Tổng quan tình hình nghiên cứu
Các nghiên cứu về lao động –việc làm nói chung
Nghiên cứu của Lê Thúy Hằng trong Tạp chí xã hội học số 3(115) năm 2011 đã chỉ ra rằng di động việc làm ở Việt Nam không chỉ phụ thuộc vào đặc điểm cá nhân mà còn bị ảnh hưởng bởi môi trường chính sách và pháp luật, đặc biệt là hệ thống chính sách kinh tế Những thay đổi trong chính sách kinh tế đã tạo ra xu hướng chuyển đổi việc làm, mang lại cơ hội di động việc làm tự nguyện hoặc áp lực di động việc làm ép buộc cho người lao động Tác giả phân tích sự ảnh hưởng của chính sách kinh tế và hội nhập quốc tế đến di động việc làm qua ba xu hướng: dịch chuyển giữa các khu vực kinh tế, giữa các ngành kinh tế, và giữa các vị trí công việc Kể từ khi thực hiện đường lối Đổi mới, chính sách kinh tế và hội nhập quốc tế đã tác động mạnh mẽ đến di động việc làm, tạo ra nhiều cơ hội mới nhưng cũng gây sức ép buộc người lao động chuyển đổi công việc Sự dịch chuyển này diễn ra chủ yếu từ khu vực nhà nước sang tư nhân, từ ngành phi dịch vụ sang dịch vụ, và từ vị trí tham gia sản xuất cùng gia đình sang tự sản xuất kinh doanh Trong bối cảnh hội nhập toàn diện, tác động của quá trình này sẽ ngày càng lớn, dẫn đến sự thay đổi đáng kể về nhu cầu lao động cả về số lượng và chất lượng Nghiên cứu của Lê Thúy Hằng mở ra cái nhìn tổng quan về chuyển dịch cơ cấu lao động ở Việt Nam và nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu sâu hơn về di động việc làm trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa, đặc biệt là ở khu vực nông thôn với sự chú trọng đến yếu tố chính sách và pháp luật.
Nghiên cứu của Bùi Thị Thanh Hà trong Tạp chí xã hội học số 2(122), 2013 chỉ ra rằng bất bình đẳng trong cơ hội tiếp cận việc làm của người lao động hiện nay chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố xã hội Tác giả nhấn mạnh rằng trình độ học vấn, sức khỏe và năng lực chuyên môn là những yếu tố quan trọng giúp người lao động dễ dàng tiếp cận việc làm ổn định Ngoài ra, cơ hội đào tạo, tài chính và mối quan hệ xã hội cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra vị trí công việc thuận lợi Tác động từ địa phương, như hội nhập kinh tế và phát triển khu công nghiệp, đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm, nhưng sự phân bố vẫn không đồng đều Chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước cũng ảnh hưởng mạnh mẽ đến cơ cấu nghề nghiệp và cơ hội việc làm, nhưng người lao động thường không nắm rõ các chính sách liên quan Bài viết nhấn mạnh rằng cần có sự hoàn thiện trong chính sách lao động để giải quyết các vấn đề bất bình đẳng này, đồng thời nghiên cứu tiếp theo sẽ xem xét nhiều khía cạnh khác nhau ảnh hưởng đến cơ cấu lao động khu vực nông thôn.
Nghiên cứu của tác Th.S Nguyễn Lan Hương về “Thị trường lao động Việt
Bài viết “Nam, định hướng và phát triển” đã tóm tắt quá trình hình thành và phát triển của thị trường lao động Việt Nam, đặc biệt là thực trạng lao động giai đoạn 1993 – 2000 Trong giai đoạn này, có sự khác biệt rõ rệt về cơ cấu lao động và việc làm giữa vùng đô thị và nông thôn, với tốc độ phân bố lao động ở đô thị tăng nhanh (5% năm) so với nông thôn (2% năm) Ngoài ra, cơ cấu lao động cũng biến đổi theo nhóm tuổi, với tỉ lệ lao động trong độ tuổi 35 – 54 tăng nhanh cả về tương đối lẫn tuyệt đối, trong khi nhóm lực lượng lao động trẻ từ 15 – 34 tuổi chiếm tỉ lệ cao.
