử cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX các nhà cộng sản không tưởng chưa thể vạch được con đường và phương thức giải phóng người lao động ra khỏi ách áp bức tư sản một cách khoa học C Mác và Ph Ăngghen vượt qua hạn chế đó, xác lập quan niệm duy vật về lịch sử, gợi mở những khả năng biến ý tưởng của các bậc tiền bối thành hiện thực

Các đại biểu lớn của kinh tế chính trị học Anh, Xmít và Ricácđô, cũng như kinh nghiệm thực tiễn xã hội tại Anh (sự vận động của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, xung đột giai cấp, tình cảnh giai cấp công nhân Anh) đã đem đến cho C Mác một

số kinh nghiệm và phương pháp phân tích các hoạt động kinh tế, các quy luật chi phối sự phát triển của xã hội Tiếp thu có chọn lọc và phê phán kinh tế chính trị học tư sản cổ điển, C Mác và Ph Ăngghen đưa vào học thuyết của mình những vấn đề và những luận giải mang tính khám phá Học thuyết về giá trị thặng dư của C Mác vượt ra khỏi khuôn khổ của một học thuyết kinh tế, trở thành cơ sở giải thích bản chất của xã hội tư sản, từ đó khẳng định rằng chủ nghĩa tư bản không phải là sự lựa chọn cuối cùng của nhân loại

Triết học Mác đã kế thừa có phê phán toàn bộ triết học trước đó nhất là triết học duy vật và phép biện chứng Đó là những tiền đề lý luận không thể thiếu được của triết học Mác Đồng thời sự ra đời của chủ nghĩa duy vật lịch sử trong triết học Mác gắn liền với những thành tựu của khoa học tự nhiên Liên minh giữa triết học với các lĩnh vực tri thức cụ thể, đặc biệt là khoa học tự nhiên, có lịch sử lâu dài và mang ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển của triết học, nhất là chủ nghĩa duy vật Các nhà triết học đầu tiên của Hy Lạp cổ đại đều là những bộ óc lớn Talét, Anaxago, Arixtốt và nhiều người khác được biết đến không chỉ với tư cách

là những triết gia, mà còn là những bậc thông thái, am tường nhiều thứ, chẳng hạn

Trang 22

toán học, vật lý học, thiên văn học, sinh vật học… những lĩnh vực đang còn ở trong tình trạng tản mạn, sơ khai Cùng với quá trình chuyên biệt hóa tri thức, vị

trí của triết học như “khoa học của các khoa học” cũng cần được xem xét lại

Song, liên minh giữa triết học với các khoa học chuyên biệt là điều kiện tất yếu cho sự phát triển của cả hai Đã có lúc, do những nguyên nhân khác nhau, triết học

bị đặt dưới sự chế ngự và giám sát của thần học, bị biến thành hệ thống các quan điểm mang nặng tính giáo huấn, tính minh họa một chiều cho các tín điều Khi ấy những khám phá khoa học, với những chất liệu thực tiễn không thể bác bỏ, đã trở thành chỗ dựa vững chắc đối với quá trình giải phóng triết học ra khỏi ảnh hưởng của thần học, tiếp tục con đường hướng tới chân lý Triết học không thể phát triển, nếu tách ra khỏi trình độ nhận thức chung của thời đại, trong đó có trình độ phát triển của tri thức khoa học

Thế kỷ XVIII – XIX khoa học tự nhiên phát triển như vũ bão với hàng loạt phát minh mang ý nghĩa vạch thời đại, đưa đến sự biến đổi trong cách thức tư duy

của con người Ba phát minh lớn mà Ăngghen nhắc đến trong tác phẩm Lútvích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức được gọi là các phát minh vạch thời đại do tác động quyết định của chúng đến chủ nghĩa duy vật: Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng; thuyết tế bào; thuyết tiến hóa

Phát minh thứ nhất, tạo nên chất liệu sống động cho sự lý giải mới về toàn

bộ thế giới vật chất, khẳng định rằng, thứ nhất, thế giới vật chất không chỉ được xác định là “không bị tiêu diệt”, mà còn là một quá trình luôn trải qua sự liên hệ, tác động, chế ước, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các yếu tố trong mỗi sự vật, hiện tượng và giữa các sự vật, hiện tượng; thứ hai, do đó, cách hiểu “bảo toàn” phải gắn với cách hiểu về vận động, biến đổi, chuyển hóa

Với hai phát minh tiếp theo các luận cứ do khoa học tự nhiên đem đến đã

khẳng định nguồn gốc tự nhiên của sự sống (thuyết tế bào) từ đơn giản đến phức

tạp, từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Bức tranh sự sống vô cùng phong phú, phức tạp, song tuân theo tính quy luật bên trong, khách quan của mình, trong đó có quy luật đấu tranh sinh tồn, tính thích nghi, tự đào thải, chọn lọc

Trang 23

tự nhiên và cân bằng sinh thái (thuyết tiến hoá của Đácuyn) Khẳng định chân lý khoa học này cũng có nghĩa là bác bỏ quan niệm về nguồn gốc siêu nhiên của sự sống, cũng như sự giải thích giản đơn, máy móc, siêu hình về thế giới, đặc biệt là thế giới hữu sinh Sự ra đời thuyết tế bào và thuyết tiến hóa đã kích thích các nhà khoa học đào sâu quá trình tìm hiểu tính thống nhất và đa dạng của tồn tại, khám phá những bí ẩn của thế giới, đồng thời góp phần đưa đến sự hình thành phương pháp tư duy mới Những thành tựu mới nhất của sinh học, y học, tế bào học hiện đại tiếp tục soi sáng các vấn đề mà vào thời Đácuyn chỉ mới là những phác thảo hoặc chưa đề cập đến Điều đáng nói là mỗi bước đi, mỗi phát minh tiêu biểu của khoa học đều buộc các nhà lý luận tìm hiểu, khái quát, biến thành những yếu tố thẩm định giá trị của một quan điểm, một học thuyết có liên quan

Những phát minh vạch thời đại trong khoa học tự nhiên, cùng với những biến đổi trong các khoa học lịch sử, đã góp phần đưa đến sự cáo chung hình thức

cũ của chủ nghĩa duy vật, tức chủ nghĩa duy vật siêu hình (đúng hơn, chủ nghĩa

duy vật trong phạm vi Siêu hình học của thế kỷ XVII – XVIII ); nó cần được

thay thế bằng hình thức hiện đại của chủ nghĩa duy vật, tức chủ nghĩa duy vật biện chứng Ph Ăngghen viết: “Mỗi lần có một phát minh mang ý nghĩa thời đại

ngay cả trong lĩnh vực khoa học lịch sử – tự nhiên thì chủ nghĩa duy vật lại không tránh khỏi thay đổi hình thức của nó” [16, tr.409] Ph Ăngghen cho rằng,

