1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ biện chứng giữa phát triển nguồn nhân lực với phát triển khoa học và công nghệ ở việt nam hiện nay

137 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngay từ thời kỳ đầu của nền sản xuất đại công nghiệp, C.Mác đã khẳng định: “Theo đà phát triển của đại công nghiệp, việc tạo ra của cải thực sự trở nên ít phụ thuộc vào thời gian lao độ

Trang 1

BÙI MINH NGHĨA

QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

VỚI PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

TP.HỒ CHÍ MINH - 2014

Trang 2



BÙI MINH NGHĨA

QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC VỚI PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Triết học

Mã số: 60.22.80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS LƯƠNG MINH CỪ

TP.HỒ CHÍ MINH - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan luận văn là công trình do tôi độc lập nghiên cứu, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS, TS Lương Minh Cừ Kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được ai công bố

TP Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 4 năm 2014

Người cam đoan

BÙI MINH NGHĨA

Trang 4

PHẦN NỘI DUNG 13 Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN

NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ Ở

1.1 Nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực 13

1.1.3 Đặc điểm của phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay 33

1.2 Khoa học, công nghệ và phát triển khoa học, công nghệ 36

1.2.2 Quan điểm phát triển khoa học và công nghệ 50 1.2.3 Đặc điểm của phát triển khoa học và công nghệ ở Việt Nam

1.3 Quan hệ biện chứng giữa phát triển nguồn nhân lực với

phát triển, ứng dụng khoa học và công nghệ 62

1.3.1 Vai trò quyết định của nguồn nhân lực đối với quá trình phát

1.3.2 Sự tác động tích cực của khoa học và công nghệ đối với quá

trình phát triển chất lượng nguồn nhân lực 66

Trang 5

2.1 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực và phát triển khoa

2.1.1 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực hiện nay ở Việt Nam 75 2.1.2 Thực trạng phát triển khoa học và công nghệ hiện nay ở Việt

2.1.3 Những thành tựu và hạn chế trong quá trình phát triển nguồn

nhân lực, gắn với phát triển khoa học và công nghệ ở Việt

2.2 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực kết hợp với phát

triển khoa học và công nghệ, phục vụ sự nghiệp công

2.2.1 Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, gắn kết với việc cải

tiến, đổi mới nội dung chương trình đào tạo phù hợp nhu cầu

2.2.2 Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ ứng

dụng trong thực tiễn, phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa 99 2.2.3 Thực hiện chuyển giao, ứng dụng khoa học, công nghệ có

2.2.4 Đổi mới cơ chế quản lý và sử dụng nguồn nhân lực, thực hiện

chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài, phục vụ công

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Thúc đẩy nền kinh tế phát triển, tạo tiền đề cơ sở vật chất kỹ thuật để từ đó hoàn thiện cơ cấu xã hội, hướng đến một xã hội phát triển bền vững, hài hòa luôn là một nội dung mang tính chiến lược của bất kỳ một cộng đồng quốc gia – dân tộc nào Điều đó cho thấy rằng, việc phát triển hoàn thiện cơ cấu kinh

tế, kéo theo sự hoàn thiện của cơ cấu xã hội, sẽ phụ thuộc và chịu sự định hướng nhất định bởi tính chất, trình độ của khoa học – kỹ thuật – công nghệ

và, hiệu quả trong quá trình vật chất hóa những thành tựu đó vào trong hoạt động sản xuất của người lao động Ngay từ thời kỳ đầu của nền sản xuất đại

công nghiệp, C.Mác đã khẳng định: “Theo đà phát triển của đại công nghiệp,

việc tạo ra của cải thực sự trở nên ít phụ thuộc vào thời gian lao động và vào

số lượng lao động đã hao phí hơn là vào những tác nhân được đưa vào vận động trong suốt thời gian lao động và bản thân những tác nhân, đến lượt mình (hiệu suất to lớn của chúng), lại tuyệt đối không tương ứng với thời gian lao động trực tiếp cần thiết để sản xuất ra chúng, mà nói đúng hơn, chúng phụ thuộc vào trình độ chung của khoa học và vào bước tiến bộ của kỹ thuật, hay là vào việc sử dụng khoa học ấy vào sản xuất… Đến một trình độ nào đó, tri thức xã hội phổ biến, biến thành lực lượng sản xuất trực tiếp” [51, tr.213]

Phân tích của C.Mác đã dự báo một cách chính xác tiến trình phát triển của tri thức loài người về khoa học, công nghệ và vai trò của chúng trong nền sản xuất vật chất hiện đại Bước vào thời kỳ của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật lần thứ ba, hay còn còn là cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, các nhà nghiên cứu, đặc biệt là các nhà kỹ trị ở Mỹ, rất quan tâm đến những thành tựu của cuộc cách mạng này Họ cho rằng trong xã hội tương lai, khoa học, kỹ thuật và công nghệ sẽ giữ vai trò độc tôn Vào năm 2000, trong một phát biểu

Trang 7

ở Hội nghị của Viện hàn lâm khoa học Nga, tổng thống Nga V.Putin đã đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của đội ngũ các nhà khoa học trong công cuộc phát triển đất nước thời kỳ mới, khi cho rằng giữa Nhà nước và các nhà khoa học cần phối hợp chặt chẽ hơn nữa trong nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ Vấn đề phát triển nguồn nhân lực cho khoa học, công nghệ cũng được vị tổng thống đời thứ 44 của nước Mỹ Barack Obama hết mực quan tâm Trên trang Tranh luận khoa học: ScienceDebate.org và Nature News, ngày 5 tháng 9 năm 2012, khi được hỏi nước Mỹ cần làm gì để giữ vững vị trí dẫn đầu thế giới về khoa học, công nghệ, Barack Obama đã khẳng định:

“Chúng ta phải tạo môi trường cho sự sáng tạo, đổi mới và công nghiệp phát triển phồn thịnh Tôi cam đoan sẽ cấp gấp đôi kinh phí cho những cơ quan nghiên cứu quan trọng để hỗ trợ các nhà khoa học và các nhà đầu tư Đồng thời tôi cũng đặt mục tiêu đào tạo 100.000 giáo viên dạy khoa học và toán trong hơn một thập kỷ tới để đào tạo thế hệ trẻ cho khoa học tương lai Những giảng viên này sẽ đáp ứng nhu cầu cần thiết trong đào tạo 1 triệu học viên về khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM) trong suốt một thập kỷ tới.”

Như vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng, khoa học và công nghệ luôn là nhân tố đột phá, đảm bảo tính hiệu quả cho mọi hoạt động sản xuất vật chất

và đồng thời, phát triển đội ngũ nguồn nhân lực khoa học, công nghệluôn là nhiệm vụ trung tâm của tất cả các nền kinh tế - xã hội trên thế giới Đó là xu thế phát triển tất yếu, mang tính quy luật của nền sản xuất vật chất của xã hội loài người, mà không một cộng đồng quốc gia – dân tộc nào có thể đứng ngoài, hoặc chậm chạp trong tiến trình thực hiện

Đối với Việt Nam hiện nay, vấn đề phát triển nguồn nhân lực gắn với phát triển khoa học, kỹ thuật, công nghệ ngày càng trở nên cấp thiết và luôn được đặt lên hàng đầu khi chúng ta tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, từ xuất

Trang 8

phát điểm của một nước nông nghiệp, nghèo nàn, lạc hậu Chính vì trình độ lực lượng sản xuất còn yếu kém, cho nên tính chất, trình độ của nguồn nhân lực và của khoa học, kỹ thuật, công nghệ ở nước ta vẫn còn ở mức thấp, lạc hậu, kém phát triển

Thực tiễn cho thấy, trong thời kỳ thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, với lợi thế là một nước có quy mô dân số đông, lực lượng lao động trẻ dồi dào, đó sẽ là sức mạnh để phát triển nhanh và mạnh nền sản xuất Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, vì điểm xuất phát thấp, nguồn vốn eo hẹp, trình

độ khoa học, công nghệ còn lạc hậu, yếu kém, công tác đào tạo nguồn nhân lực chưa theo kịp với nhu cầu thực tế của xã hội, vấn đề dân số tăng nhanh về

số lượng nhưng hạn chế về chất lượng, đã tạo nên sức ép to lớn về việc làm,

và là một vấn đề bức thiết mà Đảng, Nhà nước phải quan tâm nghiên cứu, giải quyết

Bên cạnh sự yếu kém về chất lượng nguồn nhân lực, thì thực trạng phát triển khoa học, kỹ thuật, công nghệ Việt Nam hiện nay cũng đang tồn tại những bất cập và có những hạn chế nhất định trong quá trình nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trong thực tiễn Kể từ từ năm 1986 đến nay trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã có sự quan tâm và đầu tư đúng mức cho hoạt động khoa học và công nghệ, nhằm tạo đòn bẩy thúc đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế -

xã hội Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được thì nhiệm vụ này vẫn còn tồn tại những bất cập, những mặt hạn chế Đại hội XI của Đảng đã chỉ ra những hạn chế, yếu kém trong công tác khoa học, công nghệ nước ta thời gian

qua khi khẳng định: “Khoa học, công nghệ chưa thực sự trở thành động lực

thúc đẩy, chưa gắn kết chặt chẽ với mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội Thị trường khoa học, công nghệ còn sơ khai, chưa tạo sự gắn kết có hiệu quả giữa nghiên cứu với đào tạo và sản xuất kinh doanh Đầu tư cho khoa

Trang 9

học, công nghệ còn thấp, sử dụng chưa hiệu quả Trình độ công nghệ nhìn chung còn lạc hậu, chậm đổi mới” [26, tr.168]