Tình trạng lao động tại Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là ở nhóm tuổi 55 trở lên, khi quy mô và tốc độ giảm sút nhanh chóng Cơ cấu lao động vẫn còn lạc hậu với tỷ lệ lao động nông nghiệp cao và tỷ lệ lao động trong công nghiệp, dịch vụ thấp Mặc dù kinh tế tăng trưởng nhanh, tốc độ cung cấp việc làm vẫn chậm, đặc biệt là ở khu vực nông thôn, nơi mà phần lớn lao động chủ yếu làm nông nghiệp Do đó, cần có những hành động thiết thực và lâu dài để ổn định cơ cấu lao động và việc làm tại các vùng khác nhau, đặc biệt là ở nông thôn và thành thị Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Lan Hương đã chỉ ra rằng cần quan tâm đến các yếu tố tác động đến cơ cấu lao động khu vực nông thôn, cũng như xác định yếu tố nào là quyết định.
Bài viết của tác giả Trịnh Duy Luân phân tích bối cảnh nguồn nhân lực toàn cầu và tại Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tác giả chỉ ra rằng các nước đang phát triển, đặc biệt là Việt Nam, đang đối mặt với tình trạng thiếu việc làm và thừa lao động do dân số tăng nhanh Việc hạn chế tốc độ tăng dân số trở thành yêu cầu cấp bách, khi mà điều kiện lao động không đảm bảo dẫn đến tình trạng công nhân bỏ việc Chất lượng nguồn nhân lực trong các thế hệ tiếp theo bị ảnh hưởng tiêu cực bởi vòng lẩn quẩn này Bài viết cũng chỉ ra những hạn chế trong công tác đào tạo nguồn nhân lực hiện nay, đồng thời cung cấp tư liệu cho các luận văn, nhằm đưa ra khuyến nghị cho chính quyền địa phương về các chiến lược phát triển nguồn nhân lực, góp phần tích cực vào cơ cấu lao động địa phương.
Các nghiên cứu về lao động và việc làm tại Việt Nam tập trung vào ba vấn đề chính: Thứ nhất, xác định ảnh hưởng của thị trường lao động đối với sự chuyển đổi và cơ cấu lao động Thứ hai, phân tích các xu hướng di chuyển cơ cấu lao động và việc làm trong những năm gần đây Thứ ba, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến di động việc làm và sự bất bình đẳng trong tiếp cận việc làm, với nhấn mạnh vào năng lực cá nhân của người lao động và vai trò của các chính sách phát triển kinh tế, cũng như tính pháp lý và khả thi của luật, đặc biệt là luật lao động.
Nghiên cứu về lao động đứng trên góc độ giới tính, và một số đối tượng khác
Nghiên cứu về tình hình lao động tại Việt Nam hiện nay không chỉ tập trung vào lực lượng lao động chung mà còn đặc biệt chú trọng đến lực lượng lao động nữ Bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng xem xét những nhóm lao động gặp khó khăn khác như thanh niên, bộ đội và người khuyết tật.
Trước hết, có thể kể đến công trình nghiên cứu của GS Lê Thi vào năm 1991:
Vấn đề tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho phụ nữ hiện nay đang gặp nhiều thách thức, khi mà 51,34% lao động nữ tại Việt Nam có trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp, dẫn đến việc họ chủ yếu làm những công việc giản đơn và thu nhập thấp Phụ nữ thường phải dành nhiều thời gian cho công việc gia đình, ảnh hưởng đến khả năng học tập và nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, đồng thời thiếu thông tin về việc làm Để cải thiện tình hình, cần chú trọng nâng cao trình độ học vấn và đào tạo chuyên môn cho lao động nữ, cũng như ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất Nghiên cứu của Nguyễn Quang Vinh chỉ ra rằng có nhiều mâu thuẫn trong vấn đề việc làm của phụ nữ, như sự không tương thích giữa năng lực và yêu cầu công việc, cũng như sự thiếu quan tâm đến việc nâng cao tay nghề trong định hướng giá trị của họ Ngoài ra, các tổ chức và đơn vị tuyển dụng cần thay đổi cách tiếp cận để đảm bảo quyền lợi và tiềm năng của lao động nữ được phát huy.