để trở thành một nhà triết học chân chính điều kiện trước tiên là phải nắm vững kiến thức về khoa học tự nhiên – lịch sử, từ toán học, vật lý, đến các khoa học về con người Trước tình hình phát triển của khoa học tự nhiên, cần phải có một sự kiến giải mới về sự phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy Và tất yếu xuất hiện một học thuyết mới đó là học thuyết triết học khoa học, do Mác và Ăngghen đề xướng, sau này được Lênin phát triển

Chủ nghĩa Mác cũng như các học thuyết triết học khác, không thể hình thành một cách tự phát Để tạo nên một hệ thống lý luận chặt chẽ phải tiến hành một khối lượng công việc đồ sộ, sự hoạt động nghiên cứu không mệt mỏi của tư duy,

sự nhận thức thấu đáo về mặt lý luận toàn bộ thành tựu khoa học và kinh nghiệm

Trang 24

đấu tranh xã hội của các thời đại lịch sử Bước ngoặt cách mạng trong triết học đương nhiên gắn liền một cách biện chứng với với việc nắm bắt các thành tựu tư

duy lý luận và văn hóa của quá khứ Trong tác phẩm Ba nguồn gốc và ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác, V.I Lênin chỉ rõ rằng mọi toan tính xem xét chủ

nghĩa Mác bên ngoài con đường phát triển của văn hóa thế giới, biến nó thành một học thuyết biệt phái khép kín nào đó, là biểu hiện của cách tiếp cận có tính xuyên tạc, trái với chân lý Các thành quả của tư tưởng quá khứ, trong đó có triết học,

chứa đựng những vấn đề đòi hỏi có lời giải đáp mới lẫn những “hạt nhân hợp lý”

mà C Mác và Ph Ăngghen sử dụng như tiền đề lý luận của mình

Như vậy, sự hình thành của chủ nghĩa duy vật lịch sử trong triết học Mác cũng như toàn bộ chủ nghĩa Mác ra đời như một tất yếu lịch sử không những vì đời sống và thực tiễn, nhất là thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân, đòi hỏi phải có lý luận mới soi đường mà còn vì những tiền đề cho sự ra đời lý luận mới

đã được nhân loại tạo ra

1.2 TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ TRONG TRIẾT HỌC MÁC - ĂNGGHEN, GIÁ TRỊ KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ

1.2.1 Các giai đoạn phát triển và nội dung tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử trong triết học Mác - Ăngghen

Xét về thực chất sự phát triển của triết học Mác trải qua các thời kỳ chính

là thời kỳ chuyển tiếp, định hình, và thời kỳ phát triển Về mặt thời gian có thể tạm chia lịch sử triết học Mác thế kỷ XIX ra các thời kỳ sau: a) thời kỳ hình thành triết học Mác (1837 -1848), bao gồm quá trình chuyển tiếp tư tưởng (1837 –1844)

và sự xác lập những luận điểm đầu tiên (1844 - 1848); b) thời kỳ phát triển triết học Mác từ năm 1848 đến Công xã Pari, bao gồm các chặng ngắn, đó là sự phát triển quan niệm duy vật về lịch sử trong quá trình cách mạng dân chủ tư sản 1848 – 1852, sự phát triển triết học Mác trong quá trình xây dựng kinh tế chính trị học vào những năm 50 – 60; các vấn đề của triết học Mác những năm 60 – 70; c) sự phát triển triết học Mác sau Công xã Pari Thời kỳ thứ ba chủ yếu gắn liền với tên

Trang 25

tuổi của Ăngghen, người đã làm sâu sắc thêm triết học Mác trên cơ sở khái quát các thành tựu của khoa học và các vấn đề của đời sống xã hội – lịch sử

Chủ nghĩa duy vật lịch sử trong triết học Mác cũng được hình thành ngay từ trong giai đoạn hình thành triết học Mác (1837 – 1848) Trong giai đoạn này, bao gồm sự chuyển tiếp tư tưởng của C Mác và Ph Ăngghen từ chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cộng sản, với

các tác phẩm chủ đạo là Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen (C Mác), Các bức thư từ nước Anh (Ph Ăngghen); những phác thảo đầu tiên của

chủ nghĩa duy vật biện chứng và quan niệm duy vật về lịch sử, với các tác phẩm

Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844 (C Mác), Luận cương về Phoiơbắc (C Mác),

Sự khốn cùng của triết học (C Mác), Gia đình thần thánh, Hệ tư tưởng Đức, Tuyên ngôn của Đảng cộng sản (C Mác và Ph Ăngghen)

Thời gian từ 1837 đến năm 1848 là quá trình C Mác và Ph Ăngghen từng

bước xây dựng những nguyên lý triết học duy vật lịch sử Trong đó, Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen Lời nói đầu (1843) là bằng chứng về sự kết thúc quá trình chuyển tiếp thế giới quan của Mác “Lời nói đầu” viết sau tác

phẩm chính 6 tháng, chứa đựng các luận điểm xuất phát của triết học mácxít ở thời kỳ đầu Trong khi vạch ra tính quy định lịch sử – xã hội và những hạn chế của triết học Hêghen và phái Hêghen trẻ, Mác nhấn mạnh sự cần thiết phủ định triết học theo nghĩa cũ, xác lập triết học gắn với những nhu cầu thực tiễn của con người, đi từ phê phán lý luận sang phê phán hiện thực, từ phê phán thượng giới đến phê phán cõi trần Nhân đó C Mác đánh giá tôn giáo như nhu cầu tinh thần của con người và chỉ ra cơ sở xã hội của sự ra đời tôn giáo: “Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là sự biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống

sự nghèo nàn hiện thực ấy Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” [6, tr.570] Như vậy, nếu chủ nghĩa duy vật lịch sử được coi là một trong những phát minh quan trọng nhất của chủ nghĩa Mác, thì những quan điểm về tôn giáo là một trong

Trang 26

những biểu hiện rõ nét nhất lập trường duy vật về lịch sử của học thuyết này Nó thể hiện thông qua các quan điểm của Mác về cả bản chất, nguồn gốc, chức năng của tôn giáo Trong khi các nhà duy tâm, thần học cho rằng tôn giáo có nguồn gốc siêu nhiên, thế giới tự nhiên, xã hội loài người cũng như toàn bộ hoạt động của mỗi cá nhân con người đều chịu sự chi phối, điều khiển của các lực lượng siêu nhiên, thần thánh thì các nhà duy vật, vô thần đã có quan điểm hoàn toàn đối lập

