Thứ ba, đó là các công trình nghiên cứu giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và sự vận dụng trong giai đoạn hiện nay có các tác phẩm như: Hồ Chủ tịch, lãnh tụ kính yêu của
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS HÀ THIÊN SƠN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan đây là công trình do tôi nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của
TS Hà Thiên Sơn Đề tài luận văn không trùng lặp với bất kỳ đề tài nào nghiên cứu trước đây
Tp Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 09 năm 2014
Tác giả
NGUYỄN THỊ HỒNG HOA
Trang 4MỤC LỤC
Trang PHẦN MỞ ĐẦU 1 Chương 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ - XÃ HỘI, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHẨM CHẤT ĐẠO ĐỨC CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO 7
1.1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHẨM CHẤT ĐẠO ĐỨC CỦA NGƯỜI LÃNH
ĐẠO 7 1.1.1 Bối cảnh lịch sử thế giới và lịch sử xã hội Việt Nam những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về phẩm chất đạo đức của người lãnh đạo 7 1.1.2 Tiền đề hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về phẩm chất đạo đức của người lãnh đạo 20
1.2 NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN VỀ PHẨM CHẤT ĐẠO ĐỨC CỦA
NGƯỜI LÃNH ĐẠO TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 34 1.2.1 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về phẩm chất đạo đức của người lãnh đạo 34 1.2.2 Đặc điểm cơ bản về phẩm chất đạo đức của người lãnh đạo trong
tư tưởng Hồ Chí Minh 53 Kết luận chương 1 59 Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NẦNG CAO PHẨM CHẤT ĐẠO ĐỨC NGƯỜI LÃNH ĐẠO TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 61
2.1 THỰC TRẠNG PHẨM CHẤT ĐẠO ĐỨC CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO Ở
VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI HIỆN NAY 61 2.1.1 Những ưu điểm về phẩm chất đạo đức của người lãnh đạo 61 2.1.2 Những khuyết điểm về phẩm chất đạo đức của người lãnh đạo ở nước ta và những vấn đề đặt ra 67
2.2 Ý NGHĨA CỦA VIỆC NÂNG CAO ĐẠO ĐỨC NGƯỜI LÃNH ĐẠO VÀ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO PHẨM CHẤT ĐẠO ĐỨC NGƯỜI
LÃNH ĐẠO TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI HIỆN NAY 85 2.2.1 Vai trò của việc nâng cao đạo đức của người lãnh đạo trong thời
kỳ đổi mới hiện nay 85 2.2.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao phẩm chất đạo đức của người lãnh đạo đáp ứng yêu cầu đổi mới đất nước hiện nay 91 Kết luận chương 2 107
Trang 5KẾT LUẬN 110 TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, được bắt nguồn từ tồn tại xã hội
và phản ánh tồn tại xã hội Đặc biệt, nó gắn liền với con người và xã hội loài người, nó có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống xã hội, tác động đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội Dân tộc Việt Nam, từ ngàn xưa đã hiểu rõ vai trò của đạo đức và do vậy đã rất coi trọng đạo đức – cho rằng đạo đức
là một tiêu chuẩn của phát triển xã hội bền vững
Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam hiện đại, di sản tư tưởng về đạo đức, về đạo đức cách mạng, về đạo đức cán bộ, lãnh đạo của Người giữ một vị trí đặc biệt to lớn, vô giá trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam Khẳng định vị trí, vai trò vô cùng quan trọng của đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
Hồ Chí Minh cho rằng: “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém”[53, 240] Theo Người, “Một người cán bộ tốt phải có đạo đức cách mạng”[53, 233] Như vậy, cho thấy Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề đạo đức của người lãnh đạo và việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư nhằm xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, nhà nước của dân, do dân và vì dân
Sau hơn 25 năm thực hiện sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước đang chuyển mình và đạt nhiều thành tựu to lớn Góp phần vào những thắng lợi ấy, phải kể đến vai trò to lớn của đội ngũ cán bộ lãnh đạo Bởi lẽ, đây
là những người trực tiếp lãnh đạo, tổ chức, hướng dẫn nhân dân thực hiện những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực thì với mặt trái của cơ chế thị trường, cùng với sự chống phá của các thế lực thù địch và sự yếu kém trong công tác giáo dục tư tưởng, lý luận, rèn luyện đạo đức cách mạng, việc coi nhẹ tu dưỡng bản thân, trong những năm vừa qua ở nước ta đã dẫn đến tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên được các kỳ Đại hội và hội
nghị Trung ương nhìn nhận một cách thẳng thắn và nghiêm túc Đại hội đại biểu
Trang 7toàn quốc lần thứ VIII đánh giá: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên
thiếu tu dưỡng bản thân, phai nhạt lý tưởng, mất cảnh giác, giảm sút ý chí, kém ý thức tổ chức kỷ luật, sa đọa về đạo đức lối sống” và “Điều đáng lo ngại không ít cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng cách mạng, tha hoá về phẩm chất đạo đức”
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta đã đánh giá sự sa sút về tư tưởng
chính trị, đạo đức lối sống diễn ra nghiêm trọng hơn: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, giáo điều, bảo thủ, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận không
nhỏ cán bộ, công chức còn diễn ra nghiêm trọng” Gần đây nhất là Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã chỉ ra những hạn chế, yếu kém: “Tình trạng suy
thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán
bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn và đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp” Điều này làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, tác động tiêu cực đến tiến trình đổi mới đất nước
Trước tình hình đó, việc tăng cường giáo dục, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức của người cán bộ lãnh đạo là việc làm cần thiết và cấp bách Nhằm giải quyết thực trạng trên chúng ta cần quay lại nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh - cơ sở lý luận soi đường cho cách mạng Việt Nam Nghiên cứu tư tưởng
Hồ Chí Minh về phẩm chất đạo đức của người lãnh đạo giúp chúng ta hiểu rõ hơn những chuẩn mực, những phẩm chất đạo đức của người lãnh đạo cần có Từ