Nghiên cứu gần đây của Bộ Lao động – Thương Binh và Xã hội vào năm 2009 với chủ đề “Lao động, việc làm trong thời kỳ hội nhập” đã chỉ ra những thách thức lớn về lao động và việc làm trong bối cảnh hội nhập.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, lao động nữ tại Việt Nam đã trải qua nhiều thay đổi tích cực lẫn tiêu cực Nghiên cứu cho thấy, hội nhập đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới và giúp cải thiện điều kiện sống cho lao động nữ, với xu hướng các doanh nghiệp xuất khẩu trả lương cao hơn Tuy nhiên, áp lực cạnh tranh cũng dẫn đến chất lượng việc làm giảm sút, khiến nhiều phụ nữ phải làm những công việc tạm thời, không ổn định Đặc biệt, trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật của lao động nữ vẫn thấp hơn so với nam giới, với 76,63% chưa qua đào tạo và chỉ 5,48% có trình độ đại học Từ năm 2000 đến 2006, tốc độ tăng trưởng việc làm của lao động nữ chậm hơn so với tổng thể, không làm giảm khoảng cách giới trong việc làm Định kiến giới trong tuyển dụng vẫn tồn tại, khiến lao động nữ thường chỉ được tuyển vào những ngành nghề kém hấp dẫn Hơn nữa, khoảng cách giới về tiền lương không những không được cải thiện mà còn có xu hướng gia tăng trong các ngành hội nhập.
Nghiên cứu cho thấy cơ cấu lao động bị ảnh hưởng bởi cả yếu tố khách quan và chủ quan, đặc biệt là giới tính và năng lực cá nhân của mỗi giới Trong phạm vi toàn quốc, lao động nữ ở cả khu vực đô thị và nông thôn đều có những đặc điểm chung Tuy nhiên, đối với lao động nữ ở khu vực nông thôn, đặc biệt là tại tỉnh Bình Phước, cần xem xét xem họ có những đặc trưng nào khác biệt Vấn đề này sẽ được phân tích trong nghiên cứu về “Những yếu tố tác động đến cơ cấu lao động khu vực nông thôn tỉnh Bình Phước”.
Năm 2009, TS Dương Tự Đam nghiên cứu về "Thanh niên với việc làm hướng nghiệp và phát triển tài năng", chỉ ra rằng lực lượng lao động thanh niên đang giảm do dân số già hóa, với tỷ lệ lao động thanh niên qua đào tạo nghề chỉ đạt 15,22% Doanh nghiệp tại các khu công nghiệp lớn như Hà Nội và TP Hồ Chí Minh có đến 90% lao động là thanh niên từ các tỉnh khác Mỗi năm, từ 1,4 đến 1,6 triệu chỗ làm mới được tạo ra, trong đó thanh niên chiếm 72-76% Thanh niên chủ yếu làm việc trong nông, lâm, ngư nghiệp, và có xu hướng chuyển dịch sang công nghiệp và thương mại dịch vụ Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên cao hơn mức trung bình cả nước, và tình trạng thiếu việc làm ở thanh niên nông thôn nghiêm trọng hơn so với thành phố Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng 52% thanh niên mong muốn làm việc tại các thành phố lớn, trong khi chỉ 5,3% muốn trở về nông thôn Các yếu tố ảnh hưởng đến việc làm của thanh niên bao gồm quy mô dân số, yếu tố kinh tế - văn hóa xã hội, và công nghệ Để giải quyết vấn đề việc làm, tác giả đề xuất tăng cường vay vốn phát triển sản xuất, cải thiện hệ thống đào tạo nghề, và nâng cao vai trò của các tổ chức thanh niên trong việc hỗ trợ việc làm cho thanh niên.
Nghiên cứu về cơ cấu lao động, cơ cấu nghề nghiệp ở nông thôn
Nghiên cứu "Tìm hiểu về sự thay đổi cơ cấu xã hội ở nông thôn trong thời kỳ đổi mới" của Tô Duy Hợp (2004) chỉ ra sự biến đổi trong cơ cấu xã hội lao động tại khu vực nông thôn Nghiên cứu này thuộc bộ tài liệu "Những nghiên cứu chọn lọc về xã hội học nông thôn" và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiểu rõ những thay đổi này trong bối cảnh phát triển kinh tế xã hội.