L Phoiơbắc - nhà triết học duy vật người Đức, trong Bản chất đạo Cơ đốc, đã

khẳng định rằng, không phải thần thánh sáng tạo ra con người mà con người sáng tạo ra thần thánh theo hình mẫu của mình Tuy nhiên, Phoiơbắc chưa chỉ ra được bản chất thực sự của tôn giáo và ở khía cạnh này, ông vẫn chưa thoát khỏi quan điểm duy tâm khi chỉ phê phán thứ tôn giáo hiện thời chứ không phê phán tôn giáo nói chung, càng chưa hề đề cập đến sự phê phán những điều kiện hiện thực đã làm nảy sinh tôn giáo Thậm chí, ông còn cho rằng người ta vẫn rất cần một thứ tôn

giáo khác thay thế, đó là “tôn giáo tình yêu” để xoá bỏ đi những áp bức, bất công

trong xã hội

Kế thừa và vượt lên trên quan điểm của Phoiơbắc và các nhà duy vật trước

đó, Mác đã đứng vững trên lập trường duy vật lịch sử để lý giải vấn đề nguồn gốc, bản chất, chức năng của tôn giáo Theo đó, ý thức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội, do tồn tại xã hội quyết định Mặc dù có tính độc lập tương đối nhưng mọi hiện tượng trong đời sống tinh thần, xét đến cùng, đều có nguồn gốc từ đời sống vật chất Tôn giáo là một hiện tượng tinh thần của xã hội và vì vậy, nó là một trong những hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định Nhưng khác với những hình thái ý thức xã hội khác, sự phản

ánh của tôn giáo đối với hiện thực là sự phản ánh đặc thù, đó là sự phản ánh “lộn ngược”, “hoang đường” thế giới khách quan Theo quan điểm của Mác, tôn giáo

mặc dù là sự phản ánh hoang đường, hư ảo hiện thực, là một hiện tượng tiêu cực trong xã hội nhưng nó không phải không có những yếu tố tích cực Tôn giáo chỉ là

những “bông hoa giả” tô điểm cho một cuộc sống hiện thực đầy xiềng xích Nhưng nếu không có những “bông hoa giả” ấy thì cuộc sống của con người chỉ

Trang 27

còn lại “xiềng xích” mà thôi Và nếu không có thứ “thuốc giảm đau” ấy thì con

người sẽ phải vật vã đau đớn trong cuộc sống hiện thực với đầy rẫy những áp bức, bất công và bạo lực Điều vĩ đại của C Mác, quan điểm duy vật lịch sử và tính cách mạng trong học thuyết Mác về tôn giáo chính là ở chỗ đó Trong khi các nhà duy vật vô thần chỉ biết phê phán bản thân tôn giáo thì C Mác lại không phê phán tôn giáo mà phê phán chính cái hiện thực đã làm nảy sinh tôn giáo, tức là phê phán sự áp bức, bất công, bạo lực… trong xã hội đã đẩy con người phải tìm đến với tôn giáo và ru ngủ mình trong tôn giáo C Mác đã nhận thấy rất rõ quan hệ nhân – quả trong vấn đề này Vì tôn giáo là một hiện tượng tinh thần có nguyên nhân từ trong đời sống hiện thực nên muốn xoá bỏ tôn giáo, không có cách nào khác là phải xoá bỏ cái hiện thực đã làm nó nảy sinh

Theo C Mác, “xóa bỏ tôn giáo, với tính cách là xóa bỏ hạnh phúc ảo tưởng của nhân dân, là yêu cầu thực hiện hạnh phúc thực sự của nhân dân Yêu cầu từ bỏ những ảo tưởng về tình cảnh của mình cũng là yêu cầu từ bỏ cái tình cảnh đang

cần có ảo tưởng” [6, tr.570] Do đó, vấn đề không phải là “vứt những bông hoa giả” đi mà là xoá bỏ bản thân cái “xiềng xích” được trang điểm bởi những bông hoa giả đó để con người có thể “giơ tay hái lấy bông hoa thật” cho mình, tức là

tìm kiếm được hạnh phúc thật sự ngay trong thế giới hiện thực Từ đó, C Mác đã khẳng định rằng, muốn xoá bỏ tôn giáo và giải phóng con người khỏi sự nô dịch của tôn giáo thì trước hết phải đấu tranh giải phóng con người khỏi những thế lực của trần thế, xoá bỏ chế độ áp bức bất công, nâng cao trình độ nhận thức cho người dân và xây dựng một xã hội mới không còn tình trạng người bóc lột người,

đó là xã hội cộng sản chủ nghĩa

Tiếp tục sự phát triển những tư tưởng lý luận của mình, C Mác đã viết tác

phẩm Bản thảo kinh tế triết học năm 1844 là tập hợp các ghi chép của ông về các

vấn đề kinh tế, song vượt ra khỏi khuôn khổ của nó, để trở thành một trong những tác phẩm điển hình của C Mác, đánh dấu sự kết thúc một thời kỳ và mở ra thời kỳ

mới, gắn với hoạt động thực tiễn cách mạng và hoạt động lý luận của C Mác Bản thảo kinh tế – triết học năm 1844 đề cập đến các chủ đề quen thuộc đối với kinh tế

Trang 28

chính trị học như tiền công, lợi nhuận, tư bản, địa tô, nhu cầu, sở hữu, phân công lao động… song người đọc có thể nhận thấy tư tưởng triết học đan xen hoặc rút ra

từ các chủ đề đó, hoặc tạo thành những trường đoạn riêng biệt Phân tích bản chất

xã hội tư sản từ những cái cụ thể và đơn giản nhất (tiền công, địa tô…), C Mác đi

đến một trong những nội dung cốt lõi của Bản thảo kinh tế – triết học năm 1844,

đó là “lao động bị tha hóa” Nội hàm của phạm trù này cho thấy C Mác không chỉ bày tỏ sự đồng cảm với thân phận của những công nhân làm thuê (vô sản), mà còn bảo vệ và bênh vực họ, đứng về phía họ trong cuộc đấu tranh vì những giá trị thực

sự chân chính, con người “Tha hóa” vốn là thuật ngữ được Hêghen sử dụng nhằm biểu thị quá trình vận động của “ý niệm”, sự “tự phân đôi” của nó thành mặt đối lập, thành “tồn tại khác”, sau đó nhận thức mình trong bản chất, trong khái niệm,

và trở về với chính mình như chân lý đã hoàn thiện hơn Phoiơbắc về cơ bản không làm lệch cách hiểu ấy, song ông thiên về ý nghĩa “đánh mất”, sự tự đánh mất của cá nhân trong sinh hoạt tôn giáo, nói cách khác, ông đã biến khái niệm tha hóa hay tự tha hóa như khách quan hóa ý niệm, thành tha hóa như một hiện tượng

xã hội C Mác trên cơ sở tiếp thu một phần cách đặt vấn đề ấy của các bậc tiền bối trực tiếp của mình, đã phân tích tha hóa trong quan hệ nền tảng giữa người với người – hoạt động lao động sáng tạo ra của cải vật chất – để vạch ra bản chất của

xã hội tư sản Trong Bản thảo kinh tế – triết học năm 1844 C Mác phân tích các

biểu hiện của tha hóa lao động và mở rộng đến tha hóa “loài”, tức tha hoá trong

đời sống con người, trong quan hệ giữa người với người C Mác chỉ ra cơ sở xã hội của tha hóa là sự chiếm hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất, nêu vấn đề khắc

phục tha hóa bằng xóa bỏ tích cực chế độ tư hữu và bằng “hình thức chính trị” Như vậy, trong tác phẩm này quan niệm duy vật về lịch sử đã bước đầu hình thành