đó vận dụng củng cố, nâng cao phẩm chất đạo đức của người lãnh đạo trong quá trình đổi mới đất nước hiện nay, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” Xuất phát từ những lý
do trên mà người viết đã lựa chọn vấn đề: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về phẩm
chất đạo đức của người lãnh đạo” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài
Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài của cách mạng Việt Nam, là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới Tư tưởng của Người trở thành
Trang 8tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc Việt Nam Tư tưởng Hồ Chí Minh được quan tâm nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện và sâu sắc
Nhìn chung các đề tài viết về tư tưởng Hồ Chí Minh đã được không ít các học giả, các nhà khoa học quan tâm và tìm hiểu, với các công trình nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau, nhưng tựu trung chúng ta có thể khái quát lại thành các chủ đề nghiên cứu sau :
Thứ nhất, đó là các công trình nghiên cứu về nguồn gốc và quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh Tiêu biểu là một số tác phẩm: Danh nhân Hồ Chí Minh, Nxb Hà Nội (2 tập) 2000; Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2004; Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội (10 tập) 2005 Các công trình trên, các tác giả đã phân tích sâu sắc, làm rõ nguồn gốc và quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh Ngoài ra còn nhiều tác phẩm và công trình nghiên cứu khác cũng đề cập đến nội dung này đã được tác giả sử dụng, tham khảo
Thứ hai, đó là các công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung
và đạo đức cách mạng nói riêng có các tác phẩm: Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn
đề đạo đức cách mạng, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội 1986; Đề tài KX02 - 08,
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh của PGS.TS Nguyễn Văn Truy, Hà Nội 1994;
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của Thành Duy, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996; Sáng ngời đạo đức Hồ Chí Minh của Tạ Hữu Yên, Nxb Thanh niên,
Hà Nội 2001; Bác Hồ với sự nghiệp trồng người của Phan Hiền, Nxb Trẻ, Tp HCM 2002; Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức mới của Thanh Lê, Nxb Thanh niên 2004; Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, (12 tập) Hà Nội 2004; Bác Hồ sống mãi với chúng ta (hồi ký), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội (2 tập); Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của Đinh Xuân Dũng, Nxb Giáo dục
2008 Đây là những tác phẩm có độ tin cậy cao bởi đã được nhiều tác giả, nhiều nhà khoa học uy tín nghiên cứu, sưu tầm và biên soạn Nội dung của các tác phẩm này đã được các tác giả đi sâu phân tích làm rõ về đạo đức cách mạng của
Trang 9Hồ Chí Minh, đồng thời cũng đã đánh giá vai trò to lớn của nó đối với sự nâng cao đạo đức của con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Thứ ba, đó là các công trình nghiên cứu giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về
đạo đức cách mạng và sự vận dụng trong giai đoạn hiện nay có các tác phẩm
như: Hồ Chủ tịch, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam của Trường chinh, Nxb Sự thật, Hà Nội 1970; Sự biến đổi các thang giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý ở nước ta của Nguyễn Chí Mỳ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1999;
Tư tưởng Hồ Chí Minh về rèn luyện đạo đức cho cán bộ đảng viên của Phạm Quốc Thành, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2004; Học tập tư tưởng đạo đức
Hồ Chí Minh xây dựng nền văn hóa đạo đức ở nước ta hiện nay của Thành Duy,
Lê Đức Quý Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội 2007; Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh về việc giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay của TS Hoàng Trang
- TS Phạm Ngọc Anh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2008; Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng phong cách làm việc của cán bộ lãnh đạo, quản lý nước ta hiện nay của Nguyễn Thế Thắng, Nxb Chính trị quốc gia 2010; Giá trị di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay của PGS.TS Bùi Đình Phong; Tỏa sáng tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh của TS Văn Thị Thanh Mai
Nhìn chung, các tác phẩm trên đã phân tích, làm rõ giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh
về đạo đức của người cách mạng và sự vận dụng sáng tạo tư tưởng này trong việc giáo dục đạo đức đối với từng đối tượng, lĩnh vực cụ thể
Người viết cũng tham khảo một số luận văn đáng chú ý: Luận văn thạc sĩ
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức đối với việc định hướng phát triển nhân cách con người Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Thế Anh (2008); Luận văn thạc sĩ “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức với việc giáo dục đạo đức mới ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Lê Thị Túy Na (2011); Luận văn thạc sĩ “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và việc giáo dục đạo đức cách mạng trong lực lượng vũ trang hiện nay” của tác giả Nguyễn Quế Diệu (2011); Luận văn thạc sĩ “Tư tưởng Hồ Chí Minh về chống tham ô lãng phí và những bài học
Trang 10đối với việc chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Quỳnh
Anh (2011)
Bên cạnh đó còn có khá nhiều tác phẩm chuyên khảo, các bài báo đăng trên các tạp chí uy tín bàn về vấn đề này Trong đó nổi bật là các tác phẩm của các tác giả như: Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Duy Quý, Đỗ Huy, Song Thành, Bùi Đình Phong, Nguyễn Thế Thắng, Đặng Xuân Kỳ, Mạch Quang Thắng Nội dung của các tác phẩm, tác giả này đã góp phần quan trọng vào việc phổ biến tư tưởng Hồ Chí Minh về phẩm chất đạo đức của người cán bộ lãnh đạo và giải quyết một phần đòi hỏi cấp thiết của đời sống văn hóa chính trị hiện nay đặt ra cho chúng ta
Như vậy, có thể thấy đã có không ít công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và sự vận dụng của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới hiện nay Kết quả của những công trình này được người viết kế thừa và phát triển trong đề tài Tuy nhiên, vấn đề tư tưởng Hồ Chí Minh về phẩm chất đạo đức của người lãnh đạo chưa có một công trình nào thật sự đi sâu, nghiên cứu một cách có hệ thống Do đó, trên cơ sở kế thừa và phát triển kết quả của các công trình nghiên cứu trên, người viết đã tiếp tục tìm hiểu và làm rõ nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về phẩm chất đạo đức của người lãnh đạo, để từ
