Trước hết phải kể đến H.Maspéro, nhà bác học Pháp, ông đã có một số chuyên luận giá trị về lịch sử tiếng Việt, và mặc dù nhận thấy rõ tính chất ‘pha trộn’ của hệ thống từ vựng cơ bản tro
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
LÊ VĂN DŨNG
SỰ THAY ĐỔI NGHĨA CỦA MỘT SỐ TỪ NGỮ TIẾNG VIỆT
TỪ GIỮA THẾ KỈ XVII ĐẾN NAY
(TRÊN CƠ SỞ SO SÁNH TỪ ĐIỂN ANNAM-LUSITAN-LATINH CỦA A DE RHODES VỚI TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆT CỦA HOÀNG PHÊ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC
Mã số ngành: 602201
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
LÊ VĂN DŨNG
SỰ THAY ĐỔI NGHĨA CỦA MỘT SỐ TỪ NGỮ TIẾNG VIỆT
TỪ GIỮA THẾ KỈ XVII ĐẾN NAY
(TRÊN CƠ SỞ SO SÁNH TỪ ĐIỂN ANNAM-LUSITAN-LATINH CỦA A DE RHODES VỚI TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆT CỦA HOÀNG PHÊ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC
Mã số ngành: 602201 CBHD KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN VĂN HUỆ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2014
Trang 3Lời cảm ơn
Tôi chân thành cảm ơn:
Phòng Sau đại học, Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG TP.HCM đã tạo
điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và làm việc tại Trường;
PGS.TS Nguyễn Văn Huệ đã nhiệt tình chỉ dẫn, góp ý cho
tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn;
TS Đỗ Thị Bích Lài, TS Huỳnh Thị Hồng Hạnh cùng các
thầy cô trong ngành ngôn ngữ cũng như trong Khoa Văn học và Ngôn ngữ đã giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập;
Xin ghi ơn những tấm lòng đã giúp đỡ, chia sẻ những khó khăn vật chất, vui buồn trong suốt quá trình học tập, thực hiện luận văn này
Trang 5MỤC LỤC
QUY ƯỚC TRÌNH BÀY VÀ NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT 1
DẪN NHẬP 2
1 Lí do chọn đề tài 2
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
3.1 Đối tượng nghiên cứu 5
3.2 Phạm vi nghiên cứu 5
3.3 Nguồn ngữ liệu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 8
6 Bố cục của luận văn 9
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT CƠ SỞ 10
1.1 Lược sử tiếng Việt và chữ Quốc ngữ 10
1.1.1 Lược sử tiếng Việt 10
1.1.1.1 Nguồn gốc 10
1.1.1.2 Các thời kì phát triển và đặc điểm 13
1.1.2 Lược sử chữ Quốc ngữ 18
1.2 Một số khái niệm hữu quan 22
1.2.1 Khái niệm từ 22
1.2.2 Từ vựng tiếng Việt 22
1.2.3 Ngữ nghĩa học từ vựng 24
1.2.4 Về phương pháp lịch sử -so sánh và phương pháp phân tích từ vựng-ngữ nghĩa 25
1.2.4.1 Phương pháp lịch sử-so sánh 25
1.2.4.2 Phương pháp phân tích từ vựng ngữ nghĩa 26
1.3 Alexandre de Rhodes và TĐVBL 27
1.3.1 Alexandre de Rhodes 27
1.3.2 Từ điển Annam-Lusitan-Latinh 28
1.3.2.1 Từ điển 28
1.3.2.1 Từ điển Annam-Lusitan-Latinh 29
Tiểu kết 30
Chương 2: NHẬN XÉT SƠ BỘ VỀ CÁCH GIẢI NGHĨA TỪ TRONG TỪ ĐIỂN ANNAM-LUSITAN-LATINH VÀ TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆT 31
2.1 Hình thức chữ viết 31
2.1.1 Hình thức chữ viết trong TĐVBL 31
2.1.2 Hình thức chữ viết trong TĐTV 33
2.2 Cách lựa chọn từ 33
2.2.1 Xét về cấu tạo 33
2.2.1.1 Cách lựa chọn từ xét về cấu tạo trong TĐVBL 33
Trang 62.2.3 Các mục từ xét từ góc độ phạm vi sử dụng 37
2.3 Cách giải nghĩa 40
2.3.1 Nguyên tắc giải nghĩa chung 40
2.3.2 Về số lượng các nghĩa của mục từ được giải nghĩa 41
2.3.3 Về nội dung của phần giải nghĩa trong hai quyển từ điển 43
Tiểu kết 45
Chương 3: SỰ CHUYỂN ĐỔI NGHĨA CỦA TỪ TIẾNG VIỆT TỪ GIỮA TK XVII ĐẾN NAY QUA NGHIÊN CỨU TỪ ĐIỂN ANNAM-LUSITAN-LATINH VÀ TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆT 46
3.1 Chuyển đổi nghĩa 46
3.1.1 Chuyển sang nghĩa mới [1:1] 46
Bảng 1 : Các từ đổi nghĩa 51
3.1.2 Mất nghĩa [≥ 1:0] 52
Bảng 2: Các từ mất nghĩa 54
3.1.3 Thu hẹp nghĩa [≥2:1] 58
3.1.4 Mở rộng nghĩa [≥ 1:2,3,4 ] 60
Bảng 3 : Các từ mở rộng nghĩa 67
3.1.5 Những từ biến đổi ngữ âm hay chính tả kèm theo biến đổi nghĩa 74
Bảng 4 : Các từ có biến đổi ngữ âm hay chính tả, thay đổi nghĩa 76
Bảng 5 : Các từ biến đổi ngữ âm, chính tả, mở rộng nghĩa 78
3.2 Hiện tượng hạ bậc 81
3.2.1 Hiện tượng mờ nghĩa, mất nghĩa trong từ ghép 82
Bảng 6: Các từ ghép có yếu tố mờ nghĩa, mất nghĩa 84
3.2.2 Hiện tượng mờ nghĩa, mất nghĩa trong từ láy 85
Bảng 7 : Các từ láy có yếu tố mờ nghĩa, mất nghĩa 86
Tiểu kết 88
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 100
Trang 7
QUY ƯỚC TRÌNH BÀY VÀ NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DẪN NHẬP
1 Lí do chọn đề tài
Tiếng Việt là ngôn ngữ văn hoá, khoa học, và là một trong số ít (46) ngôn ngữ trên thế giới được được sử dụng để giảng dạy ở đại học Để có được vị trí trang trọng đó, trên con đường phát triển, tiếng Việt phải trải qua nhiều thăng trầm, biến đổi
Từ khởi thủy tới nay, tiếng Việt trải qua nhiều giai đoạn phát triển với những đặc điểm khác nhau
“Ngôn ngữ phát triển cùng với sự phát triển của xã hội Nhưng ngôn ngữ phát triển không đồng đều ở các mặt So với ngữ âm và ngữ pháp, từ vựng biến đổi nhanh nhất.” [32,tr.43] Sở dĩ từ vựng biến đổi nhanh nhất vì từ vựng phản ánh trực tiếp thực tế khách quan, nền văn hóa của dân tộc; do vậy từ vựng cũng nhanh chóng thay đổi theo những thay đổi của xã hội trong mọi mặt sinh hoạt đời sống
Từ những điều nêu trên, có thể nói nghiên cứu sự biến đổi của từ vựng-ngữ nghĩa sẽ giúp chúng ta thấy được sự phát triển của ngôn ngữ, đồng thời qua đó thấy được sự phát triển về văn hóa-xã hội của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ đó Đây
chính là lí do để chúng tôi chọn đề tài Sự thay đổi nghĩa của một số từ ngữ tiếng Việt từ giữa thế kỉ XVII đến nay (trên cơ sở so sánh Từ điển Annam–Lusitan– Latinh của Alexandre de Rhodes với Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê)
Tóm lại, trên cơ sở lấy từ tiếng Việt hiện đại làm chuẩn để so sánh, “tầm nguyên” về thời kì xa xưa của tiếng Việt, đã có nhiều tác giả đã thể hiện mối quan tâm đáng ghi nhận về vấn đề biến đổi nghĩa của từ Tuy nhiên, dù đa dạng, phong phú về đề tài từ vựng là thế, nhưng việc nghiên cứu sự chuyển biến về nghĩa của từ vựng từ TĐVBL đến TĐTV hiện vẫn còn nhiều chỗ còn để ngỏ, chưa được quan tâm khai thác Chọn hướng phân tích, khảo sát sự chuyển nghĩa của một số từ tiếng Việt từ TK XVII đến nay, tác giả luận văn mong được góp một phần nhỏ bé của mình trong việc thống kê, phân loại, mô tả các từ chuyển nghĩa, đóng góp thêm tư liệu cho việc nghiên cứu lịch sử tiếng Việt
Trang 92 Lịch sử vấn đề
Ngay từ cuối TK XIX – đầu TK XX, các học giả nước ngoài đã có sự đầu
tư thời gian, công sức nghiên cứu và đã đạt được một số thành tựu, đóng góp nhất định về lịch sử tiếng Việt Trước hết phải kể đến H.Maspéro, nhà bác học Pháp, ông
đã có một số chuyên luận giá trị về lịch sử tiếng Việt, và mặc dù nhận thấy rõ tính chất ‘pha trộn’ của hệ thống từ vựng cơ bản trong tiếng Việt (từ gốc Thái, từ gốc Môn-Khme và một số từ có nguồn thứ ba chưa được biết rõ), ông đã đi đến kết luận tiếng Việt có cùng nguồn gốc với các ngôn ngữ Thái Bên cạnh đó, một nhà bác học Pháp khác là A.G.Haudricourt - bậc thầy về nghiên cứu lịch sử tiếng Việt và ngôn ngữ văn hóa vùng Đông Nam Á, người có quan điểm nổi tiếng đã được đa số các nhà Việt ngữ học chấp nhận khi cho rằng tiếng Việt phải là một ngôn ngữ trong họ Nam Á Ngoài ra, có thể kể đến nhiều nhà khoa học khác có đóng góp lớn trong nghiên cứu lịch sử tiếng Việt: đó là M.Ferlus, nhà nghiên cứu Pháp đã có nhiều năm điền dã các ngôn ngữ trong nhóm Việt-Mường để giải thích nhiều quy luật phát triển của lịch sử tiếng Việt; đó là nhà bác học Nga S.E.Jakhontov… Ngoài xác định quan hệ họ hàng của tiếng Việt, các tác giả tập trung vào vấn đề phân định các giai đoạn phát triển của từ vựng tiếng Việt, vấn đề từ nguyên, biến đổi ngữ âm và biến đổi ngữ pháp
