Một người, từ khi sinh ra đến khi đi học, đi làm, cho đến khi chết chỉ trên lãnh thổ Nhật Bản thì thường là tiếng Nhật là ngôn ngữ duy nhất được sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày.Có một
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
………
NOHARA MEI
TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT SƠ CẤP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
………
NOHARA MEI
TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT SƠ CẤP
Chuyên ngành: Việt Nam học
Mã số: 60.31.60
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS HUỲNH CÔNG HIỂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014
Trang 3L ỜI CẢM TẠ
Trong quá trình thực hiện luận văn này, không chỉ là vấn đề viết bằng tiếng
Việt đối với một học viên người nước ngoài, còn có rất nhiều khó khăn khác khiến cho chúng tôi đã bao nhiêu lần nghi ngờ rằng mình có hoàn thành công trình này được hay không Nhưng mỗi lần gặp khó khăn, chúng tôi đều nhớ đến những người
đã giúp đỡ chúng tôi thật nhiều trong thời gian qua Ở đây chúng tôi xin phép được
viết hơi dài hơn lệ thường một chút, vì ít khi có dịp để chúng tôi có thể bày tỏ lòng
cảm ơn chân thành và sự biết ơn đối với từng người như vậy
Đầu tiên, chúng tôi cảm ơn thầy Lê Khắc Cường, đang là trưởng khoa Việt Nam học, đã gợi ý hữu ích rất nhiều trong khi luận văn này đang còn ở giải đoạn
bảo vệ đề cương Sau khi bảo vệ đề cương, chúng tôi đã có sự thay đổi về cấu trúc
nội dung của đề cương nhằm làm cho luận văn này trở nên khả thi hơn đối với khả năng thực sự của mình Lúc đó thầy vẫn thông cảm và đồng ý để chúng tôi tiếp tục
thực hiện Ngay chính cả việc xác nhận về các chứng chỉ cần thiết đối với người nước ngoài với phòng sau đai học, chính thầy Cường cũngxác nhận giúp chúng tôi
Có được sự xác nhận của thầy, chúng tôi an tâm, tập trung vào việc thực hiện luận văn
Trong thời gian trước đó, thầy Nguyễn Văn Huệ và cô Trần Thị Minh Giới, nguyên trưởng khoa và phó khoa Việt Nam học, cũng đã quan tâm, hết sức thông
cảm và nhiệt tình giúp đỡ chúng tôi, cũng nhưcác học viên nước ngoài khác, làm đủ các thủ tục về mọi thứ Chúng tôi cũng xin được cảm ơn thầy và cô rất nhiều
Một người đặc biệt quan tâm và động viên chúng tôi thường xuyên ngay từ
những ngày đầu tiên nhập học cao học là cô Phan Thị Yến Tuyết Chúng tôi vẫn còn nhớ rõ, có một lần, chúng tôi cảm thấy không thể tiếp tục học ở cao học được
nữa, chúng tôi đã xin ý kiến của cô, và lúc đó, cô đã dành nhiều thời gian cho chúng tôi để nói chuyện và động viên.Nhiều lần sau đó, cứ mỗi lần gặp cô thì cô lúc nào cũng gửiđến cho chúng tôi những lời nói đầy tình cảm ấm áp Chúng tôi
thật sự cảm ơn cô nhiều lắm, nhờ cô, chúng tôi đã không bỏ học mà có thể có được ngày hôm nay
Trang 4Trong quá trình học tập tại trường, việc phải bổ sung, hoàn chỉnh các thủ tục
giấy tờ cũng là một điều gây rất nhiều khó khăn cho học viên nước ngoài Nhưng chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ thật nhiều của cô Chu Thị Quỳnh Giao Do tuổi tác cũng gần bằng nhau,cộng với cách đối xử vừa vui vẻ vừa nhẹ nhàng của cô đã làm cho chúng tôi có được một cảm giác thật gần gũi với cô Sau khi không còn đảm nhiệm công việc giáo vụ, cô vẫn hỏi thăm và giúp đõ chúng tôi thường xuyên Chúng tôi thật sự cảm ơn cô rất nhiều
Một người đặc biệt chính là thầy Huỳnh Công Hiển, là giáo viên hướng dẫn
của chúng tôi Trong khi đang công tác ở nước ngoài rất bận rộn, lúc nào thầy cũng dành thời gian hướng dẫn chúng tôi một cách dễ hiểu và chính xác Không có thầy thì chúng tôi đã không thể hoàn tất được luận văn này Chúng tôi cũng mong muốn
nhờ thầy tiếp tục giúp đỡ trong những công trình sau này của chúng tôi
Cuối cùng chúng tôi cũng rất cảm ơn sự động viên của gia đình ở Nhật và các bạn ở Việt Nam
Một lần nữa, chúng tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đối với tất cả
mọi người
NOHARA MEI
Trang 5M ỤC LỤC
- Lời cảm tạ……….…i
- Mục lục……….………… iii
- Ký hiệu và chữ viết tắt……….……… ……vi
M Ở ĐẦU……… 1
0.1 Đặt vấn đề……….….….1
0.2 Lý do chọn đề tài ……….……… … 3
0.3 Ý nghĩa của đề tài ……… 5
0.4 Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu ……… …6
0.5 Phương pháp nghiên cứu ……… 12
0.6 Lịch sử vấn đề ……… … 12
0.7 Cấu trúc của luận văn ……… 14
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN VỀ QUAN HỆ VIỆT NHẬT VÀ VĂN HÓA, NGÔN NG Ữ VIỆT – NHẬT ……….….15
1.1 L ỊCH SỬ QUAN HỆ VIỆT – NHẬT ……… 15
1.1.1 Quan hệ chính trị ……….………….…….15
1.1.2 Quan hệ kinh tế ……… … 16
* Về mậu dịch ……… 16
* Về đầu tư ……… … 17
* Về ODA ……… ………….18
* Về du lịch ……… …….20
1.2 VĂN HÓA VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN ……… …….22
1.3 TI ỀNG VIỆT VÀ TIẾNG NHẬT ……… ….23
1.3.1 Loại hình ngôn ngữ Việt ……… … 23
1.3.2 Loại hình ngôn ngữ Nhật ……… … 24
CHƯƠNG 2 - CÁC CHỦ ĐIỂM TỪ VỰNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH TI ẾNG VIỆT SƠ CẤP……… …25
Trang 62.1 CH Ủ ĐIỂM 1: ĐẠI TỪ NHÂN XƯNG VÀ CÁC DANH TỪ CHỈ HỌ
HÀNG, THÂN T ỘC ……… 26
* Tiểu kết ……… …….33
2.2 CH Ủ ĐIỂM 2: CÁC TỪ CHỈ THỜI GIAN ……… ….39
* Khi / Hồi / Lúc / Vào ……… ……39
* Khi nào? / Lúc nào? ……… …….43
* Hồi nào? / Chừng nào? ……… ….….47
* Tiểu kết ……… ….47
2.3CH Ủ ĐIỂM 3: CÁC ĐỘNG TỪ BIỂU THỊ SỰ DI CHUYỂN …… ….48
* Lên / Xuống / Ra / Vào / Sang / Qua……… … 48
* Lên……… … … 54
* Xuống……… … …57
* Vào……… 60
* Ra……….….62
* Sang / Qua……… …65
* Tiểu kết……… 67
2.4 CH Ủ ĐIỂM 4: CÁC TỪ CHỈ NƠI CHỐN, VỊ TRÍ, PHƯƠNG HƯỚNG 67
* Trên / Dưới / Trong / Ngoài ……… …… ….68
* Phía trên / Phía dưới / Phía trong / Phía ngoài ……… ….….70
* Trước – Phía trước / Sau – Phía sau ……… …73
* Đối diện……… 75
* Bên phải / Bên trái / Bên cạnh ……… ….75
* Trên ……… ….79
* Dưới ……… …83
* Trong ……… …88
* Ngoài ……….…….…90
* Bên ……… … 92
*Tiểu kết ……… … 93
Trang 7CHƯƠNG 3 - CÁC CHỦ ĐIỂM NGỮ PHÁP TRONG CHƯƠNG TRÌNH
TI ẾNG VIỆT SƠ CẤP……… 95
3.1 CH Ủ ĐIỂM 1: CẤU TRÚC CÂU VÀ TRẬT TỰ TỪ ……… …95
* Câu khẳng định ……… ……… …… 95
* Câu phủ định ……… ………97
* Câu hỏi (câu nghi vấn) ……… ……….98
* Cách trả lời câu nghi vấn ……… …… 99
* Cách hỏi và trả lời lễ độ ……… …….105
* Tiểu kết ……… … 108
3.2 CH Ủ ĐIỂM 2: KẾT CẤU BIỂU ĐẠT Ý NGHĨA KHẢ NĂNG ….109
* Có thể / Không thể ……… ….109
* Được / Không được ……… 111
* Tiểu kết ……… …….130
3.3 CH Ủ ĐIỂM 3: KẾT CẤU BIỂU ĐẠT Ý NGHĨA NHÂN QUẢ … …131
* Vì ……… 131
* Vì / Bởi / Bởi vì / Do……… …131
* Tại / Tại vì……… 132
* Nên / Vì…nên……… 132
* Tại sao / Sao……… … 133
* Tiểu kết……… 141
K ẾT LUẬN ……… ……144
TÀI LI ỆU THAM KHẢO ……… ….146
Trang 9MỞ ĐẦU
0.1 Đặt vấn đề
0.1.1 Tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ được tiếp nhận từ khi sinh ra, thụ đắc một cách tự nhiên trong môi trường sinh sống ban đầu Trong tiếng Nhật, ngôn ngữ mẹ
đẻ cũng được gọi là “ngôn ngữ thứ nhất”.Còn ngoại ngữ là ngôn ngữ thứ hai được
tiếp nhận sau tiếng mẹ đẻ
Ở Nhật,tiếng mẹ đẻ của hầu hết mọi người Nhật (trường hợp cha mẹ là người
Nhật) là tiếng Nhật Một người, từ khi sinh ra đến khi đi học, đi làm, cho đến khi