đó rút ra ý nghĩa của tư tưởng trong việc nâng cao phẩm chất đạo đức của người lãnh đạo trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích của đề tài
Đề tài nhằm làm sáng tỏ những nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về phẩm chất đạo đức của người lãnh đạo Từ đó rút ra ý nghĩa đối với việc nâng cao
phẩm chất đạo đức của người lãnh đạo trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam hiện nay
Nhiệm vụ của đề tài
Để đạt được những mục đích trên, đề tài phải hoàn thành những nhiệm vụ
cơ bản sau:
Trang 11Thứ nhất, trên cơ sở trình bày những điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị,
xã hội - cơ sở hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về phẩm chất đạo đức của người lãnh đạo, đề tài tập trung phân tích làm rõ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về phẩm chất đạo đức của người lãnh đạo
Thứ hai, trình bày, phân tích thực trạng đạo đức của đội ngũ cán bộ lãnh
đạo trong giai đoạn hiện nay Từ đó, làm rõ vai trò của đạo đức người lãnh đạo đối với sự nghiệp đổi mới đất nước Trên cơ sở phân tích thực trạng đạo đức của người lãnh đạo, đề tài đưa ra giải pháp góp phần nâng cao phẩm chất đạo đức của người lãnh đạo đáp ứng yêu cầu đổi mới đất nước hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài được thực hiện trên cơ sở, lập trường thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời trong quá trình thực hiện đề tài, người viết đã sử dụng một số phương pháp khoa học liên quan đến đề tài như: phương pháp lịch sử và logic, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp diễn dịch và quy nạp, so sánh đối chiếu
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa về mặt khoa học, đề tài góp phần làm sáng tỏ những nội dung cơ
bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phẩm chất đạo đức của người lãnh đạo và ý nghĩa của nó trong việc nâng cao phẩm chất đạo đức của người lãnh đạo đáp ứng yêu cầu đổi mới đất nước hiện nay
Ý nghĩa về mặt thực tiễn, đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho
việc nghiên cứu, giảng dạy môn tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường cao đẳng và đại học và làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu những công trình tiếp theo về lĩnh vực này
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm
có 2 chương, 4 tiết
Trang 12Chương 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ - XÃ HỘI, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG
CƠ BẢN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHẨM CHẤT ĐẠO ĐỨC CỦA
NGƯỜI LÃNH ĐẠO
1.1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ
TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHẨM CHẤT ĐẠO ĐỨC CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO 1.1.1 Bối cảnh lịch sử thế giới và lịch sử xã hội Việt Nam những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
về phẩm chất đạo đức của người lãnh đạo
Ở mỗi thời đại đều có những đặc điểm lịch sử riêng và sẽ sinh ra anh hùng với những phẩm chất và năng lực riêng để gánh vác những sứ mệnh lịch sử mà thời đại đó đặt ra V.I.Lênin đã khẳng định: “Trong lịch sử chưa hề có giai cấp nào giành được quyền thống trị nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đội tiên phong có đủ khả năng tổ chức
và lãnh đạo phong trào” [70, 473] Vai trò của vị lãnh tụ chính trị vô cùng quan trọng để mở đường, dẫn lối và lãnh đạo phong trào cách mạng giành thắng lợi
Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành trong những điều kiện lịch sử - xã hội
cụ thể trong thời đại Người đã sống và hoạt động Khác với những người đi trước, Hồ Chí Minh đã thành công khi tìm ra con đường cứu nước, con đường cách mạng đúng đắn cho dân tộc Việt Nam, giành độc lập dân tộc và tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội
Bất kỳ hệ thống tư tưởng nào cũng đều phản ánh tồn tại xã hội, trong lúc cách mạng Việt Nam đang bế tắc về đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo thì
tư tưởng Hồ Chí Minh ra đời và đã giải quyết được bế tắc ấy Tư tưởng Hồ Chí Minh ra đời do nhu cầu khách quan của thời đại và đã giải đáp được những đòi hỏi bức thiết của cách mạng Việt Nam trong bối cảnh lịch sử xã hội cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Trang 13Bối cảnh lịch sử thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, lịch sử thế giới có nhiều chuyển biến to lớn, báo hiệu một bước ngoặt vĩ đại trong tiến trình phát triển của nhân loại sắp diễn ra Cuối thế kỷ XIX, những phát minh mới trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật
trong giai đoạn này đã tạo nên bước ngoặt cho nền sản xuất tư bản chủ nghĩa -
nền sản xuất đại công nghiệp cơ khí Chủ nghĩa tư bản tạo ra lực lượng sản xuất lớn, làm thay đổi diện mạo của đời sống xã hội C.Mác và Ph.Ăngghen đánh giá: giai cấp tư sản trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế
hệ trước kia gộp lại
Chủ nghĩa tư bản chuyển dần từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền - đế quốc chủ nghĩa Giai đoạn này diễn ra vào những năm thập niên
70 của thế kỷ XIX và hoàn thành vào thời điểm trước chiến tranh lần thứ nhất (1914 - 1919) Tuy có nhiều sự khác biệt về tình hình nhưng bản chất của chủ nghĩa tư bản không hề thay đổi, nổi bật nhất vẫn là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất đã đạt đến trình độ xã hội hóa, chuyên môn hóa cao với việc chiếm hữu tư
nhân về tư liệu sản xuất, làm cho mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản ngày càng thêm gay gắt
Các tổ chức độc quyền sản xuất, nắm tiềm lực kinh tế và dần dần chi phối nền chính trị ở mỗi nước Để mở rộng sản xuất, mở rộng thị trường thu nhiều lợi nhuận, các nước tư bản mở rộng, tăng cường gây chiến tranh để xâm chiếm thuộc địa Phần lớn các nước châu Á, châu Phi, Mỹ La tinh đã trở thành thuộc địa và phụ thuộc của chúng Nhân dân các nước thuộc địa rơi vào vòng nô lệ, bị