Trong nước có đóng góp quan trọng của các nhà nghiên cứu trên tất cả các lĩnh vực ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa như: Nguyễn Tài Cẩn, N.V.Stankevich, Hoàng Phê, Nguyễn Văn Tu, Cao Xuân Hạo, Đoàn Thiện Thuật, Lê Quang Thiêm, Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ Hữu Châu Nhà nghiên cứu nổi bật, thu được nhiều kết quả có giá trị tổng kết nhất về lịch sử tiếng Việt là Nguyễn Tài Cẩn Các công trình nghiên cứu của ông từng bước làm sáng tỏ lịch sử phát triển của tiếng Việt, tập trung vào cách đọc Hán Việt, phân kì lịch sử tiếng Việt, ngữ âm Tất cả những thành tựu to lớn, các công trình nghiên cứu có giá trị của các nhà nghiên cứu đi trước đã từng bước xây dựng nên một hệ thống lý luận vững chắc, đầy đủ, đã chỉ ra những phương pháp khoa học, hệ thống cho thế hệ sau noi theo, tiếp tục hành trình nghiên cứu về lịch sử tiếng Việt
Trang 10Riêng vấn đề nghiên cứu xoay quanh TĐVBL có so sánh với TĐTV, liên quan đến phạm vi nghiên cứu của luận văn, đã có nhiều bài báo, chuyên khảo giá trị mang tính lý luận và thực tiễn cao Có thể kể ra Lê Trung Hoa với “Tìm hiểu một số thành tố mất nghĩa trong các từ ghép qua cuốn “Dictionarium Annamiticum, Lusitanum et Latinum” (1651) của A de Rhodes”, “Tìm hiểu nguồn gốc địa danh Nam Bộ và tiếng Việt văn học”, NXB Khoa học Xã hội, 2002; Lý Toàn Thắng,
‘‘Vai trò của Alexandre de Rhodes đối với sự chế tác và hoàn thiện chữ quốc ngữ’’,
Ngôn ngữ, Số 1 – 1996, tr.1 – 7; Nguyễn Thị Bạch Nhạn 1994 với “Tìm hiểu sự
biến đổi hình thức chữ Quốc ngữ từ từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes
đến từ điển Việt-La của Pigneau de Béhaine”, Ngôn ngữ, Số 1 - 1994; K Grudin,
“Bước đầu khảo sát sự biến đổi từ vựng-ngữ nghĩa trong Từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes”, Luận văn tốt nghiệp, H 1995…
Theo tác giả Hoàng Dũng: “Bắt đầu từ Henri Maspéro, Từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes được giới nghiên cứu nhất trí một cách không bàn cãi như
là tác phẩm đánh dấu một cái mốc quan trọng trong tiến trình của tiếng Việt Hiếm
có một công trình nào khảo sát tiếng Việt về mặt lịch sử lại không một lần trích dẫn TĐVBL Nói cách khác, TĐVBL là một trong những nguồn cứ liệu gần như bắt buộc Vần đề quan hệ giữa các tổ hợp phụ âm kl, pl, bl, tl và ml trong tiếng Việt cũng nằm trong tình hình như vậy.” (“Từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes, nguồn cứ liệu soi sáng quan hệ giữa các tổ hợp phụ âm kl, pl, bl, ml và tl
trong tiếng Việt”, Tạp chí Ngôn ngữ số 4, 1991) Nhìn chung các nhà nghiên cứu
tập trung nhiều vào tìm hiểu các phương diện ngữ âm, chính tả, và ngữ nghĩa của từ vựng trong TĐVBL
Ngoài các tác giả nêu trên, liên quan trực tiếp đến đề tài luận văn, có thể kể đến Bùi Thị Hải với luận văn Thạc sĩ, năm 2000, Tìm hiểu về sự biến đổi ngữ nghĩa của từ Hán Việt trong từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes Luận văn đã thực hiện khảo sát trên 3 nhóm ngữ liệu từ Hán Việt (theo cách phân chia của tác giả) Theo tác giả Bùi Thị Hải, nhóm 1 gồm các đơn vị hiện nay chỉ còn là các hình
vị cấu tạo từ; nhóm 2 gồm đa số các đơn vị hầu như không biến đổi về ý nghĩa Và
Trang 11nhóm 3 là các đơn vị đã biến đổi và phát triển rõ rệt, từ cuốn Từ điển Việt-Bồ-La đến cuốn Từ điển tiếng Việt (của Viện Ngôn ngữ học, NXB Đà Nẳng, 2000) Cũng
theo tác giả, các đơn vị từ Hán Việt xếp loại ở trên biến đổi và phát triển theo cả hai hướng: về lượng (tăng nghĩa, giảm nghĩa, tăng số lượng các nghĩa) và về chất (khái quát hóa và tinh tế hóa ý nghĩa trong sử dụng)
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là tất cả các mục từ được thu thập, đối dịch và giải nghĩa trong cuốn TĐVBL, từ đó tập trung đi sâu vào các mục từ có sự biến đổi về nghĩa Đó có thể là các từ biến đổi ngữ âm, chính tả – mờ nghĩa, mất nghĩa, mở rộng hoặc thu hẹp nghĩa; các từ không biến âm - nhưng vẫn xảy ra các trường hợp mờ nghĩa, mất nghĩa, mở rộng hoặc thu hẹp nghĩa
Đó là các đơn vị TỪ (có từ đơn, từ ghép, từ láy), không phải các mục liên quan đến cụm từ cố định (NGỮ) Các đơn vị mục từ này sau đó lại được nhóm và phân loại, phân tích theo trường nghĩa rộng – hẹp hoặc theo chức năng từ loại là: động từ, tính từ hay danh từ…
Do mục tiêu chính của đề tài là tìm hiểu sự biến đổi ngữ nghĩa của của một
số từ ngữ tiếng Việt từ giữa TK XVII đến nay (trên cơ sở so sánh TĐVBL với TĐTV của Hoàng Phê) nên các vấn đề lịch sử tiếng Việt, biến đổi ngữ âm, sự khác biệt trên chữ viết, rơi rụng, rút gọn từ chúng tôi cũng không đi sâu mà chỉ điểm lướt qua
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong luận văn này, người viết đi vào so sánh đối chiếu trên phương diện ngữ nghĩa, cụ thể là sự chuyển nghĩa, cách thức giải nghĩa, nội dung của phần giải nghĩa các mục từ trong hai cuốn từ điển: TĐVBL của Alexandre de Rhodes
và TĐTV của Hoàng Phê TĐVBL (1651) của Alexandre de Rhodes là khởi đầu của
một thứ chữ quốc ngữ mới, được định hình và có hệ thống cho người Việt ở TK
XVII Còn TĐTV (2010) của Hoàng Phê là cuốn từ điển thuộc loại thông dụng nhất
Trang 12hiện nay, đây là công trình tập hợp tương đối đầy đủ nhất các đơn vị từ vựng của tiếng Việt hiện đại
Ở đây, đề tài của chúng tôi tập trung chỉ ra sự khác nhau về ý nghĩa của một
số từ trong hai cuốn từ điển trên, còn tiến trình biến đổi ý nghĩa của các từ ngữ này qua các giai đoạn khác nhau tính từ TK XVII đến nay thì chúng tôi chưa có khả năng giải quyết Vấn đề lớn này xin dành lại các nhà nghiên cứu, hoặc giả khi chúng tôi có đủ điều kiện sẽ xin được tiếp tục nghiên cứu sau
Thêm nữa, sự thay đổi nghĩa của từ ngữ tiếng Việt từ giữa TK XVII đến nay
là một vấn đề rộng lớn, nhiều phương diện, nhiều tầng bậc Người viết không có tham vọng giải quyết hết vấn đề to lớn thuộc ngôn ngữ học lịch sử, mà chỉ đi vào nghiên cứu sự chuyển đổi nghĩa của một số mục từ trong TĐVBL, những từ có sự thay đổi về nghĩa dễ nhận biết qua so sánh, đối chiếu
3.3 Nguồn ngữ liệu
Nguồn ngữ liệu chính của đề tài là hai cuốn từ điển: Từ điển Annam- Lusitan-Latinh của Alexandre de Rhodes xuất bản năm 1651 tại Roma (chúng tôi sử dụng bản in 1991, NXB Khoa học Xã hội) và Từ điển tiếng Việt Hoàng Phê chủ
biên, do NXB Từ điển Bách khoa tái bản năm 2010 tại Hà Nội Phần nghĩa trong TĐVBL chúng tôi dùng để đối chiếu với TĐTV là phần nghĩa tiếng Latin và Bồ Đào Nha được dịch sang chữ Quốc ngữ Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các tài liệu
khác làm ngữ liệu như: Việt Nam Tự điển (Hội Khai trí Tiến Đức, 1931), Sách sổ sang chép các việc (1822; bản in năm 1968, Viện Đại học Đà Lạt) của Philipphê
Bỉnh và một số tài liệu khác có tên ở danh mục tài liệu tham khảo của đề tài này Chúng tôi chọn ra hai mốc lịch sử biên soạn từ điển là TK XVII và TK XXI
với hai cuốn Từ điển Annam-Lusitan-Latinh, (thường gọi là Từ điển Việt-Bồ-La), xuất bản năm 1651 của A de Rhodes và Từ điển tiếng Việt xuất bản năm 1988 và
được tái bản năm 2010 do Giáo sư Hoàng Phê chủ biên để so sánh đối chiếu Một cuốn được viết ở giai đoạn đầu sơ khai của chữ Quốc ngữ, phản ánh phần nào hệ thống từ vựng của tiếng Việt trung đại và một cuốn được biên soạn vào TK XX, phản ánh tương đối đầy đủ hệ thống từ vựng của tiếng Việt hiện đại
Trang 13Mặc dù quy mô cũng như cách thức, mục đích biên soạn của hai quyển từ điển này là khác nhau, điều này gây không ít khó khăn cho công việc so sánh-đối chiếu, nhưng trong tình hình tư liệu khá ít ỏi về tiếng Việt trong lịch sử, chúng tôi nghĩ TĐVBL là cơ sở tương đối vững chắc trong việc tìm hiểu sự chuyển biến ý nghĩa của một số từ tiếng Việt từ TK XVII đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Tiến hành nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ chính sau:
a) Phương pháp lịch sử-so sánh (Comparative Historical Method): đây là một phương pháp nghiên cứu phổ biến chung có ở mọi ngành khoa học Phương pháp lịch sử-so sánh nghiên cứu ngôn ngữ trong tiến trình vận động (bình diện động – lịch đại) giúp chúng ta thấy được khác biệt, sự phát triển nghĩa của một