chết chỉ trên lãnh thổ Nhật Bản thì thường là tiếng Nhật là ngôn ngữ duy nhất được
sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày.Có một vài nước trên thế giới, trường hợp sử
dụng tiếng mẹ đẻ của một số người chỉ là trong gia đình hay trong khu vực nhỏ mà
họ đang ở, còn bước ra khỏi nhà đi xa, rồi đi học, đi làm thì lại sử dụng ngôn ngữ chính thức của nước đó
Ngoài trường hợp trên, vị trí địa lý của Nhật Bản cùng với lịch sử của Nhật
Bản cũng tạo nên một môi trường sử dụng một ngôn ngữ duy nhất là tiếng mẹ đẻ
Nhật Bản là một đảo quốc và trong lịch sử từ trước đến giờ chưa lần nào bị là thuộc địa của một nước nào khác,cho nên, rất ít gặp yếu tố nước ngoài ở trong nước
Nhưng không phải vì vậy mà người Nhật không cần học tiếng nước ngoài Từ xưa đến giờ, người Nhật xem tình hình thể giới và tình hình của nước đang có giao
dịch với Nhật Bản, rồi chọn ngôn ngữ để học, chẳng hạn như tiếng Hoa, tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Hà Lan, tiếng Đức, tiếng Anh Và trong thời đại xa xưa thì người
học ngoại ngữ là những người cần sử dụng ngoại ngữ trong nghề nghiệp đặc biệt của
họ.Cho đến thời đại mạc phủ Edo (1603 - 1868), gần 80% dân số Nhật Bản là nông dân, cho nên, lúc đó, người học ngoại ngữ không nhiều như bây giờ
Hiện nay, ngoại ngữ được học nhiều nhất ở Nhật là tiếng Anh Tiếng Anh ít
nhất là phải học trong 6 năm thuộc giai đoạn giáo dục bắt buộc và, sau đó, những người học lên đại học thì sẽ phải tiếp tục học nữa Trong thời gian học ở trường cấp
1, cấp 2, cấp 3, mục đích học tiếng Anh là để thi vào trường cấp cao hơn và để thi vào đại học.Sau khi lên đại học rồi thì mục đích học tiếng Anh là để đọc tài liệu
Trang 10nghiên cứu Cho nên người Nhật học ngữ pháp, đọc hiểu thì học khá, còn tiếng Anh
để giao tiếp thì đại đa số không nói và nghe được do lý do trên và cũng do không có môi trường thực hành
0.1.2 Năm 2013 là năm kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam và Nhật Bản Trong thời gian qua, quan hệ Việt Nam và Nhật Bản ngày càng phát triển Theo thống kê năm 2012 của Bộ Ngoại giao Nhật Bản, số người Nhật
sống ở Việt Nam là 11,200 người, còn theo số liệu năm 2014, số lượng công ty Nhật
Bản hoạt động tại Việt Nam là 1,300 công ty Đối với những người Nhật đang sinh
sống ở Việt Nam, ngoại ngữ cần thiết nhất để học là tiếng Việt vì ngôn ngữ chính
thức của nước Việt Nam là tiếng Việt Các cơ quan nhà nước Việt Nam chỉ chấp
nhận văn bản tiếng Việt, và trong các công ty có yếu tố nước ngoài, khi làm hợp đồng thì thường cũng lập 2 bản bằng tiếng nước ngoài và tiếng Việt Ở chợ, ở siêu
thị hay ở các cửa hàng, đều sử dụng tiếng Việt Có thể là trong sinh hoạt hàng ngày, trong công ty, các vấn đề sẽ được giải quyết nếu luôn có người thông dịch bên cạnh
hoặc chính bản thân nhân viên có thể nói được cả tiếng Anh và tiếng Nhật Nhưng
nếu nghĩ đến một cách đầy đủ mọi tình hướng của việc sống và làm việc ở nước ngoài mà không sử dụng được ngôn ngữ chính thức của nước đó, có thể dẫn tới
những bất lợi ngoài sức tưởng tượng của mình
Nhưng với lý do về điều kiện riêng của Nhật Bản như đã nêu trên, đối với người Nhật, việc học ngoại ngữ “để sử dụng”, không phải là một kinh nghiệm quen thuộc Trong khi đó, sách vở và tài liệu học tiếng Việt bằng tiếng Nhật chưa nhiều
Vậy thì cả hai bên, một bên là người học tiếng Việt mà tiếng mẹ đẻ là tiếng Nhật, và
một bên là người dạy tiếng Việt cho họ, cần có cách học và cách giảng dạy phù hợp
để đạt hiệu quả cao.Đối tượng của luận văn là nhằm hướng đến các học viên người
Nhật học tiếng Việt (những người có tiếng Nhật là tiếng mẹ đẻ, và tiếng Việt là một ngoại ngữ) Và đối tượng này cũng bao gồm ngay cả những người học tiếng Việt mà
tiếng Nhật không phải là tiếng mẹ đẻ nhưng được sử dụng thành thạo như tiếng mẹ
đẻ
Trang 11Trên nền tảng của một tiếng mẹ đẻ xác định, việc học tiếng Việt sẽ có những thuận lợi và những khó khăn không giống nhau.Luận văn này tập trung giải quyết
những vấn đề đó trên nền tảng của tiếng mẹ đẻ là tiếng Nhật Các chủ điểm từ vựng
và ngữ pháp được trình bày trong luận văn cũng được chọn lọc trong mối tương quan với đối tượng là những người học tiếng Việt có tiếng mẹ đẻ là tiếng Nhật
0.2 Lý do chọn đề tài
- Lý do thứ nhất là về phương diện ti ếp xúc văn hóa và tiếp xúc ngôn ngữ
Nhật Bản và Việt Nam, lâu dài trong lịch sử, có sự tiếp xúc văn hóa và tiếp xúc ngôn
ngữ đặc thù Ảnh hưởng của những sự tiếp xúc này đối với việc học ngôn ngữ qua
lại với nhau rất đáng được quan tâm
- Lý do thứ hai là về phương diện đối chiếu ngôn ngữ.Ở góc độ của ngôn ngữ
học so sánh, chúng tôi muốn thực hiện sự đối chiếu ngôn ngữ Việt-Nhật trên bình
diện từ vựng và ngữ pháp Và chúng tôi tin rằng, sự đối chiếu ở từng chủ điểm từ
vựng và ngữ pháp sẽ giúp làm cho vấn đề sáng tỏ hơn
- Lý do thứ ba là giao tiếp và những tình cảm cá nhân của chúng tôi đối với
tiếng Việt nói riêng, đối với Việt Nam nói chung Là người nước ngoài học tiếng
Việt và sử dụng tiếng Việt để sống, học và làm việc tại Việt Nam trong mấy năm qua, không biết bao nhiêu lần chúng tôi cảm thấy tiếng Việt giúp chúng tôi có niềm vui khi sinh sống tại Việt Nam
Tuy nhiên, người nước ngoài sống tại Việt Nam có thể không cần biết tiếng
Việt mà vẫn sinh hoạt và làm việc được Hiện nay, số người Việt học tiếng Nhật rất nhiều Hầu hết nơi nào người Nhật thường xuyên đến thì chỗ nào cũng có người
Việt nói tiếng Nhật được Theo khảo sát của Quỹ Giao lưu Quốc tế Nhật Bản năm
2012 là số người học tiếng Nhật tại Việt Nam là 46,762 người (đứng hàng thứ 8 trong tổng số 3,985,669 người học tiếng Nhật trên toàn thế giới)
Bản thân chúng tôi khi mới qua Việt Nam thì dùng tiếng Anh để giao tiếp với người Việt Trong giai đoạn giáo dục phổ thông, người Việt học tiếng Anh trong vòng 6 năm Người Nhật cũng học tiếng Anh trong vòng 6 năm thuộc giai đoạn này Cho nên có thể nói là sống ở Việt Nam, nhưng không biết tiếng Việt, người nước
Trang 12ngoài nói chung, người Nhật nói riêng, sẽ không cảm thấy là quá bất tiện, mà vẫn có
thể sống, đi chơi, đi làm…một cách bình thường được
Nhưng nhìn lại, trong thời gian 9 năm vừa qua, chúng tôi ở Việt Nam, chúng tôi rất có ấn tượng về sự ngạc nhiên và nụ cười tỏ rõ sự vui mừng của người Việt
mỗi khi biết chúng tôi nói được tiếng Việt Người Việttrở nên cởi mở hơn và nói chuyện nhiều hơn gấp mấy lần sau khi biết chúng tôi nói tiếng Việt được Ai cũng nói là “A! Người nước ngoài mà nói tiếng Việt!” Từ năm 2005,năm chúng tôi bắt đầu sống ở Việt Nam, đến nay, việc này vẫn diễn ra đều đặn, sự ngạc nhiên và nụ cười ấy vẫn không thay đổi Điều này cũng có nghĩa là, cho đến nay, người nước ngoài nói được tiếng Việt như chúng tôi vẫn còn là một “thiếu số”
Trong khi làm việc, chúng tôi nói tiếng Việt với người Việt để bàn bạc, giao ban, hội họp Làm việc với người Việt cũng như với người của các nước khác, vấn