các nước thực dân, đế quốc nô dịch Làm nảy sinh mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc với chủ nghĩa thực dân, đế quốc trở thành một mâu thuẫn hết sức sâu sắc của thời đại
Đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa đế quốc tăng cường xâm lược thuộc địa Lúc này, các cuộc chiến tranh thực dân và chiến tranh đế quốc diễn ra ác liệt Các nước tư bản dùng sức mạnh quân sự, chiếm đoạt thuộc địa của nhau, gây chiến
Trang 14tranh nhằm phân chia lãnh thổ trên thế giới Chúng tranh giành, xâu xé thuộc địa, đồng thời hùa nhau nô dịch các nước nhỏ yếu Bị áp bức bóc lột nặng nề, nhân dân các nước thuộc địa đã không ngừng đấu tranh chống đế quốc giành độc lập,
tự do, bất chấp giai cấp phong kiến thống trị trong nước đã từng bước đầu hàng, làm tay sai cho đế quốc Các cuộc đấu tranh giải phóng thuộc địa đã trở thành cuộc đấu tranh chung của các dân tộc thuộc địa chống đế quốc, đồng thời chúng cũng gắn liền với cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản quốc tế, nhưng chưa đủ sức làm rung chuyển nền móng vững chắc của hệ thống thuộc địa Khát vọng lớn
nhất của các dân tộc thuộc địa giai đoạn này là đấu tranh giải phóng dân tộc
Các phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới phát triển mạnh mẽ nhưng cho đến trước chiến tranh thế giới thứ nhất vẫn chưa ở đâu giành thắng lợi
Chủ nghĩa đế quốc đã xác lập sự thống trị của chúng trên phạm vi rộng lớn của thế giới, các thuộc địa lâm vào tình cảnh điêu đứng Chiến tranh lần thứ nhất bùng nổ, Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 thành công làm chấn động toàn thể địa cầu, lập ra nhà nước Nga Xô viết gây tiếng vang lớn và thu hút mọi
sự chú ý của các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước thuộc địa Ách áp bức
và thôn tính dân tộc nặng nề bao nhiêu thì sự phản kháng dân tộc của nhân dân
bị nô dịch cũng tăng lên bấy nhiêu Phương Đông thức tỉnh mà điển hình là cách
mạng ở Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia, v.v Thắng lợi của Cách mạng Tháng
Mười Nga đã đặt ra trước mắt các dân tộc một thời kỳ mới: thời kỳ đấu tranh chống đế quốc, giải phóng dân tộc và tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới Sự kiện Quốc tế cộng sản ra đời tháng 03 - 1919 càng làm
cho phong trào cách mạng thế giới thêm phát triển mạnh mẽ hơn nữa Các Đảng Cộng sản theo đó cũng lần lượt ra đời tại một số nước ở châu Âu và châu Á Trong bối cảnh đó, V.I Lênin đã phân tích tình hình cụ thể, phát triển chủ nghĩa Mác trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Lênin đã đưa ra lý luận mới về cách mạng vô sản, về chiến tranh và hòa bình, về nhà nước và cách mạng Sự thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga đã chứng minh rằng lý luận của
Lênin hoàn toàn đúng và phù hợp với xu thế của thời đại Đặc biệt, bản “Sơ thảo
Trang 15lần thứ nhất Luận cương về những vấn đề dân tộc và thuộc địa” để chuẩn bị cho
Đại hội Quốc tế Cộng sản II giữa năm 1920 của Lênin đã thu hút sự quan tâm lớn của các Đảng Cộng sản trên thế giới, trong đó có Nguyễn Ái Quốc Người đã nhận thức và lựa chọn con đường giải phóng dân tộc Việt Nam là đi theo cách mạng vô sản
Trong khi đó, tình hình ở châu Á mà đặc biệt là Trung Quốc và Nhật Bản cũng ảnh hưởng và có những tác động mạnh mẽ đến đời sống xã hội Việt Nam Đầu thế kỷ XX, Trung Quốc từ một nước phong kiến độc lập trở thành một nước phong kiến nửa thuộc địa Triều đình phong kiến Mãn Thanh vừa tăng cường đàn áp các cuộc đấu tranh trong nước, vừa nhượng bộ ngày càng nhiều hơn với đế quốc phương Tây Nhận thấy sự giống nhau của giai cấp phong kiến, Phan Bội Châu từng nói: “Triều đình chuyên chế chẳng có ai ra trò, Mãn Thanh với triều đình nhà Nguyễn ta cũng là một phường chó chết mà thôi” [13, 52 - 54] Khuynh hướng duy tân theo tư bản chủ nghĩa phương Tây phát triển mạnh
mẽ, đặc biệt trong giới trí thức xuất thân từ sĩ phu phong kiến tiến bộ hay giai cấp tư sản mới đã hình thành Phong trào Duy tân do Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu phát động tuy thất bại nhưng đã thức tỉnh tư tưởng yêu nước của nhân dân Trung Quốc Ý thức độc lập dân tộc chống ngoại xâm, dân chủ chống chuyên chế và trào lưu tư tưởng văn hóa tiến bộ phương Tây đã thâm nhập dần vào Trung Quốc Phong trào Duy tân ở Trung Quốc đã tạo điều kiện khách quan thuận lợi cho tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây vào Việt Nam
Nhật Bản, đầu thế kỷ XX đã bắt đầu chuyển sang giai đoạn đế quốc Trong giai đoạn Minh Trị lên ngôi (1868) đến chiến tranh Trung - Nhật (1894), Nhật Bản đã tạo nên một kỷ nguyên Minh Trị Duy tân, mở rộng nền dân chủ đại nghị, quyền bình đẳng trong nhân dân, mở cửa bang giao với quốc tế, đổi mới và phát triển đất nước Phong trào dân quyền và tự do của chính quyền Minh Trị (1868 - 1912) đã thể hiện sự kết hợp các giá trị truyền thống với tư tưởng cách tân, học tập phương Tây cả về kinh tế, kỹ thuật và văn hóa, tất cả đều được phản ánh trong sinh hoạt tư tưởng lúc bấy giờ
Trang 16Có thể thấy Nhật Bản đã thay da đổi thịt, phát triển mạnh mẽ từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở thành một nước tư bản với nền công nghiệp phát triển cao và hiện đại nhờ công cuộc Duy tân Minh Trị Chính nhờ tư tưởng cải cách Duy tân của đẳng cấp quý tộc tư sản hóa phù hợp với quy luật phát triển của thời đại đã giúp Nhật Bản giữ được độc lập dân tộc và thoát khỏi chế độ phong kiến lỗi thời Hiến pháp đầu tiên của Nhật ra đời, Nhật không những không bị rơi vào
số phận của các nước thuộc địa hay phụ thuộc vào tư bản phương Tây, mà còn tiến hành xâm lược các nước Châu Á, như Trung Quốc, Triều Tiên làm thuộc địa Chiến thắng của Nhật Bản trong cuộc chiến tranh Nga - Nhật (1904 - 1905)
đã có tác dụng cổ vũ một số nhà yêu nước của Việt Nam Họ hướng về một nước Nhật Bản “đồng văn, đồng chủng” tân tiến để cầu viện, nhờ giúp đỡ
Như vậy, tình hình thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX có tác động mạnh mẽ đến quá trình chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc lúc bấy giờ Chủ nghĩa tư bản phương Tây phát triển đến giai đoạn chủ nghĩa đế quốc và đã tiến hành xâm lược các dân tộc phương Đông trong đó có Việt Nam Các cuộc canh tân của Trung Quốc, Nhật Bản tạo ra sự biến đổi lớn lao về bộ mặt đất nước và chế độ chính trị, cùng với đó là tầm ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga và chủ nghĩa Mác - Lênin trong phạm vi toàn thế giới Những biến động lịch sử lớn lao này đã ảnh hưởng tích cực đến quá trình chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc, từ một thanh niên Việt Nam yêu nước trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên
Bối cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Việt Nam vào đầu thế kỷ XIX, trước năm 1858 vẫn là một nước phong kiến độc lập nhưng lại rất nghèo nàn, lạc hậu Nguyễn Ánh lên ngôi lập ra triều Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam Năm 1815, nhà Nguyễn
ban hành Gia Long Hoàng triều luật lệ tiếng là kế thừa Luật Hồng Đức, song
thực chất chủ yếu sao chép Luật Mãn Thanh của Trung Quốc, tăng cường phạm
vi và hình thức trừng trị tàn bạo, bất công nhằm bảo vệ nền chuyên chế Cùng với pháp luật hà khắc, quân đội đông đảo, tư tưởng Nho giáo bảo thủ tiếp tục
Trang 17kìm hãm nhân dân trong nền chuyên chế cực đoan làm mâu thuẫn giai cấp giữa địa chủ phong kiến với nông dân ngày càng gay gắt Các cuộc chiến tranh nông dân liên tiếp nổ ra bất chấp sự đàn áp thẳng tay của triều đình nhà Nguyễn Nhiều nhà canh tân, cải cách như Nguyễn Trường Tộ, Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ đưa ra những phương án đổi mới, cải cách đất nước không thua kém gì Nhật Bản và Trung Quốc nhưng cuối cùng cũng không được thực hiện
Trong lúc chính quyền phong kiến nhà Nguyễn đang trong thời suy tàn, mục ruỗng, thối nát thì thực dân Pháp ráo riết xâm lược Việt Nam Hậu quả của việc không thực hiện cải cách và duy trì chính sách bế quan tỏa cảng, quân quyền cực đoan của nhà Nguyễn đã dẫn đến sự thất bại nhanh chóng trước sự xâm lược của thực dân Pháp Giai cấp phong kiến vội vã phản bội quyền lợi dân tộc để đầu hàng Pháp, biến Việt Nam thành một nước thuộc địa nửa phong kiến, mất độc lập, tự do, và bị chia cắt làm nhiều mảnh Ngày 6 - 6 - 1884, bằng sự kiện ký kết Hiệp ước Patơnốt triều đình nhà Nguyễn đầu hàng thực dân Pháp, nhà nước phong kiến trở thành bộ máy bù nhìn, nước ta từ một nước phong kiến
độc lập trở thành nước thuộc địa, nửa phong kiến
Nhân dân vốn đã chịu cuộc sống nghèo nàn bởi nền kinh tế phong kiến lạc hậu, lại cõng thêm sự áp bức bóc lột tàn bạo của thực dân, họ bị bần cùng hóa và trở thành người dân mất nước với cuộc sống nô lệ, lầm than, khổ cực Thực dân Pháp thi hành thủ đoạn độc quyền kinh tế và bóc lột nhân dân ta với chế độ thuế khóa vô cùng nặng nề và vô lý Không những vậy, chúng còn thực hiện chính sách ngu dân, nô dịch, truyền bá văn hóa phương Tây, thủ tiêu dần các giá trị truyền thống Như vậy, xã hội Việt Nam vốn đã trị trệ hàng bao thế kỷ lại bị chế
độ thực dân kìm hãm trong vòng lạc hậu
Trong xã hội Việt Nam lúc này nổi bật hai mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và mâu thuẫn giữa nông dân với giai cấp phong kiến Nổi nhục lớn nhất của nhân dân Việt Nam lúc bấy giờ là mất nước, mất tự do Không những vậy, nhân dân còn bị xâm phạm về thân thể, chịu nhiều nhục hình, bị bóc lột, bị đối xử dã man, vô nhân đạo
Trang 18Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, vô cùng căm phẫn trước cảnh lầm than của người dân mất nước, sự thống trị ngày càng tàn bạo của thực dân Pháp và bè luc tay sai, các phong trào yêu nước chống Pháp diễn ra mạnh mẽ Điển hình là phong trào Cần Vương (1885 - 1896) do vua Hàm Nghi và Thượng thư bộ binh Tôn Thất Thuyết khởi xướng, ra lời kêu gọi văn thân sỹ phu và nhân dân trong nước nổi dậy đánh Pháp Đây được xem là tấm lòng yêu nước của những phần tử
ưu tú, tiến bộ nhất trong trong giai cấp phong kiến Phong trào Cần Vương có các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu như: Khởi nghĩa Bãi Sậy (1883 -1892) của Nguyễn Thiện Thuật; khởi nghĩa Ba Đình (1886 - 1887) của Phạm Bành và Đinh Công Tráng; khởi nghĩa Hương Khê (1885 - 1895) của Phan Đình Phùng… Giặc Pháp thực hiện nhiều thủ đoạn, kết hợp chặt chẽ hoạt động quân sự với chính trị, mua chuộc tay sai phá hoại phong trào Đến cuối năm 1895 về cơ bản phong trào yêu nước chống Pháp dưới ngọn cờ Cần Vương đã thất bại Nguyên nhân dẫn đến thất bại là do thiếu đường lối chính trị đúng đắn, không phù hợp với xu thế của thời đại và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam (mục tiêu là đánh đuổi thực dân giành độc lập để duy trì chế độ phong kiến đã lỗi thời) Đây cũng chính là sự thất bại và phá sản của ý thức hệ phong kiến với thứ chủ nghĩa dân tộc cô độc
Từ đầu thế kỷ XX, sau khi đã tổ chức bộ máy cai trị trên toàn khu vực Đông Dương, thực dân Pháp bắt tay vào khai thác thuộc địa để vơ vét tài sản, bóc lột sức lao động để thu nhiều lợi nhuận Cùng với việc tổ chức bộ máy hành chính cai trị chặt chẽ, chúng tăng cường bộ máy quân sự, sử dụng bè lũ tay sai với chính sách dùng người Việt trị người Việt, xây dựng lực lượng vũ trang với binh lính là người bản xứ để trấn áp phong trào yêu nước, bảo vệ và lấn chiếm thuộc địa Các nhà tù nhốt đầy những người yêu nước chống Pháp Sự phân hóa giai cấp ở Việt Nam ngày càng sâu sắc
Giai cấp công nhân, tư sản dân tộc, tiểu tư sản ra đời Các cuộc cải cách dân chủ tư sản ở Trung Quốc tác động vào Việt Nam làm cho phong trào yêu nước chống Pháp chuyển dần sang xu hướng dân chủ tư sản Mở đầu cho phong trào cách mạng dân chủ tư sản là phong trào Đông Du của Phan Bội Châu Ông
Trang 19là người đại diện theo xu hướng vũ trang bạo động, với đường lối chính trị và phương pháp cách mạng mới theo tấm gương Duy tân của Nhật Bản Tuy nhiên,
đến năm 1908, Pháp - Nhật cấu kết nhau, Nhật trục xuất các chiến sĩ Đông Du ra
khỏi nước đánh dấu sự tan rã giữa chừng của phong trào Nhiều phong trào khác như Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can, Nguyễn Quyền; phong trào Duy Tân của Phan Châu Trinh,… do các sĩ phu yêu nước lãnh đạo, nhưng do không phù hợp với xu thế lịch sử nên cuối cùng dẫn đến thất bại Tháng 12 năm