số đơn vị từ trong TĐVBL trong sự so sánh với các đơn vị từ ghi trong TĐTV b) Phương pháp phân tích từ vựng-ngữ nghĩa: phương pháp này giúp chúng ta hiểu được các thành tố nghĩa của các đơn vị từ được ghi TĐVBL và giúp thấy được quá trình thay đổi nghĩa của các từ được ghi nhận trong TĐVBL
và TĐTV qua so sánh các thành tố nghĩa của các từ
Bên cạnh các phương pháp lịch sử-so sánh, phân tích từ vựng ngữ nghĩa là các thủ pháp phân tích lịch sử cấu tạo từ, thủ pháp phân tích từ nguyên, thủ pháp giải thích tài liệu được đối chiếu, thủ pháp thống kê, thủ pháp phân loại…, các thao tác giải thích, chứng minh, mô tả bên trong và bên ngoài ngôn ngữ.… cũng được vận dụng linh hoạt nhằm nắm được số lượng, đặc trưng của đối tượng, xếp đối tượng vào các khiểu loại khác nhau để dễ phân tích, phân biệt nghĩa của chúng
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi áp dụng tổng hợp tất cả các phương pháp, thủ pháp trên, tất nhiên lúc này hay lúc khác có ưu tiên phương pháp này hay thủ pháp kia hơn Các phương pháp, thủ pháp bổ sung và hỗ trợ nhau, do đó các kết quả thu được từ việc áp dụng phương pháp này cũng là tiền đề để thực
Trang 14hiện phương pháp khác Mục tiêu cuối cùng là để nhận ra các thành phần nghĩa của đơn vị từ vựng đang xét, đặc trưng, sự chuyển biến ý nghĩa, và các kiểu loại
từ mà chúng tôi đang xét sẽ thuộc kiểu loại nào đã quy ước, xu hướng biến nghĩa, đánh giá phần trăm, khả năng xảy ra chuyển nghĩa nhiều, ít, nguyên nhân v.v…
Không thể phủ nhận, khái quát ra quy luật phát triển của từ vựng tiếng Việt từ TK XVII đến nay là cả một tham vọng mà chúng tôi chưa thể thực hiện được trong luận văn này Chúng tôi chỉ dừng lại ở mô tả, so sánh, rút ra nhận xét ban đầu trên cứ liệu, về sự thay đổi ngữ nghĩa của từ, từ TĐVBL đến TĐTV ngày nay; bước đầu chỉ ra nguyên nhân có sự thay đổi đó
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Từ lâu tìm hiểu về sự phát triển của ngôn ngữ qua từng giai đoạn luôn là một nguồn cảm hứng cho những nhà nghiên cứu ngôn ngữ học, cũng như những người yêu thích ngành ngôn ngữ học Xét về ý nghĩa thực tiễn, đề tài có giá trị nhất định trong việc góp phần nghiên cứu từ vựng tiếng Việt – một mảng chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều như ngữ âm trong lịch sử tiếng Việt
Đồng thời qua nghiên cứu Từ điển Việt-Bồ-La sẽ giúp chúng ta biết thêm
về phong tục tập quán của nhân dân ta thời kì trước Nó không chỉ bổ trợ cho ngành ngôn ngữ học mà còn bổ trợ cho các ngành như: văn hóa, lịch sử, nhân học… Nói như L Cadière:
“Người ta được đọc trong cuốn sách này đời sống cá nhân của người Việt, chân dung thể xác của họ, như cách họ trang sức, ăn uống, danh tính, sự đào tạo tinh thần của họ, chân dung tâm hồn họ, đời sống gia đình như: nhà cửa, tổ chức gia đình, chế độ hôn nhân, sinh đẻ, kết hôn, tử vong, đời sống xã hội như: canh nông, kĩ nghệ, thương mãi, dụng cụ, chài lưới, săn bắn; các tổ chức cộng đồng như: kinh đô, làng mạc, chợ búa, y học, ngôn ngữ”[105]
Khi thực hiện đề tài này, người viết cũng mong muốn có đóng góp nhất định về mặt khoa học và thực tiễn trong việc chuẩn hóa lại một số cách hiểu,
Trang 15cách dùng một số đơn vị từ mờ nghĩa, là các yếu tố hạn chế nay không còn nguyên ý nghĩa ban đầu nhưng hiện đang được dùng phổ quát trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân ta, qua đó góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Dẫn nhập và phần Kết luận, phần Nội dung của luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1 là là chương trình bày về một số khái niệm cơ bản có tính lý thuyết liên quan đến nội dung, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn Và đó là cơ
sở, là nền tảng để chúng tôi dựa vào, căn cứ vào để giải quyết các vấn đề đặt ra của luận văn
Ở chương 2, người viết đưa ra một nhận xét sơ bộ về hai cuốn từ điển được chọn để so sánh ở các phương diện như: hình thức chữ viết, cách lựa chọn mục từ, cách thức giải nghĩa, nội dung của phần giải nghĩa nhằm có cái nhìn tổng quan về hai cuốn từ điển và tạo cơ sở cho việc đối chiếu ở chương 3
Chương 3 là chương đi vào nhiệm vụ chính của luận văn đó là: thống kê, phân tích, lí giải, về hiện tượng chuyển nghĩa của từ tiếng Việt ở TK XVII so với TK XX - XXI qua hai cuốn từ điển
Luận văn còn có phần Phụ lục Phần này người viết đưa ra các danh sách
từ mất nghĩa, mờ nghĩa, đổi nghĩa và một số văn bản viết tay bằng chữ Quốc ngữ
ở thời kì đầu để minh chứng cho vấn đề nghiên cứu và để độc giả tham khảo
Trang 16Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT CƠ SỞ
1.1 Lược sử tiếng Việt và chữ Quốc ngữ
1.1.1 Lược sử tiếng Việt
1.1.1.1 Nguồn gốc
Tiếng Việt hiện nay là ngôn ngữ quốc gia của nước ta (theo Điều 5, Hiến pháp năm 2013) Sở dĩ có quy định rõ ràng như vậy trong Hiến pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là bởi, tuy tiếng Việt là ngôn ngữ giao tiếp quan trọng nhất của người Việt, nhưng ở nước ta còn rất nhiều ngôn ngữ khác tồn tại bên cạnh tiếng Việt như các ngôn ngữ của đồng bào dân tộc thiểu số, hay các ngôn ngữ mới phát triển ở nước ta do hội nhập kinh tế như tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng Hàn, tiếng Nga, tiếng Hoa, tiếng Pháp… Chính sự đa dạng, phong phú, hay ở phương diện nào đó có thể nói là sự phức tạp, mà Nhà nước ta cần tuyên bố/quy định như trên để khẳng định vị thế, tầm quan trọng, sự thống nhất ngôn ngữ và giữ gìn, bảo tồn, phát huy sự trong sáng của tiếng Việt
Có lịch sử phát triển lâu đời và tồn tại trong một môi trường ngôn ngữ phong phú, đa dạng như vậy, tiếng Việt không khỏi vay mượn, ảnh hưởng bởi các ngôn ngữ khác Chính vì vậy mà việc xác định nguồn gốc của tiếng Việt có thời đã là một sự tranh luận sôi động của các nhà ngôn ngữ học
Theo các nhà Ngôn ngữ học, tiếng Việt có thể có nguồn gốc từ một trong
5 ngữ hệ cùng đang có mặt trên lãnh thổ Việt Nam là: ngữ hệ Nam Á, ngữ hệ Nam Đảo, ngữ hệ Thái-Kađai (Tai-Kadai, Kradai), ngữ hệ Mèo-Dao và ngữ hệ Hán-Tạng Việc xác định nguồn gốc của tiếng Việt đã được đặt ra từ năm 1856 bởi học giả người Anh J.R Logan, cho đến nay, gần 200 năm, chúng ta đã có rất nhiều ý kiến về vấn đề này Nhưng những ý kiến quan trọng nhất và được quan tâm chú ý nhất đó là nội dung của các bài báo mà H.Maspéro viết năm 1912 trên
Viễn Đông Bác Cổ và A.G.Haudricourt viết năm 1953, 1954, 1966 (đăng lại
Trang 17bằng tiếng Việt trên Ngôn ngữ, Số 1, 1991) Theo H.Maspéro thì tiếng Việt có
nguồn gốc từ ngữ hệ Thái-Kađai Ông lập luận:
Về từ vựng cơ bản: trước hết ông thừa nhận trong tiếng Việt có rất nhiều
từ tương ứng với các ngôn ngữ Mon-Khmer, song ông lại cho rằng các từ không tương ứng hoàn toàn với Mon-Khmer và luôn có thêm những từ tương ứng với các ngôn ngữ Thái
Về mặt hình thái học: tiếng Việt giống với tiếng Thái và khác xa so với các ngôn ngữ Mon-Khmer hiện nay bởi để tạo ra từ mới, các ngôn ngữ Mon-Khmer đã sử dụng các tiền tố, trung tố, hậu tố làm phương tiện, trong khi đó ở tiếng Việt và cả tiếng Mường hoàn toàn không có hiện tượng này
Về thanh điệu: đối với tiếng Việt, thanh điệu rất quan trong, và nó giống với tiếng Hán, tiếng Thái, trong khi đó các ngôn ngữ Mon-Khmer không có thanh điệu Đây là lập luận được xem là quan trong nhất của H Maspéro để từ
đó ông đi đến kết luận: “Tiếng tiền Việt đã sinh ra từ một sự hỗn hoà của một phương ngữ Mon-Khmer, một phương ngữ Thái và có thể của cả một ngôn ngữ thứ ba còn chưa biết, rồi sau đó tiếng Việt đã vay mượn một số lượng lớn những
từ Hán Nhưng cái ngôn ngữ có ảnh hưởng quyết định để tạo ra cho tiếng Việt trạng thái hiện đại của nó là chắc chắn, theo ý tôi, một ngôn ngữ Thái, và vì thế tôi nghĩ rằng, tiếng Việt phải được xếp vào họ Thái” (dẫn theo: [37,tr.19])
Kết luận của H.Maspéro năm 1912 với những lập luận khoa học, trong một thời gian dài khiến các nhà ngôn ngữ học thấy rất hợp lí và logic, được công
bố và lưu hành rộng rãi Cho đến khi A.G.Haudricourt đưa ra các quan điểm của