ở những nét phác thảo

Mùa xuân năm 1845, C Mác và Ph Ăngghen công bố tác phẩm viết chung

đầu tiên với tên gọi Gia đình thần thánh, hay phê phán sự phê phán có tính phê phán Trong tác phẩm này, C Mác và Ph Ăngghen phê phán quan niệm duy tâm

về lịch sử của phái Hêghen trẻ, xác lập những luận điểm cơ bản đầu tiên của thế

Trang 29

giới quan triết học mới về tính quy luật của sự phát triển xã hội, về vai trò ngày vàng to lớn của quần chúng nhân dân trong lịch sử: “Hoạt động lịch sử càng lớn

lao thì do đó, quần chúng, mà hoạt động lịch sử đó là sự nghiệp của mình, cũng sẽ lớn lên theo” [6, tr.123] Hai ông còn đề cập đến sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản với tính cách là sự phủ định bên trong xã hội tư sản Những nội dung này sẽ

được làm sáng tỏ thêm trong các tác phẩm sau, đặc biệt Tuyên ngôn của Đảng cộng sản

Tác phẩm viết chung thứ hai của C Mác và Ph Ăngghen là Hệ tư tưởng Đức (1845 – 1846) – tác phẩm đánh dấu sự ra đời của một thế giới quan mới, một

quan niệm duy vật lịch sử đã làm nên giá trị trường tồn, sức sống bền vững và ý

nghĩa lịch sử lớn lao của Hệ tư tưởng Đức Bởi lẽ, đó là những thành tố đã tạo nên

bước ngoặt cách mạng thực sự trong lịch sử tư tưởng triết học nhân loại Đồng thời nó tạo ra một phương pháp luận khoa học cho việc nghiên cứu tiến trình phát triển của xã hội loài người Tác phẩm cũng bước đầu đặt cơ sở lý luận cho chủ nghĩa xã hội khoa học với tư cách kết quả có tính quy luật của tiến trình lịch sử khách quan, một cuộc vận động hiện thực trên cơ sở và nền tảng kinh tế - xã hội phát triển

Tác phẩm Hệ tư tưởng Đức viết vào cuối giai đoạn hình thành chủ nghĩa

Mác: Lúc mà hai ông đã khắc phục chủ nghĩa duy tâm trong lĩnh vực xã hội và xây dựng những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật, đặt nền móng triết học cho lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học Nó hơn hẳn về phương pháp tư duy so với loạt tác phẩm trước đó, đã rũ bỏ những ràng buộc với cả chủ nghĩa duy tâm Hêghen lẫn chủ nghĩa duy vật siêu hình Phoiơbắc Ngoài phần phê phán phái Hêghen trẻ, đánh giá triết học Phoiơbắc, chủ nghĩa xã hội Đức, tác phẩm này lần đầu tiên đưa ra các

phạm trù của quan niệm duy vật về lịch sử (chủ nghĩa duy vật lịch sử) như “lực lượng sản xuất”, “hình thức giao tiếp” (quan hệ sản xuất), “phương thức sản xuất”, “cơ sở hạ tầng”, “kiến trúc thượng tầng”… C Mác và Ph Ăngghen bước

đầu phân tích nội dung cơ bản của biện chứng lực lượng sản xuất - quan hệ sản

xuất (hình thức giao tiếp theo cách gọi của hai ông lúc đó), biện chứng cơ sở hạ

Trang 30

tầng – kiến trúc thượng tầng, biện chứng tồn tại xã hội – ý thức xã hội, phân tích các hình thức sở hữu, đặt nền móng cho lý luận hình thái kinh tế – xã hội, chỉ ra các tính quy định xã hội của đời sống con người, những tính quy định ấy có ý nghĩa to lớn trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác, chống lại sự xuyên tạc về triết học Mác như học thuyết xem nhẹ con người, nhất là con người với tính cách một cá nhân

C Mác và Ph Ăngghen đã trình bày quan niệm của các ông về lịch sử nhân loại - quan niệm duy vật về lịch sử Trước hết, các ông đã chỉ rõ những tiền đề cơ bản - những tiền đề xuất phát - của quan điểm duy vật về lịch sử và cũng là những tiền đề của bản thân lịch sử Những tiền đề đó là: Con người, hoạt động con người

và những điều kiện vật chất cho hoạt động đó Trong Hệ tư tưởng Đức C Mác và

Ph Ăngghen đã khẳng định: “tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại của con người, và

do đó là tiền đề của mọi lịch sử, đó là: người ta phải có khả năng sống đã rồi mới

có thể "làm ra lịch sử"” [8, tr.39 - 40] Nhưng đâu là hoạt động sống nền tảng,

đóng vai trò là “điều kiện trước tiên” của tồn tại? “muốn sống được thì trước hết

cần phải có thức, thức uống, nhà ở, quần áo và vài thứ khác nữa Như vậy, hành vi lịch sử đầu tiên là, việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất” [8, tr.40] Trong sản xuất vật chất thì sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt là tiền đề cơ bản của mọi

lịch sử, nó là sự thực lịch sử đầu tiên, là quan hệ lịch sử đầu tiên Hai ông viết “có

thể phân biệt con người với súc vật bằng ý thức, tôn giáo, nói chung bằng cái gì cũng được Bản thân con người bắt đầu tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình – đó là một bước tiến

do tổ chức cơ thể của con người quy định Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như thế là con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình” [8, tr 42] Như vậy, tiền đề đầu tiên của mọi lịch sử suy cho cùng là việc

sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt

Hai ông chỉ ra quan hệ lịch sử thứ hai là sự thoả mãn nhu cầu đầu tiên đưa

tới những nhu cầu mới Và sự sản sinh ra những nhu cầu mới này là hành vi lịch

sử đầu tiên Nhưng muốn thỏa mãn nhu cầu thì phải sản xuất, nhưng chính sản

Trang 31

xuất lại tạo ra những nhu cầu mới Đến lượt nó, những nhu cầu mới lại trở thành nguyên nhân của sự phát triển sản xuất “Bản thân cái nhu cầu đầu tiên đã được thoả mãn, hành động thỏa mãn và công cụ để thỏa mãn mà người ta đã có được -

đưa tới những nhu cầu mới” [8, tr 40]