đề phát sinh do bất đồng ngôn ngữ là vấn đề đầu tiên chúng tôi gặp phải Và sau đó, chúng tôi dần dần thấy rằng, sựsuông sẻtrong công việc của chúng tôi ngày càng
được nâng lên theo sự nâng caotrình độ tiếng Việt của chúng tôi
Tình cảm của người Việt dành cho chúng tôi, những người Nhật biết tiếng
Việt, cũng khác biệt rất nhiều so với những người Nhật không biết tiếng Việt Họ cũng nói chuyện vui vẻ với bất cứ ai, nhưng đi đâu, làm gì, họluôn hào hứng “thuyết trình” về mọi thứ của Việt Nam cho chúng tôi nghe, và lúc đó, họ không còn ngượng ngập như khi họ đang nói tiếng Nhật nữa Và khi càng nghe càng gặp phải
những từ chúng tôi chưa biết, những cách nói chưa gặp, hoàn toàn không thể hiểu được, chúng tôi càng cảm thấy phải học tiếng Việt nhiều hơn Chúng tôi thật sự đã
bị “nghiện” sự hấp dẫn của vai trò cầu nối của tiếng Việt Những kinh nghiệm khó
có được, những hiểu biết rộng hơn và những cảm nghĩ sâu sắc hơn về Việt Nam… đều là do tiếng Việt mang lại cho chúng tôi Cho nên chúng tôi cũng rất mong đóng góp một cách có hiệu quả vào quá trình học tiếng Việt của những người có tiếng mẹ
đẻ là tiếng Nhật giống như chính mình để họ có thể trải nghiệm được cuộc sống ở
Việt Nam như chính chúng tôi
Trang 13Để có thể bước lên một bậc cao hơn trong việc giao tiếp với người Việt, chúng tôi thấy cách tốt nhất làphải nâng cao khả năng tiếng Việt, trong đó, quan
trọng nhất là kiến thức về Việt Nam, về tiếng Việt nói chung, và khả năng ứng dụng
về từ vựng và ngữ pháp tiếng Việt nói riêng Đối với người nước ngoài, phát âm
tiếng Việt là một trong những thứ thách khó vượt qua nhất trong khi học và thực hành tiếng Việt, vì việc phát âm đúng vừa phải dựa vào ý thức về các đặc trưng ngữ
âm, và đặc biệt là phải dựa vào sự tập luyện gian khổ và lâu dài Còn đối với các
vấn đề từ vựng và ngữ pháp thì cứ một lần hiểu đầy đủ và chính xác thìcó thể sử
dụng được ngay Cho nên chùng tôi muốn thực hiện luận văn này để có thể đóng góp cho người học một cách ngay lập tức về việc luyện tập các kỹ năng sử dụng từ
vựng và ngữ pháp tiếng Việt
0.3 Ý nghĩa của đề tài
0.3.1 Ý nghĩa lý luận
- So sánh tiếng Việt và tiếng Nhật dưới góc độ ngôn ngữ học so sánh
- Đối chiếu từng bình diện của tiếng Việt và tiếng Nhật trên cơ sở của ngôn
ngữ học đối chiếu qua từng chủ điểm
- Ở bình diện phương pháp dạy tiếng, xác định một cách tiếp cận và các thủ pháp được vận dụng để hướng tới một đối tượng cụ thể là người có tiếng mẹ đẻ là
ti ếng Nhật
0.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Giúp người Nhật học tiếng Việt phát hiện nhanh các sai sót của mình và
những cách đơn giản và hiệu quả để sữa chữa những sai sót đó
- Giúp người dạy tiếng Việt cho người Nhật có ý thức từ đầu về những sai sót
của học viên và cách hạn chế những sai sót đó một cách tối đa
- Mang tiếng Việt đến một cách nhanh chóng, phổ biến và ngày một gần gủi hơn với người Nhật, vốn đang có mặt ngày càng nhiều hơn ở TP.Hồ Chí Minh nói riêng và Việt Nam nói chung
- Giúp người Nhật học tiếng Việt có được một tài liệu tham khảo hữu ích để
tự có ý thức về việc hạn chế những sai sót của mình trong quá trình học tiếng Việt
Trang 14- Một cách nào đó, đóng góp vào sự phát triển cho mối quan hệ Việt Nhật ở
tất cả các lĩnh vực
0.4 Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vinghiên cứu
0.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là tiếng Việt ở trình độ sơ cấp trong
“Giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài”, tập 1+2, Nguyễn Văn Huệ chủ biên (2004), NXB Giáo Dục
Theo dự kiến ban đầu, chúng tôi định tổng hợp hết tất cả các chủ điểm trong
2 quyển sách giáo trình tiếng Việt sơ cấp, với tư cách là đối tượng nghiên cứu, để làm luận văn này Và đến lượt mình, luận văn này có thể sẽ trở thành một tài liệu tham khảo cho cả người học và người dạy Chúng tôi tổng hợp lại các chủ điểm và chia ra làm 2 phần là chủ điểm từ vụng và chủ điểm ngữ pháp
Nếu nghiên cứu hết tất cả các chủ điểm thì phạm vi quá rộng lớn đối với quy
mô luận văn thạc sĩ, cho nên chúng tôi chọn 4 chủ điểm từ vựng và 3 chủ điểm ngữ pháp để thực hiện đề tài này
Chúng tôi chọn theo tiêu chuẩn là các chủ điểm không xa lạ đối với người bắt đầu học tiếng Việt, đồng thời nó có khả năng gây khó khăn cho người Nhật học
tiếng Việt Các chủ điểm từ vựng bao gồm đại từ nhân xưng và các từ chỉ họ hàng, thân tộc, các từ chỉ thời gian, các từ chỉ nơi chốn, vị trí, phương hướng, và các động
từ di chuyển Từ vựng trong các chủ điểm trên, bất kể ở Việt Nam hay ở Nhật Bản đều gặp trong sinh hoạt hàng ngày mà giữa ở 2 hai nước nói riêng, ở tất cả các nước trên thế giới nói chung, các hành động hay trạng thái được thể hiện bằng ngôn ngữ (các từ vựng) đều giống nhau Chẳng hạn như khi đi thẳng hay rẽ phải, hành động
đó, người nước nào cũng thể hiện như nhau Nhưng giữa chúng luôn có điểm dị biệt Cùng hành động hay trạng thái mà sử dụng từ vựng khác để diễn tả Chùng tôi cảm
thấy sự thú vị về điều đó và cũng thấy rằng những điểm dị biệt ấy khiến cho người
học vừa bỡ ngỡ vừa dễ mắc lỗi
Còn về các chủ điểm ngữ pháp thì chúng tôi chọn cấu trúc câu và Trật tự từ,
kết cấu biểu đạt ý nghĩa khả năng và kết cấu biểu đạt ý nghĩa nguyên nhân – kết quả
Trang 15Những chủ điểm này là kinh nghiệm của chính bản thân chúng tôi khi bắt đầu học
tiếng Việt.Và chúng tôi muốn chuyển tất cả kinh nghiệm đó thành những điều cần thiết đối với người Nhật học tiếng Việt
Sau khi chọn được đề tài thì chúng tôi tiến hành tổng kết lại các chủ điểm từ
vựng và ngữ pháp tiếng Việt trong giáo trình sơ cấp và so sánh ý nghĩa, cách sử
dụng với tiếng Nhật nhằm mục đích tổng hợp lại các điểm tương đồng và dị biệt Chúng tôi tin rằng, kiến thức về các điểm tương đồng và dị biệt sẽ giúp cả người
Nhật học tiếng Việt lẫn người Việt học tiếng Nhật tránh được các lỗi dễ mắc phải
Và chính những điều tương đồng sẽ làm cho người học có cảm giác gần gũi hơn về ngôn ngữ đang học
0.4.2 Nhi ệm vụ nghiên cứu
- So sánh, đối chiếu từng nội dung thuộc các chủ điểm khác nhau (từ vựng /
ngữ pháp) giữa tiếng Nhật và tiếng Việt sơ cấp
- Dựa trên kết quả của sự so sánh đối chiếu này, thử đề xuất các biện pháp
nhằm nâng cao hiệu quả cho quá trình học tiếng Việt của người Nhật và dạy
ti ếng Việt cho người Nhật
0.4.3 Ph ạm vi nghiên cứu
- Chương trình “Tiếng Việt sơ cấp”, chúng tôi bám theo giáo trình hiện hành
của khoa Việt Nam học tại trường đại học khoa học Xã hội và Nhận văn Tp.HCM Đồng thời chúng tôi cũng tham khảo thêm nội dung các quyển sách
học tiếng Việt được xuất bản tại Nhật Bản
- Các chủ điểm trong “Giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài”, tập 1+2, Nguyễn Văn Huệ (chủ biên) (2004), NXB Giáo Dục gồm có:
Trang 16- Kết cấu nghi vấn: Có không Bài 2:
- Cách nói về quốc tịch
- Cách nói lễ phép: dạ
- Câu nghi vấn: phải không
- Đại từ nhân xưng: anh ấy, cô ấy, các anh ấy
- Cách nói địa chỉ, khả năng ngoại ngữ
- Cách nói giờ và thời gian trong ngày
- Từ nghi vấn: bao nhiêu
- Phó từ: thường, rất
- Trợ từ cuối câu: à Bài 6:
- Ôn lại cách hỏi tên, quốc tịch, nghề nghiệp, địa chỉ, thời gian, khả năng ngoại ngữ
- Phân biệt: mấy/bao nhiêu, quá/rất, đâu/ở đâu
Trang 17- Đại từ nhân xưng: chúng ta/chúng tôi
- Kết cấu nghi vấn: đã chưa, nào cũng Bài 11:
- Cách gọi đồ ăn, thức ướng
- Trợ từ: nhé
- Thán từ: thôi
- Kết cấu: không gì , gì cũng
Trang 18- Cách nói khi mua sắm
- Danh từ chỉ loại: cái/con
- Trợ từ cuối câu: chứ Bài 2:
- Cách nói về sức khỏe, bệnh tật
- Động từ: trông, thấy, bị, được
- Tổ hợp: chắc là Bài 3:
- Cách nói/nhắn tin qua điện thoại
Trang 19- Danh từ chỉ loại: cái/con/chiếc/quyển/bức
- Phân biệt cách dùng của hai động từ: bị/được
- Phân biệt các tổ hợp: hình như/chắc là/nghe nói
- Phân biệt cách kết cấu: vì nên /tuy nhưng /không những mà còn
- Cách nói về công việc
- Đại từ nghi vấn: sao
- Phó từ: lại
- Kết cấu: mặc dù nhưng
Trang 20- Ôn lại cách nói về nhà cửa, công việc, thói quen, sở thích, nhân dạng
- Ôn lại các kết cấu: thì thì , càng càng , vừa vừa
- Phân biệt: các/những Ngoài ra/trừ, mặc dù nhưng/tuy nhưng
- Các “chủ điểm” được chúng tôi định nghĩa là các điểm quan trọng cần truyền đạt
đến người học.Chủ điểm trong luận văn này đề cập đến 2 nhóm: Chủ điểm từ vựng,
Chủ điểm ngữ pháp Luận văn này sẽ không trình bày tất cả các chủ điểm đã có trong chương trình tiếng Việt sơ cấp do dung lượng không đủ và do cũng không cần thiết phải trình bày tất cả Chúng tôi chỉ chọn lọc các chủ điểm có thể gây khó khăn cho người Nhật học tiếng Việt
0.5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp miêu tả ngôn ngữ để miêu tả các đơn vị từ vựng của tiếng Việt
và tiếng Nhật và miêu tả các cấu trúc ngữ pháp của tiếng Việt và tiếng Nhật
- Phương pháp phân tích ngôn ngữ để phân tích các điều kiện sử dụng, các
sắc thái ngữ nghĩa dễ gây ra sự nhầm lẫn và phân tích các đặc điểm về mặt ngôn ngữ trong mối quan hệ với văn hoá và tính cách con người cũng như tính cách dân tộc
- Phương pháp so sánh đối chiếu để tiến hành đối chiếu tiếng Việt – tiếng
Nhật trên từng đơn vị từ vựng và trên từng kết cấu ngữ pháp và diễn đạt
0.6 L ịch sử vấn đề
Đây là một lĩnh vực khá mới mẻ.Chỉ trong khoảng mấy mươi năm gần đây,
việc dạy tiếng Việt với tư cách một ngoại ngữ mới được phát triển hơn bao giờ hết trong xu thế hội nhập quốc tế của Việt Nam.Hệ quả kèm theo là việc nghiên cứu các lĩnh vực, các bình diện, các khía cạnh và cả những thủ pháp được vận dụng trong quá trình giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài được quan tâm ngày càng nhiều
Trang 21hơn.Chúng ta có thể tìm thấy chúng trong các công trình nghiên cứu của Nguyễn Thiện Nam, Phạm Đăng Bình, Nguyễn Minh Chính, Huỳnh Công Hiển…
Bên cạnh đó, ở góc độ của người học, các công trình nghiên cứu lại không nhiều lắm, cụ thể là họ mắc những lỗi nào? / Tại sao mắc lỗi như vậy? / Làm thế
nào để hạn chế xảy ra những lỗi như vậy?
Còn ở bên Nhật, từ trước đến giờ, nghiên cứu tiếng Việt cũng khá nhiều.Trong hệ thống tra cứu các tài liệu nghiên cứu khoa học (luận văn, luận án, tạp chí khoa học ) CiNii trên mạng (http://ci.nii.ac.jp/) tìm thấy 105 tài liệu từ năm
1964 đến này Trong đó có một số tài liệu so sánh Việt - Nhậttiêu biểu của Murakami Yuutarou (Lê Văn Cừ)như “日越両語における複合動詞「~だす」と
「~RA」との対照比較(So sánh đối chiếu động từ từ Dasu và Ra giữa tiếng Nhật
và tiếng Việt)”(1990), “受け身と利害の表現 日本語とベトナム語との対照を試みて(Đối chiếu cách biểu đạt câu bị động và lời hại)”(1997), “文法化の観点か
Trong những bài viết trên, ý nghĩa và cách dùng của những từ vựng tiếng Việt
được tìm hiểu và sáng tỏ ra, và theo việc đối chiếu với tiếng Nhật, phân tích rõ về điểm tương đồng và dị biệt giữa hai thứ tiếng này Còn các bài viết như bài “So sánh câu bị động gián tiếp trong tiếng Nhật và câu bị động trong tiếng Việt (2011)”
của Nguyễn Thị Ái Tiên thì so sánh ý nghĩa và ngữ pháp nhằm giúp học viên không
bị mắc lỗi cũng nhu bài “So sánh đối chiếu từ gốc Hán mà từ loại khác nhau giữa
tiếng Nhật và tiếng Việt (2012)” của Lê Ngọc Chánh Tín, theo gốc độ là hai nước
chịu ảnh hưởng của chữ Hán của Trung Quốc, so sánh đối chiếu để người học hiểu
Trang 22sự khác nhau về từ loại của từ gốc Hàn trong tiếng Việt và tiếng Nhật “Một số lỗi sinh viên Nhật thường hay mắc phải khi viết tiếng Việt (2011)” của Nguyễn Mỹ Châu, Yamamoto Rie, Shimizu Masaaki và Tomita Kenji thì trên cơ sở tư liệu 107 bài viết củasinh viên Nhật học tiếng Việt, phân tích và nhận xét một số lỗi của sinh viên Nhật mắc phải và có sự tương đương nhau không chỉ là do ảnh hưởng của tiếng
mẹ đẻ mà còn do từ điển Việt – Nhật và Nhật – Việt chưa được chất lượng như mong muốn.Kết quả được dẫn ra từ các nghiên cứu so sánh đối chiếu tiếng Việt và
tiếng Nhật trên, khá là hữu ích cho người Nhật học tiếng Việt, đặc biệt là ở góc độ
tiếp cận tiếng Việt, so sánh đối chiếu với tiếng Nhật dễ cho người học thấy điểm tương đồng và dị biệt
Đề tài này, tiếp bước cuộc hành trình trên, kế thừa những thành quả mà
những người đi trước đã làm, giới hạn phạm vi ở trình độ tiếng Việt sơ cấp, tiến
hành so sánh đối chiếu giữa tiếng Việt và tiếng Nhật về từng nội dung thuộc các chủ điểm từ vựng và ngữ pháp trong chương trình tiếng Việt sơ cấp
0.7 Cấu trúc của luận văn
Nội dung chính gồm ph ần Mở đầu, 3 chương nội dung và phần kết
luận.Trong Chương I, chúng tôi tóm tắt về lịch sử quan hệ Việt - Nhật về chính trị
và kinh tế để xác nhận về sự phát triển đáng kể trong quan hệ giữa hai nước Theo
đó chúng tôi khẳng định về sự cần thiết của việc học tiếng Việt Càng có giao dịch nhiều với Việt Nam thì việc càng có nhiều nhân lực hiểu biết tiếng Việt là một điều thiết yếu để phát triển mối quan hệ tốt đẹp giữa hai bên, chứ không thể chỉ một bên
học và sử dụng ngôn ngữ của bên kia, còn một bên thì không.Trong Chương II, chúng tôi tiến hành việc thống kê, miêu tả, phân tích và so sánh Việt – Nhật về các
chủ điểm từ vựng trong chương trình tiếng Việt sơ cấp.Trong Chương III, chúng tôi
tiến hành việc thống kê, miêu tả, phân tích và so sánh Việt – Nhật về các chủ điểm
ngữ pháp trong chương trình tiếng Việt sơ cấp
Ngoài nội dung chính, còn có các phần:Lời cảm tạ, Ký hiệu và Chữ viết tắt , Mục lục và Tài liệu tham khảo
Trang 23CHƯƠNG 1
T ỔNG QUAN VỀ QUAN HỆ VIỆT NHẬT
VÀ VĂN HÓA, NGÔN NGỮ VIỆT – NHẬT
1.1.1 Quan h ệ chính trị
Hiệp định Paris về Kampuchia được ký kết vào năm 1991, và từ lúc đó, Nhật
Bản bất đầu viên trợ lại Sau những năm mà quan hệ Việt Nam và Nhật Bản ngày càng tốt lên, vào tháng 10 năm 2006, trước khi đến thăm Nhật Bản, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố rằng “Việt Nam và Nhật Bản là đối tác chiến lược”,
thể hiện quyết tâm mạnh mẽ là sẽ thực hiện xây dựng quan hệ bền vững giữa hai nước
Đến năm 2009, khi tổng bí thư Nông Đức Mạnh đến thăm Nhật Bản, hai nước cùng ra tuyên bố rằng Việt Nam và Nhật Bản sẽ chia sẻ lợi ích chiến lược và
sẽ xác lập quan hệ đối tác chiến lược để hợp tác vì phát triển và hòa bình tại khu vực châu Á