mình qua hai bài báo: Về nguồn gốc Nam Á của tiếng Việt và Về nguồn gốc các thanh trong tiếng Việt vào các năm 1953 và 1954 thì các lập luận và kết luận của
H.Maspéro đã không còn đứng vững A.G.Haudricourt đưa ra các lập luận về nguồn gốc Nam Á của tiếng Việt:
Về từ vựng cơ bản: ông khảo sát lại nhóm từ chỉ các bộ phận cơ thể mà H.Maspéro đã dẫn ra để làm chứng cứ cho những lập luận của mình,
Trang 18A.G.Haudricourt đã chỉ ra rằng nhóm từ đó cơ bản là có nguồn gốc Khơme, chứ không phải là vừa gốc Mon-Khmer vừa gốc Thái như H.Maspéro chỉ ra Vì vậy, A.G.Haudricourt khẳng định sự tương ứng giữa tiếng Việt và các ngôn ngữ Thái là sự tương ứng mang tính vay mượn, còn sự tương ứng giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ Nam Á là sự tương ứng mang tính cội nguồn
Mon-Về vấn đề hình thái học, cho đến nay người ta vẫn tìm thấy trong tiếng việt còn dấu vết của phương thức cấu tạo từ bằng các phụ tố, điển hình là cặp từ
giết – chết Từ giết có nguồn gốc, được hình thành từ từ kchet bằng phương thức
xát hoá Hay các cặp từ khác như: cọc – nọc, con – non, kẹp – nẹp (tiếng Việt), cet – pocet (tiếng Phong), ham – phan (tiếng Khmú), kcet – kamcet (tiếng Kuy), slap – kamlap (tiếng Khmer)… cũng vậy
Quan trọng nhất trong lập luận của A.G.Haudricourt là vấn đề thanh điệu Ông cho rằng thanh điệu trong ngôn ngữ có thể hình thành rồi mất đi, mất đi rồi lại có lại Cho nên, hiện nay tiếng Việt có hệ thống thanh điệu như tiếng Thái, còn các ngôn ngữ Mon-Khmer thì không có thanh điệu chưa nói lên được điều gì
về nguồn gốc Chúng ta thấy rõ hơn điều này trong quan điểm của Kasevich: “ở một số ngôn ngữ ở Đông Nam Á và Tây Phi tuy chúng đều có thanh điệu và thậm chí có những điểm giống nhau đến kì lạ về ngữ pháp nhưng “tuyệt đối rõ ràng là những ngôn ngữ này không phải là họ hàng” [54,tr.198] hay trong các bài viết về thanh điệu của các tác giả Trần Trí Dõi, Nguyễn Văn Huệ (xin xem [19,51]), …
Theo A.G.Haudricourt, thanh điệu tiếng Việt là một hiện tượng mới có,
nói cách khác, trước đây tiếng Việt cũng là một ngôn ngữ không có thanh điệu
và hiện nay nó là một ngôn ngữ có thanh điệu giống như các ngôn ngữ Thái Chính vì điều này mà Haudricourt đã chứng minh được rằng, về nguồn gốc, tiếng Việt tương tự như các ngôn ngữ Mon-Khmer:
Trang 19Từ những lí lẽ trên, A.G.Haudricourt đã khẳng định: ”Vị trí của tiếng Việt phải là ở trong họ Nam Á giữa nhĩm Palung-Wa ở Tây Bắc và nhĩm Mon- Khmer ở Tây Nam” [38,tr.19]
Cĩ thể nĩi cho đến hiện nay, do tính hợp lí hơn trong lập luận của A.G Haudricourt, những lí lẽ hết sức thuyết phục một thời trước kia của H.Maspéro xếp tiếng Việt vào họ Thái cũng như những ý kiến xếp tiếng Việt vào họ ngơn ngữ khác trong khu vực Đơng Nam Á văn hố đều khơng cịn đứng vững hay khơng cịn được đa số thừa nhận nữa Quan điểm xếp tiếng Việt thuộc họ Nam Á của A.G Haudricourt được các nhà ngơn ngữ học Việt Nam và trên thế giới thừa nhận rộng rãi, trong đĩ cĩ các học giả nổi tiếng như R.Shafer (1956), N.D.Andreev (1958), S.Wilson (1966), S.E.Yakhontov (1973), M.Ferlus (1974,
1979, 1995…), G.Diffloth (1975, 1991,…) cùng nhiều nhà ngơn ngữ học Việt Nam như giáo sư Nguyễn Tài Cẩn,… [20, tr.78]
1.1.1.2 Các thời kì phát triển và đặc điểm
Tiếng Việt từ khởi thuỷ đến nay được các nhà ngơn ngữ học phân ra các thời kì phát triển khác nhau tùy vào các cách phân định khác nhau Trong số các nhà ngơn ngữ học đã tham gia phân định các thời kì phát triển của lịch sử tiếng Việt phải kể đến H.Maspéro (1912), người đã dựa vào những tài liệu lịch sử cụ thể mà chia lịch sử tiếng Việt ra năm thời kì phát triển:
1) Tiếng tiền Annam (proto-annamite): trước khi hình thành Hán-Việt 2) Tiếng Annam cổ xưa (annammite archạque): sự hồn thiện vấn đề Hán-Việt (từ TK X trở đi)
3) Tiếng Annam cổ (annammite ancien): từ vựng Trung Quốc-Việt của Hoa di dịch ngữ (TK XV) Đây chính là thời điểm ghi lại cách đọc tiếng Hán-Việt trong tiếng Việt ở một mức độ tương đối chính xác
4) Tiếng Annam trung cổ (annamite moyen): cuốn từ điển Việt-Bồ-La của cha cố A de Rhodes 1651 (TK XVII)
Trang 205) Tiếng Annam hiện đại (annamite modern): từ TK XIX trở về sau [20, tr104]
Cách phân kì được các nhà ngôn ngữ học quan tâm và trích dẫn thuộc loại nhiều nhất là của giáo sư Nguyễn Tài Cẩn Trong “Thử phân kì lịch sử 12 thế kỉ
của tiếng Việt” Ngôn ngữ, số 6, 1998, tr7–12, ông căn cứ vào tình thế ngôn ngữ
tức là thế tương quan giữa các ngôn ngữ, giữa các kiểu văn tự, các vai trò xã hội của ngôn ngữ (gắn với lịch sử dân tộc) đã phân kì lịch sử của 12 TK tiếng Việt thành sáu thời kì như bảng sau:
A Giai đoạn
proto Việt
- Có 2 ngôn ngữ: tiếng Hán (khẩu ngữ
của lãnh đạo) và tiếng Việt
- 1 văn tự: chữ Hán
Vào khoảng các thế kỉ: 8, 9
B Giai đoạn
tiếng Việt tiền
cổ
- Có 2 ngôn ngữ: tiếng Việt (khẩu ngữ
của lãnh đạo) và văn ngôn Hán
D Giai đoạn tiếng
Việt trung đại
- Có 2 ngôn ngữ: tiếng Việt và văn
- Có 3 ngôn ngữ: tiếng Pháp, tiếng
Việt và văn ngôn Hán
- 4 văn tự: Pháp, Hán, Nôm, quốc ngữ
Vào thời gian Pháp thuộc
F Giai đoạn tiếng
Việt hiện đại
- Có 1 ngôn ngữ: tiếng Việt
- 1 văn tự: chữ quốc ngữ
Từ năm 1945 trở đi
Tác giả Trần Trí Dõi trong Lịch sử tiếng Việt, 2011, NXB Giáo dục, đã
kết hợp đồng thời nhiều cách phân định để đưa ra sự phân định các thời kì phát triển của lịch sử tiếng Việt gồm bảy giai đoạn, với các đặc điểm như sau:
Trang 211) Giai đoạn Mon-Khmer
Giai đoạn này ước chừng khoảng thời gian cách đây 4.000 năm Lúc này tiếng Việt đang nằm chung trong khối các ngôn ngữ Mon-Khmer Lúc này, cũng như các ngôn ngữ khác nằm trong nhóm, tiếng Việt chưa có dấu hiệu phân biệt với các ngôn ngữ Mon-Khmer
Chưa có thanh điệu là đặc điểm quan trọng nhất của tiếng Việt thời kì này
Trong vốn từ vựng của nó, cư dân vẫn đồng thời dùng cả từ đơn tiết lẫn những từ
đa tiết Để cấu tạo từ mới, các ngôn ngữ Mon-Khmer dùng cả phương thức láy lẫn phương thức phụ tố Các yếu tố vay mượn từ tiếng Hán, tiếng Phạn
cũng chưa có cơ sở xác định
2) Giai đoạn tiền Việt-Mường (proto Việt-Mường) trong lịch sử tiếng Việt Thời gian ước tính của giai đoạn này vào khoảng 1.000 năm trước công nguyên đến những TK đầu công nguyên
Thời kì này tiếng Việt cùng nằm trong nhóm Việt-Mường , nhóm vừa tách
ra khỏi khối Đông Mon-Khmer Đây là giai đoạn phát triển đầu tiên trong lịch sử tiếng Việt, tức là nó có tư cách là ngôn ngữ chung, ngôn ngữ mẹ hay tiền ngôn ngữ của cả nhóm Việt-Mường hiện nay
Đặc điểm nổi bật của tiếng tiền Việt-Mường vẫn là chưa có thanh điệu, nó vẫn lưu giữ sự đối lập hữu thanh/vô thanh ở các phụ âm đầu tắc, sự đối lập tắc/xát ở các phụ âm cuối Đặc điểm thứ hai là từ vựng cơ bản Nam Á được bảo lưu đầy đủ, đồng thời đã có dấu hiệu của sự tiếp xúc với Nam Đảo Đặc điểm cuối cùng là từ được cấu tạo theo 2 dạng đơn tiết và song tiết, trong đó dạng thứ
2 nhiều hơn
3) Giai đoạn Việt-Mường cổ (pré Việt-Mường)
Thời gian tương đối của giai đoạn này khoảng TK I sau công nguyên đến
TK VII – VIII
Về lịch sử, Việt Nam lúc giờ bị phong kiến phương Bắc đô hộ và tiếng Việt chịu tác động sâu sắc của sự đô hộ này Tiếng Việt chỉ là ngôn ngữ bình dân
Trang 22trong cộng đồng xã hội đã có sử dụng tiếng Hán và chữ Hán Đây chính là nguyên nhân tác động rất lớn đến quá trình phát triển của tiếng Việt sau này
Về mặt ngữ âm, thời kì này thanh điệu đã hình thành; về mặt từ vựng có
sự đa dạng do tiếp xúc, vay mượn các ngôn ngữ Tai-Kađai và tiếng Hán; về cấu tạo từ, tiếng Việt đã bắt đầu rụng đi các tiền âm tiết và không còn dạng cấu tạo
từ theo phương thức phụ tố
4) Giai đoạn Việt-Mường chung (Việt-Mường commun)
Ước tính thời gian tương đối của giai đoạn này là khoảng TK X đến TK XIV Thời kì này Việt Nam là một quốc gia độc lập Tiếng Việt là ngôn ngữ được toàn dân sử dụng, nhưng chữ viết thì Hán tự vẫn giữ vai trò chính thức mặc dầu đã có chữ Nôm
Về mặt ngữ âm, tiếng Việt-Mường chung đã hoàn chỉnh 6 thanh điệu; về cấu tạo từ, tiếng Việt-Mường chung đã đơn tiết hoá; về từ vựng, vay mượn từ gốc Hán và Việt hoá nó để rồi trở thành lớp từ Hán Việt quan trọng sau này Sự vạy mượn từ gốc Hán diễn ra không đồng đều giữa các vùng do biệt lập địa lí, cho nên, dẫn đến sự phân hoá sau này