1907, Đông Kinh Nghĩa Thục bị đóng cửa; tháng 04 năm 1908, cuộc biểu tình chống thuế ở miền Trung bị đàn áp mạnh mẽ; tháng 01 năm 1909, căn cứ Yên Thế bị đánh phá; phong trào Đông Du bị tan rã, Phan Bội Châu bị trục xuất khỏi nước vào tháng 02 năm 1909; Trần Qúy Cáp, Nguyễn Hằng Chi - lãnh tụ phong trào Duy Tân ở miền Tây bị chém đầu… Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Đặng Nguyên Cần bị đày ra Côn Đảo Cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp giành độc lập cho dân tộc vẫn chưa tìm được con đường đấu tranh đúng đắn Thực dân Pháp tăng cường khai thác thuộc địa, kéo theo đó là sự ra đời và tăng nhanh về số lượng của giai cấp công nhân Việt Nam Đa số công nhân Việt Nam xuất thân từ nông dân nên có mối quan hệ gắn bó tự nhiên với nông dân, bị
ba tầng áp bức bóc lột của thực dân, phong kiến và tư sản nên họ sớm có tinh thần đấu tranh chống lại sự áp bức, nô dịch Họ đã nhanh chóng trở thành chủ thể lịch sử và từng bước thể hiện sứ mệnh lịch sử của mình Họ đấu tranh bằng nhiều hình thức, từ bỏ chốn tập thể, công khai bỏ việc, đấu tranh bạo lực kết hợp với phong trào yêu nước, tố cáo, khiếu cáo, míttinh tới phát động đình công, bãi công Chỉ trong hai năm 1904 - 1905 đã có 10 cuộc đấu tranh của công nhân Các cuộc đấu tranh của công nhân liên tiếp diễn ra trong những năm tiếp theo, đến năm 1909 đã xuất hiện yếu tố đấu tranh chính trị của công nhân viên hãng Liên hiệp thương mại Đông Dương Tuy nhiên, do chưa có lý luận tiên tiến dẫn đường nên các cuộc đấu tranh chỉ dừng lại ở trình độ tự phát
Như vậy, cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, cách mạng Việt Nam đang lâm vào thời kỳ khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo cách
Trang 20mạng Cách mạng Việt Nam vẫn rơi vào bế tắc Giai cấp phong kiến đã mất dần vai trò lịch sử của mình, những sỹ phu yêu nước lãnh đạo phong trào bị hạn chế bởi điều kiện giai cấp và thời đại Phong trào công nhân còn mang tính tự phát, đơn lẻ Sứ mệnh đặt ra cho dân tộc, cho mỗi người dân yêu nước Việt Nam khi
đó là phải tìm ra con đường cứu nước, cứu dân thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp và bè lũ tay sai, giành độc lập cho dân tộc, đem lại cuộc sống ấm no, tự
do cho người dân
Trước sự áp bức, bóc lột dã man của thực dân Pháp và sự bế tắc của cách mạng Việt Nam đã thôi thúc Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước Người đã quyết định hướng đi mới sang các nước phương Tây, nơi có
tư tưởng tự do, dân chủ và khoa học kỹ thuật hiện đại Với trí tuệ thiên tài và tầm nhìn thời đại, Người không dẫm lên vết xe đổ của các bậc tiền bối, không sang Nhật Bản, Trung Quốc như nhiều thanh niên khác mà tự đi tìm hướng đi cho riêng mình Và chính nhờ xác định đúng hướng đi, bằng sức lao động của bản thân, bằng lòng tin, ý chí và nhiệt huyết của mình, bằng việc xâm nhập vào quần chúng lao động đã giúp Người trở thành người Việt Nam yêu nước đầu tiên tìm thấy con đường giải phóng đúng đắn cho cách mạng Việt Nam Bằng tài thao lược của mình, Hồ Chí Minh đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi, giành được độc lập cho dân tộc
Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2 - 9 - 1945 Chủ tịch Hồ Chí
Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa Vừa ra đời nước ta đã đương đầu với muôn vàn khó khăn, thách thức: nạn đói khủng khiếp và lũ lụt lớn xảy ra ở Bắc bộ, các hậu quả do thực dân Pháp - Nhật để lại như kinh tế trống rỗng, mọi ngành sản xuất bị đình đốn, các tệ nạn cờ bạc, trộm cắp, hút sách bùng phát… Bên cạnh đó là nạn mù chữ với hơn 90% dân ta mù chữ, lực lượng cán bộ quản lý vừa thiếu lại vừa yếu; giữa lúc ấy ở miền Bắc hơn 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch tràn vào Chúng mượn cớ là giải giáp quân Nhật nhưng thực tế là tay sai của Mỹ, thi hành âm mưu thâm độc của
Mỹ là tiêu diệt Đảng Cộng sản Việt Nam, phá tan Việt Minh và lật đổ chính
Trang 21quyền nhân dân, thành lập chính phủ bù nhìn làm tay sai cho chúng Ở miền Nam quân đội Anh kéo đến với danh nghĩa quân đồng minh giải giáp quân đội Nhật nhưng thực tế là mở đường cho thực dân Pháp cướp lại nước ta Trước tình hình ấy, ban thường vụ Trung ương Đảng và chính phủ lâm thời đã đề ra những nhiệm vụ và biện pháp cấp bách để bảo vệ và xây dựng đất nước Ngày 25 - 11 -
1945, Ban Chấp hành Trung ương ra chỉ thị quan trọng Kháng chiến cứu quốc,
xác định nhiệm vụ chiến lược, nhiệm vụ trước mắt và chính sách lớn để chỉ đạo hành động của toàn Đảng, toàn dân trong cuộc đấu tranh giành độc lập tự do, bảo
vệ chế độ mới
Muốn hoàn thành các nhiệm vụ đó, Đảng và Chính phủ phải tăng cường,
mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc, xây dựng và củng cố đất nước về mọi mặt:
chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa - xã hội, ngoại giao; chống giặc ngoại xâm
gắn liền với chống giặc đói, giặc dốt Việc cũng cố, rèn luyện và xây dựng một đội ngũ cán bộ cách mạng trong sạch, vững mạnh làm nòng cốt là hết sức cần thiết và cấp bách Với tư cách là người lãnh đạo và quản lý điều hành cao nhất đất nước, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề cán bộ Điều này được thể hiện
trong nhiều bài viết của Người trong giai đoạn 1945 - 1946, tiêu biểu là Thư gửi
các đồng chí tỉnh nhà (17 - 9 - 1945), Thư gửi ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng (17 - 10 - 1945), Lời khuyên anh em viên chức (17 - 1 - 1946)…
Thông qua các tác phẩm đó, Người nhắc nhở cán bộ, đảng viên tu dưỡng rèn luyện để xứng đáng là những “công bộc của dân” Đồng thời, Người thẳng thắn vạch ra “những lầm lỗi rất nặng nề” trong một số cán bộ, đó là các căn bệnh như trái phép, cậy thế, hủ hóa, chia rẽ… Người tỏ thái độ nghiêm khắc: Ai đã phạm những lầm lỗi đó, thì phải hết sức sửa chữa; nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung
Thực dân Pháp không ngừng mở rộng chiến tranh xâm lược nước ta Vì cần thời gian hòa bình để kiến thiết đất nước Việt Nam đã nhân nhượng khi ký Hiệp định Sơ bộ ngày 6 - 3 - 1946 và Tạm ước ngày 14 - 9 - 1946 Song, chúng
ta càng nhân nhượng thì thực dân Pháp càng lấn tới, chúng không ngừng khiêu
Trang 22khích và đẩy mạnh đánh chiếm các thành phố Hải Phòng, Lạng Sơn, Đà Nẵng Ngày 18 - 12 - 1946, thực dân Pháp gửi tối hậu thư đòi tước vũ khí tự vệ Thủ đô
và cự tuyệt việc tiếp xúc, đàm phán với đại biểu nước ta
Tình thế khẩn cấp đó đòi hỏi Đảng, Nhà nước, mà đứng đầu là Chủ tịch
Hồ Chí Minh phải có sự lựa chọn lịch sử để xoay chuyển vận mệnh đất nước
đang lâm nguy Ngày 12 - 12 - 1946 Ban thường vụ Trung ương Đảng đã có Chỉ thị toàn dân kháng chiến Ngày 18 và 19 - 12 - 1946, Ban thường vụ Trung ương