Vào tháng 10 năm 2010, thủ tướng Nhật Bản Kan Naoto đến Việt Nam để tham gia Hội nghị cấp cao ASEAN, cũng thăm Việt Nam một cách chính thức, đưa
ra tuyên bố chung giữa hai nước về thiết lập quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng vì hòa bình và thịnh vượng ở châu Á
Đến tháng 10 năm 2011, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến Nhật Bản tham gia
cuộc họp cấp cao Việt Nhật, đã ký Tuyên bố chung về Triển khai Hành đ ộng trong Khuôn khổ Đối tác Chiến lược vì Hòa bình và Phồn vinh ở Châu Á giữa Việt Nam
và Nhật Bản với thủ tướng Nhật Bản Noda Yoshihiko Còn thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến thăm Nhật Bản vào tháng 4 năm 2012 và tham gia cuộc họp cấp cao với
thủ tướng Noda
Vào tháng 1 năm 2003, thủ tướng Abe Shinzou đến thăm Việt Nam, là nước đầu tiên thủ tướng Abe đến thăm chính thức sau khi thủ tướng Abe đảm nhiệm chức
Trang 24vụ thủ tướng lần thứ 2 Còn vào tháng 12 cùng năm, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến Nhật Bản để tham gia vào Hội nghị cấp cao ASEAN-Nhật Bản và thủ tướng Abe và thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng xác nhận về việc phát triển quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước để chia sẻ vấn đề khu vực và phát triển kinh tế của hai nước
Do giao lưu giữa hai nước tăng mạnh lên, vào năm 2009, Tổng lãnh sự quán
Việt Nam tại Fukuoka đã được mở cửa, và đến năm 2010, lại mở thêm Lãnh sự quán danh dự tại Kushiro và Nagoya
Năm 2013 là năm kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam và
Nhật Bản
1.1.2 Quan h ệ kinh tế
Vào năm 1973, Việt Nam và Nhật Bản thiết lập quan hệ ngoại giao hai nước, sau đó mối quan hệ kinh tế của hai nước ngày càng sâu và rộng hơn, đặc biệt là
những năm gần đây Hiện Việt Nam là đối tượng đầu tư lớn nhất đối vối Nhật Bản
và về mậu dịch thì lớn thứ 3 tiếp theo Trung Quốc và Mỹ
Từ năm 2003, chính sách Sáng kiến chung Việt Nam - Nhật Bản bắt đầu triển khai Vào năm 2004, hai nước ký kết Hiệp định Đầu tư Việt Nam - Nhật Bản Từ năm 2009, Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản có hiệu lực Do đó quan
hệ kinh tế hai nước đã và đang tiếp tục phát triển
* V ề mậu dịch
Về quan hệ mậu dịch giữa Việt Nam và Nhật Bản, trong các tài liệu lịch sử,
bắt đầu từ thế kỷ XVI Tàu Shuisen (Châu ấn thuyền, dấu đỏ) từ Nhật thường xuyên qua lại cảng Việt Nam Các thương nhân Nhật mang bạc, đồng thanh (đồng thiếc), đồng…, trao đổi với lụa, đường, gia vị, trầm hương… tại Việt Nam để mang về
Nhật Bản
Đến thế kỷ XVII, Chúa Nguyễn Hoàng mở cảng Hội An và người Nhật sinh
sống ở đó đã có mấy trăm người Họ xây một khu phố riêng dành cho người Nhật cư trú
Trang 25Trong thời gian trên, hai nước Việt Nam và Nhật Bản tận hưởng mối quan hệ thương mại tốt đẹp Chúa Nguyễn và Tướng Quân Tokugawa Ieyasu, vị Shougun (Tướng Quân) đầu tiên của Mạc phủ Tokugawa, cũng trao đồi thư từ và quà tặng với nhau
Đến thời Chúa Nguyễn Phúc Nguyên, con trai Chúa Nguyễn Hoàng, ông đã
gả Công chúa Ngọc Khoa cho Araki Shutaro, một thương nhân Nhật Bản Các thương nhân Nhật khác cũng được đối xử tốt vì thỉnh thoảng họ đều có hoạt động quyên góp từ thiện Người Nhật ở Hội An góp tiền xây dựng một chiếc cầu Nhật, sau này được đặt tên là Lai Viễn Kiều, là một biểu tượng về tình hữu nghị thông qua
mậu dịch của thời đại này
Mối quan hệ mậu dịch tốt đẹp này của hai nước, sau khi Nhật Bản bước vào
thời kỳ tỏa quốc (năm 1635) cũng tiếp tục phát triển thông qua những người trung gian thương mại và một số lớn người Nhật đã quyết định định cư ở Việt Nam Nhưng đến năm 1685, khi mạc phủ Edo tiến hành những hạn chế về mậu dịch, mậu
dịch giữa Nhật Bản với Việt Nam cũng như với các nước Nam Á giảm mạnh
Vào năm 1973, Việt Nam và Nhật Bản thiết lập quan hệ ngoại giao Sau đó kim ngạch mậu dịch giữa hai nước cũng tăng dần, đặc biệt những năm gần đây Theo thống kê năm 2013, kim ngạch mậu dịch giữa Việt Nam và Nhật Bản là 253 triệu đô la Mỹ, là nước có kim ngạch lớn thứ 4 so với các nước khác Kim ngạch lớn
nhất là Trung Quốc (502 triệu đô la Mỹ), thứ hai là Mỹ và thứ ba là Hàn Quốc Đối
với Trung Quốc và Hàn Quốc thì nhập siêu, còn với Mỹ thì xuất siêu Với Nhật Bản kim ngạch nhập khẩu và xuất khẩu hầu hết năm nào cũng đều được cân bằng
* V ề đầu tư
Số liệu về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI, Foreign Direct Investment) tìm
thấy trong dữ liệu của Tổ chức Xúc tiến Mậu dịch Nhật Bản (JETRO) là từ năm
1996, sau 10 năm Việt Nam Đổi Mới, kim ngạch được đầu tư vào năm đó là 294
triệu đô là Mỹ Từ đó cũng có năm lên và xuống, nhưng sực tiếp tục đầu tư vẫn được duy trì cho đến nay
Trang 26Vào năm 2013, kim ngạch đầu tư trực tiếp (FDI), trên tổng số các dự án cũ và
mới, đã lên tới 5 tỷ 750 triệu đô la Mỹ, và Nhật Bản đã trở thành nước đầu tư lớn
nhất đối với Việt Nam Nhật Bản cũng là nước đầu tư lớn nhất về tổng số kim ngạch đầu tư trực tiếp từ trước đến giờ Lĩnh vực được đầu tư nhiều nhất là chế biến và sản
xuất, tiếp theo là bất động sản, kế tiếp là bán lẻ, phân phối và thông tin viễn thông, sau đó là kho và vân tải
Tổng số tiền đầu tư được cấp phép đến tháng 12 năm 2013
1 Nhật Bản 34.58 tỷ USD
2 Singapore 29.31 tỷ USD
3 Hàn Quốc 29.04 tỷ USD
4 Đài Loan 27.91 tỷ USD
5 Quần đảo Virgin 15.64 tỷ USD
(Theo dữ liệu Cục Đầu tư nước ngoài)
Tổng số tiền đầu tư được cấp phép vào năm 2013
Sau tháng 11 năm 1992, Nhật Bản bất đầu lại sự Hỗ trợ phát triển chính thức
(ODA, Official Development Assistance) đã bi ngừng từ năm 1979 Từ năm 1995,
Nhật Bản luôn là nước có viện trợ lớn nhất đối với Việt Nam Kinh tế Việt Nam đang phát triển mạnh và do đó nhu cầu về cơ sở hạ tầng kinh tế như giao thông vận
tải, năng lượng rất cao nhưng vẫn chưa được cung cấp Cho nên sự phát triển cơ sở
hạ tầng nhằm duy trì sự phát triển kinh tế là rất cần thiết cũng như sự cải thiện môi trường thương mại, các chế độ kinh tế, y tế và giáo dục… Sân bay Tân Sơn Nhật,
một kiến trúc tiểu biểu, được xây dựng bởi ODA Nhật Bản
Trang 27ODA Nhật Bản đã viện trợ đa dạng như phát triển cơ sở hạ tầng, môi trường thương mại, đối sách về vấn đề môi trường, cải cách hành chính và tài chính, hỗ trợ
về pháp luật, y tế, giáo dục… Tổng kim ngạch ODA của năm 2012 mà Nhật Bản
viện trợ là 2,6 tỷ đô la Mỹ
ODA Nhật Bản được triển khai theo phương châm: Viên trợ nước Việt Nam
thực hiện công nghiệp hóa đến năm 2020 theo Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020 và Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2015 của chính phủ Việt Nam Để đạt được kết quả trong việc thực hiện công nghiệp hóa đến năm 2020, cần thiết phải phát triển liên tục thông qua việc tăng cường tính cạnh tranh quốc tế, khắc
phục tính rủi ro (vulnerability) và xây dựng một xã hội công bằng, công khai và minh bạch
Trong thập niên 1960, một số công ty Nhật Bản triển khai dự án tại nước ngoài, mời nhân viên bản xứ sang Nhật Bản để đào tạo cho họ Sau khi về nước, họ