Nghề nghiệp ở nông thôn vẫn chủ yếu bị chi phối bởi mô hình lao động xã hội truyền thống, với sản xuất - kinh doanh nhỏ và tự cung tự cấp, trong đó trồng trọt, đặc biệt là cây lúa, chiếm ưu thế hơn chăn nuôi Các ngành nghề lâm, ngư nghiệp chưa phát triển, và đa số lao động là thủ công với trình độ học vấn trung bình chỉ đạt phổ thông cơ sở Mặc dù sự đổi mới diễn ra không đồng đều giữa các nhóm xã hội và vùng miền, nhưng sau 5 năm đổi mới, cơ cấu xã hội lao động – nghề nghiệp chuyển biến chậm, chất lượng chưa có thay đổi đáng kể, tuy nhiên, có sự định hướng đúng đắn Các nghị quyết của Đảng, đặc biệt là nghị quyết 10 về đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp, đã giải phóng sức lao động và tạo điều kiện cho quá trình đa dạng hóa nghề nghiệp theo hướng kinh tế thị trường Chính sách mở cửa và hội nhập thị trường thế giới cũng đã mang lại yếu tố hiện đại hóa cho nông thôn Đầu tư nước ngoài góp phần thúc đẩy đô thị hóa và công nghiệp hóa, tạo ra sự chuyển đổi căn bản trong cơ cấu xã hội lao động – nghề nghiệp Yếu tố quyết định cho sự chuyển đổi này là sự đồng thuận giữa Đảng và nhân dân lao động trong đường lối đổi mới.
Nghiên cứu từ "Những nghiên cứu chọn lọc về xã hội học nông thôn (2004)" của Lê Phượng đề cập đến thực trạng và xu hướng chuyển đổi cơ cấu xã hội lao động – nghề nghiệp ở đồng bằng Bắc Bộ trong thời kỳ đổi mới Tác giả phân tích vấn đề này qua ba khía cạnh chính.
Bài viết phân loại các nhóm xã hội lao động và nghề nghiệp theo làng xã, chia thành ba loại chính: (i) làng xã giảm mạnh hoạt động thuần nông, tăng cường lao động phi nông nghiệp với sự kết hợp đa dạng giữa tiểu thủ công nghiệp và buôn bán dịch vụ; (ii) làng xã chủ yếu dựa vào nông nghiệp nhưng đang chuyển hướng mạnh mẽ sang sản xuất kinh doanh tổng hợp; (iii) làng xã vẫn chủ yếu thuần nông nhưng có sự dịch chuyển lao động sang các lĩnh vực khác Đồng thời, phân loại nhóm hộ cũng được thực hiện với các nhóm như hộ chuyển sang sản xuất thủ công nghiệp, nhóm kinh doanh tổng hợp với xu hướng đa dạng hóa nghề nghiệp, và nhóm hộ thuần nông Mức độ phi nông nghiệp hóa và tư nhân hóa diễn ra chậm và không đều, với xu hướng mở rộng kinh tế nông nghiệp vẫn chiếm ưu thế Nghiên cứu cung cấp cơ sở lý luận cho việc nhìn nhận chuyển dịch cơ cấu lao động ở đồng bằng Bắc Bộ và cả nước, đồng thời giúp so sánh và phân tích đặc điểm chuyển dịch lao động giữa các khu vực, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp cho nghiên cứu tiếp theo.
Nghiên cứu của tác giả Phan Mai Hương trên Tạp chí xã hội học chỉ ra rằng đô thị hóa đã làm thu hẹp nguồn tư liệu sản xuất của nông dân, dẫn đến việc mất việc làm truyền thống Xu hướng việc làm hiện tại cho thấy sự đa dạng hóa nghề nghiệp và nguồn thu nhập trong các khu vực đô thị hóa, với sự xuất hiện của nhiều loại hình công việc khác nhau Đặc biệt, những gia đình nghèo thường chỉ có thể làm một công việc, trong khi những hộ có điều kiện tốt hơn có thể phát triển dịch vụ tại địa phương Hơn nữa, mức độ đô thị hóa ảnh hưởng đến cơ cấu nghề nghiệp, với các vùng đô thị hóa thấp có tỷ lệ hộ làm nông nghiệp cao hơn Sự chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang các ngành nghề khác như trồng cây lâu năm và nuôi trồng thủy sản cũng được ghi nhận, cho thấy sự thích ứng nhanh chóng của người dân với thay đổi của hoàn cảnh Từ đó, nghiên cứu giúp cung cấp cái nhìn tổng quan về xu hướng việc làm của người nông dân, có thể so sánh với đặc điểm việc làm tại xã Đồng Tiến, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
Nghiên cứu “Một số vấn đề cơ cấu nghề nghiệp, thu nhập, mức sống và tự quản làng xã ở nông thôn đồng bằng sông Hồng và miền núi Tây Bắc” của Phạm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc nghề nghiệp và thu nhập của người dân tại hai khu vực này Bài viết cũng đề cập đến mức sống của cư dân nông thôn và vai trò của tự quản trong việc phát triển cộng đồng Các kết quả từ nghiên cứu cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình kinh tế xã hội tại đồng bằng sông Hồng và miền núi Tây Bắc, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm cải thiện đời sống người dân.