Quan hệ lịch sử thứ ba là trong tái sản xuất ra đời sống vật chất của chính

bản thân mình, thì con người cũng tái sản xuất ra con người thông qua quan hệ gia đình “Hành vi cơ bản thứ ba của đời sống xã hội – có ảnh hưởng thường xuyên đến sự phát triển xã hội – sản sinh ra thế hệ sau, quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ

và con cái, tức gia đình, cái mà lúc đầu là quan hệ xã hội duy nhất” [8, tr 41] Về sau, khi những nhu cầu đã tăng lên sinh ra những nhu cầu mới và những mối liên

hệ xã hội đa dạng thì gia đình, sự gia tăng các thế hệ, sự phát triển dân số… trở

thành “quan hệ phụ thuộc”, xét đến cùng chịu sự chi phối của sự phát triển sản

xuất xã hội Vì thế, gia đình lúc đầu là quan hệ xã hội duy nhất, về sau trở thành một quan hệ phụ thuộc khi mà những nhu cầu đã tăng lên đẻ ra những quan hệ xã hội mới và dân số đã tăng lên đẻ ra những nhu cầu mới Ba mặt đó của hoạt động

xã hội là ba mặt hay ba yếu tố tồn tại đồng thời với nhau ngay từ buổi đầu của lịch

sử, từ khi con người đầu tiên xuất hiện, và chúng còn biểu hiện ra trong lịch sử

Do đó, sự sản xuất ra bản thân đời sống – ra đời sống của bản thân mình bằng lao động, cũng như ra đời sống của người khác bằng việc sinh con đẻ cái – biểu hiện ngay ra là một quan hệ song trùng: Một mặt là quan hệ tự nhiên, mặt

khác là quan hệ xã hội Quan hệ tự nhiên với ý nghĩa là hoạt động sản xuất để tái

sản xuất ra đời sống vật chất “Quan hệ xã hội với ý nghĩa là hoạt động kết hợp của nhiều cá nhân bất kể trong điều kiện nào, theo cách nào và nhằm mục đích gì” [8, tr.42] Trong quan hệ song trùng này, chúng ta thấy rằng “một phương thức sản xuất nhất định hay một giai đoạn công nghiệp nhất định là luôn luôn gắn liền với một phương thức hợp tác nhất định hay một giai đoạn xã hội nhất định; rằng bản thân phương thức hợp tác ấy là một "sức sản xuất"; và cũng do đó mà thấy rằng tổng thể những lực lượng sản xuất mà con người đã đạt được, quyết định trạng thái xã hội” [8, tr.42]; điều đó có nghĩa là, việc sản xuất ra đời sống vật chất là cơ

Trang 32

sở quyết định sự tồn tại của con người, mà yếu tố quan trọng nhất là lực lượng sản xuất, sẽ quyết định mọi trạng thái của lịch sử - xã hội Sự sản xuất ấy bắt đầu xuất

hiện lần đầu tiên cùng với sự tăng thêm của dân số Bản thân sự sản xuất ấy lại có tiền đề là sự giao tiếp giữa những cá nhân với nhau Hình thức của sự giao tiếp ấy,

đến lượt nó, lại do sự sản xuất quy định. “Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất của một dân tộc biểu lộ ra rõ nhất ở trình độ phát triển của sự phân công lao động” [8, tr.30] Quan niệm trên biểu hiện tư tưởng duy vật của C Mác và Ph Ăngghen về lịch sử Từ đó, hai ông đã phê phán những sai lầm của chủ nghĩa duy tâm Hêghen và chủ nghĩa duy vật siêu hình Phoiơbắc trong việc nhận thức lịch sử

- xã hội Như vậy là “ngay từ đầu, đã có mối liên hệ vật chất giữa người với người, mối liên hệ này bị quy định bởi những nhu cầu và phương thức sản xuất và cũng lâu đời như bản thân loài người, - một mối liên hệ không ngừng mang những hình thức mới, và do đó, là "lịch sử"” [8, tr.42 – 43]

Trong Hệ tư tưởng Đức C Mác và Ph Ăngghen vạch ra những tính quy

định xã hội – lịch sử của tồn tại người “Những cá nhân luôn luôn xuất phát từ bản thân mình, - dĩ nhiên là xuất phát từ những cá nhân ở trong khuôn khổ những điều kiện và quan hệ lịch sử nhất định, chứ không xuất phát từ cá nhân "thuần túy" như những nhà tư tưởng vẫn hiểu Nhưng trong quá trình phát triển của lịch sử, - và chính là do trong điều kiện phân công lao động, những quan hệ xã hội tất yếu biến thành một cái gì đó độc lập, - xuất hiện sự khác biệt giữa đời sống của mỗi cá nhân trong chừng mực đó là đời sống cá nhân với đời sống của người đó trong chừng mực đời sống ấy phụ thuộc vào một ngành lao động nào đó và vào những điều kiện liên quan với ngành lao động đó” [8, tr.110]

Từ đó, hai ông chỉ ra những đặc điểm của phân công lao động trong xã hội

có giai cấp: “sự phân công lao động nảy sinh một cách tự nhiên trong gia đình và vào sự phân chia xã hội thành những gia đình riêng rẽ đối lập nhau, - đồng thời cũng bao hàm sự phân phối lao động và sản phẩm của lao động; một sự phân phối thật ra là không đồng đều cả về mặt số lượng lẫn chất lượng; vì vậy nó cũng bao hàm sở hữu, mà mầm mống và hình thái đầu tiên nằm trong gia đình, trong đó vợ

Trang 33

và con cái là nô lệ của người đàn ông” [8, tr.46] Phân công lao động luôn gắn liền với chế độ sở hữu Là sự phân công lao động ngay từ đầu đã bao hàm sự phân chia không đồng đều về những điều kiện của lao động, là sự tách rời giữa lao động tích lũy và lao động thực tại, do vậy cũng bao hàm luôn cả sự phân phối không đồng đều những sản phẩm của quá trình lao động tạo ra Theo nghĩa đó, phân công lao động chỉ trở thành phân công lao động thực sự khi hoạt động tinh thần và hoạt động vật chất, hưởng thụ và lao động, sản xuất và tiêu dùng được chia phần cho những cá nhân khác nhau Tư hữu như vậy là hậu quả của phân công lao động Tư hữu chính là quyền chi phối sức lao động của người khác Thành thị đã trở thành nơi tập trung dân cư, công cụ sản xuất, tư bản, hưởng thụ, nhu cầu, còn nông thôn lại cho thấy điều ngược lại, sự biệt lập và phân tán Sự đối lập giữa thành thị và nông thôn chỉ có thể tồn tại trong khuôn khổ của sở hữu tư nhân