sử dụng kỹ thuật và kiến thức để nâng cao tính cạnh tranh ở đất nước của họ Cho nên chinh phủ Nhật Bản chính thức đưa ra chinh sách về việc đào tạo người lao động nước ngoài
Các nước Đông Nam Á cũng như Việt Nam cũng có nhu cầu về việc người lao động đến đào tạo tại các nước tiên tiến để có được kỹ năng, kỹ thuật và kiến thức
của các nước tiên tiến Để đáp ứng nhu cầu đó, Nhật Bản hàng năm nhận một số lớn thanh niên Việt Nam vào các công ty tại Nhật Bản để học tập Đó là Chế độ thực tập
kỹ năng dành cho người nước ngoài với mục đích là chuyển kỹ năng để đào tạo
những người lao động giúp phát triển kinh tế của nước đó Đây cũng là một trong
những hoạt động quan trọng để hợp tác và đóng góp quốc tế
Thời gian được đào tạo tại Nhật Bản tối đa là 3 năm Ban đầu người lao động nước ngoài học tập (tu nghiệp sinh) được cho phép ở lại Nhật Bản 1 năm để học tập theo kế hoạch tu nghiệp Sau đó, những ai đạt được kết quả như thi đậu kỹ năng v.v thì có thể ở lại thêm 2 năm để thực tập
Theo thống kê những năm gần đây của JITCO(Japan International Training Cooperation Organization), số người lao động sang Nhật Bản vào năm 2009 là 2,692
Trang 28người, vào năm 2010 là 2,647 người (giảm 1.7% so với năm trước), vào năm 2011 là 4,212 người (tăng 59.1% so với năm trước), vào năm 2012 là 4,788 người (tăng 13.7% so với năm trước) và vào năm 2013 là 6,248 người (tăng 30.5% so với năm trước) 5 nước xuất khẩu người lao động nhiều nhất là Trung Quốc, Việt Nam, Indonesia, Philippine và Thái Lan, trong đó Việt Nam là nước đứng thứ 2 về số người xuất khẩu lao động sang Nhật Bản
* V ề du lịch
Việt Nam là một nước có chiều dài từ Bắc đến Nam khoảng 1,600 km, được chia ra 3 miền là Bắc bộ, Trung bộ và Nam bộ Khi hậu và phong tục tập quán có sự khác biệt theo miền Du khách thực hiện các chuyến xuyên Việt sẽ thấy sự khác nhau và có thể thưởng thức được các thắng cảnh, các món ăn v.v… của các miền khác nhau Đối với người Nhật thì Việt Nam là một nước rất dễ đến thăm do cự ly không xa, chi phí không cao, khí hậu lại êm dịu, không quá nóng như mùa hè va cũng không quá lạnh như mùa đông ở Nhật Bản, cũng là một nước trong khu vực châu Á nên có một số điểm tương đồng về văn hóa, ẩm thực… Chinh sách về thị
thực (Visa) ưu đãi cho người Nhật là miễn thị thực cho người Nhật đi du lịch và kinh doanh vào Việt Nam trong vòng 15 ngày, đã thúc đầy du khách Nhật đến Việt Nam ngày càng nhiều hơn
Theo số liệu của Hiệp Hội Ngành Du Lịch Nhật Bản (JATA, Japan Association of Travel Agents), số lượt du khách Nhật Bản đến thăm Việt Nam và số lượt du khách Việt Nam đi du lịch Nhật Bản đều có xu hướng tăng dần cụ thể như sau:
Năm Số lượt người Việt đến Nhật Bản Số lượt người Nhật đến Việt Nam
Trang 29đầu của du lịch Việt Nam, sau Hàn Quốc và Trung Quốc”, và Chiến lược phát triển
du l ịch Việt Nam đến 2020 tầm nhìn 2030 đã xác định Nhật Bản là thị trường trọng
điểm
Vào ngày 18 tháng 9 năm 2012, VNAT và JATA đã tổ chức Hội thảo thúc đầy du lịch tại Tokyo Ông Nguyễn Văn Tuấn cũng tham gia và phát biểu, khẳng định về việc nâng cao chất lượng dịch vụ và phát triển sản phẩm liên quan tới du
lịchcó thể làm du khách Nhật hài lòng, và sẽ đưa ra các chiến lược để thực hiện
Hiện nay, trên báo hay trên mạng (internet) thỉnh thoảngđều có thể thấy được các công ty du lịch tại Việt Nam đưa ra thông báo tuyển dụng nhân viên Việt Nam
biết tiếng Nhật để tăng cường mạnh hơn các dịch vụ cho du khách Nhật Bản
Còn Nhật Bản cũng là một nước có chiều dài khoảng 3,000km, mỗi miền cũng có các đặc trưng riêng như Việt Nam Có rất nhiều điểm hấp dẫn để thu hút người Việt đến thăm như các thắng cảnh, món ăn, công nghệ, mua sắm v.v… , nhưng hiện nay số lượt du khách Việt thăm Nhật Bản chỉ là khoảng 1/10 của số lượt
du khách Nhật thăm Việt Nam Lý do số lượt du khách Việt sang Nhật chưa được tăng mạnh chính là vấn đề chi phí và thị thực Đối với người Nhật, Việt Nam là một nước có vật giá thấp, còn đối với người Việt thì Nhật Bản lại là một nước vật giá quá cao Thủ tục xin thị thực thì lại khá phức tạp Trong vòng 6 tháng kể từ ngày biết rõ
Trang 30kết quả không được cấp thị thực, người xin cấp thị thực sẽ không được xin lại với cùng một mục đích nhập cảnh, và không được biết lý do tại sao không được cấp thị
thực Cho nên hiện nay du khách Việt Nam đến Nhật hầu hết là đi theo tour và có lẽ
chỉ đi được một lần trong đời để biết Nhật Bản
Văn hóa là kết quả của những gì con người tạo nên trong sinh hoạt từ xa xưa
Nó bao gồm trang phục, ẩm thực, kiến thức, kỹ thuật, khoa học, nghệ thuật, đạo đức, tôn giáo… Thông thường, mỗi nước có văn hóa riêng của họ, chịu ảnh hưởng lớn
của địa lý, khí hậu, lịch sử… Mặc dù Việt Nam và Nhật Bản có sự khác biệt về địa
lý, khí hậu, lịch sử, nhưng có nhiều điểm tương đồng trong văn hóa
Việt Nam thuộc Đông Nam Á, khí hậu nhiệt đới, nhưng về mặt văn hóa thì thuộc vào các nước chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc như Nhật Bản, Hàn
Quốc Về ngôn ngữ cũng thuộc về các nước chịu ảnh hưởng của tiếng Trung Quốc
Về đạo đức thì chịu ảnh hưởng của Nho giao, tôn giáo thì đa số theo Phật giáo đại
thừa Về ẩm thực thì sử dụng đũa và lương thực chính là gạo Gia đình theo chế độ
phụ hệ và con cái sẽ kế thừa họ của cha
Và cách giữ gìn và tiếp nhận văn hóa cũng có sự tương đồng Ở Việt Nam và
Nhật Bản đều tồn tại 2 loại văn hóa: là “Văn hóa hiện đại” và “Văn hóa truyển
thống” Những cái tiêu biểu của “Văn hóa hiện đại” như xe máy, karaoke, truyện tranh…, người Việt thưởng thức những gì du nhập từ Nhật Bản, đồng thời vẫn giữ nét văn hóa truyền thống trong sinh hoạt như tập quán đi chùa, cúng bái tổ tiên và
thần thánh, mặc áo dài trong những dịp đặc biệt, ở trường và cơ quan… Những người ở trung tâm của “Văn hóa hiện đại” là giới trẻ, còn “Văn hóa truyển thống” thì thuộc về những người lớn tuổi hơn Hiện tượng này ở Nhật cũng giống nhau “Văn hóa hiện đại” đối với người Nhật thường du nhập từ Âu Mỹ, nhưng cách tiếp nhận
và giữ gìn 2 loại văn hóa này rất giống Việt Nam
Ảnh hưởng của Nho giáo cũng là một trong những điểm tương đồng lớn nhất
giữa Nhật Bản và Việt Nam Từ “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín”(trong tiếng Nhật là “仁,
義, 礼, 智, 信”), hiện giờ cũng được nói đến nhiều từ việc suy đồi đạo đức hiện nay,
Trang 31và trong mối quan hệ giữa con người và con người, người Việt và người Nhật vẫn xem 5 điều trên là trên hết
1.3.1 Lo ại hình ngôn ngữ Việt
Tiếng Việt thuộc về loại hình ngôn ngữ đơn lập.Một vài đặc trưng của ngôn
ngữ thuộc loại hình này như sau:
- Không biến đổi hình thái của từ Hình thái của từ không chỉ quan hệ giữa các từ trong câu
Ví dụ: Tôi ăn cơm
Anh ấy ăn cơm
Các anh ấy ăn cơm
(động từ không biến đổi theo ngôi, thời, thể, cách…)
- Các Hư từvà trật tự từlà phương tiện quan trọng biểu thị quan hệ ngữ pháp
và ý nghĩa ngữ pháp
Ví dụ: Hôm qua tôi ăn cơm
Tôi ăn cơm hôm qua
(Câu thứ nhất là thời gian ăn cơm là hôm qua, còn câu thứ hai là ăn
cơmcủa hôm qua nấu.)