Chính vì chất lượng nguồn nhân lực và trình độ của khoa học, công nghệ còn nhiều yếu kém và bất cập, cho nên trong một thời gian dài, mối quan hệ giữa hai yếu tố này ở nước ta còn tồn tại nhiều hạn chế, thiếu tính đồng bộ và chiến lược Theo báo cáo kết quả Tổng điều tra Dân số và nhà ở ngày

1/4/2009 của Tổng cục Thống kê, 2010 thì: “Ở Việt Nam, lực lượng lao động

được đào tạo chuyên môn kỹ thuật mới chỉ đạt 13,3 %, trong khi dân số từ 15 tuổi trở lên không có trình độ chuyên môn kỹ thuật là 86,7%” Điều đó cho

thấy rằng nguồn nhân lực chưa qua đào tạo ở nước ta còn chiếm một tỷ lệ rất lớn và, điều này hoàn toàn trái ngược với sự gia tăng một cách đột biến số lượng các trường đại học, cao đẳng, các trung tâm đào tạo hướng nghiệp trong thời gian gần đây

Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2012, Đại hội lần thứ

XI của Đảng đã khẳng định mục tiêu, chiến lược phát triển khoa học, công

nghệ Theo đó, “Khoa học và công nghệ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa,

hiện đại hóa đất nước Đến năm 2020, có một số lĩnh vực khoa học và công nghệ… đạt trình độ tiên tiến, hiện đại” [26, tr.105] Và để thực hiện được

mục tiêu chiến lược về phát triển kinh tế - xã hội, một trong những khâu đột

phá chiến lược được Đại hội XI của Đảng xác định là: “Phát triển nhanh

nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ” [26,

tr.106]

Như vậy, phát triển nguồn nhân lực, kết hợp biện chứng với phát triển khoa học, công nghệ là một đòi hỏi cấp thiết đối với quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa để phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay Chính vì

Trang 10

vậy, tác giả đã chọn vấn đề này để thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ triết học với mong muốn nghiên cứu và, góp phần làm rõ thêmcơ sở lý luận và thực tiễn của quá trình phát triển nguồn nhân lực gắn với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ trong quá trình sản xuất, hoạt động kinh tế - xã hội ở Việt Nam

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề phát triển nguồn nhân lực phục vụ nền kinh tế - xã hội Việt Nam, đặt trong mối quan hệ biện chứng với sự phát triển và ứng dụng những thành tựu khoa học, công nghệ vào thực tiễn, luôn là một vấn đề mang tính chiến lược trong tiến trình phát triển nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghệp hóa – hiện đại hóa đất nước trong giai đoạn hiện nay Chính vì vậy, vấn

đề này đã thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, dưới những góc độ và phương pháp tiếp cận khác nhau Căn cứ vào nội dung được thể hiện trong các công trình khoa học đã được công bố đó, tác giả luận văn

đã tiến hành khảo sát, phân tích và khái quát theo hai vấn đề cơ bản: Vấn đề phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và vấn đề phát triển khoa học công nghệ ở Việt Nam hiện nay

Phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước luôn là một vấn đề mang tính chiến lược, cấp bách và lâu dài Chính vì vậy, vấn đề này đã được nhiều nhà khoa học tập trung nghiên cứu với các nội dung chủ yếu, theo ba hướng như sau:

Thứ nhất, nghiên cứu lý luận về con người, về khái niệm nguồn nhân lực,

từ đó khẳng định vai trò quyết định của nguồn lực con người đối với thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Nội dung này được

thể hiện cụ thể trong các công trình như: “Vấn đề con người trong sự nghiệp

công nghiệp hoá, hiện đại hoá’’ (Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996);

Trang 11

“Con người và nguồn lực con người trong phát triển” (Nxb Khoa học xã hội,

Hà Nội, 1995); “Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam – vấn đề nguồn gốc

và động lực” (GS.TS Lê Hữu Tầng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991);

“Phát triển con người, tạo nguồn lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất

nước” (GS.VS Nguyễn Duy Quý, Tạp chí Cộng sản, số 19 - 1998); “Phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá”

(Nguyễn Thanh, luận án tiến sĩ Triết học, 2002); “Phát triển nguồn nhân lực

đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” (TS

Nguyễn Duy Hùng - PGS.TS Vũ Văn Phúc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2012); “Nguồn lực và động lực cho phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế

Việt Nam trong giai đoạn 2011-2020” (PGS.TS Ngô Doãn Vịnh, Nxb Chính

trị quốc gia, Hà Nội, 2012); “Xây dựng đội ngũ trí thức thời kỳ đẩy mạnh

công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh” (PGS.TS Nguyễn

Khánh Bật và ThS Trần Thị Huyền (đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội, 2012); và nhiều công trình khoa học khác…

Thứ hai, về thực trạng, giải pháp để phát triển nhanh chóng và hoàn thiện

chất lượng nguồn nhân lực hướng đến nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm đuổi kịp và phù hợp với sự phát triển của trình độ khoa học, công nghệ, cũng

được nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu Điển hình như: “Phát triển nguồn

lực đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế” (TS Nguyễn Văn Thành, Tạp

chí Kinh tế và Dự báo số 1/2008); “Công tác nhân sự cho phát triển khoa học

– công nghệ” (Diệp Văn Sơn, Tạp chí phát triển nhân lực, số 3(24) - 2011);

“Bàn về chính sách sử dụng cán bộ khoa học và công nghệ” (TS Nguyễn

Quân, Tạp chí Hoạt động Khoa học, số tháng 6/2007); “Xây dựng con người

và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao”(GS.TS Phạm Tất Dong, Diễn

đàn Dạy và học ngày nay, Cơ quan Trung ương Hội khuyến học Việt Nam,

29/03/2011); “Định hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong công

Trang 12

nghiệp hóa” (GS.TS Phạm Tất Dong, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2001); “Đội ngũ khoa học và công nghệ - thực trạng, chính sách và kiến

nghị” (Tạp chí Phát triển nhân lực, số 3 (3) - 2007); “Thực trạng và giải pháp

về phát triển nhân lực Việt Nam” (PGS.TS Đức Vượng, Viện Khoa học

nghiên cứu Nhân lực tài lực, 2012); “Giáo dục, đào tạo với phát triển nguồn

nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (PGS.TS Đường

Vinh Sường, Tạp chí Cộng sản, 12/6/2012); và nhiều công trình khác…

Đặc điểm nổi bật mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao của tất cả các công trình, bài báo nói trên là đã đi vào tập trung phân tích, luận giải một cách sâu sắc và có hệ thống về phạm trù nguồn nhân lực và vai trò của nó đối với sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, từ đó xác định thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam cả về số lượng lẫn chất lượng, những thành tựu, hạn chế trong quá trình phát triển nguồn nhân lực cùng những giải pháp mang tính khả thi cao nhằm tập trung phát triển lực lượng lao động của xã hội Tuy nhiên, vì đối tượng nghiên cứu được giới hạn bởi những phạm vi và mục đích tiếp cận khác nhau, nên hầu hết các công trình nói trên, đã chưa hoặc rất ít, đề cập đến mối quan hệ biện chứng giữa phát triển nguồn nhân lực với phát triển khoa học công nghệ đặt trong bối cảnh kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay Tác giả luận văn cho rằng, đây là một nội dung quan trọng, mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao cần được đầu tư, quan tâm và nghiên cứu một cách có hệ thống với những mục tiêu và phạm vi nhất định

Thứ ba, về vấn đề phát triển khoa học và công nghệ, phục vụ cho sự

nghiệp xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho đất nước ta hiện nay cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm, làm, rõ Điểm nổi bật nhất ở vấn đề này là nội dung phát triển thị trường khoa học và công nghệ, thực trạng chuyển giao công nghệ ở Việt Nam hiện nay cùng với nhiệm vụ nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ vào trong hoạt động thực tiễn Điển hình là một số

Trang 13

công trình tiêu biểu: “Công nghệ tiên tiến và công nghệ cao với tiến trình

công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam” (TSKH Phan Xuân Dũng, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012); “Khoa học và công nghệ phục vụ công

nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững” (Cục Thông tin khoa học và

công nghệ quốc gia, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012); “Để khoa học và

công nghệ trở thành động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá’’

(GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn, Tạp chí Triết học, số 1 – 1997); “Phát triển

khoa học, công nghệ, thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” (Bùi Sĩ

Tiếu, Tạp chí Cộng sản, số 7/2007); “Khoa học và công nghệ Việt Nam

hướng tới hội nhập” (Mai Hà, Tạp chí Xã hội học, số 2 (98), 2007); “Khoa học và công nghệ đang thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội”

(Minh Đường, Tạp chí Cộng sản, số 789, tháng 7/2008); “Chuyển giao công

nghệ cần “bà mối”” (TS Hoàng Xuân Long, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số

12/2008); “Giải pháp thúc đẩy chuyển giao công nghệ ở nước ta” (TS Hoàng Xuân Long, Lý luận Chính trị, 7/2007); “Chuyển giao công nghệ qua

FDI: thực tiễn ở một số nước đang phát triển và Việt Nam” (TS Nguyễn Anh

Tuấn, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, số 344, tháng 1/2007); “Chuyển giao công

nghệ ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp” (TSKH Phan Xuân Dũng, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004) và nhiều công trình, bài báo khác…