Tác giả đã phân tích tác động của đổi mới quản lý kinh tế - xã hội đến sản xuất và đời sống cư dân nông thôn đồng bằng sông Hồng, nhấn mạnh sự tồn tại của ba loại làng xã: thuần nông, đa nghề và làng nghề Theo thu nhập, có ba loại làng xã: khá giả, trung bình và nghèo đói Sự khác biệt về cơ cấu nghề nghiệp giữa đồng bằng sông Hồng và miền núi Tây Bắc chủ yếu do điều kiện tự nhiên và giao thông thuận lợi, giúp các làng xã đồng bằng phát triển kinh tế hàng hóa sớm hơn Các làng nghề phải tự nuôi sống bằng sản phẩm tiểu thủ công nghiệp, dẫn đến sự cần thiết phải bán sản phẩm để có lương thực Ngoài ra, sự khác biệt về quy mô dân số, cơ cấu dân cư và văn hóa cũng ảnh hưởng đến cơ cấu lao động nông thôn Nghiên cứu của tác giả Phạm Liên Kết sẽ chỉ ra các yếu tố tác động đến cơ cấu lao động, bao gồm điều kiện tự nhiên.
Năm 1999, Đỗ Thiên Kính đã thực hiện nghiên cứu về "Tác động của chuyển đổi cơ cấu lao động nghề nghiệp xã hội đến phân tầng mức sống", dựa trên kết quả khảo sát tại 3 xã nông thôn đồng bằng sông Hồng trong giai đoạn 1997-1998, được tài trợ bởi Chương trình nghiên cứu Việt Nam – Hà Lan Nhóm nghiên cứu đã áp dụng các phương pháp như phân tích tài liệu và khảo sát thực địa với 600 mẫu, nhằm tìm hiểu sự phân tầng xã hội và các nhân tố ảnh hưởng đến sự phân hóa giàu – nghèo trong cộng đồng Nghiên cứu đã làm rõ các yếu tố như chuyển đổi cơ cấu lao động, vốn liếng, học vấn và quyền lực hộ gia đình, đồng thời chú trọng đến tác động của nghề nghiệp Công trình của Đỗ Thiên Kính đã cung cấp cơ sở lý luận và minh chứng thực tiễn cho việc nghiên cứu "Những yếu tố tác động đến cơ cấu lao động khu vực nông thôn tỉnh Bình Phước".
Nghiên cứu trên Tạp chí xã hội học số 2(102), 2008 của Vũ Quang Hào đã chỉ ra rằng đô thị hóa có tác động mạnh mẽ đến biến đổi nghề nghiệp và hoạt động sản xuất của nông dân ở Hải Dương Cụ thể, yếu tố đô thị hóa đã làm thay đổi cơ cấu nghề nghiệp xã hội của nông dân, đặc biệt là việc thu hồi đất nông nghiệp để phát triển các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ và thương mại Kết quả là, diện tích đất nông nghiệp đang giảm mạnh từ năm trước đó.
Từ năm 2000 đến 2005, tỷ lệ mất đất nông nghiệp tăng mạnh và tiếp tục giảm mạnh đến năm 2010 Đến năm 2006, có 36% hộ gia đình bị mất đất nông nghiệp do đô thị hóa và tích tụ ruộng đất Mặc dù vậy, tỷ lệ người làm thuần nông vẫn ở mức cao, đạt 65,6%, trong khi số người làm nghề phi nông nghiệp vẫn chưa đủ đáng kể.