Tôi sẽ đọc quyển sách đó
Tôi đã đọc quyển sách đó
(Hư từ “đã”, “sẽ” biểu thị ý nghĩa thời gian của động từ)
- Từ vựng cơ bản thường là từ đơn tiết và thường có nghĩa Cho nên sự phân
biệt giữa âm tiết, hình vị và từ không rõ ràng, và cụm từ và từ ghép cũng khó phân biệt
Ví dụ: “Xe” là một hình vị, cũng là một từ
- Không rõ ràng về từ loại Ví dụ, từ “quản lý” vừa là dành từ vừa là động từ
Trang 321.3.2 Lo ại hình ngôn ngữ Nhật
Tiếng Nhật thuộc về loại hình ngôn ngữchắp dính.Có vài đặc điểm cần chú ý như sau:
- Có sự phân biệt rõ rệt giữa căn tố và phụ tố, nhưng căn tố ít khi biển đổi và
có thể tách ra dùng độc lập thành từ
- Sử dụng các phụ tố một cách rộng rãi đẻ cấu tạo từ và biểu thị mối quan hệ
ngữ pháp Mỗi phụ tố chỉ diễn đạt một ý nghĩa ngữ pháp Cho nên độ dài của
từ cũng lớn
Ví dụ:Động từ “飛ぶ(tobu)”, có nghĩa là “bay”
Căn tố là “tob”, còn phụ tố kết hợp tạo ra nghĩa như sau:
tob + anai: 飛ばない, có nghĩa là “không bay”
tob + imasu: 飛びます, có nghĩa là “bay (cách nói lịch sự)” tob + eba: 飛べば, có nghĩa là “Nếu bay thì…”
tob + ou: 飛ぼう, có nghĩa là “Củng bay đi”
- Các hình vị có tính độc lập và mối liện hệ giữa các hình vị không chặt
chẽ.Chính tố có thể đúng một mình
Ví dụ: 私 (watashi), nghĩa là “tôi”
私たち(watashi tachi), nghĩa là “chúng tôi”
Trang 33CHƯƠNG 2 CÁC CH Ủ ĐIỂM TỪ VỰNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT SƠ CẤP
Kho từ vựng trong một ngôn ngữ, dựa trên tiêu chí của các cấp độ tiếp nhận,
có thể và thường được phân chia ở 3 cấp độ Sơ cấp, Trung cấp và Nâng cao Từ
vựng tiếng Việt cũng thế Chúng ta có thể nói đến Từ vựng tiếng Việt sơ cấp, Từ
v ựng tiếng Việt trung cấp, Từ vựng tiếng Việt nâng cao Ranh giới giữa các cấp độ
này, về mặt từ vựng, không rõ ràng lắm nếu so sánh với mặt ngữ pháp Một từ nào
đó có thể có nhiều ý nghĩa khác nhau và nhiều trường hợp sử dụng khác nhau Các ý nghĩa này hoặc các trường hợp sử dụng này, khi thì thuộc cấp độ sơ cấp, khi thì thuộc cấp độ trung cấp hoặc nâng cao Việc xếp một từ nào đó vào cấp độ nào tuỳ thuộc vào việc chọn ý nghĩa nào hoặc trường hợp sử dụng nào của nó
Chúng ta cũng biết rằng, chẳng hạn, biên soạn một giáo trình tiếng Việt sơ
cấp, mỗi tác giả có thể có quan điểm riêng trong việc chọn một ý nghĩa hoặc một trường hợp sử dụng của một từ nào đó để làm căn cứ xếp nó vào trình độ sơ cấp Và
vì thế, khối lượng từ vựng tiếng Việt sơ cấp ở giáo trình này có thể khác với khối lượng từ vựng tiếng Việt sơ cấp ở giáo trình khác
Luận văn này lấy “Giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài”, tập 1+2, Nguyễn Văn Huệ chủ biên (2004), NXB Giáo Dục và “Tiếng Việt – Một ngoại ngữ”,
tập 1+2 (Huỳnh Công Hiển – Bae Yang Soo), Busan University of Foreign Studies,
Press 2013 làm đối tượng khảo sát Và do vậy, cơ sở để xác định Từ vựng tiếng Việt
sơ cấp dựa trên 2 quyển giáo trình này
Do chương trình “Tiếng Việt sơ cấp” và “Tiếng Nhật sơ cấp” không hoàn toàn tương ứng nên chúng tôi chọn chuẩn quy chiếu và điểm xuất phát là từ “chương trình tiếng Việt sơ cấp” để tiến hành các công việc trong luận văn Có nghĩa là chúng tôi tiến hành đối chiếu Việt - Nhật chứ không phải là đối chiếu Nhật – Việt
Trang 342.1 CH Ủ ĐIỂM 1: ĐẠI TỪ NHÂN XƯNG VÀ CÁC DANH TỪ CHỈ HỌ
Việc xếp “đại từ nhân xưng” và “danh từ chỉ họ hàng thân tộc” vào cùng 1
chủ điểm là xuất phát từ đặc điểm của tiếng Việt
Nói chung, trong đa số các ngôn ngữ, hệ thống các đại từ nhân xưng là một
hệ thống bao gồm những từ chuyên trách, nghĩa là bản thân các từ này chỉ chuyên
làm một nhiệm vụ của đại từ nhân xưng Tiếng Việt cũng có các đại từ nhân xưng chuyên trách như vậy, nhưng chiếm số lượng tuyệt đối nhiều hơn lại là danh từ chỉ
h ọ hàng thân tộc được lâm thời sử dụng với tư cách là đại từ nhân xưng
Hệ thống các đại từ nhân xưng, tùy vào các ngôn ngữ biến hình khác nhau,
được miêu tả dựa trên các phạm trù về ngôi, về số, về giống, và các phạm trù này
ảnh hưởng trực tiếp đến các thành phần và các từ loại khác trong câu, đặc biệt là động từ
Với tư cách là một ngôn ngữ đơn lập, các phạm trù trên trong tiếng Việt tỏ ra không quan yếu, nhưng để thuận tiện hơn trong việc thống kê, chúng ta dùng ý nghĩa
về ngôi và ý nghĩa về số để tập hợp thành hệ thống các đại từ nhân xưng trong tiếng
Việt, và hệ thống này bao gồm cả những từ chuyên trách lẫn những từ không chuyên
trách
* Đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất, số ít:
- Chuyên trách : Tôi / Tao / T ớ
- Không chuyên trách : Anh / Ông / Ch ị / Bà / Cô / Thầy / Em /Chú / Bác / C ậu / Dượng / Dì / Mợ / Thím
* Đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất, số nhiều:
- Chuyên trách : Chúng ta / Chúng tôi
- Không chuyên trách : Các anh / Các ông / Các ch ị / Các bà / Các cô / Các th ầy / Các em / Các chú / Các bác / Các cậu / Các dượng / Các dì / Các mợ / Các thím
Trang 35* Đại từ nhân xưng ngôi thứ hai, số ít:
- Chuyên trách : Mày
- Không chuyên trách : Anh / Ông / Ch ị / Bà / Cô / Thầy / Em /Chú / Bác / C ậu / Dượng / Dì / Mợ / Thím
* Đại từ nhân xưng ngôi thứ hai, số nhiều:
- Chuyên trách : T ụi mày
- Không chuyên trách : Các anh / Các ông / Các ch ị / Các bà / Các cô / Các th ầy / Các em / Các chú / Các bác / Các cậu / Các dượng / Các dì / Các mợ / Các thím
* Đại từ nhân xưng ngôi thứ ba, số ít:
- Chuyên trách : Nó / H ắn
- Không chuyên trách : Anh ấy / Ông ấy / Chị ấy / Bà ấy / Cô ấy / Thầy
ấy / Em ấy /Chú ấy / Bác ấy / Cậu ấy / Dượng ấy / Dì ấy / Mợ ấy / Thím ấy
* Đại từ nhân xưng ngôi thứ ba, số nhiều:
- Chuyên trách : H ọ / Chúng nó
- Không chuyên trách : Các anh ấy / Các ông ấy / Các chị ấy / Các bà
ấy / Các cô ấy / Các thầy ấy / Các em ấy / Các chú ấy / Các bác ấy / Các cậu ấy / Các dượng ấy / Các dì ấy / Các mợ ấy / Các thím ấy
Các từ không chuyên trách trong hệ thống các đại từ nhân xưng trong tiếng
Việt được lấy từ các danh từ chỉ họ hàng thân tộc Việc chọn đại từ nào để sử dụng
tùy thuộc vào quan hệ giữa người nói và người nghe cũng như các yếu tố và các tác
động khác của ngữ cảnh
Chúng ta dễ thấy rằng, một đại từ nhân xưng nào đó (chẳng hạn “anh”), có
khi được dùng ở ngôi thứ nhất, số ít, có khi được dùng ở ngôi thứ hai, số ít Vì vậy, cũng là một từ không thay đổi nhưng tư cách, nhiệm vụ, chức năng của nó đã thay
đổi trong các ngữ cảnh khác nhau Và tất cả các đại từ nhân xưng khác cũng ở trong
một tình hình như vậy
Các đại từ nhân xưng ngôi thứ hai số ít (trừ “bạn”) đều có thể dung kiêm nhiệm ở ngôi thứ nhất số ít trong quan hệ thân mật
Trang 36Các đại từ nhân xưng thuộc ngôi thứ hai số nhiều được dùng theo kết hợp:
“Các + đại từ nhân xưng ngôi thứ hai số ít”
Ví dụ: Các anh / các ông / các bác / các chú / các thầy / các chị / các bà / các
cô / các bạn / các em / các cháu
Đại từ nhân xưng ngôi thứ ba số ít được dùng theo kết hợp: “Đại từ nhân xưng ngôi thứ hai số ít + ấy”
Ví dụ: Anh ấy / ông ấy / bác ấy / chú ấy / thầy ấy / chị ấy / bà ấy / cô ấy / bạn
ấy / em ấy / cháu ấy
“Nó” là một đại từ nhân xưng chuyên trách ở ngôi thứ ba, số ít, dùng cho cả nam va nữ, có độ tuổi bằng hoặc nhỏ hơn người nói Phải cẩn thận khi dùng đại từ này ví có khi thì có ý nghĩa thân mật, có khi lại có ý nghĩa không tôn trọng
Đại từ nhân xưng ngôi thứ ba số nhiều được dùng theo kết hợp: “Các + đại từ nhân xưng ngôi thứ hai số ít + ấy”
Ví dụ: các anh ấy / các ông ấy / các bác ấy / các chú ấy / các thầy ấy / các chị
ấy / các bà ấy / các cô ấy / các bạn ấy / các em ấy / các cháu ấy
“Họ” là một đại từ nhân xưng chuyên trách ở ngôi thứ ba, số nhiều được dùng khi nhóm người được nói đến có sự pha trộn về giới tính và độ tuổi
Các đại từ nhân xưng ngôi thứ hai cũng được dùng đặt trước tên người theo
sự phân biệt về giới tính, độ tưởi, nghề nghiệp (trong quan hệ với người nói) Trường hợp này, chúng có tư cách của một danh từ
Ví du: Anh An / Bạn Bình / Chị Tuyết / Thầy Nam / Cô Lan
Ở phương ngữ Nam bộ, trong hội thoại hàng ngày, thường có sự biến âm
Ví dụ: anh ấy → ảnh / ông ấy → ổng
chị ấy → chỉ / bà ấy → bả / cô ấy → cổ Trong tiếng Nhật, đại từ nhân xưng và các danh từ chỉ họ hàng, thân tộc cũng được sử dụng để làm chủ ngữ, nhưng điều đó không có nghĩa là hoàn toàn là bắt
buộc phải có chủ ngữ Trong hội thoại hàng ngày hay trong các tác phẩm văn học, trường hợp không sử dụng chủ ngữ là trường hợp chiếm đa số
Trang 37Trong tiếng Việt, việc sử dụng từ xưng hô có một mục đích là để làm rõ thứ
t ự trên dưới của người nói và người nghe Còn trong tiếng Nhật, người nói tập trung
vào tình hình, động tác, trạng thái…trong đề tài nói chuyện nhiều hơn, mặc dù vẫn
thể hiện sự tôn trọng đối với người nghe là cấp bậc cao hơn mình hay lớn tuổi hơn mình bằng cách sử dụng kinh ngữ, không thể hiện bằng cách sử dụng từ xưng hô Và
trường hợp sử dụng đại từ nhân xưng hay các danh từ chỉ họ hàng, thân tộc để làm
chủ ngữ chỉ khi cần làm rõ ai là có liên quan, hay có trách nhiệm với tình hình hay
động tác…trong đề tài đang nói chuyện Theo nguyên tắc, trong câu khẳng định, nếu
chủ ngữ được lược bỏ thì người nói là chủ ngữ, còn trong câu nghi vấn, nếu chủ ngữ được lược bỏ thì người nghe là chủ ngữ
Ví dụ:Trong công ty, sắp đến giờ kết thúc làm việc, có một yêu cầu của khách hàng cần giao hàng gấp, cấp trên hỏi nhân viên, “ai” có thể đi được
Nhân viên trả lời: 私が行きます。
(Phiên âm: Watashi ga ikimasu)
(Tạm dịch: Tôi sẽ đi)
Còn trong cuộc sống hàng ngày, người nói và người nghe đã hiểu rõ về nhân
vật trong hội thoại là ai thì không sử dụng chủ ngữ
Ví dụ: Người mẹ hỏi con là có đói bụng chưa.Tiếng Việt thì sẽ hỏi và trả lời như sau:
Người mẹ: Con đói bụng chưa?