Trong tất cả các công trình nói trên, các nhà khoa học đã tập trung phân tích làm rõ được khái niệm khoa học, khái niệm công nghệ và đặc điểm của quá trình phát triển khoa học và công nghệ ở nước ta hiện nay Đồng thời, khi bàn về những giải pháp nhằm thúc đẩy cho quá trình phát triển đó, các nhà khoa học cũng chứng minh được rằng phát triển thị trường khoa học – công nghệ, thực hiện chuyển giao công nghệ ở Việt Nam hiện nay là một nhiệm vụ trọng tâm, mang tính chiến lược Từ đó, các tác giả cũng đã vạch ra được những thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực hiện những giải pháp nêu trên

Trang 14

ở nước ta, trong thời gian qua một cách cụ thể, góp phần mang lại một cách nhìn tổng quan về bức tranh khoa học, công nghệ nước nhà Tuy nhiên, có lẽ

vì đối tượng nghiên cứu được giới hạn vào những thành tố khác nhau của khoa học, công nghệ và mục đích nghiên cứu xuất phát từ những lĩnh vực đặc thù nhất định, nên hầu như tất cả các công trình kể trên đã chưa đi sâu vào nghiên cứu vai trò tác động trở lại một cách mạnh mẽ của khoa học, công nghệ đối với sự phát triển chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay Thiết nghĩ, đây là mối quan hệ biện chứng mang tính thống nhất hữu cơ với nhau cần được quan tâm, nghiên cứu đúng mực nhằm hoàn thiện hơn nữa các giải pháp thúc đẩy nguồn nhân lực và khoa học, công nghệ Việt Nam phát triển phù hợp

Tóm lại, nội dung chủ yếu được các nhà khoa học thể hiện trong các công trình khoa học nói trên đã cho ta thấy rõ vai trò quyết định của nguồn lực con người đối với thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; vấn đề phát triển khoa học, công nghệ và vai trò quan trọng của khoa học, công nghệ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đó Tuy nhiên, cho đến nay hầu như vẫn chưa có một công trình nào phân tích một cách cụ thể và hệ thống về mối quan hệ biện chứng giữa phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ để thúc đẩy sự tăng tốc của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Chính vì vậy, về mặt lý luận và thực tiễn, tác giả luận văn mong muốn đi sâu phân tích và nghiên cứu vấn đề này trong một phạm vi nhất định, với hy vọng góp thêm những giá trị mới trong tiến trình thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích của luận văn là tập trung nghiên cứu, phân tích làm rõ mối quan

hệ biện chứng giữa phát triển nguồn nhân lực với phát triển khoa học và công nghệ ở nước ta hiện nay Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp có tính khả

Trang 15

thi để quá trình phát triển nguồn nhân lực và phát triển khoa học, công nghệ ở nước ta hiện nay có sự thống nhất, đồng bộ, mang lại hiệu quả thiết thực

Để thực hiện được mục đích nêu trên, luận văn có các nhiệm vụ chủ yếu như sau:

 Thứ nhất, trình bày và phân tích khái quát lý luận chung nhất của

vấn đề phát triển nguồn nhân lực, về khoa học công nghệ và sự phát triển khoa học công nghệ hiện nay

 Thứ hai, trình bày, phân tích làm rõ thực trạng mối quan hệ biện

chứng giữa phát triển nguồn nhân lực với phát triển khoa học và công nghệ ở Việt Nam trong những năm qua

 Thứ ba, trình bày, đề xuất một số giải pháp có tính khả thi, để tạo sự

thống nhất, đồng bộ giữa phát triển nguồn nhân lực với phát triển khoa học và công nghệ ở nước ta trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu của luận văn được tập trung nghiên cứu làm rõ quan

hệ biện chứng giữa phát triển nguồn nhân lực với phát triển khoa học và công nghệ ở Việt Nam hiện nay, và về vai trò quyết định của nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình vật chất hóa các thành tựu khoa học, công nghệ vào nền kinh tế nước ta cũng như khả năng tác động trở lại, thúc đẩy và hoàn thiện chất lượng nguồn nhân lực của khoa học và công nghệ

Với đối tượng nghiên cứu như đã trình bày ở trên, phạm vi nghiên cứu của

đề tài sẽ được giới hạn trong bối cảnh kinh tế - xã hội của Việt Nam gắn liền với thời kỳ đổi mới toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của xã hội, kể từ năm

1986 trở lại đây

Trang 16

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn được thực hiện dựa trên nguyên tắc thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng thời, kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề phát triển nguồn nhân lực, phát triển khoa học, công nghệ để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành khác như phương pháp lịch sử - logic, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp diễn dịch, phương pháp quy nạp,…để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

 Về ý nghĩa khoa học: kết quả nghiên cứu của luận văn đã góp phần trình bày, phân tích một cách có hệ thống cơ sở lý luận của sự phát triển nguồn nhân lực, phát triển khoa học công nghệ có sự thống nhất biện chứng Đồng thời, luận văn đã phân tích một cách sâu sắc

về thực trạng, mặt ưu điểm và hạn chế của mối quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực với phát triển khoa học công nghệ ở Việt Nam hiện nay

 Về ý nghĩa thực tiễn: luận văn đã nghiên cứu, trình bày, phân tích và nêu được hệ thống một số giải pháp cụ thể, khả dĩ có thể vận dụng vào thực tiễn Việt Nam để phát triển nguồn nhân lực thống nhất biện chứng với phát triển khoa học và công nghệ, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Mặt khác, luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những người có nhu cầu nghiên cứu về vấn đề có liên quan đến đề tài mà tác giả luận văn đã thực hiện

Trang 17

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được thực hiện với 2 chương, 5 tiết Trong đó, chương 1 đi vào giải quyết những vấn đề lý luận chung về phát triển nguồn nhân lực và phát triển khoa học, công nghệ; mối quan hệ giữa hai yếu tố này Chương 2 đi vào phân tích thực trạng của quá trình giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa phát triển nguồn lực con người với phát triển khoa học, công nghệ ở Việt Nam trong thời gian qua, từ đó đề ra những giải pháp cụ thể, góp phần phát triển nguồn nhân lực, phát triển khoa học và công nghệ ở Việt Nam hiện nay một cách có hiệu quả

Trang 18

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

VÀ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1.1 NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực

Trên phương diện triết học xã hội, chúng ta thấy rằng, sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao, luôn chịu sự chi phối và xác lập bởi nội dung của nền sản xuất vật chất trong từng giai đoạn lịch sử nhất định Và trong tất cả các nền sản xuất ấy, mối quan hệ giữa người lao động – với tư cách là chủ thể của quá trình sản xuất – với công cụ lao động, đối tượng lao động và phương tiện lao động được bộc lộ ra ở những mức độ, tính chất và trình độ khác nhau Điều đó cho thấy, để tạo nên sự thay đổi về chất trong hoạt động sản xuất, xã hội cần phải cung ứng và đảm bảo sự phù hợp về tính chất và trình độ của tổng thể các nguồn lực: nguồn vốn, nguồn đất đai, tài nguyên thiên nhiên…và nguồn nhân lực Tuy nhiên, từ những năm năm mươi của thế kỷ XX trở về trước, do ảnh hưởng của quan điểm kỹ trị, xem trọng yếu tố “vật” và hạ thấp vai trò của yếu tố “người”, nên trong một thời gian dài, nguồn nhân lực luôn xếp sau nguồn vốn đầu tư và yếu tố kỹ thuật Đến cuối thế kỷ thứ XX, với sự trỗi dậy của các nền kinh tế từ xuất phát điểm của một nước nghèo tài nguyên, hạn chế về nguồn lực kỹ thuật có sẵn thì vấn đề nguồn nhân lực và vai trò của nó đã được đặt ra và xem xét lại một cách nghiêm túc đối với toàn bộ tiến trình phát triển kinh tế xã hội Điều đó cho thấy, nếu xét dưới góc độ là sự tăng lên của giá trị trong quá trình sản xuất thì

dù cho người lao động gắn liền với nền sản xuất nào và đại diện cho phương thức sản xuất nào, sự tăng lên của mọi khối lượng của cải trong xã hội đều là

Trang 19

kết quả của quá trình chuyển hóa từ chính sức lao động của người lao động Khả năng lao động của con người thể hiện ở khả năng về thể chất, về tinh thần và mức độ nhận thức (thái độ) của họ đối với hoạt động sản xuất, tạo nên một động lực tổng thể biến đổi tư liệu sản xuất của xã hội Theo C Mác, sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống và được người

đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó

Như vậy, đầu tiên, chúng ta thấy rằng, nhân lực biểu hiện bằng chính sức lao động của người lao động trong mối quan hệ tổng thể giữa ba yếu tố là thể

lực, trí lực và tâm lực Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con

người và làm cho con người hoạt động Nó biểu hiện thành khả năng về thể chất, khả năng về tinh thần và năng lực phẩm chất của người lao động Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nhất định, con người đủ điều kiện tham gia vào hoạt động lao động, biến đổi tư liệu sản xuất của xã hội

Khái niệm về nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi ở các nước có nền kinh tế phát triển từ những năm giữa thế kỷ thứ XX, với ý nghĩa là nguồn lực con người, thể hiện sự nhìn nhận, đánh giá lại vai trò của yếu tố con người trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Thế nhưng, trước đó, vấn đề nguồn nhân lực đã được các nhà kinh tế học nghiên cứu và đánh giá dưới góc độ là nguồn vốn nhân lực cho nền sản xuất của xã hội Người đầu tiên nêu ra quan điểm về vốn nhân lực đó là nhà kinh tế học cổ điển Adam Smith (1723 - 1790), khi ông cho rằng: “Sự tích lũy những tài năng trong quá trình học tập, nghiên cứu hoặc học việc thường đòi hỏi chi phí Đó là tư bản cố định đã kết tinh trong con người Những tài năng đó tạo thành một phần tài sản của anh ta và của xã hội” [37, tr.47] Bước sang thế kỷ thứ XIX, một số tác giả sau đó cũng đã tiếp tục phát triển quan điểm “vốn nhân lực” với ý