Đảng họp mở rộng với sự chủ trì của Hồ Chí Minh đã phát động cuộc kháng
chiến toàn quốc chống thực dân Pháp Ngày 20 - 12 - 1946, Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến Đầu năm 1947, đồng chí Trường Chinh viết tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi Đáp lại lời kêu gọi nhân dân cả nước đã
anh dũng đấu tranh với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”
Tháng 10 - 1947, thực dân Pháp tập trung hai vạn quân mở cuộc tấn công quy mô lớn lên Việt Bắc nhằm mục đích phá tan vùng căn cứ kháng chiến của cả nước Nhưng dưới chỉ thị của Trung ương Đảng, quân và dân ta đã đánh tan cuộc tiến công của thực dân pháp, đã giáng cho chúng một đòn nặng nề Với thất bại trong cuộc chiến ở Việt Bắc thực dân Pháp đã chuyển chiến lược từ mở rộng phạm vi sang củng cố những vùng chúng chiếm đóng được, ra sức củng cố ngụy quyền và tranh thủ viện trợ của Mỹ, thực hiện chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”
Trước âm mưu thâm độc của kẻ thù, để có thể giành thắng lợi trong cuộc chiến chúng ta cần phải có một hậu phương vững mạnh, đáp ứng yêu cầu chi viện sức người, sức của và cả tinh thần Do vậy, Hội nghị mở rộng của Trung
ương Đảng tháng 1 - 1948 và các Hội nghị cán bộ lần thứ tư (5 - 1948), lần thứ 5
(8 - 1948) và lần thứ sáu (1 - 1949), chủ trương củng cố đất nước về mọi mặt:
quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội… Trong lò lửa kháng chiến, Đảng đã
tuyển được các cán bộ được rèn luyện qua thử thách tăng cường cho Đảng, làm cho bộ máy của Đảng từ cơ sở đến trung ương hoạt động thông suốt, đáp ứng được yêu cầu lãnh đạo của Đảng Tuy nhiên trong quá trình phát triển Đảng, có
Trang 23một số trường hợp không nắm tính chất đảng là của giai cấp công nhân, chưa coi trọng giáo dục đạo đức cách mạng… nên có những cán bộ, đảng viên đã phạm phải những sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng Nhằm tăng cường công tác giáo dục cán bộ, đảng viên, phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, tạo sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, ngày 1 - 3 - 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư gửi đảng viên ở Bắc Bộ và Trung Bộ Hai địa phương đó đang có nhiều vấn đế bức xúc trong công tác xây dựng Đảng Qua mấy tháng theo dõi, Hồ Chí Minh thấy rõ sự chuyển biến trong đảng viên chưa nhiều; cán bộ, đảng viên các nơi hoặc chỉ nghiên cứu qua loa hoặc thấy khuyết điểm rồi nhưng không cố gắng sửa chữa Mặt khác “Cán bộ, đảng viên ta, vì bận việc hành chính hoặc quân sự, mà xao nhãng việc học tập Đó là một khuyết điểm rất to Khác nào người thầy thuốc chỉ đi chữa cho người khác, mà bệnh nặng trong mình quên chữa” [53, 231] Và để có tài liệu cho cán bộ, đảng viên học tập, rèn luyện, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã viết các tác phẩm: Đời sống mới (20 - 3-1947), Sửa đổi lối làm việc (10
- 1947), Cần kiệm liêm chính (6 - 1949)… Qua các tác phẩm, Người đã nghiêm
khắc chỉ ra và phê bình những sai lầm, khuyết điểm của một số cán bộ, đảng viên như đầu óc bè phái, địa phương, hẹp hòi, quân phiệt, vô tổ chức, vô kỷ luật Đồng thời, Người đặt biệt chú trọng giáo dục cán bộ, đảng viên về tư cách, đạo đức cách mạng, về phương pháp, cách thức vận động quần chúng, nhất là về tinh thần tự phê bình và phê bình Người chỉ rõ: “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh
ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó Như thế
là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” [53, 261]
Giữa tháng 10 - 1950, quân ta giành chiến thắng trong Chiến dịch biên giới, chiến thắng này đã đánh dấu sự nhảy vọt của quân và dân ta trong cuộc chiến, làm thay đổi cục diện chiến tranh giữa ta và địch Từ thắng lợi chiến dịch này, quân ta đã chủ động mở những cuộc tiến công lớn và giành những thắng lợi quan trọng như ở Chiến dịch Hòa Bình (1951 - 1952), Tây Bắc (1952) Thắng lợi
Trang 24của các chiến dịch này đã dẫn đến những thay đổi quan trọng về lực lượng giữa
ta và địch Địch ngày càng lún sâu vào thế bị động
Bên cạnh những thắng lợi về quân sự, trên mặt trận kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, ta cũng giành được nhiều thành tựu Đặc biệt, năm 1951, Đảng ta
đã hoạt động công khai với tên gọi là Đảng lao động Việt Nam Đến cuối năm
1953, Trung ương Đảng thông qua Cương lĩnh ruộng đất, Quốc hội thông qua Luật cải cách ruộng đất Tuy nhiên trong quá trình thực hiện chúng ta còn mắc
phải một số khuyết điểm Mặt khác đế quốc Mỹ ngày càng trắng trợn cấu kết với thực dân Pháp, tăng viện trợ cho Pháp tiếp tục cuộc chiến ở Việt Nam Do đó, công tác cán bộ, mà đặc biệt là việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cho cán bộ, đảng viên nhằm nâng cao đạo đức cách mạng, ý chí quyết tâm thực hiện nhiệm
vụ cách mạng của Đảng rất được quan tâm Hồ Chí Minh đã viết nhiều bài viết
đề cập đến vấn đề đạo đức cách mạng, để rèn luyện, nâng cao đạo đức cho cán
bộ, đảng viên, trong đó nổi bật là các tác phẩm: Phải tẩy sạch bệnh quan liêu (2
- 9 - 1950), Tự phê bình (20 - 5 - 1951), Sạch bệnh quan liêu (12 - 7 - 1951), Tự
phê bình và phê bình (14 - 2 - 1952), Chớ kiêu ngạo phải khiêm tốn (13 -6 -
1954)… Đây là những tài liệu quan trọng cho cán bộ, đảng viên học tập
Trước sự lớn mạnh của quân ta thực dân Pháp đã cùng Mỹ tiến hành kế hoạch Nava Tuy nhiên dưới sự tiến công mãnh liệt của quân ta và hai nước bạn
là Lào và Campuchia, kế hoạch dần bị phá sản Đứng trước nguy cơ có thể thất bại trong cuộc chiến xâm lược, thực dân Pháp cùng đế quốc Mỹ đã xây dựng căn
cứ điểm kiên cố nhất của chúng ở Đông Dương, căn cứ Điện Biên Phủ đã trở thành trung tâm kế hoạch Nava Nhưng với quyết tâm không gì lay động được quân và dân ta đã chiến đấu anh dũng không ngại hy sinh đã làm nên kỳ tích lịch
sử với chiến thắng Điện Biện Phủ lừng lẫy, chấn động năm châu, buộc Pháp ký hiệp định đình chiến ở Việt Nam vào ngày 21 - 7 - 1954
Như vậy, sau 9 năm kháng chiến gian khổ dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, quân và dân ta đã giành chiến thắng cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp Trong cuộc kháng chiến chống lại