Phân công lao động trong xã hội có giai cấp đẻ ra tình hình: hành động của con người trở nên một lực lượng xa lạ, chống đối chính con người, nô dịch con người chứ không phải con người thống trị nó Con người bị cột chặt vào một nghề lao động bó buộc: “một khi bắt đầu có phân công lao động thì mỗi người đều có một phạm vi hoạt động nhất định và độc chuyên mà người đó buộc phải nhận lấy

và không thể thoát khỏi được: người đó là người đi săn, người đánh cá, hoặc người chăn nuôi, hoặc là nhà phê phán có tính phê phán, và người đó vẫn cứ phải

là như thế nếu không muốn mất những tư liệu sinh hoạt của mình” [8, tr.47] Ở đây, con người cũng phụ thuộc vào giai cấp, tư cách cá nhân của mỗi con người bị ràng buộc bởi tư cách cá nhân giai cấp (cái hoàn toàn ngẫu nhiên ở bên ngoài ý muốn con người) Quan hệ giữa người và người trong xã hội lẽ ra chỉ là hoạt động kết hợp của họ lại với nhau và không phụ thuộc vào ý chí của họ, thì phân công lao động trong xã hội có giai cấp lực lượng xã hội do họ tạo ra đã trở thành lực lượng xa lạ ở bên ngoài và thống trị lại chính con người Đó là sự tha hóa của hoạt động xã hội

C Mác và Ph Ăngghen kết luận: Sự phân công lao động không xảy ra một cách tự nguyện mà xảy ra một cách tự phát đã dẫn đến hậu quả các hoạt động của

Trang 34

con người bị tha hóa Nguyên nhân của sự tha hóa đó chính là sự phân công lao động gắn liền với tư hữu Muốn khắc phục tình trạng tha hóa đó phải tiến hành cách mạng vô sản, xóa bỏ chế độ tư hữu, xây dựng chế độ công hữu thực hiện chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản “Trong đó không ai bị hạn chế trong một phạm

vi hoạt động độc chuyên, mà mỗi người đều có thể tự hoàn thiện mình trong bất

kỳ lĩnh vực nào thích, thì xã hội điều tiết toàn bộ nền sản xuất, thành thử tôi có khả năng hôm nay làm việc này, ngày mai làm việc khác, buổi sáng đi săn, quá trưa đi đánh cá, buổi chiều chăn nuôi, sau bữa cơm thì làm việc phê phán, tùy theo

sở thích của tôi mà chẳng bao giờ trở thành người đi săn, người đánh cá, người chăn nuôi hoặc nhà phê phán cả” [8, tr.47]

Chủ nghĩa cộng sản xoá bỏ sự đối lập giữa cá nhân và tập thể, nó là tập thể thực sự Trong đó mỗi cá nhân có khả năng phát triển toàn diện những năng khiếu của mình, ở đây các cá nhân đạt đến tự do đồng thời với sự kết hợp của họ, và nhờ vào sự kết hợp ấy Chủ nghĩa cộng sản loại bỏ tính tự phát của quá trình tiến hoá lịch sử mà nhảy vọt từ thế giới tất yếu sang thế giới tự do Dưới chủ nghĩa cộng sản mọi tư liệu sản xuất đều thuộc công hữu của xã hội, mọi tư hữu tư nhân

về tư liệu sản xuất đều bị xoá bỏ

Xuất phát từ sự phát triển sức sản xuất biểu hiện trong trình độ của phân công lao động, C Mác và Ph Ăngghen chỉ ra: “Những giai đoạn phát triển khác nhau của sự phân công lao động cũng đồng thời là những hình thức khác nhau của

sở hữu, nghĩa là mỗi giai đoạn của phân công lao động cũng quy định những quan

hệ giữa cá nhân với nhau, tùy theo quan hệ của họ với tư liệu lao động, công cụ lao động và sản phẩm lao động” [8, tr.31] Tức là, với những giai đoạn khác nhau của phân công lao động là những hình thức sở hữu tư liệu sản xuất khác nhau ứng với nó

Hình thức sở hữu đầu tiên là sở hữu bộ lạc: Đây là hình thức sở hữu tập thể

(công xã) phù hợp với giai đoạn chưa phát triển của sản xuất, khi người ta sống bằng săn bắn và đánh cá, bằng chăn nuôi, hay nhiều lắm là bằng trồng trọt Trong giai đoạn ấy, sự phân công lao động còn rất ít phát triển Chế độ nô lệ gắn liền với

Trang 35

gia đình phụ quyền đã nảy sinh trong lòng nó hình thức sở hữu tư nhân dưới hình thức tiềm tàng

Hình thức sở hữu thứ hai là sở hữu công xã và sở hữu nhà nước thời cổ: sở

hữu này ra đời chủ yếu từ sự tập hợp - bằng hiệp ước hay bằng chinh phục - nhiều

bộ lạc thành một thành thị, và dưới chế độ sở hữu này chế độ nô lệ vẫn tiếp tục

được duy trì Trong nó, bên cạnh sở hữu công xã đã phát triển sở hữu tư nhân về động sản và sau nữa là bất động sản Tùy theo sự phát triển của sở hữu tư nhân mà quan hệ giai cấp trong xã hội nô lệ phát triển đến hoàn bị

Hình thức thứ ba là sở hữu phong kiến hay sở hữu đẳng cấp: điểm xuất

phát của hình thức này là sở hữu ruộng đất đối lập giữa quý tộc và nông nô trên địa bàn nông thôn Phù hợp với hình thức sở hữu này là chế độ phường hội ở thành thị trong công nghiệp thủ công Như vậy là trong thời đại phong kiến, hình thức chủ yếu của sở hữu, một mặt là sở hữu ruộng đất, với lao động của nông nô

đã bị cột chặt vào nó, mặt khác là lao động bản thân tiến hành với một tư bản nhỏ chi phối lao động của thợ bạn Sự tiến bộ của sản xuất trong điều kiện của xã hội phong kiến tất yếu giải thể các hình thức công xã và phường hội của sở hữu, đồng thời làm suy yếu sự phụ thuộc cá nhân của người sản xuất vào giai cấp bóc lột họ.Quan hệ sản xuất tư bản xuất hiện, sở hữu dần dần trở thành quan hệ kinh tế thống trị, đưa đến chiến thắng của hình thức thứ tư