Trang 20

nghĩa là một tập hợp thống nhất kiến thức, khả năng, kỹ năng mà con người tích lũy được thông qua quá trình học tập, giáo dục, tạo nên giá trị cho sức lao động Henrich Von Thunen (1783 - 1850) – nhà kinh tế học lỗi lạc người Đức khẳng định: “Một dân tộc có nhiều người được học tập cao sẽ tạo ra nhiều thu nhập hơn là một dân tộc không được học tập Một dân tộc được học tập nhiều hơn cũng sở hữu một tư bản lớn hơn, lao động đó đem lại nhiều sản phẩm hơn” [37, tr.52] Alfred Marshall (1842 - 1924) – nhà kinh

tế học người Anh sau này cũng chấp nhận với khái niệm vốn nhân lực, xem kiến thức, kỹ năng của người lao động là tài sản của chính bản thân họ và của xã hội “Chúng ta thường định nghĩa tài sản của cá nhân trước hết bao gồm năng lượng, năng lực và tài năng trực tiếp tạo hiệu quả sản xuất công nghiệp Những thứ đó được coi là tài sản, là tư bản” [37, tr.69]

Vào những năm 60 của thế kỷ thứ XX, trước sự trỗi dậy của các nền kinh

tế không dựa vào nguồn lực tài nguyên dồi dào thì một đòi hỏi được đặt ra cho việc xây dựng nguồn nhân lực là phải gia tăng và khẳng định được yếu

tố tri thức, năng lực của người lao động Vào năm 1960, Theodor Schoultz (nhà kinh tế học người Mỹ, giải Nobel kinh tế năm 1979) đã nghiên cứu và

đưa ra “Thuyết tư bản con người” Theo đó, ông cho rằng người lao động

tích lũy được kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp thông qua hoạt động giáo dục, học tập Kết quả của quá trình tích lũy đó được gọi là “vốn trí tuệ” và

nó là cơ sở để từ đó xác định được mức độ thu nhập và địa vị của mỗi cá nhân trong xã hội Schoultz cho rằng sự tồn tại và phát triển bền vững của mỗi nền kinh tế được đảm bảo bởi vốn vật chất (tư bản vật chất) như: tài nguyên, đất đai và quan trọng nhất là nguồn vốn nhân lực (tư bản người) Gary Backer (nhà kinh tế học người Mỹ, giải Nobel kinh tế năm 1992), cũng

có những đóng góp quan trọng vào quan niệm về nguồn nhân lực dưới góc

độ là vốn nhân lực Ông cho rằng, vốn nhân lực, yếu tố đầu vào của sản

Trang 21

xuất, một phần nằm trong con người Con người có thể tự đầu tư vào chính bản thân mình, biểu hiện thông qua việc chi tiêu cho giáo dục và đào tạo để

có thu nhập nhiều hơn trong tương lai Việc đầu tư vào kỹ năng gắn liền với bản thân người lao động ta gọi đó là đầu tư vào vốn con người Trong tác phẩm “Nhân lực là tài sản của các nước”, giáo sư Frederik Harbison cũng rất nhấn mạnh đến yếu tố kỹ năng, trình độ của người lao động Theo ông: “Các nguồn nhân lực là nền tảng chủ yếu để tạo ra của cải cho các nước Tiền vốn

và các tài nguyên thiên nhiên là những nhân tố thụ động trong sản xuất, con người là những tác nhân tích cực chủ động tích lũy vốn, khai thác tài nguyên thiên nhiên, xây dựng các tổ chức xã hội, kinh tế, chính trị và đưa sự nghiệp phát triển đất nước tiến lên Rõ ràng là đất nước nào bất lực trong việc phát triển tay nghề và kiến thức cho nhân dân mình và không sử dụng những cái

đó một cách hữu hiệu trong nền kinh tế quốc dân sẽ không thể phát triển được bất kỳ một thứ gì” [28, tr.3]

Như vậy, dưới góc độ là nguồn vốn nhân lực, quan niệm của các nhà khoa học kể trên đã đi vào phân tích và chứng minh vai trò quyết định của hàm lượng tri thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp của người lao động đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội Họ cho rằng vốn nhân lực là kết quả của quá trình học tập, giáo dục, đào tạo và nó chính là tài sản riêng của mỗi người lao động và của cả xã hội Điều đó cho thấy, kết quả của quá trình vật chất hóa các nguồn lực vật chất khác trong hoạt động sản xuất sẽ chịu sự chi phối

và quyết định bởi trình độ của người lao động - vốn đã được đào tạo thông qua môi trường giáo dục

Bên cạnh những quan điểm kinh tế học đi vào nghiên cứu con người dưới góc độ “vốn nhân lực”, thì vấn đề nguồn nhân lực còn được quan niệm là nguồn lực lao động cần thiết cho xã hội, biểu hiện ở cơ cấu lứa tuổi, giới tình, trình độ và sự phân bố người lao động vào các lĩnh vực khác nhau Theo Tổ

Trang 22

chức Lao động Quốc tế (ILO), nguồn nhân lực là toàn bộ những người trong

độ tuổi có khả năng tham gia lao động Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực cho sự phát triển Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư phát triển đến một giai đoạn nhất định và tham gia vào vào hoạt động lao động Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào quá trình sản xuất của xã hội Đó là kết quả tổng lực của các yếu tố về thể lực, trí lực, tâm lực của người lao động được huy động toàn diện vào quá trình lao động Đối với Việt Nam, trong một thời gian dài và nhất là từ khi chúng ta bước vào thời kỳ đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội thì vấn đề nguồn nhân lực đã được các nhà khoa học tập trung nghiên cứu, gắn với sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa của đất nước Theo đó, nguồn nhân lực với tư cách là một yếu tố của sự phát triển kinh tế - xã hội, là khả năng lao động của cả xã hội được xác định bởi trình độ, kỹ năng nghề nghiệp của người lao động – kết quả của quá trình đào tạo, hướng nghiệp sao cho phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất hiện tại Với cách hiểu này, nguồn nhân lực tương đương với nguồn lực lao động Trong công trình: “Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Giáo sư – Viện sĩ Phạm Minh Hạc cho rằng: “Nguồn nhân lực cần được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay một địa phương nào đó ” [33, tr.323] Ở đây, tác giả nhìn nhận vấn đề nguồn nhân lực theo hướng toàn diện từ tri thức, trình độ chuyên

Trang 23

môn đến phẩm chất nghề nghiệp Từ đó, khẳng định vai trò của quyết định của nguồn lực con người đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội

Như vậy, mặc dù được tiếp cận và nghiên cứu ở những khía cạnh, vai trò khác nhau nhưng tựu chung lại, các tác giả đều đi đến khẳng định nguồn nhân lực là lực lượng lao động cụ thể của xã hội, biểu hiện ở sự thống nhất hữu cơ bởi các yếu tố từ thể chất đến tinh thần và khả năng tác động một cách hiệu quả của nó trong mọi tiến trình kinh tế - xã hội, góp phần cải tạo tự nhiên, xã hội và kể cả bản thân người lao động

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn chú trọng yếu

tố con người, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển của xã hội Đại hội Đảng lần thứ VIII (6-1996) đã chỉ rõ: "Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững" [18, tr.85] Và: “Nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định, đặc biệt đối với nước ta khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp”, đó là “nguồn lao động có trí tuệ cao, tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học hiện đại” [16, tr.11] Để đến năm 2020, Việt Nam trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại và thực hiện được mục tiêu phát triển con người mà Cương lĩnh 2011 đề ra, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cũng xác định: "Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển” [26, tr.100] Như vậy, xuyên suốt các kỳ đại hội, Đảng ta luôn xác định con người là chủ thể và là nguồn lực đóng vai trò quyết định trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa và mọi quá trình phát triển kinh

tế - xã hội phải hướng tới mục tiêu nhân văn cao cả là do con người và vì con người.Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã phản ánh một cách tổng quát khái niệm nguồn nhân lực trên cả ba phương diện: trí lực, thể lực,

Trang 24

nhân cách, cùng với cơ sở khoa học cho sự phát triển các yếu tố đó là nền giáo dục tiên tiến gắn liền với nền khoa học hiện đại

Từ các quan điểm trên, chúng ta thấy rằng, các nhà khoa học, các tổ chức

đã đi vào nghiên cứu vấn đề nguồn nhân lực dưới góc độ là lực lượng lao động - nhân tố đóng vai trò quyết định trong mọi hoạt động sản xuất vật chất của xã hội Tính quyết định đó thể hiện ở nguồn “vốn trí tuệ”, tức là hàm lượng tri thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và thái độ nhận thức của người lao động trong quá trình vật chất hóa nguồn “vốn vật chất” bằng chính sức lao động của họ Do vậy, theo chúng tôi, quan niệm về nguồn nhân lực

có thể được tập trung phân tích, làm rõ với ba nội dung cơ bản là: số lượng nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực và cơ cấu nguồn nhân lực