Tại khu vực nông thôn, tỷ lệ người làm nghề thuần túy kinh doanh và dịch vụ chỉ chiếm 2,3%, trong khi đó, 32,1% là người làm nghề hỗn hợp, dẫn đến mức thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt khoảng 3,9 triệu đồng/năm (theo điều tra tháng 5,6 năm 2006) Sự gia tăng số người thất nghiệp đã buộc nhiều người phải di cư vào các đô thị để tìm kiếm thu nhập Bên cạnh đó, sự phát triển của khoa học công nghệ và cơ giới hóa đã làm thay đổi cơ cấu nghề nghiệp và xã hội ở nông thôn Việc áp dụng máy móc trong sản xuất nông nghiệp, nhờ vào việc dồn ô đổi thửa, đã tạo điều kiện cho việc sử dụng máy cày và máy bừa trên những thửa ruộng lớn Chính quyền địa phương đã nhận thức được tầm quan trọng của việc phân chia đất đai hợp lý Nghiên cứu này chỉ ra rằng đô thị hóa là yếu tố chủ yếu thúc đẩy sự chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp và cải thiện đời sống của người dân, đặc biệt là nông dân.
Đô thị hóa có tác động sâu sắc đến lao động và việc làm, đặc biệt là trong khu vực ven đô Luận văn thạc sỹ với đề tài “Sự chuyển đổi việc làm của cư dân ven đô dưới tác động của quá trình đô thị hóa” nghiên cứu trường hợp tại phường Tân Tạo A, quận Tân Bình, nhằm làm rõ những thay đổi trong cơ cấu việc làm và ảnh hưởng đến đời sống của người dân trong bối cảnh đô thị hóa ngày càng gia tăng.
Đô thị hóa đã làm thay đổi cuộc sống của người dân thông qua việc phát triển kinh tế - xã hội, tạo cơ hội tiếp cận nhiều nguồn việc làm khác nhau Xu hướng chuyển đổi từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp là một điều tất yếu, ảnh hưởng trực tiếp đến các hộ gia đình và mang lại cơ hội cho các thành viên trong gia đình, đặc biệt là thế hệ trẻ Tuy nhiên, khả năng chuyển đổi việc làm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó trình độ học vấn và tay nghề của người lao động là điều kiện quan trọng để hội nhập và chuyển đổi nghề nghiệp hiệu quả Cản trở lớn nhất hiện nay vẫn là trình độ học vấn và tay nghề của người lao động tại chỗ Nghiên cứu này góp phần làm sáng tỏ các yếu tố tác động đến cơ cấu lao động khu vực nông thôn, đặc biệt tại tỉnh Bình Phước.
Một nghiên cứu được trích từ Gia đình nông thôn Việt Nam trong chuyển đổi, (2008) đề cập đến: “Những chuyển đổi trong mô hình lao động và việc làm”
Nghiên cứu của Lê Ngọc Lân tại Yên Bái chỉ ra rằng chỉ thị 100 về cải tiến quản lý nông thôn đã tạo ra những xung lực mới cho khu vực này Sức lao động của người nông dân đã được “cởi trói”, giúp giải phóng tiềm năng lao động và khuyến khích tính năng động xã hội trong việc tự tạo, sắp xếp và phát triển việc làm cho các gia đình nông dân Điều này được củng cố thêm bởi nghị quyết 10 của Bộ Chính trị.
Năm 1988, chính sách đổi mới cơ chế khoán trong nông nghiệp đã dẫn đến sự tan rã của nhiều hợp tác xã ngành nghề ở nông thôn, khiến lực lượng lao động tiểu thủ công nghiệp quay trở lại với nông nghiệp Lao động nông thôn bắt đầu tìm kiếm cơ hội việc làm mới ngoài địa bàn cư trú Theo tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn và thủy sản năm 2001, cơ cấu ngành nghề ở khu vực nông thôn đã có sự chuyển biến tích cực, với tỷ trọng hộ công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tăng lên, trong khi tỷ trọng hộ nông nghiệp giảm Cụ thể, tỷ lệ hộ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng năm 2001 đạt 5,8%.