5) Giai đoạn tiếng Việt cổ (Việt ancien)
Thời gian khoảng đầu TK.XIV đến cuối TK.XV
Do tiếp xúc, vay mượn không đồng đều giữa các vùng nên tiếng Mường chung ở giai đoạn này đã tách ra thành hai cá thể là tiếng Việt và tiếng Mường
Việt-Giai đoạn tiếng Việt cổ, chữ Nôm đã khẳng định được vai trò là chữ viết
văn học (tiêu biểu: Nguyễn Trãi viết Quốc âm thi tập)
Đặc điểm lớn nhất của giai đoạn này là về từ vựng Khác với tiếng Mường – người anh em gần nhất, tiếng Việt có một lới từ Hán Việt lớn, ổn định
6) Giai đoạn tiếng Việt trung cổ (Việt moyen)
Giai đoạn này ước tính khoảng cuối TK.XV đến nửa đầu TK.XIX
Lúc này tiếng Việt hầu như không còn liên quan đến tiếng Mường
Trang 23Nét nổi bật nhât của giai đoạn này là sự xuất hiện chữ Quốc ngữ với cái mốc son ra đời cuốn TĐVBL năm 1651 của A de Rhodes Cuốn từ điển của A
de Rhodes cũng như nhiều văn bản, từ điển khác ghi bằng chữ Quốc ngữ là hệ quả của việc tiếp xúc với các ngôn ngữ Âu châu, nhất là tiếng Pháp
Giai đoạn này, tiếng Việt đã trở thành một ngôn ngữ văn học, bác học với diện mạo mới hết sức phong phú
Việc mở rộng về phía Nam, làm cho tiếng Việt hoàn thiện hơn và hình thành nên những vùng phương ngữ như nó có hiện nay
Về mặt ngôn ngữ, những ghi chép trong TĐVBL, Phép giảng tám ngày đã
chỉ rõ sự đơn tiết hoá triệt để
7) Giai đoạn tiếng Việt hiện đại, tiếng Việt hiện nay
Tiếng Việt phát triển sang giai đoạn hiện đại kể từ giữa TK XIX
Từ nửa cuối thế kỉ XIX, khi Pháp đô hộ Việt Nam (năm 1858, Pháp đánh phá Đà Nẵng; năm1885, triều đình Huế kí Hiệp ước Giáp thân công nhận sự đô
hộ của Pháp), tiếng Việt chịu sự tiếp xúc sâu đậm với ngôn ngữ, văn học và văn hoá Pháp, một nhân tố thúc đẩy nó phát triển mạnh mẽ Khi Việt Nam giành được độc lập năm 1945, tiếng Việt trở thành ngôn ngữ chính thức của nhà nước,
là phương tiện giao tiếp chính, quan trọng nhất của Việt Nam Vai trò quan trọng này tạo điều kiện thúc đẩy tiếng Việt phát triển mạnh mẽ hơn
Tuy có hai mốc thời gian quan trọng trên, nhưng chúng ta không thể tách giai đoạn này ra làm hai bởi vì về mặt ngữ âm nó có sự phát triển nhất quán Cho đến nay, đồng thời với việc hoàn thiện, giản tiện về mặt ngữ âm, tiếng Việt đã có được một lớp vựng phong phú, đủ để đáp ứng mọi lĩnh vực của đời sống
Dựa vào tài liệu của các nhà ngôn ngữ học, chúng tôi khái quát lịch sử tiếng Việt như trên để có cái nhìn tổng quan về tiếng Việt, tạo tiền đề cho những
so sánh, đối chiếu, phân tích ở chương 2 có cơ sở vững chắc trong cái nhìn lịch đại
Trang 241.1.2 Lược sử chữ Quốc ngữ
Trong lịch sử văn tự nước ta, có hai loại chữ viết được coi là quốc ngữ
Đó là chữ Nôm, loại chữ viết biểu ý, mượn chữ và âm Hán để ghi âm tiếng Việt đồng thời có một số thay đổi về mặt chữ viết theo hướng dân tộc hoá Chữ Nôm có thể được manh nha từ TK VIII, khi dân ta tôn xưng Phùng Hưng (791) là “Bố Cái đại vương” Đem hai tiếng thuần tuý nước Nam là “Bố Cái” mà đặt cho người đứng đầu một dân tộc chứng tỏ đã có chữ để viết hai tiếng đó, và
chữ ấy phải là chữ Nôm (dẫn theo Nguyễn Khuê, Chữ Nôm cơ sở và nâng cao,
NXB ĐHQG.TP.HCM, 2009) TK XIII-XV, chữ Nôm được coi là hoàn thiện khi đi vào thơ phú của Nguyễn Thuyên, Chu An, Nguyễn Trãi… và đạt được những thành tựu to lớn trong các tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đặng Trần Côn, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương… Chữ Nôm được người dân nước ta sử dụng song song với chữ Hán cho tới đầu TK XX, và vẫn còn được Nhà nước ta quan tâm nghiên cứu, bảo tồn
Đó là chữ Quốc ngữ Danh từ “chữ Quốc ngữ” vốn là danh từ chung chỉ các thứ chữ của một nước, mà như ở nước ta nó bao gồm cả chữ Nôm Nhưng theo thói quen, “chữ Quốc ngữ” được dân ta sử dụng để chỉ thứ chữ mà hiện nay chúng ta đang sử dụng Đó là thứ chữ mượn các kí tự la tinh ghép lại để ghi âm tiếng Việt Chữ Quốc ngữ ban đầu được các giáo sĩ Tây phương sử dụng để ghi địa danh tiếng Việt, sau đó họ phát triển lên thành chữ Viết hoàn chỉnh nhằm mục đích truyền giáo, giao thương Từ khi hình thành đến nay, chữ Quốc ngữ có các thời kì phát triển chính:
1) Thời kì đầu – phôi thai (đầu TK XVII đến 1650)
Chữ Quốc ngữ được hình thành theo xu hướng chung của các giáo sĩ Tây phương muốn La tinh hoá các chữ viết của những ngôn ngữ Á Đông nằm trong địa bàn truyền giáo của họ Cuối TK XVI đầu TK XVII, các giáo sĩ dòng Tên
đã làm công cuộc La tinh hoá ngôn ngữ Á Đông ở Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam… Ở Nhật Bản, việc phiên âm tiếng Nhật bằng chữ cái La tinh được bắt đầu
Trang 25từ khoảng năm 1591-1596, và đã có 16 cuốn sách được phiên âm bằng chữ Nhật (gọi là “Romaji”); trong đó có cuốn “Giáo lí đạo Kito” được phát hành năm
1592 Từ điển La-Bồ-Nhật cũng được phát hành năm 1595 Năm 1632, Phương pháp xưng tội và Từ điển La-Bồ-Nhật của Didaco Goliado bằng chữ Romaji được in ở Rome giống như Phép giảng tám ngày và TĐVBL của A de Rhodes
sau này
Ở Trung Quốc, năm 1588, Từ điển Bồ-Hoa được hai linh mục Mateo
Ricci và Michele Ruggieri biên soạn, trong đó có ghi chữ Hán phiên âm Tiếp
theo, năm 1626, Nicolas cho in bộ sách Tây Nho Nhĩ Mục Tư bằng chữ Hán
phiên âm, dùng 25 chữ cái Latinh để phiên âm [92, tr2]
Như vậy, trước khi đến Việt Nam, các giáo sĩ đã có những mẫu mực, những kinh nghiệm và những phương pháp dùng kí tự La tinh của các giáo sĩ ở địa bàn Nhật, Trung để sáng chế chữ Quốc ngữ
Trong những giáo sĩ đến Việt Nam và có công đầu trong việc sáng chế chữ Quốc ngữ phải kể đến Francisco de Pina, người được xem sử dụng thông thao tiếng Việt và là thầy của Alexandre de Rhodes Ngay từ 1620, với sự giúp
đỡ của người Việt, Francisco de Pina đã soạn thảo một cuốn giáo lí, nhưng nó không được in mà chỉ chép tay lưu truyền nên đã bị thất lạc
Tiếp đến là João Roiz, người đã soạn một bản tường trình bằng tiếng Bồ Đào Nha gửi về La Mã năm 1621, trong đó có những chữ Quốc ngữ: Annam (An Nam), Sinoa (Xứ Hoá), Unsai (Ông Sãi), Cacham (Ca Chàm – Kẻ Chàm hay Thanh Chiêm, thộc Quảng Nam), Nuocman (Nước mặn)…
Cùng trong năm 1621, Gaspar Luis viết tường trình bằng La ngữ gửi về
La Mã, trong đó có một số chữ Quốc ngữ: Ungue (Ông nghè), Bancô (Bàn cổ), Nuocman (Nước mặn), Cacham (Kẻ Chàm)… Sau này, vào năm 1626 ông còn
có tài liệu viết tay khác nhiều chữ Quốc ngữ hơn
Năm 1621, Cristoforo Borri viết một cuốn sách về Đàng Trong, trong đó
có khoảng 30 chữ Quốc ngữ, như: cò (có), sayc chiu (sách chữ), sayc kim (sách
Trang 26kinh Tứ thư, Ngũ kinh), doij (đói), Quignin (Qui Nhơn), Quamguya (Quảng Nghĩa), Sinuua (Xứ Hoá – Thuận Hoá)…
Ngoài ra còn có công của các linh mục Antonio de Fontes, Francesco Buzomi, Gaspar d’Amaral… Trong đó, năm 1637, Gaspar d’Amaral đã viết
những chữ Quốc ngữ có hình thức giống như ngày nay: thầy, lạy, đàng ngoài, già, kẻ chợ…[14, tr23]
Trong giai đoạn này, linh mục Alexandre de Rhodes cũng có nhiều tài liệu viết tay trong đó có ghi chữ Quốc ngữ, nhưng so với Gaspar d’Amaral thì những chữ của ông không được rõ bằng
Nhìn chung trong giai đoạn này, các linh mục mới sử dụng chữ Quốc ngữ
để phiên âm các danh từ riêng (nhân danh, địa danh), và cách ghi âm vẫn chưa thống nhât, lúc ghi thanh điệu lúc không, lúc viết dính các từ ghép lúc viết rời 2) Thời kì 1651-1856
Thời kì nay được đánh dấu bởi sự ra đời của cuốn TĐVBL và cuốn Phép giảng tám ngày của Alexandre de Rhodes in năm 1651 tai Roma Hai tài liệu này
khẳng định sự định hình của chữ Quốc ngữ và công lao to lớn của Alexandre de Rhodes Trong cuốn từ điển, ta thấy có nhận xét về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp của tiếng Việt in ở đầu từ điển Đồng thời, về mặt chính tả cùng hoàn thiện dần ở hầu hết các âm đầu, vần, thanh điệu Thời kì này còn có các tài liệu: Thư của