Thứ nhất, về số lượng nguồn nhân lực: Số lượng nguồn nhân lực được

biểu hiện bởi tổng số lực lượng lao động đang tham gia một cách trực tiếp hoặc là gián tiếp vào hoạt động sản xuất vật chất và kể cả lực lượng lao động tiềm năng – tức là đội ngũ lao động đang được đào tạo về trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp ở các cấp độ khác nhau của xã hội Điều đó cho thấy, số lượng nguồn nhân lực sẽ chịu sự chi phối bởi quy mô, tốc độ gia tăng dân số, gắn với một tỷ lệ nhất định số lượng người đang trong độ tuổi lao động và ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào quy mô và trình độ của hệ thống giáo dục, đào tạo nguồn lực lao động ở từng thời điểm nhất định của mỗi một cộng đồng quốc gia, dân tộc Do đó, tăng năng suất lao động xã hội một cách bền vững,không chịu sự chi phối trực tiếp bởi số lượng nhân lực đông, dồi dào,

mà nó là kết quả phản ánh mối quan hệ giữa tỷ lệ gia tăng dân số với khả năng đầu tư cho giáo dục, đào tạo nghề nghiệp, chuyên môn một cách hiệu quả của một quốc gia nhất định Tính đến năm 2010, lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao đã qua đào tạo từ các cấp cao đẳng, đại học trở lên ở nước ta là 3.371 nghìn người, chiếm 6,84% lực lượng lao động

Trang 25

Trong khi đó, tỷ lệ này ở Trung Quốc là 15% và ở Thái Lan là 41% [62, tr.239] Điều đó cho thấy, hàm lượng khoa học, công nghệ trong hoạt động sản xuất trong nền kinh tế nước ta còn rất thấp, làm giảm tính cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường thế giới Cho nên, bên cạnh việc tập trung nghiên cứu, tiếp cận vấn đề nguồn nhân lực ở góc độ là số lượng lao động thì nội dung chất lượng nguồn nhân lực luôn được đặt lên hàng đầu, trong bối cảnh chung của nền kinh tế tri thức hiện nay

Thứ hai, về chất lượng nguồn nhân lực: Như đã trình bày ở trên, nếu

như số lượng nguồn nhân lực thể hiện quy mô lực lượng lao động của xã hội thì chất lượng nguồn nhân lực nói lên mức độ hiệu quả trong hoạt động sản xuất của lực lượng lao động đó Thông qua những chỉ số về phát triển chất lượng nguồn nhân lực, có thể xác định được trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, chất lượng cuộc sống của người dân, khả năng được tham gia học tập, được chăm sóc y tế và sử dụng các dịch vụ của xã hội Nó là kết quả tất yếu của mối quan hệ thống thống giữa ba yếu tố là: thể lực, trí lực

và phẩm chất của người lao động

Thể lực: Đây là một tiêu chí quan trọng đầu tiên góp phần xác định chất

lượng nguồn nhân lực của một nền kinh tế nhất định Nó thể hiện năng lực thể chất của người lao động với tư cách là đòn đẩy, là chất xúc tác cho sự thăng hoa của yếu tố trí tuệ mà người lao động áp dụng trong quá trình sản xuất Thể lực không chỉ là sức khỏe cơ bắp mà còn là sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, bắp thịt, là sức mạnh của niềm tin và ý chí, là khả năng vận động của trí lực, được xác định bởi các thông số về chiều cao, cân nặng, tình trạng sức khỏe, tuổi thọ trung bình, mức độ hài lòng đối với cuộc sống và khả năng tiếp cận các dịch vụ đó trong xã hội của người lao động dừng lại ở mức độ nào Thể lực là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển trí tuệ, là phương tiện tất yếu để chuyển tải tri thức vào hoạt động thực tiễn, để biến tri thức vào sức

Trang 26

mạnh vật chất Cho nên, sức mạnh trí tuệ chỉ có thể phát huy được lợi thế khi thể lực con người được phát triển Chính vì vậy, thể lực là yếu tố quan trọng của nguồn lực lao động, là tiêu chí đầu tiên để xác định và vạch ra các chương trình, kế hoạch phát triển chất lượng nguồn nhân lực của xã hội

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn chú trọng đến yếu tố con người, xem con người vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển của xã hội Do đó, để phát huy một cách toàn diện chất lượng nguồn nhân lực, xã hội cần nâng cao chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, đảm bảo an sinh xã hội Tiếp tục quan điểm của Đại hội Đảng lần thứ X về nhiệm phát triển con người Việt Nam, Đại hội Đảng lần thứ XI khẳng định: “Xây dựng

và thực hiện chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe, tầm vóc con người Việt Nam” [26, tr.228] Trong đó, lĩnh vực y tế đóng vai trò quan trọng hàng đầu Do vậy, tại kỳ Đại hội này, Đảng ta đã tập trung chỉ đạo sát sao công tác chăm lo sức khỏe cho nhân dân, nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước

Trí lực: Đây là một tiêu chí đóng vai trò quyết định, tạo nên nội dung, đặc

điểm riêng cho chất lượng nguồn nhân lực ở từng thời kỳ và cho mỗi nền kinh

tế khác nhau Nó phản ánh sự chuyển biến về cơ cấu kinh tế - xã hội của một quốc gia, đồng thời cho thấy trình độ của lực lượng sản xuất đang phát triển đến lức độ nào

Trí lực thể hiện trước hết ở trình độ học vấn của người lao động Theo C.Mác: “Muốn cải tạo bản tính chung của con người để làm cho nó có được kiến thức và những thói quen khéo léo trong một ngành lao động nhất định, nghĩa là muốn trở thành một sức lao động phát triển và đặc thù, thì cần phải

có một trình độ học vấn hay giáo dục nào đó…” [52, tr.257] Điều đó cho thấy, trình độ học vấn là nhân tố đầu tiên để xác định chất lượng nguồn nhân lực, bởi vì nó là điều kiện, là môi trường để người lao động tiếp thu và vận

Trang 27

dụng khối lượng tri thức về chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp vào trong hoạt động sản xuất

Yếu tố tiếp theo cấu thành nội dung trí lực cùa nguồn nhân lực là trình độ chuyên môn của người lao động Nó thể hiện trình độ am hiểu về kiến thức chuyên môn của một hoặc nhiều lĩnh vực nhất định và khả năng áp dụng chúng trong quá trình lao động của người lao động dừng lại ở mức độ nào Một quốc gia có đội ngũ nguồn nhân chất lượng cao – tức là trình độ chuyên môn của họ được trang bị và bắt kịp với xu thế phát triển trình độ khoa học, công nghệ của thời đại, là điều kiện tiên quyết để rút ngắn quy trình sản xuất

và mang lại năng suất lao động cao cho xã hội Do vậy, song song với quá trình nâng cao trình độ học vấn nói chung thì nhiệm vụ đào tạo và bồi dưỡng một lực lượng lao động có trình độ chuyên môn cao luôn là chiến lược hàng đầu của mọi quốc gia trong điều kiện của nền kinh tế tri thức hiện nay

Yếu tố thứ ba góp phần tạo nên nội dung cho trí lực của nguồn nhân lực đó

là kỹ năng nghề nghiệp của chính họ Đây cũng là một tiêu chí hết sức quan trọng để đánh giá chất lượng một nguồn lực lao động nhất định, bởi vì nó quyết định đến hiệu quả của quá trình người lao động vận dụng tri thức về chuyên môn vào trong hoạt động sản xuất như thế nào Kỹ năng – đó là những phương pháp, cách thức, là cầu nối góp phần chuyển tải kiến thức chuyên môn, nghề nghiệp của người lao động trong một tổ hợp sản xuất nhất định Do đó, đề cập đến kỹ năng là đề cập đến tinh thần sáng tạo trong lao động, bản lĩnh chuyên môn và niềm đam mê nghề nghiệp của một lực lượng lao động nhất định Cho nên, khi tính xã hội trong hoạt động sản xuất đòi hỏi ngày càng cao, gắn với sự phát triển của trình độ khoa học, công nghệ thì nhiệm vụ nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động là một yêu cầu tất yếu hiện nay

Trang 28

Phẩm chất của người lao động: Nếu như trình độ học vấn, trình độ

chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp của nguồn nhân lực quyết định đến năng suất lao động chung trong quá trình sản xuất thì yếu tố phẩm chất đạo đức nghề nghiệp lại thể hiện tính mục đích, động cơ lao động và sử dụng kết quả quá trình lao động của người lao động Nó phản ánh tính chất lợi ích cá nhân hay lợi ích xã hội của người lao động, là tiêu chí quan trọng để đánh giá nhu cầu lao động, động cơ và mục đích đó của cá nhân người lao động có phù hợp và hài hòa với lợi ích chung của xã hội, của quốc gia, dân tộc hay không Chính vì vậy, giữa hàm lượng tri thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp với phẩm chất đạo đức của nguồn nhân lực có mối quan hệ biện chứng với nhau Sinh thời, Bác Hồ đã rất quan tâm đến “tài” và “đức” của con người Bác từng dạy rằng người có đức mà không có tài thì chẳng khác

gì ông Bụt ngồi trên tòa sen, không làm điều gì xấu nhưng cũng chẳng làm được điều gì có ích cho đời Nhưng ngược lại, nếu có tài mà không có đức thì thật là tai hại Vì vậy, Bác luôn căn dặn trong giáo dục con người phải trao dồi cả “Tài” và “Đức” “Đức” phải là cái gốc, “Tài” là yếu tố quan trọng “Đức” phải có “Tài”, đào tạo con người phải vừa “Hồng” vừa

“Chuyên”