Hình thức thứ tư là sở hữu tư bản: hai ông đã chỉ ra ưu thế của hình thức sở

hữu tư sản so với các hình thức trước đó Sự phát triển của thương nghiệp sinh ra

tư bản lưu thông khác với tư bản tự nhiên phường hội; Các thành thị được chuyên môn hóa sản xuất làm nảy sinh công trường thủ công: quan hệ hàng tiền thay thế cho quan hệ gia trưởng giữa thợ cả và thợ bạn; Máy móc xuất hiện làm nảy sinh thị trường thế giới; Công nghiệp lớn ra đời sinh ra tư bản hiện đại tạo ra ở khắp nơi những quan hệ giống nhau là sự đối lập giữa tư sản và vô sản Các nhà tư tưởng tư sản nhận thấy trong lao động tự do của người công nhân khỏi xiềng xích phong kiến là lao động tự do nói chung, nhưng lại xem nhẹ một sự thật là người

vô sản bị tước đoạt phương tiện sản xuất Thứ “tự do” này, tự do khỏi phương

Trang 36

tiện sản xuất này, song lệ thuộc vào chủ sở hữu phương tiện sản xuất, cần được

“cải tạo lại” Chính sự “cải tạo lại” lao động tự do thành lao động tự do theo

đúng nghĩa của nó sẽ dẫn đến hình thức tiếp theo của sở hữu

Hình thức thứ năm là hình thức sở hữu cộng sản: hai ông không chỉ đưa ra

những hình thức sở hữu tồn tại trong lịch sử mà còn dự báo hình thức sở hữu tương lai Trong phân tích của hai ông về các hình thức sở hữu, nếu chỉ bằng lòng với sự liệt kê các hình thức sở hữu một cách tập trung thì chúng ta chỉ có thể đếm được có ba hình thức: hình thức công xã, hình thức chiếm hữu nô lệ, hình thức phong kiến Song kỳ thực hai ông suy nghĩ cả đến hình thức tư sản, và dự báo về

hình thức tương lai, tức hình thức cộng sản Tại mục “Chủ nghĩa cộng sản – sự sản xuất ra bản thân hình thức giao tiếp”, C Mác và Ph Ăngghen chỉ rõ: “việc

thiết lập chủ nghĩa cộng sản, về thực chất, là có tính chất kinh tế: nó là sự sáng tạo vật chất ra những điều kiện cho sự liên hợp ấy; nó biến những điều kiện hiện có thành những điều kiện của sự liên hợp” [8, tr.102] Dưới chủ nghĩa cộng sản, sự “tự mình hoạt động” [8, tr.98] mang ý nghĩa của một hoạt động tự giác, bởi lẽ cá nhân trở thành cá nhân chiếm hữu chính mình một cách tự do, chứ không còn bị đẩy vào trạng thái bị tha hóa Chỉ đến hình thức sở hữu cộng sản thì cá nhân con người,

người lao động, mới không còn bị hạn chế bởi công cụ sản xuất hạn chế và “sự giao tiếp hạn chế” (ngụ ý quan hệ sản xuất hạn chế) Như vậy, khi bước sang chủ nghĩa cộng sản, cái cần bị thủ tiêu không phải bản thân lao động, mà lao động “bị tha hóa”, không phải bản thân sự chiếm hữu, mà sự chiếm hữu phi nhân tính, sự thống

trị phi nhân tính của một lực lượng xã hội đối với các lực lượng xã hội khác, đông đảo hơn, hơn nữa lại là chủ thể sáng tạo ra các giá trị vật chất của xã hội

Từ việc phân tích các hình thức sở hữu, mà thực chất là các hình thức của quan hệ sản xuất trong lịch sử, C Mác và Ph Ăngghen đã làm sáng tỏ nội dung cốt lõi, quy luật cơ bản, chi phối sự phát triển xã hội, đó là quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Nếu nói rằng, khái niệm lực lượng sản xuất đã được các nhà kinh tế học tư sản sử dụng thế này hoặc thế khác, thì khái niệm quan hệ sản xuất lại là cái riêng có của triết học Mác

Trang 37

– Ăngghen Hàm nghĩa căn bản của nó đầu tiên được trình bày trong Gia đình thần thánh, khi phân tích về mối quan hệ giữa sản phẩm lao động với con người:

“Vật thể, với tư cách là sự tồn tại vì con người, với tư cách là sự tồn tại vật thể của con người thì đồng thời cũng là sự tồn tại hiện có của con người vì người khác, là quan hệ người của anh ta đối với người khác, là quan hệ xã hội của người đối với

người” [7, tr.65] Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, phạm trù quan hệ sản xuất về

hệ sản xuất được hai ông gọi là hình thức giao tiếp, hay quan hệ giao dịch) Quan

hệ sản xuất là mối quan hệ cơ bản nhất, quyết định nhất bởi lẽ nó trực tiếp quyết định toàn bộ kết cấu bên trong của một dân tộc Tức là, hai ông đã quy toàn bộ quan hệ xã hội (quan hệ giữa người với người trên cả hai bình diện vật chất và tinh thần) về sự quyết định của quan hệ sản xuất (quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất vật chất), và khẳng định quan hệ sản xuất là yếu tố quyết định toàn bộ kết cấu của đời sống xã hội Suy cho cùng, quan hệ sản xuất được quy định bởi lực lượng sản xuất và tạo thành cơ sở nhất định của chế độ nhà nước

và thượng tầng tư tưởng: “Hình thức giao tiếp - cái mà trong tất cả các giai đoạn lịch sử từ trước đến nay đều được quyết định bởi lực lượng sản xuất và đến lượt

nó lại quyết định lực lượng sản xuất, - là xã hội công nhân mà tiền đề và cơ sở, như trước đây đã chỉ ra, là gia đình đơn giản và gia đình phức hợp, cái mà người

ta gọi là bộ lạc” [8, tr.51] Xã hội công dân, do đó được định nghĩa như tổng thể các quan hệ sản xuất, có nghĩa là như cơ cấu kinh tế của xã hội, bởi lẽ nó “bao trùm toàn bộ sự giao tiếp vật chất của các cá nhân trong một giai đoạn phát triển nhất định của lực lượng sản xuất Nó bao trùm toàn bộ đời sống thương nghiệp và công nghiệp trong giai đoạn đó…” [8, tr.52] Về sau C Mác và Ph Ăngghen

không còn dùng thuật ngữ “xã hội công dân” do tính chất nước đôi của nó và

Trang 38

cũng hàm nghĩa xã hội tư sản (trong Hệ tư tưởng Đức, thuật ngữ này đồng nghĩa với “cơ sở hạ tầng của nhà nước”)

Khẳng định phương thức sản xuất là cái quyết định toàn bộ đời sống kinh

tế - xã hội của một xã hội nhất định, còn những mặt cơ bản của hoạt động xã hội thì thể hiện ra như là những hình thức khác nhau của hoạt động sản xuất, C Mác

và Ph Ăngghen không chỉ phát triển toàn diện luận điểm mà trước đó các ông

đã đưa ra về vai trò quyết định của sản xuất vật chất trong đời sống xã hội, trong

Hệ tư tưởng Đức, lần đầu tiên, các ông còn luận giải một cách sâu sắc tính biện chứng trong sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất (“sự giao tiếp vật chất”, “hình thức giao tiếp”) Tính biện chứng đó là: lực lượng sản xuất

quyết định quan hệ sản xuất và tùy theo mức độ phát triển của lực lượng sản xuất

mà quan hệ sản xuất trước đây không còn phù hợp với chúng nữa và trở thành xiềng xích đối với chúng Mâu thuẫn này được giải quyết bằng một cuộc cách mạng xã hội, cuộc cách mạng này tạo ra quan hệ sản xuất mới, phù hợp với các lực lượng sản xuất phát triển hơn “Tất cả mọi xung đột trong lịch sử đều bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa những lực lượng sản xuất và hình thức giao tiếp” [8, tr.107] Đó là kết luận mà các ông rút ra từ việc luận giải tính biện chứng trong sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