Igesico Văn Tín, thư của Bento Thiện (1659), Tự vị Annam-Latinh của P de Béhaine (1773), Sách sổ sang chép các việc của P Bỉnh (1822), Nam Việt dương hiệp tự vị của Taberd (1838)
3) Thời kì 1865-1910
So với thời kì trước, chữ Quốc ngữ thời kì này bắt được áp dụng rộng rãi vào đời sống của nhân dân Các tờ báo bằng chữ Quốc ngữ: Gia Định báo (1865), Đại Việt tân báo (1905), Nông cổ mín đàm (1901), Đăng cổ tùng báo (1907), Lục tỉnh tân văn (1907)… lần lượt ra đời; rồi các truyện bằng chữ Quốc
ngữ: Chuyện giải buồn của Huình Tịnh Của, Chuyện đời xưa của Trương Vĩnh
Trang 27Ký, Chuyện thầy Ladaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản… được công chúng hồ hởi đón nhận; và cùng với đó là cuốn từ điển giải thích đầu tiên – Đại Nam Quấc
âm tự vị của Huình Tịnh Của (1895) Sự tiện dụng của chữ Quốc ngữ đã được
mọi người thừa nhận, kể cả những người làm chính trị Các loại giấy tờ như khai sinh, khai tử, hôn thú cũng bắt đầu được làm bằng chữ Quốc ngữ
4) Thời kì 1910 – 1945
Thời kì này, chữ Quốc ngữ trở nên phổ dụng ở mọi lĩnh vực của đời sống Ngay cả trong thi cử, khi bỏ thi chữ Hán, chính quyền sở tại đã đưa vào nội dung thi một phần chữ Quốc ngữ Rồi trền các lĩnh vực khác, đặc biệt là báo chí và văn chương, chữ Quốc ngữ trở thành phương tiện giao tiếp không thể thiếu được của dân chúng lúc bấy giờ Chữ Quốc ngữ cũng là phương tiện chính để hoạt động tuyên truyền chính trị lúc bấy giờ Tuy phổ dụng như vậy, nhưng chữ Quốc ngữ giai đoạn này vẫn chưa trở thành văn tự chính thức
5) Thời kì từ 1945 trở đi
Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, dân tộc ta độc lập, đất nước ta có nhiều thay đổi, mọi mặt của đời sống cũng chuyển mình theo, trong đó vấn đề phát triển sự học vấn của nhân dân được Chính phủ đặc biệt quan tâm Chính phủ đã chọn chữ Quốc ngữ là văn tự chính thức của Quốc gia Việc lựa chọn sáng suốt này giúp chúng ta khẳng định nền độc lập, đồng thời giúp nhân dân ta học tập, tiếp cận tri thức nhanh hơn, bởi chữ Quốc ngữ so với các văn tự khác lúc bấy giờ là dễ học, dễ nhớ Và chỉ qua hơn một năm, đến cuối 1946, hầu hết người dân Việt Nam đã biết đọc biết viết chữ Quốc ngữ Từ 1945 đến nay có rất
nhiều cuốn từ điển ra đời như: Việt Nam tân tự điển của Thanh Nghị (1951), Từ điển tiếng Việt của Văn Tân (1967), Việt Nam từ điển của Lê Văn Đức (1970),
Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (1988)… và các loại từ điển đối chiếu:
Việt-Nga, Việt-Pháp, Việt-Hàn, Việt-Nhật… ra đời Chữ Quốc ngữ đến nay là phương tiện giao tiếp quan trong nhất của người Việt, được dùng để giảng dạy ở
Trang 28đại học, tư duy khoa học và truyền bá tư tưởng… trở thành niềm tự hào của người Việt
1.2 Một số khái niệm hữu quan
1.2.1 Khái niệm từ
Từ là đơn vị trung tâm, đơn vị có vai trò quan trọng trong hoạt động hành chức và tổ chức kiến tạo nên các đơn vị mới, các đơn vị bậc cao hơn của ngôn ngữ Có nhiều quan niệm khác nhau về từ tiếng Việt, trong luận văn này chúng
tôi theo quan niệm về từ được nêu ra trong Dẫn luận ngôn ngữ học, NXB Giáo dục (2013) của tác giả Nguyễn Thiện Giáp: “Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về ý nghĩa và hình thức” [32, tr.61] Quan niệm này đề cập đến các
vấn đề chung về đặc điểm hình thức ngữ nghĩa mà các nhà nghiên cứu đã thống nhất như:
Hồ Lê, Nguyễn Kim Thản, Đỗ Hữu Châu…
1.2.2 Từ vựng tiếng Việt
Từ vựng tiếng Việt là một trong ba thành phần cơ sở của tiếng Việt, bên cạnh ngữ âm và ngữ pháp Từ vựng tiếng Việt bao gồm bộ phận từ và các kết cấu tương đương với từ (cụm từ cố định) Trải qua một quá trình phát triển lâu dài, gắn liền chặt chẽ với vận mệnh lịch sử dân tộc của đất nước Việt Nam, từ
Trang 29tăng lên không ngừng về số lượng và chất lượng Về số lượng, ban đầu trong TĐVBL mới có ghi 8.000 từ (có thể do quy mô từ điển nhỏ và A de Rhodes ghi chưa đủ), nhưng đến TĐTV ngày nay đã ghi hơn 40.000 từ Về mặt nguồn gốc,
từ tiếng Việt tiếp nhận nhiều ngôn ngữ du nhập như tiếng Hán, tiếng Ấn Âu Tình hình đó đã để lại những dấu ấn trong cấu trúc nghĩa của từ (thêm nhiều nét nghĩa mới, hoặc mở rộng thu hẹp nghĩa…), tạo ra nhiều từ mới bằng các phương thức ghép, láy, ẩn dụ, hoán dụ…
Có thể thấy đặc điểm từ tiếng Việt về hình thức là một khối về mặt cấu tạo; có ý nghĩa hoàn chỉnh về nội dung; có khả năng hoạt động tự do và độc lập
về cú pháp So với từ của các ngôn ngữ châu Âu từ tiếng Việt có đặc điểm điển hình của loại hình ngôn ngữ đơn lập
Đó là đặc điểm từ không biến đổi hình thái Không có hiện tượng cấu tạo
từ bằng cách ghép thêm phụ tố (affix) vào gốc từ Dù đứng riêng lẻ một mình hay đứng trong câu, từ tiếng Việt bao giờ cũng giữ nguyên hình thức, không giống như ngôn ngữ biến hình, tiếng Anh, tiếng Pháp Tiếng Anh, để chỉ số ít, số
nhiều, ta có:book – books, wife – wives… Tiếng Pháp, động từ “venir” (đến) theo
các ngôi có hình thái khác nhau: je viens (ngôi thứ nhất), tu viens (ngôi thứ hai),
il vient (ngôi thứ ba số ít), nous venons, vous venez (ngôi thứ hai số nhiều), ils viennet (ngôi thứ ba số nhiều) Nói là không biến hình nhưng từ tiếng Việt có sự
biến thể về mặt ngữ âm, biến thể từ vựng-ngữ nghĩa Ví dụ: dát và nhát, giăng và trăng, lầm và nhầm…
Đó là quan hệ ngữ pháp và ý nghĩa ngữ pháp được thể hiện bằng các
phương tiện ngoài từ: trật tự từ, hư từ, ngữ điệu Ví dụ sử dụng trật tự từ: cửa trước – trước cửa; xanh mắt – mắt xanh; nhà nước – nước nhà Sử dụng hư từ:
đã, đang, sẽ, những… (đã đọc, đang đọc, sẽ đọc, những cuốn sách) Phương thức ngữ điệu, trên văn bản biểu hiện bằng dấu câu: (a) Đêm hôm qua, cầu gãy.(b) Đêm hôm, qua cầu gãy Ở đây ngữ điệu đã giữ vai trò quan trọng trong
Trang 30việc biểu hiện quan hệ cú pháp của các yếu tố trong câu, nhờ đó đưa ra nội dung muốn thông báo
Đặc điểm khác có thể thấy rõ là ranh giới giữa cụm từ và từ ghép khó
phân biệt rõ ràng Ví dụ: xe đạp - cụm từ hay là từ ghép? Mệnh đề cũng không được đánh dấu rõ ràng, ví dụ: Cô gái này rất đẹp là kết cấu chủ vị Một cô gái rất đẹp ngồi dưới gốc cây thì “một cô gái rất đẹp” là danh ngữ, kết cấu ngữ Bên
cạnh đó, phạm trù từ loại tiếng Việt cũng không được thể hiện rõ ràng bằng dấu hiệu hình thức trong tiếng Việt Người ta chỉ có thể nhận diện từ loại dựa vào
khả năng kết hợp và cương vị cú pháp Ví dụ từ cuốc trong cái cuốc là danh
từ, cuốc trong cuốc đất là động từ; Việt Nam (đất nước Việt Nam) đóng vai trò là một danh từ riêng, nhưng Việt Nam (rất Việt Nam) nó lại mang bản chất từ loại
là tính từ…
Ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp của từ tiếng Việt gắn bó chặt chẽ với nhau Chính vì như vậy ý nghĩa của từ tiếng Việt thường có tính chất trừu tượng, khái quát về mặt ngữ pháp Chỉ khi kết hợp với các từ khác ý nghĩa của
nó mới được cụ thể hóa Ví dụ từ “đẹp” trong các trường hợp sau đây mang ý nghĩa khác nhau:
đẹp: khái niệm đẹp nói chung
cái đẹp: đẹp với tư cách một sự vật
người đẹp: đẹp với tư cách một tính chất
đẹp ra: đẹp với tư cách một quá trình
1.2.3 Ngữ nghĩa học từ vựng
Quan niệm về nghĩa của từ được rất nhiều các nhà nghiên cứu tranh luận,
trong đó ý kiến phổ biến là: Nghĩa của từ là nội dung mà từ biểu thị, nội dung
mà từ phản ánh Trong đó, thành phần nghĩa từ vựng và nghĩa ngữ pháp quan trọng nhất Nghĩa từ vựng: Là thứ ý nghĩa phản ánh thực tế khách quan và là của riêng từng từ, không lặp lại ở những từ khác Nghĩa ngữ pháp: Là thứ ý nghĩa
chung cho nhiều từ cùng loại Ví dụ ý nghĩa về giống, số, cách, ngôi, thể…
Trang 31Xét ví dụ từ “voi” ta phân tích được các ý nghĩa sau:
Nghĩa từ vựng: ”Voi” gợi lên trong chúng ta hình tượng về một con voi
toàn vẹn: hình dáng, màu lông, tai voi, ngà, chân, mắt, đuôi “Voi” gợi cho chúng ta đặc trưng mà ta vốn biết về nó: là loại thú lớn, sống ở vùng nhiệt đới, mũi dài thành vòi, răng nanh dài thành ngà, tai to, da dày, rất khỏe… Đó là con vật tượng trưng cho sức mạnh
Nghĩa ngữ pháp: Biểu thị một sự vật giống với các danh từ khác Trong
câu này, từ “voi” có thể giữ các chức năng khác như: Chủ ngữ: Voi nhà rất hiếm;