Từ sự phân tích trên, chúng ta thấy rằng, nội dung chất lượng nguồn nhân lực phải được tạo nên từ mối quan hệ thống nhất hữu cơ với nhau giữa các yếu tố là thể lực, trí lực và tâm lực (phẩm chất, nhân cách, đạo đức) của người lao động Trong đó, trình độ chuyên môn và đạo đức luôn tác động biện chứng với nhau và phát huy một cách hiệu quả trong thực tiễn thông qua tính bền bỉ và sự dẻo dai của tình trạng thể chất cá nhân người lao động

Thứ ba, về cơ cấu nguồn nhân lực: Cơ cấu nguồn nhân lực là sự biểu

hiện về tỷ lệ nguồn lực lao động đang trong độ tuổi lao động, đặt trong mối liên hệ với tổng lượng dân số và sự phân bố người lao động vào những lĩnh

Trang 29

vực khác nhau, gắn liền với trình độ chuyên môn nghề nghiệp cùng giới tính nhất định Một cơ cấu nguồn nhân lực hài hòa luôn là mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của bất kỳ nền kinh tế nào, nó quyết định trực tiếp đến sức sản xuất cũng như khả năng cung ứng và cạnh tranh của nguồn lực lao động đó trên thị trường trong và ngoài nước, phản ảnh đặc trưng, bản chất của nền kinh tế trong từng thời kỳ nhất định.Theo Báo

cáo tổng hợp đề án “Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011

- 2020”của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, thì lực lượng lao động Việt Nam hiện

nay là 50,4 triệu người (trên tổng số 56,5 triệu người trong độ tuổi lao động), chiếm 58% tổng dân số Đây là một tín hiệu lạc quan cho thấy nước ta đang trong giai đoạn của “cơ cấu dân số vàng” để phát triển toàn diện kinh tế - xã hội nếu chúng ta có những chương trình và hướng đi đúng đắn, kịp thời, phát huy tối đa lợi thế nguồn lực lao động

Như vậy, căn cứ vào quá trình phân tích các nhân tố cấu thành nội dung

nguồn nhân lực, chúng tôi cho rằng: Nguồn nhân lực là tổng thể lực lượng lao

động của xã hội, được tạo nên bởi mối quan hệ thống nhất hữu cơ giữa số lượng, chất lượng và cơ cấu lao động trong từng thời kỳ nhất định, sẵn sàng tham gia vào quá trình sản xuất vật chất nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội trong thời kỳ đó

Nội dung, đặc điểm nguồn nhân lực của xã hội trong mỗi giai đoạn khác nhau luôn chịu sự chi phối và định hướng bởi tính chất của sự phát triển khoa học, kỹ thuật trong giai đoạn đó Trong bối cảnh của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật lần thứ ba hiện nay, những thành tựu khoa học, công nghệ mang tính đột phá của nhân loại liên tục ra đời đã tác động đến chương trình, nội dung đào tạo chất lượng nguồn nhân lực trên phạm vi thế giới Theo đó, trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp của người lao động phải thật sự bắt kịp với sự tiến bộ của khoa học, công nghệ và làm chủ những thành tựu

Trang 30

đó trong mọi hoạt động sản xuất của xã hội Chính vì vậy, bên cạnh quan niệm về nguồn nhân lực nói chung, chúng tôi cho rằng, trong giai đoạn hiện nay, nền sản xuất xã hội được đặc trưng bởi lực lượng lao động có trình độ cao

Như vậy, nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ một lực

lượng lao động cụ thể có trình độ lành nghề về chuyên môn, kỹ thuật nhất định; có kỹ năng lao động giỏi và khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất; có sức khỏe và phẩm chất tốt, có khả năng vận dụng sáng tạo những tri thức, những kỹ năng đã được đào tạo vào quá trình lao động sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cao

1.1.2 Khái niệm phát triển nguồn nhân lực

Như đã trình bày ở trên, nội dung chất lượng nguồn nhân lực luôn chịu sự chi phối và được định hình bởi trình độ của công cụ lao động qua mỗi thời kỳ nhất định của nền sản xuất Bên cạnh đó, tính chất của đối tượng lao động cùng sự phát triển ngày càng đa dạng, phong phú hơn của phương tiện lao động cũng tác động và làm thay đổi yêu cầu của xã hội, đối với quá trình hoạch định và xây dựng chiến lược phát triển nguồn lực lao động sao cho phù hợp với nội dung cơ cấu kinh tế mới Bước sang thế kỷ thứ XXI, khi những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã tác động và làm thay đổi toàn diện cơ cấu ngành nghề, lĩnh vực sản xuất của xã hội thì yêu cầu cần phát triển lực lượng lao động trình độ cao luôn là mối quan tâm hàng đầu của mọi nền kinh tế trên thế giới

Đối với Việt Nam, yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước đòi hỏi chúng ta phải không ngừng học tập, thực hiện chuyển giao công nghệ, đồng thời, nghiên cứu, phát triển và ứng dụng những thành tựu khoa học, công nghệ mới trong mọi hoạt động sản xuất của nền kinh tế Do

Trang 31

vậy, vấn đề phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao sao cho bắt kịp và phù hợp với trình độ khoa học, công nghệ hiện nay luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm, đầu tư đúng mực Từ góc độ lý luận, vấn đề này đã được các nhà khoa học trong và ngoài nước cùng các tổ chức quốc tế tiếp cận, nghiên cứu với những nội dung và tiêu chí khác nhau

Trở lại vấn đề phát triển nguồn nhân lực, chúng ta thấy rằng chất lượng nguồn nhân lực luôn gắn liền với trình độ phát triển của công cụ lao động qua mỗi giai đoạn khác nhau và với mỗi một lĩnh vực sản xuất khác nhau, thì yêu cầu về kỹ năng, kỹ xảo, trình độ của người lao động cũng sẽ là khác nhau Chính vì vậy, quan niệm về phát triển nguồn nhân lực đã có những thay đổi nhất định về nội dung và cả tiêu chí theo sự phát triển nền sản xuất xã hội loài người

Theo UNESCO, phát triển nguồn nhân lực là làm cho toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn luôn phù hợp trong mối quan hệ với sự phát triển của đất nước Quan điểm này chỉ tập trung đề cập đến nhiệm vụ đào tạo kỹ năng, kỹ xảo, trình độ cho người lao động sao cho phù hợp và bắt kịp với sự phát triển của lực lượng sản xuất nói chung

Tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hiệp Quốc (UNIDO) thì nhấn mạnh đến khía cạnh nâng cao khả năng cá nhân, tăng năng lực sản xuất và khả năng sáng tạo của người lao động khi quan niệm quá trình phát triển nguồn nhân lực phải gắn liền với nhiệm vụ bồi dưỡng chức năng chỉ đạo thông qua giáo dục, đào tạo nghiên cứu và hoạt động thực tiễn; đồng thời, xem phát triển con người một cách hệ thống vừa là mục tiêu vừa là đối tượng của sự phát triển của một quốc gia Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) thì cho rằng sự phát triển nguồn nhân lực cần phải gắn liền với quá trình mở rộng các khả năng tham gia hiệu quả vào phát triển nông thôn, bao gồm cả tăng năng lực sản xuất của người lao động Trong khi đó, theo quan

Trang 32

niệm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì phát triển nguồn nhân lực không đơn thuần chỉ dừng lại ở quá trình đào tạo chuyên môn nhất định cho người lao động mà nó còn bao hàm cả khả năng và nhu cầu thực sự của họ khi muốn

sử dụng năng lực của mình để từng bước xác lập và nắm giữ một vị trí, một công việc nhất định cùng với sự thỏa mãn về nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân của mình Bên cạnh đó, trình độ, kỹ năng, kỹ xảo của người lao động sẽ ngày một hoàn thiện hơn nhờ bổ sung nâng cao kiến thức trong quá trình hoạt động thực tiễn của chính bản thân họ

Vào năm 1990, Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) đã đưa ra quan điểm về chỉ số phát triển con người (Human Development Index – HDI Chỉ số này được phát triển bởi một kinh tế gia người Pakistan là Mahbub ul Haq) với năm đặc trưng cơ bản là:

1 Con người là trung tâm của sự phát triển;

2 Người dân vừa là phương tiện vừa là mục tiêu của phát triển;

3 Nâng cao vị thế của người dân (bao hàm cả sự hưởng thụ và cống hiến);

4 Chú trọng việc tạo lập sự bình đẳng cho mọi người dân về mọi mặt: tôn giáo, dân tộc, giới tính, quốc tịch

5 Tạo cơ hội lựa chọn tốt nhất cho người dân về: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa

Với các tiêu chí trên, HDI giúp tạo ra một cách nhìn tổng quát về sự phát triển của một quốc gia, xem phát triển con ngườilà sự phát triển vì con người, của con người và do con người Sự phát triển mang tính nhân văn khi nhằm mục tiêu mở rộng cơ hội lựa chọn cho người dân và tạo điều kiện để họ thực hiện sự lựa chọn đó (có nghĩa là sự tự do) một cách hiệu quả và thiết thực Ba chỉ số cơ bản để đánh giá về khả năng và kết quả trong sự lựa chọn của người dân đó là sức khỏe, tri thức và thu nhập Qua đó, sự phát triển con người sẽ

Trang 33

được lượng hóa bằng các chỉ số cụ thể về mức sống, sức khỏe, giáo dục, tuổi thọ…

Trong khi đó, nhìn vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các nước phát triển và các nước công nghiệp mới, chúng ta thấy rằng, vấn đề phát triển nguồn nhân lực được họ rất quan tâm và triển khai với nhiều chương trình, mục tiêu cụ thể Nước Mỹ khi bước vào thời kỳ phát triển hậu công nghiệp,