Mục tiêu chung
Nghiên cứu này nhằm khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến cơ cấu lao động tại khu vực nông thôn tỉnh Bình Phước Mục tiêu là đề xuất những giải pháp nhằm cải thiện và chuyển dịch cơ cấu lao động ở đây theo hướng tích cực hơn.
Mục tiêu cụ thể
Thứ nhất: Xem xét đặc điểm cơ cấu lao động khu vực nông thôn tỉnh Bình
Phước từ năm 2009 đến nay
Thứ hai: Qua nghiên cứu đề tài tập trung tìm hiểu những yếu tố tác động đến cơ cấu lao động khu vực nông thôn tỉnh Bình Phước
Dự báo xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động tại tỉnh Bình Phước là cần thiết để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế Bài viết sẽ đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ cấu lao động theo hướng tích cực, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của tỉnh.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Với những mục tiêu nghiên cứu như đã nêu trên, đề tài hướng đến thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu bối cảnh kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội tại tỉnh Bình Phước, huyện Đồng Phú và xã Đồng Tiến
- Khảo sát những đặc điểm nhân khẩu học và đặc điểm về việc làm của các hộ gia đình tại địa bàn nghiên cứu
- Tìm hiểu đặc điểm cơ cấu lao động khu vực nông thôn tỉnh Bình Phước giai đoạn 2009-2013
- Tìm hiểu những yếu tố tác động đến cơ cấu lao động khu vực nông thôn tỉnh Bình Phước
- Dự báo xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động khu vực nông thôn tỉnh Bình Phước
Để thúc đẩy cơ cấu lao động tỉnh Bình Phước chuyển dịch tích cực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cần triển khai các giải pháp như tăng cường đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu thị trường, khuyến khích đầu tư vào công nghệ mới, và phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn Đồng thời, cần tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp khởi nghiệp và mở rộng quy mô sản xuất, từ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và gia tăng giá trị gia tăng trong sản xuất.
Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Những yếu tố tác động đến cơ cấu lao động ở khu vực nông thôn Tỉnh Bình Phước.
Khách thể nghiên cứu
Nghiên cứu này tập trung vào các hộ gia đình tại xã Đồng Tiến, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước, với đối tượng khảo sát là chủ hộ hoặc lao động chính trong gia đình Để đảm bảo tính xác thực và đầy đủ của dữ liệu, nghiên cứu cũng thu thập thông tin từ đại diện các cơ quan đoàn thể và chính quyền địa phương.
Phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chính của đề tài là nghiên cứu định lượng, kết hợp với việc sử dụng các dữ liệu thống kê sẵn có để đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của kết quả.
Sử dụng dữ liệu thứ cấp và phương pháp nghiên cứu định tính, bài viết phân tích nguồn gốc, nguyên nhân, và các yếu tố tác động đến cơ cấu lao động ở khu vực nông thôn Qua đó, đánh giá các yếu tố tích cực và tiêu cực, đồng thời đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm cải thiện tình hình lao động trong khu vực này.
Kỹ thuật nghiên cứu
7.2.1 Phương pháp thu thập thông tin
Phương pháp nghiên cứu chính của đề tài là nghiên cứu định lượng, nhằm thu thập, xử lý và phân tích thông tin định lượng cùng dữ liệu thống kê sẵn có Đề tài sẽ mô tả đặc điểm cơ cấu lao động khu vực nông thôn tỉnh Bình Phước và xác định các yếu tố tác động đến cơ cấu lao động tại đây Qua đó, nghiên cứu cung cấp cái nhìn tổng quan về vấn đề và dự báo xu hướng biến đổi trong tương lai.
Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến cơ cấu lao động ở khu vực nông thôn Qua đó, bài viết đưa ra những đánh giá thực tế về các yếu tố tích cực và hạn chế trong quá trình tác động, đồng thời khuyến nghị các giải pháp phù hợp.
Kỹ thuật nghiên cứu
7.3 1 Kỹ thuật thu thập thông tin
Thu thập thông tin định lượng: đề tài sử dụng phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi đối với các hộ ở địa bàn khảo sát
Thu thập thông tin định lượng: sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu
Do hạn chế về thời gian và ngân sách nghiên cứu, cũng như khó khăn trong việc thu thập thông tin, đề tài đã chọn mẫu phi xác suất cho phần định lượng Để thu thập thông tin định lượng, tác giả đã áp dụng kỹ thuật khảo sát qua bảng hỏi, bao gồm hai phần: phần đầu tiên tập trung vào đặc điểm nhân khẩu học và thông tin việc làm của các thành viên trong hộ, trong khi phần thứ hai cung cấp thông tin về mức sống, điều kiện sinh hoạt, nhà ở và đất đai của hộ.