Bổ ngữ: Họ bẫy voi về nhà nuôi; Định ngữ: Chân voi…
Tổng quan từ “voi” biểu thị một nội dung, do đó nó có giá trị khu biệt với tất cả các từ khác trong vốn từ vựng tiếng Việt; mặt khác, nó có khả năng kết hợp với các từ loại khác để tạo ra câu nói
Nghĩa của từ không thuần nhất mà là 1 phức thể do một số thành tố nghĩa tạo nên như: nghĩa sở thị (nghĩa biểu vật) – ngoại diên; nghĩa sở biểu (nghĩa biểu niệm) – nội hàm; nghĩa biểu thái (nghĩa biểu cảm); nghĩa ngữ pháp; ý nghĩa kết cấu của từ v.v… (xem thêm [24, tr52]
Một số đặc điểm về nghĩa của từ được nói đến: chuyển biến từ cụ thể sang trừu tượng và ngược lại; chuyển biến từ nét nghĩa khái quát sang loại biệt và ngược lại Tính tượng thanh mô phỏng tiếng động, tiếng kêu cả động vật, vật thể nhân tạo v.v… và tượng hình gợi ra hình ảnh vận động hay hình dáng của sự vật hiện tượng cũng là nét nghĩa vị thường hay được người ta nhắc tới Ngoài ra, nghĩa của từ còn có tính gợi hình, gợi cảm, ví dụ một từ có nghĩa loại biệt càng hẹp thì càng dễ dàng mang tính cụ thể và tính hình tượng
1.2.4 Về phương pháp lịch sử -so sánh và phương pháp phân tích từ vựng-ngữ nghĩa
1.2.4.1 Phương pháp lịch sử-so sánh
Đây là một phương pháp nghiên cứu phổ biến chung có ở mọi ngành khoa học Phương pháp lịch sử-so sánh nghiên cứu ngôn ngữ trong tiến trình vận động
Trang 32(bình diện động – lịch đại) giúp chúng ta thấy được khác biệt, sự phát triển nghĩa
của ngôn ngữ… Theo Nguyễn Thiện Giáp, Các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ, tr.161: “…so sánh tiếng Việt trong Quốc âm thi tập với TĐVBL, chúng ta
đụng chạm đến phương pháp lịch sử-so sánh; nhưng so sánh tiếng Việt với tiếng Mường, tiếng Thái, tiếng Tày, tiếng Pọng, tiếng Chứt, tiếng Katu, tiếng Bahnar… để xác định nguồn gốc của tiếng Việt lại thuộc phương pháp so sánh-lịch sử.” Cũng như vậy, khi nghiên cứu chuyển nghĩa của từ tiếng Việt từ TĐVBL đến TĐTV, chúng ta phải vận dụng các thao tác, thủ pháp của phương pháp lịch sử-so sánh như: thủ pháp phân tích lịch sử cấu tạo từ, thủ pháp giải thích về mặt văn hóa và lịch sử, phục nguyên bên trong Trong khi nghiên cứu cần nắm rõ nguyên tắc của phương pháp lịch sử-so sánh là xác định sự đồng nhất
và sự khác biệt của những hình thức và các âm một ngôn ngữ; mục đích chính là nhằm thể hiện những quy luật bên trong và bên ngoài của ngôn ngữ
1.2.4.2 Phương pháp phân tích từ vựng ngữ nghĩa
Người viết luận văn theo quan điểm chính của Đỗ Hữu Châu trong giáo
trình Từ vựng ngữ nghĩa, ngoài ra có tham khảo thêm các sách về ngữ nghĩa… Ý
nghĩa của phương pháp phân tích từ vựng ngữ nghĩa sẽ chỉ ra sự khu biệt về nghĩa của các trường từ vựng, tiểu hệ thống Ví dụ phân tích trường CON NGƯỜI để thấy hướng phát triển nghĩa “tỏa ra”: [tinh thần và trí năng] [tình trạng chung, trí tuệ, trí khôn, khả năng], [thụ cảm], [nhận thức, quan niệm], [trí nhớ], [óc tưởng tượng], [tư duy], [tình cảm], [ý chí], [đạo đức], […] (phân loại
trường của R.Hallig & Wartburg, dẫn theo Ju.X Xtepanov, Những cơ sở của ngôn ngữ học đại cương, NXB Đại học và THCN, năm 1997, 227tr)
Phân tích ngôn ngữ ở bình diện cấu trúc hình thức, ta phân tích thành tố trực tiếp Ở bình diện từ vựng ngữ nghĩa, chúng ta có thể nghiên cứu các thành
tố nghĩa (hay hợp tố ý), nét nghĩa khu biệt và nét nghĩa giao nhau Đây là một trong những phương thức đặc thù của ngôn ngữ học Phân tích hợp tố
Trang 33(ý) (componential analysis) ở đây với ý nghĩa là chia cắt tách nghĩa của một yếu
tố từ vựng riêng lẻ thành các yếu tố cơ sở nhỏ hơn
1.3 Alexandre de Rhodes và TĐVBL
1.3.1 Alexandre de Rhodes
Alexandre de Rhodes, phiên âm Hán Việt là A Lịch Sơn Đắc Lộ, sinh ngày 15/3/1593 tại Avignon, Pháp trong một gia đình quý tộc, học thức gốc Do Thái và có quốc tịch Vatican Từ nhỏ Alexandre de Rhodes đã muốn đi Á Đông truyền giáo và đã gia nhập Dòng Tên ở La Mã ngày 14/4/1612 Ông được thụ phong linh mục tại La Mã năm 1618 Cùng năm đó, ông được bề trên chấp thuận cho đi truyền giáo ở Á Đông, sau nhiều lần đệ đơn xin đi Do gặp khó khăn trên đường đi nên mãi tới ngày 29/5/1623, ông mới tới Ma Cao Ý định của ông là muốn từ Ma Cao đi Nhật Bản truyền giáo, nhưng cấp trên lại muốn cho ông đi truyền giáo tại Việt Nam Tháng 12/1624, ông tới Đàng Trong, bắt đầu việc tìm hiểu, học tập và truyền giáo Ngày 19/3/1627, ông ra Đàng Ngoài Ông bị Chúa Trinh Tráng trục xuất khỏi Đàng ngoài tháng 5/1630 Từ 1630 đến 1640, ông dạy thần học ở Học viện Madre de Deus, Ma Cao Từ 1640 đến 1645 ông lại tới truyền giáo ở Đàng Trong Tháng 7 năm 1645, A de Rhodes rời Đàng Trong về
Ma Cao rồi đi Âu Châu Năm 1654, ông đi Ba Tư rồi qua đời tại Ispahan ngày 5-11-1660
Alexandre de Rhodes đến Đàng Trong, ở tại Dinh Chàm, Quảng Nam, và bắt đầu học tiếng Việt với Linh mục Francesco de Pina Tại đây ông học hành một cách chăm chỉ, không ngại khó Ngoài thầy giảng là Pina, ông còn học với dân bản địa Ông kể lại rằng ông đã học với một em bé 13 tuổi Nhờ em bé này, chỉ sau ba tuần ông đã phân biệt được các thanh và cách phát âm mỗi tiếng Em nhỏ này về sau gia nhập Giáo hội và mang tên của A de Rhodes (Raphael Rhodes), trở thành cánh tay đắc lực của ông
Trang 34Như vậy, khi A de Rhodes đến Việt Nam thì đã có những linh mục khác nói tiếng Việt giỏi và họ đã đưa những kí tự Latinh vào việc ghi âm một số từ tiếng Việt, và ông đã học hỏi, kế thừa rồi nhanh chóng tham gia vào quá tình sáng chế chữ Quốc ngữ [14, tr.83]
1.3.2 Từ điển Annam-Lusitan-Latinh
1.3.2.1 Từ điển
Từ điển, theo cách hiểu thông thường nhất là “sách tra cứu tập hợp các đơn vị ngôn ngữ (thường là đơn vị từ vựng) và sắp xếp theo một trật tự nhất định, cung cấp một số kiến thức cần thiết đối với từng đơn vị” [81, tr.1371] Một từ điển thông thường cung cấp nghĩa các từ ngữ đó hoặc các từ ngữ tương đương trong một hay nhiều thứ tiếng khác Ngoài ra còn có thể có thêm thông tin về cách phát âm, các chú thích về ngữ pháp, các dạng biến thể của từ, lịch sử hay từ nguyên, cách sử dụng hay các câu ví dụ, trích dẫn
Thông thường từ điển được trình bày dưới dạng sách, ngày nay từ điển còn được số hóa và cung cấp dưới dạng phần mềm máy tính hay truy cập trực tuyến trên web, trên trình nhắn tin nhanh, hay có trong các thiết bị số cá nhân như PDA, điện thoại
Từ điển là nơi giải thích thông tin về ngôn ngữ của con người một cách dễ hiểu và khách quan nhất Từ điển có nhiệm vụ, nhất là từ điển bách khoa toàn thư, giúp người xem hiểu và vận dụng (sử dụng) chính xác một từ, ngữ, thuật ngữ, thành ngữ, khái niệm, phạm trù hay một vấn đề cụ thể trong đời sống xã hội con người Từ nhiệm vụ này, từ điển đã được hình thành dưới nhiều dạng thức tồn tại khác nhau, góp phần giải quyết (hay đáp ứng) một hoặc nhiều nhu cầu khác nhau trong đời sống xã hội loài người
Có các dạng thức từ điển như: từ điển bách khoa toàn thư, từ điển giải thích, từ điển thuật ngữ, từ điển thành ngữ, từ điển song ngữ, từ điển tiếng lóng,
từ điển ngôn ngữ phụ nữ
Trang 35Cuốn TĐVBL thuộc loại từ điển giải thích, đối dịch, sử dụng để giải thích các nghĩa của từ trong một ngôn ngữ, được viết bằng ba thứ chữ : La Tinh, Bồ Đào Nha, Việt
1.3.2.1 Từ điển Annam-Lusitan-Latinh
Từ điển Annam-Lusitan-Latinh hay còn gọi là Từ điển Việt-Bồ-La (khi xuất bản tại Roma vào năm 1651 có tên là Dictionarium Annamiticum Lusitanum
et Latinum) được A de Rhodes soạn trong khoảng thời gian từ 1636-1645 tại Ma
Cao Có nhiều ý kiến cho rằng, để soạn được cuốn từ điển này, A de Rhodes đã
kế thừa hai cuốn từ điển đã thất truyền: cuốn Từ điển Việt-Bồ của Gaspar d’Amaral và Từ điển Bồ-Việt của Antonio Barbosa Khi soạn thảo ở Ma Cao,
ông cũng đã trao đổi ý kiến với các linh mục từng ở Việt Nam Rồi khi lại quay lại Đàng Trong truyền giáo, ông đã chỉnh sửa lại từ điển nhờ những góp ý, giúp