Kết luận này đã đưa C Mác và Ph Ăngghen đến những nhận thức mới, sâu sắc hơn về các quy luật của sự phát triển xã hội Nếu trước kia, các ông coi quan hệ kinh tế là cái quyết định các quan hệ chính trị, pháp quyền, v.v., thì giờ

đây, trong “Hệ tư tưởng Đức”, các ông đã xác định rõ cái quyết định bản thân các

mối quan hệ kinh tế ấy và làm nên cơ sở sâu xa hơn của tiến trình phát triển lịch

sử nhân loại là các lực lượng sản xuất Như vậy, sự phát triển của các lực lượng sản xuất không chỉ là cái quyết định tất cả những mối quan hệ giữa người với người, mà còn quyết định bước chuyển từ hình thái kinh tế - xã hội này lên hình thái kinh tế - xã hội khác, cao hơn Và, nếu trước kia, các ông coi sản xuất vật chất

là cơ sở của toàn bộ đời sống xã hội thì giờ đây, trong Hệ tư tưởng Đức, các ông

đã tìm thấy cơ cấu nội tại trong sự phát triển của chính cơ sở đó và nhờ vậy, đã

Trang 39

giải thích được mối quan hệ lệ thuộc giữa các mặt chủ yếu của đời sống xã hội: những lực lượng sản xuất và các quan hệ sản xuất, tổng thể các quan hệ sản xuất

và thượng tầng kiến trúc chính trị, cũng như những hình thái ý thức xã hội

Với những nhận thức sâu sắc này, C Mác và Ph Ăngghen đã đi đến quan niệm khoa học về toàn bộ quá trình phát triển của lịch sử nhân loại Các ông coi những cuộc cách mạng xã hội giải quyết mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất chính là những điểm nút của lịch sử, là cái phân chia lịch sử nhân loại thành những giai đoạn chủ yếu và làm nên bước chuyển của các hình thái

kinh tế - xã hội Và, từ quan niệm khoa học này, trong Hệ tư tưởng Đức, các ông

đã tiến hành phân tích những giai đoạn chủ yếu trong sự phát triển lịch sử của sản xuất mà cơ sở nền tảng của nó là sự phát triển của các lực lượng sản xuất Ở đây, lần đầu tiên, các ông đã chỉ rõ, mỗi một nấc thang mới trong sự phát triển lịch sử của sản xuất đã làm nảy sinh những hình thức phân công lao động mới và tương ứng với mỗi hình thức phân công lao động ấy là những hình thức sở hữu mới và đến lượt mình, mỗi hình thức sở hữu này lại sản sinh ra những quan hệ xã hội và chính trị tương ứng với nó Quan niệm khoa học này là cơ sở nền tảng của học thuyết về các hình thái kinh tế - xã hội mà sau này, trong hàng loạt tác phẩm lý luận, các ông đã trình bày một cách chi tiết hơn, đầy đủ hơn Không chỉ thế, quan niệm khoa học này của các ông còn xé tan bức màn thần bí che phủ lịch sử nhân loại, biến lịch sử thành một khoa học thực sự và đặt cơ sở cho việc phân kỳ lịch sử phát triển xã hội một cách khoa học

Quá trình vận động của lực lượng sản xuất trong điều kiện các quan hệ sản xuất hiện tồn, sự phá vỡ tất yếu các quan hệ tỏ ra chật hẹp, lỗi thời để thiết lập quan hệ sản xuất mới phù hợp hơn với trình độ của lực lượng sản xuất đang phát triển…đều được phân tích căn cứ trên các chất liệu lịch sử sinh động Hai ông rút

ra nhận định: “tất cả mọi xung đột trong lịch sử đều bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa những lực lượng sản xuất và hình thức giao tiếp” [8, tr.107] Ngược lại, nếu “hình thức giao tiếp phù hợp với một giai đoạn phát triển nhất định của lực lượng sản xuất” [8, tr.102], thì các cá nhân cảm nhận được trong giai đoạn ấy sự hợp lý của

Trang 40

những điều kiện hoạt động của mình Nhận định tiếp theo là, cách mạng xã hội là

sự giải quyết mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, sự thay thế phương thức sản xuất lỗi thời bằng phương thức mới

Sự phân tích của C Mác và Ph Ăngghen về những nét chính của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, chính là làm sâu sắc hơn quan niệm duy vật về lịch sử Sự phân tích tiếp theo làm sáng tỏ cách hiểu về hình thức giao tiếp như cơ sở hạ tầng của xã hội Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng có mối quan hệ biện chứng: “Trong mọi thời đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị Điều đó có nghĩa là giai cấp nào

là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị trong xã hội Giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất vật chất thì cũng chi phối luôn cả những tư liệu sản xuất tinh thần, thành thử nói chung tư tưởng của những người không có tư liệu sản xuất tinh thần cũng đồng thời bị giai cấp thống trị đó chi phối Những tư tưởng thống trị không phải là cái gì khác, mà chỉ là sự biểu hiện tinh thần của những quan hệ vật chất thống trị, chúng là những quan hệ vật chất thống trị được biểu hiện dưới hình thức tư tưởng; Do đó là sự biểu hiện của chính ngay những quan hệ làm cho một giai cấp trở thành giai cấp thống trị; nói cách khác đó là những tư tưởng của sự thống trị của giai cấp ấy” [8, tr.66-67]

Các bậc tiền bối trước C Mác và Ph Ăngghen đã thấy nhà nước và pháp luật là những công cụ bạo lực, cần thiết cho lợi ích chung, thể hiện ý chí chung của toàn xã hội (ví như Tômát Hốpxơ (1588-1679) chẳng hạn) Hai ông gạt bỏ quan niệm chung chung ấy của giai cấp tư sản về nhà nước và pháp luật mà chỉ rõ bản chất giai cấp của nó C Mác và Ph Ăngghen rút ra kết luận cực kỳ quan trọng: giai cấp nào muốn nắm quyền thống trị thì trước tiên giai cấp ấy phải nắm lấy chính quyền để có thể nêu ra lợi ích của bản thân mình như là lợi ích phổ biến

C Mác và Ph Ăngghen tiếp tục sự trình bày quan niệm duy vật về xã hội

và lịch sử xã hội bằng việc xem xét các hình thái ý thức xã hội và đưa ra một giải pháp duy vật cho vấn đề cơ bản của triết học về mối quan hệ giữa ý thức và tồn tại Đó là: Ý thức không là cái gì khác hơn cái tồn tại được ý thức (tồn tại của con

Ngày đăng: 04/05/2021, 23:26

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w