Mẫu nghiên cứu là các hộ dân có tên trong danh sách hộ của xã Đồng Tiến, phương pháp chọn mẫu như sau:
Địa bàn nghiên cứu được chọn là xã Đồng Tiến, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước, nơi có những đặc điểm tiêu biểu của nông thôn Bình Phước và thuận lợi cho việc thu thập thông tin Tác giả đã chọn 5 ấp để khảo sát, bao gồm ấp Một, ấp Ba, ấp Bốn, ấp Cầu Hai và ấp Suối Binh, trong tổng số 9 ấp của xã Đồng Tiến Tác giả cũng đã liên hệ với chính quyền địa phương để lấy danh sách hộ dân thuộc 5 ấp này.
Từ 5 ấp được chọn, tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên với dung lượng mẫu là 150 hộ, với bước nhảy là k = 13 (Tổng số hộ của 5 ấp được chọn để khảo sát là 1985 Trong đó, ấp Một có 388 hộ, ấp Hai có 382 hộ, đội ấp Ba có
437 hộ, ấp Suối Binh có 286, và ấp Cầu Hai có 402 hộ), số hộ rơi vào mẫu như sau:
Trong nghiên cứu, tổng cộng có 152 hộ được khảo sát, bao gồm 29 hộ ở ấp Một, 29 hộ ở ấp Bốn, 30 hộ ở ấp Cầu Hai, 30 hộ ở ấp Ba và 34 hộ ở ấp Suối Binh, tăng 2 hộ so với kích thước mẫu ban đầu Để thu thập thông tin định tính, tác giả đã tiến hành phỏng vấn sâu với đại diện UBND xã Đồng Tiến, các tổ chức chính trị - xã hội và đại diện hộ dân.
Bài viết thực hiện bốn cuộc phỏng vấn sâu với các đại diện chính quyền tại xã Đồng Tiến, bao gồm Phó Chủ tịch Văn hóa – xã hội, Chủ tịch Hội Nông dân, Chủ tịch Hội Phụ nữ và Bí thư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.
- Hai cuộc phỏng vấn sâu đối với các đối tượng là trưởng ấp: trưởng ấp Cầu Hai và trưởng ấp Một
- Ba cuộc phỏng vấn sâu đối với các đối tượng là đại diện các hộ dân
Ngoài các phương pháp nghiên cứu chính, tác giả áp dụng phương pháp điền dã trong Nhân học, bao gồm cả kỹ thuật quan sát có tham dự và không tham dự.
Tác giả áp dụng phương pháp phân tích tư liệu sẵn có từ các công trình nghiên cứu liên quan đến lao động, việc làm, cơ cấu lao động-nghề nghiệp, đời sống và tâm lý của các hộ dân Bên cạnh đó, các nghiên cứu về nông thôn và tài liệu liên quan đến địa bàn nghiên cứu cũng được xem xét Qua đó, tác giả thu thập thêm thông tin, cơ sở lý luận và dữ liệu cần thiết cho quá trình thực hiện đề tài.
Kỹ thuật xử lý và phân tích thông tin bao gồm việc xử lý dữ liệu định lượng thu thập qua khảo sát bằng bảng hỏi, sử dụng phần mềm SPSS 13.0 sau khi mã hóa và nhập liệu Đối với thông tin định tính, được thu thập thông qua phỏng vấn sâu, các cuộc phỏng vấn sẽ được ghi âm, gỡ băng và chuyển thành biên bản phỏng vấn.
Tác giả tóm tắt các trường hợp phỏng vấn từ biên bản phỏng vấn sâu và văn bản, đồng thời mã hóa thông tin Đối với dữ liệu thứ cấp, thông tin định lượng được trình bày qua bảng biểu và biểu đồ thống kê, trong khi thông tin định tính được ghi chú và trích dẫn để phục vụ cho việc đối chiếu, so sánh và phân tích sâu hơn cho vấn đề nghiên cứu liên quan.