đỡ của Thầy Y Nhã, một người có học thức cao đã từng làm quan Điều đó có nghĩa, A de Rhodes không phải là người phát minh ra chữ Quốc ngữ Nhưng chúng ta cũng không thể phủ nhận công lao to lớn của ông được Bởi vì, ông đã giúp cho chữ Quốc ngữ được định hình Và ông cũng là người đầu tiên đem in những bộ sách bằng chữ Quốc ngữ, mà có lẽ công việc in ấn lúc này không dễ dàng gì Để rồi ta chỉ có thể lấy thời gian xuất hiện công trình của ông (5/2/1651) làm điểm mốc ghi nhận sự xuất hiện đầu tiên của chữ Quốc ngữ với tư cách như một loại văn tự đích thực của tiếng Việt
số trang tách biệt với cuốn từ điển Đây được xem là cuốn Ngữ pháp Việt Nam,
soạn bằng chữ La Tinh, với mục đích cho người Tây phương học
Trang 36Phần thứ ba của cuốn từ điển tác giả đối ngữ Việt-La Tinh nhằm mục đích để những người học tiếng Việt nếu đã biết La Tinh, thì dò theo phần này để tìm chữ Việt ở phần chính
Cuốn TĐVBL, như ta nói, xuất hiện từ TK XVII, là cuốn sách đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ được in ấn, truyền tải loại chữ Quốc ngữ mới được định hình Sau này, cần cả một thời gian dài để hoàn thiện và phát triển So với ngày nay, chữ viết trong cuốn từ điển này cũng có nhiều khác biệt
Tiểu kết
Như vậy, trong chương 1 này, chúng tôi đã trình bày một cách ngắn gọn một số các vấn đề, khái niệm có tính chất cơ sở làm chỗ dựa cho những tiếp cận, những phân tích, lí giải các nội dung của luận văn Đó là những vấn đề về lược
sử tiếng Việt, lược sử chữ Quốc ngữ; những khái niệm về từ, nghĩa của từ, cách xác định nghĩa của từ, các phương thức, các con đường phát triển, chuyển biến nghĩa của từ Cũng tại đây, chúng tôi giới thiệu khái quát tiểu sử của A de Rhodes và việc biên soạn, xuất bản cuốn TĐVBL Đồng thời, trong chương 1 này chúng tôi cũng giới thiệu kĩ về phương pháp chủ đạo được vận dụng để giải quyết đề tài này – phương pháp lịch sử-so sánh và phương pháp phân tích từ vựng-ngữ nghĩa
Trang 37Chương 2:
NHẬN XÉT SƠ BỘ VỀ CÁCH GIẢI NGHĨA TỪ
TRONG TỪ ĐIỂN ANNAM-LUSITAN-LATINH
VÀ TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆT
2.1 Hình thức chữ viết
2.1.1 Hình thức chữ viết trong TĐVBL
Chữ Quốc ngữ TK.XVII trong cuốn TĐVBL phản ánh ngữ âm tiếng Việt
thời kì tiếng Việt trung đại, đã đơn tiết hoá triệt để tuy còn vết tích của các phụ
âm kép như bl, ml, pl, tl (tuy rằng sự tồn tại của các tổ hợp phụ âm không ảnh hưởng gì đến hiện tượng đơn tiết hoá) Các tổ hợp phụ âm này sau đó được thay
thế bằng các phụ âm l, tr, ch, nh, tr Ví như: blả/ tlả > trả, mlời > nhời/lời, plàn
> lăn, tlâu > trâu,…
Phụ âm đầu Việt-Mường chung *w do áp lực của hệ thống đã nhập vào
với âm xát được viết bằng chữ Quốc ngữ v Trong TĐVBL v được ghi là u hoặc
v Ví dụ: chim uạc – chim vạc, bà uãi – bà vãi, xỉ uả ai – xỉ vả ai… Hai âm đầu
bật hơi Việt Mường chung *ph và *kh được ghi bằng chữ Quốc ngữ là ph, kh Chữ viết thời kì tiếng Việt trung đại, tiêu biểu là TĐVBL có hiện tượng một âm vị có thể được ghi bằng nhiều con chữ khác nhau, một vần có thể được ghi bằng nhiều cách khác nhau Một số âm đầu, vần, âm tiết của tiếng Việt có tới
vài ba hình thức tồn tại trong TĐVBL Chẳng hạn, bên cạnh g (gếy) vẫn còn gi (già, giã, giác,…) để ghi âm vị /z/; bên cạnh bl, tl, blời, tlâu vẫn có tr (tra, trắch,
trai, trầm, trân, trấn, …) để ghi âm vị /tr;…
Trong TĐVBL, sau mục từ bắt đầu bằng con chữ b dùng để ghi phụ âm /b/ tác giả còn dùng ngay chữ có cách phát âm giống /β/ của Hy Lạp; đó là một
số chữ thuộc mẫu tự v bây giờ Ví dụ á (vá: vá áo), ã (vã nhau, tát nhau), ạch
(vạch: vạch tai ra mà nghe), ây (vậy: ấy vậy), án: (ván: đỗ, đậu ván), ỗ (vỗ:
Trang 38vỗ tay), ỏ (vỏ: vỏ gươm), ua (vua: vua chúa), ú (vú) Mẫu tự năy chiếm 10 cột, tức 5 trang giấy [14, tr.85]
Chúng ta còn thấy sự tồn tại song song hai câch viết C – K để ghi cùng
một đm /k/ Chúng ta có thể thấy ở một số trường hợp như kướp vă cướp, kưới
vă cưới Tuy nhiín, câc hình thức năy không được tâc giả xem lă hình thức
chuẩn vă không được ghi ở câc mục từ, chỉ năm trong câc giải thích Ngoăi C –
K thì trong TĐVBL còn lẫn lộn giữa ba con chữ c/k/q để ghi đm /k/, không có sự phđn biệt rạch ròi như ngăy nay Những con chữ năy được thể hiện trín mục từ,
chẳng hạn: cuiẻn sâch = quyển sâch, cơ cõín = cơ quđn, cuôn tử = quđn tử, kớu thế = cứu thế…
Đối với chữ ghi đm chính hoặc đm cuối ở phần vần, tình hình cũng tương
tự như vậy Có thể đó cũng một phần lă kết quả của sự phản ânh câc vùng
phương ngữ thời ấy: người Trung vă Nam hay lẫn lộn thanh điệu (hổn độn – hỗn độn, vui vẻ - vui vẽ, …), đm cuối vă đm đầu lẫn lộn gặp ở người Miền Bắc, miền Nam vă thậm chí cả miền Trung (dời dạc - rời rạc, giản giải – giảng giải, líu díu – líu ríu, dịn dục – nhịn nhục, sù sì – xù xì, gia giết – da diết, chòng ngòng – tồng ngồng…)
Ngoăi ra, Trong TĐVBL cũng sử dụng những con chữ lạ ngăy nay không
có lă: ~ đặt trín câc nguyín đm u, o vă ao để thể hiện phu đm cuối ng, ví dụ cũ = cũng, tlaõ = trong, lắ = lòng; vă (bua – vua, bậy – vậy…) (xin xem thím [78,
tr.37 - 41])
Chữ viết trong TĐVBL có một số hình thức khâc ngăy nay vă có nhiều lẫn lộn, phức tạp như vậy bởi đầy lă cuốn từ điển đầu tiín của chữ Quốc ngữ, ra đời trong thời kì đầu khi chữ Quốc ngữ mới được định hình, chưa ổn định Lí do nữa, người lăm cuốn từ điển năy lă một người nước ngoăi, thời gian sống vă lăm việc ở Việt Nam không lđu, ắt hẳn gặp không ít khó khăn vă sai sót khi biín soạn Hơn nữa, tâc giả của từ điển sử dụng hệ thống chữ câi Latinh vă ngữ phâp
Đu chđu để âp văo việc ghi đm, thể hiện chữ viết của một quốc gia phương Đông
Trang 39vốn khác nhau rất xa về văn hoá và ngôn ngữ, nói như tác giả Nguyễn Công Đức: “Chữ Latinh, trong một chừng mực nào đó, dùng để ghi những “âm đoạn tối thiểu” của tiếng Âu Châu là khả chấp, song nó lại gần như không có một tương thích khả túc nào với cái “âm đoạn tối thiểu” ấy trong tiếng Việt” [24,tr.57] Và cuối cùng, lúc bấy giờ, ở nước ta chưa có một khoa học về ngôn ngữ, chưa có một khung chính tả như ngày nay để tác giả có điều kiện tham chiếu khi làm việc này
2.1.2 Hình thức chữ viết trong TĐTV
TĐTV ra đời trong thời kì hiện đại, cuối TK XX, cách TĐVBL hơn ba thế kỉ, với sự cộng tác của một tập thể các nhà khoa học đầu ngành ngôn ngữ, vì thế có nhiều điều kiện để trở nên hoàn thiện Chính tả trong TĐTV cũng đã có những quy chuẩn theo quy định của Nhà nước trong Quyết định số 240/QĐ ngày 5-3-1984 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục Các trường hợp -i/-y ở cuối âm tiết khi cùng một âm vị thì được viết thống nhất là -i, nhưng vẫn phản ánh lối viết bằng -y đang còn phổ phiến hiện nay [81,tr.9-10] Có thể nói, điều kiện để TĐTV có diện mạo sâu rộng như vậy là thuận lợi hơn nhiều so với điều kiện biên soạn của TĐVBL
2.2 Cách lựa chọn từ
2.2.1 Xét về cấu tạo
2.2.1.1 Cách lựa chọn từ xét về cấu tạo trong TĐVBL
Cuốn TĐVBL có cấu trúc bao gồm toàn thể các mục từ được sắp xếp theo một trật tự xác định, bao gồm một số lượng đơn vị từ ngữ là hơn 8019 đơn vị Cách xác định đơn vị từ ngữ của chúng tôi là là thống kê theo mục từ (những từ ngữ được in hoa, in đậm), cũng gần tương đương với con số thống kê của tác giả
Vũ Đức Nghiệu (xem thêm [77]) Trong số các từ ngữ được đưa vào đối dịch, giải nghĩa gồm từ đơn tiết chiếm khoảng 54% tổng số từ, số còn lại là từ đa tiết
và ngữ Từ đa tiết (từ ghép, từ láy, từ ngẫu hợp) chiếm khoảng 45,5%, trong đó
Trang 40từ láy có 430 đơn vị, chiếm 5,3%, còn thành ngữ chiếm 0,5% (40 thành ngữ) tổng số từ ngữ trong từ điển
430 (5,3%)
40 (0,5%)
8019 (100%)
Ví dụ :
- Từ đơn tiết:
BẮC: Bắc cực Bến bắc, phương bắc: Phía bắc, phương bắc, miền bắc
CÀ: Trái táo dại, trái cà DẠ: Một lời lịch sự trả lời cho kẻ gọi mình ĐẾCH: Tính khí con người
GHẾ: Ghế đẩu, ghế dài HỐ: Cái lỗ người ta sa xuống nếu vô ý
YÊN: Sự bình yên Yên ổn: Yên tĩnh Bàng yên Cùng một nghĩa
Chẳng yên mình: Thiếu sức khoẻ An Cùng một nghĩa
KÌM: Cái kềm, cái kìm
MÈ: Mè, vừng, Vừng Cùng một nghĩa NẤU: Nấu Nấu thịt: Nấu thịt, Nấu nước: Nấu nước
- Từ đa tiết:
+ Từ ghép:
BAN HÔM: Chiều tối CÁNH TAY: Cánh tay DƯA GANG: Dưa gang ĐẦU HỌ: Đầu, gốc của dòng họ