“họ luôn nhận thấy nguồn lực khan hiếm là vốn con người Việc hoạch định cho vốn con người được coi là việc hoạch định có tính chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội Mỹ” [68, tr.294] Chính vì vậy, họ luôn tập trung đầu tư vào phát triển con người một cách toàn diện ngay từ cấp tiểu học; theo dõi và ngăn chặn kịp thời nguy cơ bỏ học của những đối tượng tài năng; tăng cường hướng nghiệp trong các trường phổ thông; đồng thời, thực hiện nhiều chương trình thu hút nhân tài khắp nơi trên thế giới Đối với nền kinh tế Đức, quan niệm về phát triển nguồn nhân lực luôn gắn liền với yêu cầu xuất khẩu tri thức ra toàn cầu thông qua con đường giáo dục Chính vì vậy, “Đức đề ra khẩu hiệu “giáo dục vì xuất khẩu” từ nhận thức rằng do ít tài nguyên thiên nhiên, Đức chỉ có thể xuất khẩu những sản phẩm chất lượng cao và bí quyết

kỹ thuật (technical know - how), và để có thể thành công trong nền kinh tế thế giới toàn cầu hóa, công nhân, kỹ sư và các nhà khoa học của Đức phải nhận được nền giáo dục hiệu quả và chất lượng cao” [68, tr.100] Để đạt được mục tiêu đó, người Đức đầu tư mạnh mẽ vào nội dung giáo dục, đặc biệt là toán học, nhằm hướng người học đến việc chọn lựa các ngành khoa học, đảm bảo duy trì vị thế công nghệ cao của Đức trên trường quốc tế

Ở Châu Á, Nhật Bản là quốc gia tiên phong và đã đạt được những thành tựu vượt bậc trong sự nghiệp phát triển nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Xuất phát từ bối cảnh của một quốc gia khan hiếm về tài nguyên thường xuyên hứng chịu thiên tai, vai trò của nguồn nhân lực đã được

Trang 34

chính phủ Nhật thức từ rất sớm, từ ngay sau cách mạng Minh Trị, chính phủ nước này đã xác định ba chính sách trụ cột để công nghiệp hóa đất nước là công nghiệp lập quốc, giáo dục lập quốc và thương mai lập quốc, trong đó, trụ cột nhất là vấn đề con người Đối với khu vực Đông Nam Á, Singapore là một điển hình cho sự thành công trong chiến lược đào tạo, phát triển nguồn lực con người một cách hiệu quả Ngay sau khi giành được độc lập, ông Lý Quang Diệu đã đề ra mục tiêu biến Singapore thành một xã hội học tập, nguồn nhân lực trình độ cao gắn với nền giáo dục tiên tiến Với quan điểm

“Tôi ưa chuộng hiệu quả”, ông Lý Quang Diệu còn thành công trong chiến lược thu hút và trọng dụng nhân tài khắp nơi trên thế giới Trong cuộc hội đàm với Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết vào năm 2007, ông cho rằng:

“Nếu không lấp vào chỗ trống bằng những tài năng nước ngoài, chúng tôi không làm cho đất nước vươn lên hàng đầu được Họ chính là những megabytes bổ sung cho chiếc computer Singapore” Điều đó cho thấy, trong điều kiện của nền kinh tế tri thức và sự lan tỏa nhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện nay, quan điểm về phátt triển nguồn nhân lực của mỗi quốc gia cần có sự điều chỉnh và linh hoạt theo hướng “mở” với những nội dung và chương trình nhất định

Đối với Việt Nam, vấn đề phát triển nguồn nhân lực đã được đặt ra và thật

sự thu hút các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách đi vào nghiên cứu khi nước ta bắt đầu bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thật cho chủ nghĩa xã hội Theo giáo sư, viện sĩ Phạm Minh Hạc: “Phát triển nguồn nhân lực được hiểu về cơ bản là tăng giá trị cho con người, trên các mặt như đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn, thể lực,…, làm cho con người trở thành những người lao động có những năng lực

và phẩm chất mới và cao, đáp ứng được những yêu cầu to lớn của sự phát triển kinh tế - xã hội, của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”

Trang 35

[32, tr.285] Khi bàn về vấn đề phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, PGS.TS Vũ Văn Phúc cũng cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực là sự biến đổi về số lượng và chất lượng trên các mặt thể lực, trí lực, kỹ năng và tinh thần cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu nhân lực Nói một cách khái quát nhất, phát triển nguồn nhân lực chính là quá trình tạo lập và sử dụng năng lực toàn diện của con người, vì sự tiến bộ kinh tế - xã hội” [62, tr.12]

Từ đó, tác giả cho rằng nội dung cơ bản phát triển nguồn nhân lực Việt Nam cần tập trung vào các vấn đề chủ yếu là gia tăng số lượng và chất lượng nguồn nhân lực có trình độ cao, chuyển dịch cơ cấu nhân lực theo hướng tiến bộ; đồng thời, phát huy các tố chất tích cực của con người Việt Nam

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nhất là sau khi chùng

ta giành được độc lập, thống nhất đất nước, nhiệm vụ phát triển nguồn lực con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng xã hội mới luôn được Đảng

ta quan tâm và đầu tư đúng mực Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII

của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng ta đã xác định: " Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa" [14, tr.21] Đến Đại hội XI, Đảng ta đã đề ra mục tiêu tổng quát: “đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau” [26, tr.103] Để đạt được mục tiêu đó, Đảng ta đã xác định các khâu đột phá và một trong các khâu mang tính quyết định đó là: “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao” [26, tr.106] và: “Gắn kết chặt

Trang 36

chẽ giữa phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ”[26, tr.106]

Như vậy, khi đề cập đến phát triển nguồn nhân lực, nội dung cơ bản mà các tổ chức, các nhà nghiên cứu tập trung phân tích cũng như quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các thời kỳ đó là thúc đẩy quá trình đào tạo chuyên môn (trình độ tay nghề, kỹ năng, kỹ xảo…) cho người lao động và sự hiện thực hóa trình độ chuyên môn ấy vào trong hoạt động thực tiễn một cách hiệu quả nhất Tuy nhiên, con người nói chung và người lao động nói riêng không bao giờ là một cá nhân phi lịch sử C Mác khẳng định: “Trong tính hiện thức của nó, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” [48, tr.11] Điều đó có nghĩa rằng một nguồn nhân lực nhất định luôn gắn liền và phục vụ cho một nền sản xuất nhất định với một chế độ xã hội nhất định Chính vì vậy, đào tạo, giáo dục, nâng cao giá trị cho người lao động cả về trình độ chuyên môn, đạo đức, sức khỏe, nhân cách và năng lực lao động là một yêu cầu tất yếu mà bất kỳ một quốc gia nào trong bối cảnh hiện nay cũng đều phải hướng đến

Từ những vấn đề trên, chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng, phát triển nguồn nhân lực là một quá trình xuyên suốt thể hiện ở những nội dung sau đây:

Thứ nhất, thúc đẩy và làm gia tăng số lượng của nguồn nhân lực: Khi lực

lượng sản xuất của xã hội loài người ngày một xã hội hóa và phát triển theo chiều sâu thì các yếu tố cấu thành bên trong của nó cũng liên tục thay đổi Chính sự tiến bộ của công cụ lao động trải qua các thời kỳ khác nhau cùng với việc chế tạo ra các loại đối tượng lao động mới đã kéo theo sự gia tăng không ngừng của lực lượng lao động Trong giai đoạn hiện nay, thúc đẩy và làm gia tăng số lượng của nguồn nhân lực là quá trình làm tăng số lượng người lao động trong độ tuổi lao động sao cho phù hợp với một cơ cấu tuổi

Trang 37

tác nhất định và sự phân bố người lao động và những ngành nghề và lĩnh vực khác nhau một cách hợp lý

Thứ hai, phát triển nguồn nhân lực là quá trình biến đổi và nâng cao chất

lượng của nguồn nhân lực: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một nội

dung quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực Đó là quá trình tạo lập và phát triển toàn diện năng lực cho người lao động cả về trình độ chuyên môn, kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp và cả sự tự xác định động cơ, thái

độ, nhu cầu của chính bản thân họ trong hoạt động thực tiễn Kết quả này chỉ

có thể đạt được khi chúng ta xác định được chiến lược phát triển nguồn nhân lực cụ thể, chính xác và hiệu quả, cùng với quá trình triển khai đào tạo qua từng giai đoạn khác nhau tương ứng với mục đích và nhu cầu của mỗi lĩnh vực, mỗi ngành nghề nhất định

Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực còn là quá trình nâng cao hiệu quả sử

dụng nguồn nhân lực trong hoạt động thực tiễn Giá trị sức lao động của

người lao động luôn tồn tại dưới dạng tiềm năng và nó chỉ được vật chất hóa một khi hoạt động lao động được thực hiện Hiệu quả của quá trình đó sẽ được đo bởi sự kết hợp giữa người lao động với công cụ lao động, đối tượng lao động, phương tiện lao động và cả mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất Như vậy, để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực trong hoạt động thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải điều chỉnh, hoàn thiện và xây dựng mối quan hệ giữa người với người trong sở hữu tư liệu sản xuất, trong tổ chức quản lý sản xuất và trong phân phối sản phẩm lao động sao cho phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất hiện thời mà trực tiếp nhất là người lao động Một khi giá trị con người nói chung và người lao động nói riêng được tôn trọng và đề cao gắn liền với lợi ích tương ứng của họ thì hiệu quả trong sử dụng nguồn nhân lực mới được đảm bảo và phát huy Trên cơ sở phân tích các luận điểm khác nhau trong và ngoài nước, chúng tôi cho rằng:

Trang 38

Chung quy lại, “phát triển nguồn nhân lực là quá trình nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực trên cơ sở phân bố, sắp xếp lại cơ cấu nguồn nhân lực theo từng chiến lược hợp lý, phù hợp với cơ cấu kinh tế hiện thời;

từ đó đẩy nhanh quá trình đào tạo, giáo dục người lao động một cách toàn diện nhằm mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trong từng thời kỳ nhất định”

1.1.3 Đặc điểm của phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay

Nội dung phát triển nguồn nhân lực cả về số lượng lẫn chất lượng trong giai đoạn hiện nay chịu sự định hướng và mang dấu ấn đậm nét của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ với những thành tựu mang tính bước ngoặt đang lan tỏa nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu Chính vì vậy, trong chương trình

và kế hoạch đầu tư cho nguồn lực lao động, mỗi quốc gia luôn hướng đến và làm sao ngày càng đáp tốt hơn những yêu cầu mới đặt ra (về kỹ năng, trình độ chuyên môn nghề nghiệp, khả năng thực tiễn…) cho nguồn nhân lực do thời đại mang lại Cùng với quá trình toàn cầu hóa kinh tế, hoạt động nhiên cứu, đầu tư và chuyển giao khoa học, công nghệ diễn ra mạnh mẽ thì chiến lược phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay cũng không nằm ngoài xu thế chung đó Tuy nhiên, bên cạnh những đặc điểm chung do bối cảnh thời đại mang lại thì quá trình phát triển nguồn nhân lực Việt Nam cũng chứa đựng những đặc điểm riêng, do những điều kiện lịch sử - cụ thể của dân tộc chi phối

Thứ nhất, phát triển nguồn nhân lực Việt Nam là quá trình từng bước cải

tạo tác phong nông nghiệp của người lao động, giáo dục và đào tạo tác phong công nghiệp mới Xuất phát điểm của người lao động nước ta gắn liền

với nền sản xuất nông nghiệp lúa nước lâu đời Chính phương thức sản xuất này đã tác động và quyết định đến tác phong lao động cũng như đời sống tình

Trang 39

cảm, tâm lý, lối sống, lối tư duy của một bộ phận người Việt Người Việt Nam có đặc điểm cần cù, chịu khó, và có khả năng nắm bắt linh hoạt, sáng tạo trong lao động, vận dụng một cách nhanh chóng các thao tác, nguyên lý công việc, ham học hỏi… Đây là những điều kiện cần thiết để chúng ta có thể phát huy, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Tuy nhiên, bên cạnh đó, tác phong nông nghiệp chậm chạp, vô kỷ luật, tính tự phát trong lao động vẫn còn tồn tại rõ nét trong công việc và trong đời sống, sinh hoạt hàng ngày của người lao động Chính những hạn chế này đã cản trở và làm trì trệ quá trình người lao động chủ động trong học tập, áp dụng khoa học, công nghệ mới vào trong hoạt động sản xuất, làm sụt giảm năng suất lao động chung của xã hội

Do vậy, đặc trưng nổi bật trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực ở nước

ta hiện nay là quá trình từng bước cải tạo và đẩy lùi, tiến đến xóa bỏ tác phong lao động cũ, lạc hậu, phát huy những tố chất tích cực của con người Việt Nam, đồng thời, đẩy mạnh công tác đào tạo, giáo dục lại người lao động theo hướng chuyên nghiệp, có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức

Thứ hai, phát triển nguồn nhân lực Việt Nam là quá trình từng bước

chuyển đổi và sắp xếp lại cơ cấu nguồn nhân lực một cách hợp lý Chúng ta

thấy rằng cơ cấu kinh tế quyết định cơ cấu nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực tốt sẽ góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng phù hợp hơn Nền kinh tế truyền thống nước ta trong một thời gian dài tái sản xuất theo chiều rộng, gắn liền với nền sản xuất nông nghiệp đặc thù nên cơ cấu kinh tế thiên về tận dụng nguồn nhân lực theo số đông, lao động giản đơn là chủ yếu, gia tăng các yếu tố đầu vào và hàm lượng kỹ thuật, công nghệ trong sản xuất còn rất hạn chế Chính vì vậy, cơ cấu nguồn nhân lực nước ta trong một thời gian dài còn tồn tại nhiều bất cập khi lực lượng lao động chưa qua đào tạo còn chiếm tỷ lệ cao và chủ yếu

Trang 40

phân bố ở khu vực nông thôn, gắn liền với hoạt động sản xuất trong nông nghiệp Theo số liệu Niên giám Thống kê năm 2009 của Tổng cục thống kê, năm 2005, cả nước có 42,7 triệu lao động, trong đó lao động ở thành thị chỉ trên 10,6 triệu lao động, còn lại tập trung chủ yếu ở nông thôn Đến năm

2009, với 47,7 triệu lao động thì thành thị chỉ chiếm 12,6 triệu người, nông thôn chiếm 35,1 triệu người [72, tr.65] Điều đó cho thấy, quá trình chuyển biến cơ cấu nguồn nhân lực nước ta diễn ra còn quá chậm chạp, chưa tương xứng với yêu cầu ngày càng cao của nền sản xuất xã hội Do đó, từng bước thúc đẩy và sắp xếp lại cơ cấu nguồn nhân lực một cách hợp lý là đặc điểm nổi bật trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay, gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp, dịch

vụ hiện đại Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra chủ trương: “Chuyển mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững” [26, tr.107]

Thứ ba, mục tiêu trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực Việt Nam

hiện nay là nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

đất nước.Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp phát triển mang tính cách mạng sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, mà trọng tâm

là quá trình từng bước chuyển từ nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu sang nền sản xuất công nghiệp hiện đại Đó là sự nghiệp của quản đại quần chúng nhân dân gắn với vai trò quyết định của đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao Vì vậy, trong chiến lược phát triển nguồn lực con người Việt Nam hiện nay cần tập trung đào tạo và xây dựng một đội ngũ nhân lực khoa học, công nghệ có trình độ cao, từ đó góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch trong cơ cấu kinh tế, hướng đến thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Từ đó cho thấy: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy

Ngày đăng: 04/05/2021, 23:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Alvin Toffler (2007), Đợt sóng thứ ba, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đợt sóng thứ ba
Tác giả: Alvin Toffler
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 2007
2. Đinh Việt Bách (2013), “Phát triển nhân lực khoa học và công nghệ: cần thực hiện đồng bộ các giải pháp”, Tạp chí khoa học và công nghệ Việt Nam, (8/2013), tr.36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nhân lực khoa học và công nghệ: cần thực hiện đồng bộ các giải pháp"”, Tạp chí khoa học và công nghệ Việt Nam
Tác giả: Đinh Việt Bách
Năm: 2013
3. Nguyễn Duy Bắc (2004), “Tác động của xu thế toàn cầu hoá quốc tế với giáo dục đào tạo thế giới và Việt Nam”, Tạp chí hoạt động khoa học, (1/2004), tr.43-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của xu thế toàn cầu hoá quốc tế với giáo dục đào tạo thế giới và Việt Nam"”, Tạp chí hoạt động khoa học
Tác giả: Nguyễn Duy Bắc
Năm: 2004
4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2011), Báo cáo tổng hợp đề án “Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp đề án “Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2011
5. Bộ Khoa học và công nghệ - Cục thông tin khoa học và công nghệ quốc gia (2012), Khoa học và công nghệ phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học và công nghệ phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững
Tác giả: Bộ Khoa học và công nghệ - Cục thông tin khoa học và công nghệ quốc gia
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2012
6. Bộ ngoại giao (2002), Việt Nam hội nhập trong xu thế toàn cầu hoá: Vấn đề và giải pháp, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam hội nhập trong xu thế toàn cầu hoá: "Vấn đề và giải pháp
Tác giả: Bộ ngoại giao
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2002
7. Bộ kế hoạch và đầu tư (2008), Bối cảnh trong nước, quốc tế và việc nghiên cứu xây dựng chiến lược 2011 – 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bối cảnh trong nước, quốc tế và việc nghiên cứu xây dựng chiến lược 2011 – 2020
Tác giả: Bộ kế hoạch và đầu tư
Năm: 2008
8. Thành Duy (2001), Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện
Tác giả: Thành Duy
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
9. Hồ Anh Dũng (2002), Phát huy yếu tố con người trong lực lượng sản xuất, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy yếu tố con người trong lực lượng sản xuất
Tác giả: Hồ Anh Dũng
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2002
10. PGS.TS. Phạm Văn Dũng (2010), Phát triển thị trường khoa học – công nghệ Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển thị trường khoa học – công nghệ Việt Nam
Tác giả: PGS.TS. Phạm Văn Dũng
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2010
11. TSKH. Phan Xuân Dũng (2012), Công nghệ tiên tiến và công nghệ cao với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ tiên tiến và công nghệ cao với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
Tác giả: TSKH. Phan Xuân Dũng
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2012
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1982), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1982
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1987
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1996
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1996
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương khóa VIII. Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội
Năm: 1997
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội
Năm: 1998
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Các Nghị quyết của Trung ương Đảng 1996 - 1999, Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Nghị quyết của Trung ương Đảng 1996 - 1999
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội
Năm: 2000
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội
Năm: 2001
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 12, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 12
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w