Con: Dạ, con đói rồi, mẹ
Còn tiếng Nhật thì như sau
Người mẹ : おなか空いた?(Phiên âm: Onaka suita?) Con : 空いた。(Phiên âm: Suita.)
Trong hội thoại trên, người mẹ chỉ sử dụng từ おなか(onaka) tương ứng với
từ “bụng” trong tiếng Việt và 空いた(suita) tương ứng với từ “đói”, còn con chỉ sử
dụng từ là “đói”, nhưng 2 người vẫn hiểu nhau
Còn trong tiếng Việt, trường hợp không có chủ ngữ là khi thân mật hoặc không lịch sự
Trang 38Ví dụ: Bạn đến nhà anh A chơi và mang theo trái cây mà lại thấy bạn không
ăn
Anh A nói với bạn: Ăn đi! Ăn đi!
Còn trong tiếng Nhật, mặc dù không nói rõ chủ ngữ, nhưng trong câu vẫn sử
dụng từ lịch sự thì vẫn thể được hiện sự lịch sự
Ví dụ: Người nhỏ tuổi hơn hỏi người lớn tuổi hơn:
おなか空きましたか。(Phiên âm: Onaka suki mashita ka.) Trong câu này không có chủ ngữ, nhưng từ ました(mashita) là từ thể hiện
lịch sự nên người Nhật vẫn hiểu quan hệ trên dưới của người nói và người nghe
Mặc dù trong hội thoại ít sử dụng chủ ngữ, nhưng trong tiếng Nhật vẫn có đại
từ nhân xưng và các danh từ chỉ họ hàng, thân tộc làm chủ ngữ khá phong phú như
tiếng Việt Trong hội thoại hàng ngày, thông thường người Nhật xưng mình bằng 私 (watashi), là từ tương ứng với “tôi” trong tiếng Việt hoặc “I” trong tiếng Anh, còn
gọi người nghe bằng cách là kết hợp từ さん (san) sau tên người nghe, là từ đệm lịch
sự khi gọi ai đó hoặc sử dụng từ あなた (anata), là từ tương ứng với các đại từ nhân xưng ngôi thứ hai trong tiếng Việt,cũng như “you” trong tiếng Anh Nhưng trong trường hợp gọi người nghe là những người cấp bậc cao hơn mình như bố mẹ, người
lớn tuổi hơn, giáo viên…thì người Nhật thấy không được lịch sự nên sư dụng đại từ nhân xưng ngôi thứ hai khác để thay thế (sẽ được nói rõ hơn trong phần sau)
Trong mối quan hệ họ hàng, thân tộc thì việc sử dụng từ và cách sử dụng có nhiều tương đồng với tiếng Việt Ví dụ, đối với ông bà, bố mẹ và người cấp bậc cao hơn trong họ hàng thân tộc thì có từ tương ứng như ông thì おじいさん(ojiisan), bà thì おばあさん(obaasan), bố thì お父さん(otousan), mẹ thì お母さん (okaasan), chú bác thì おじさん(ojisan), cô với dì thì おばさん(obasan) Và từ お兄さん(oniisan) tương ứng với từ “anh” và お姉さん(oneesan) tương ứng với từ “chị” Các
từ おじいさん(ojiisan),おばあさん(obaasan), おじさん(ojisan),おばさん(obasan), お兄さん(oniisan) và お姉さん(oneesan) thì vẫn sử dụng cho những người không
Trang 39phải nằm trong gia đình như trong tiếng Việt, chẳng hạn như khi gọi người nào không biết tên ở ngoài đường hay gọi cha mẹ của bạn bè
Còn về sự phân biệt nội và ngoại thì khi gọi không thể hiện trong các từ おじいさん (ojiisan),お ばあさ ん (obaasan),お じさん(ojisan),お ばさん (obasan), nhưng khi giải thích thì trong tiếng Nhật cũng có từ tương ứng với từ “nội” và
“ngoại”, là từ 父方の(chichikata no) và 母方の(hahakata no)
Ví dụ: Ông A là ông nội của tôi, còn ông B là ông ngoại của tôi
(Phiên âm: A san wa chichikata no ojiisan de, B san wa hahakata no ojiisan desu.)
Về sự phân biệt từ chuyên trách và không chuyên trách, tiếng Nhật cũng có từ chuyên trách và không chuyên trách, nhưng không được rõ ràng lắm như trong tiếng
Việt Ví dụ, có trường hợp người lớn gọi trẻ em nam giới không biết tên thì sử dụng
từ 僕(boku) để gọi, nhưng từ này thường là đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất của trẻ
em nam giới, còn đối với bé gái thì lại không sử dụng đại từ nhân xưng ngôi thứ
nhất để gọi Cũng có một số phương ngữ sử dụng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất để làm đại từ nhân xưng ngôi thứ hai như từ 自分 (jibun) trong tiếng Kansai Thông thường từ 自分(jibun) được sử dụng như từ “bản thân” và “mình” trong tiếng Việt, nhưng tiếng Kansai sử dụng từ này để gọi người khác (ngôi thứ hai)
Đa số các trường hợp hội thoại hàng ngày trong xã hội, người Nhật không sử
dụng đại từ nhân xưng và các danh từ chỉ họ hàng thân tộc Trong trường học thì học sinh, sinh viên vẫn gọi giáo viên bẳng từ 先生(sensei), từ tương ứng “thầy” và “cô” (giới tính nào cũng gọi bằng từ này) và giáo viên tự xưng xũng bằng từ 先生(sensei) như tiếng Việt Nhưng giáo viên gọi học trò bằng họ + さん(san), học sinh, sinh viên xưng mình bằng 私(watashi), và học sinh, sinh viên gọi nhau bằng họ + さん(san) hoặc tên + くん(kun) / ちゃん(chan) Từ くん(kun) / ちゃん(chan) là từ đệm khi gọi những người nhỏ tuổi hơn mình, đặc biệt là ở độ tuổi thiếu nhi và thanh niên
Từ くん(kun) để gọi con trai và từ ちゃん(chan) để gọi con gái Từ này thêm sự thân mật và lịch sự vì trong tiếng Nhật, chỉ gọi họ hoặc tên, không có từ đệm là mất
Trang 40lịch sự Thường chỉ có bố mẹ gọi con, anh chị gọi em, giáo viên gọi học trò và cấp trên gọi cấp dưới thì mới gọi bằng cách này Nhưng khi gọi đàn anh, đàn chị thì gọi
bằng họ + 先輩(senpai), còn đàn anh đàn chị gọi đàn em thì gọi bằng họ Còn trong công ty thì thường xưng bằng từ 私(watashi), gọi bằng họ Nhưng đối với người cấp trên, thường gọi bằng chức vụ, hoặc họ + chức vụ Cấp trên gọi cấp dưới bằng họ +さん(san) Khi gọi khách hàng thì thường là họ + 様(sama) Từ 様(sama) là từ đệm
lịch sự nhất khi gọi người khác
Trong trường học:
Học sinh, sinh viên xưng mình: 私(watashi)
Giáo viên các trường cấp 1, 2, và 3 xưng mình: 先生(sensei)
Giáo viên trường đại học trở lên xưng mình: 私(watashi)
Học sinh, sinh viên gọi giáo viên: 先生(sensei)
Giáo viên gọi học sinh, sinh viên: Họ + さん(san)
Học sinh, sinh viên gọi với nhau: Họ + さん hoặc tên + くん(kun) / ちゃん(chan)
Học sinh, sinh viên gọi đàn anh, đàn chị: Họ + さん(san)
Học sinh, sinh viên (đàn anh, đàn chị) gọi đàn em: Họ + さん(san)
Trong công ty:
Tất cả mọi người xưng: 私(watashi)
Khi gọi người khác: Họ + さん(san)
Khi gọi người cấp trên: Chức vụ, hoặc họ + chức vụ
Cấp trên gọi cấp dưới: Họ +さん(san)
Khi gọi khách hàng: Họ + 様(sama)
Nhưng tùy theo mức độ thân mật, có cách gọi khác, chẳng hạn đàn anh gọi đàn em bằng tên hay gọi bằng họ nhưng không có từ さん(san)…
Như đã nói trên, sự khác biệt lớn nhất của cách gọi tên là, trong xã hội, người
Nhật gọi bằng họ, không gọi bằng tên Còn tên thì thường là khi nào trở nên thân