Trang 25kẻ thù nguy hiểm mạnh hơn về nhiều mặt, Đảng ta đã đề ra đường lối kháng chiến hết sức sáng tạo, chứa đựng tư tưởng, quan điểm, đường lối chiến tranh nhân dân, trường kỳ kháng chiến Để lãnh đạo sự nghiệp kháng chiến thắng lợi, công tác xây dựng Đảng luôn là nhiệm vụ then chốt Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không ngừng chăm lo xây dựng Đảng đoàn kết, thống nhất, vững mạnh
về chính trị, tư tưởng và tổ chức, trong đó việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cho cán bộ, đảng viên được Người đặc biệt chú trọng Hơn 40 tác phẩm bài viết, bài nói của Hồ Chí Minh về vấn đề này trong giai đoạn 1946 - 1954 đã chứng minh điều đó
1.1.2 Tiền đề hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về phẩm chất đạo đức của người lãnh đạo
Đạo đức với tư cách là một hình thái ý thức xã hội thể hiện những quan hệ
xã hội trong ứng xử của con người trong cuộc sống Đạo đức gồm những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, định hướng giá trị và là nền tảng tinh thần xã hội,
có tác dụng chi phối, điều chỉnh hành vi của con người trong quan hệ với nhau
và quan hệ với xã hội
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức vừa là sự phản ánh sinh động hiện thực xã hội Việt Nam, vừa thấm nhuần đạo đức truyền thống dân tộc, vừa tiếp thu sáng tạo tinh hoa đạo đức nhân loại, lại được xây dựng trên cơ sở những giá trị đạo đức nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin bằng chính năng lực cá nhân với trí tuệ thiên tài của Hồ Chí Minh Đồng thời cũng là một trong những nội dung cốt lõi trong hệ thống tư tưởng lý luận của Người
Với bề dày lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, chống chiến tranh xâm lược đã hình thành cho Việt Nam các giá trị truyền thống dân tộc phong phú, bền vững; đó là ý thức chủ quyền quốc gia dân tộc, ý chí tự lập, tự cường, yêu nước, kiên cường, bất khuất; là tinh thần tương thân tương ái, nhân nghĩa, cố kết cộng đồng dân tộc; là lòng thủy chung, khoan dung, độ lượng; là sự thông minh, sáng tạo, quý trọng hiền tài, tiếp thu tinh hoa đạo đức nhân loại để làm phong phú đạo đức dân tộc
Trang 26Trong nguồn giá trị tinh thần quý báu của dân tộc, chủ nghĩa yêu nước là cốt lõi nhất, nổi bậc nhất, cơ bản nhất, là dòng chảy chính của truyền thống đạo đức Việt Nam, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt theo chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, là động lực mạnh mẽ cho sự trường tồn và phát triển của dân tộc Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là truyền thống quý báu của ta Từ xưa cho đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước Chúng ta có quyền tự hào vì những trang lịch sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, v.v Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng” [54, 171 - 172]
Truyền thống yêu nước đó không chỉ là một tình cảm, một phẩm chất tinh thần mà đã phát triển thành một chủ nghĩa – chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa dân tộc chân chính Chủ nghĩa yêu nước là hệ thống lý luận về những nguyên tắc đạo đức và chính trị mà nội dung cốt lõi là tình yêu và lòng trung thành với Tổ quốc Yêu nước được coi là một tình cảm thiêng liêng, xuất hiện trong quá trình hình thành và phát triển cộng đồng quốc gia dân tộc Nó đã trở thành cái vốn có, ăn sâu vào máu thịt của con người dân Việt Nam Trải qua một quá trình lâu dài chống giặc ngoại xâm, giữ nước, truyền thống yêu nước lại càng được bồi đắp phong phú hơn Nó không bất biến mà luôn được bổ sung, phát triển
Dân tộc Việt Nam, non sông Việt Nam đã sinh ra Hồ Chí Minh, một người con ưu tú của dân tộc Người là hiện thân sự kết tinh những giá trị truyền thống tốt đẹp, đặc biệt là truyền thống đạo đức mà cốt lõi là chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam Người thường được cha dẫn theo khi đi gặp những sĩ phu yêu nước để gặp gỡ, bàn luận về những vấn đề quan trọng Tư tưởng yêu nước của các bậc tiền bối thấm dần trong con người Hồ Chí Minh, từ đó hình thành nên chí hướng cách mạng Song cách nhìn nhận của Hồ Chí Minh rất khác với các bậc cha chú, Người nói: “Nhân dân Việt Nam trong đó có cả cụ thân sinh ra
Trang 27tôi - lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp Người này nghĩ là Nhật, người khác nghĩ là Anh, có người lại cho là
Mỹ Tôi thì thấy phải đi ra nước ngoài để xem cho rõ Sau khi xem xét họ làm ăn
ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi” [46, 47 - 48] Chính vì yêu nước thương dân mà Người đã hy sinh quên mình vì Tổ quốc, quyết tâm đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân Đây là tài sản có giá trị nhất trong hành trang tư tưởng của Nguyễn Tất Thành lúc ra đi tìm đường cứu nước,
là điểm xuất phát, động lực xuyên suốt quá trình hoạt động cách mạng của Người Người đã khẳng định: “Lúc đầu chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba” [58, 128] Không chỉ dừng lại ở yêu nước mình, Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển lòng yêu nước mở rộng ra thành tình yêu rộng lớn với tất cả những người cùng khổ trên thế giới
Bên cạnh chủ nghĩa yêu nước, truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam
đã ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh mà cốt lõi là đạo đức làm người Đó là tư tưởng yêu nước thương nòi, thương yêu, đùm bọc, tương thân tương ái lẫn nhau của người dân lao động Đạo đức xuất hiện từ rất sớm trong những câu chuyện cổ tích, cao dao, tục ngữ, trong các làn điệu dân
ca, hò, vè như “bầu ơi thương lấy bí cùng”, “lá lành đùm lá rách”, “thương người như thể thương thân”, “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”,… ở trong những câu chuyện bà kể, những lời ru của mẹ mà ta được nghe từ khi chào đời Có lẽ vì được tiếp xúc từ rất sớm như vậy mà những tư tưởng đạo đức này ăn sâu vào trong máu thịt của người Việt Nam, trong tiềm thức của mỗi đứa trẻ, lớn lên và trải dài trong suốt chiều dài lịch sử của đất nước
Hồ Chí Minh là người ảnh hưởng sâu sắc truyền thống đạo đức của quê hương, gia đình Sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh dân tộc bị nô lệ, tận mắt chứng kiến nổi đau nước nhà bị xâm lược, nhân dân lầm than, cơ cực, lại xuất thân trong một nhà Nho yêu nước và quê hương xứ Nghệ, nơi sản sinh ra nhiều anh hùng hào kiệt đất Việt, nên Người nhận được sự giáo dục của gia đình, quê
Trang 28hương, dân tộc Chính sức mạnh truyền thống đạo đức của dân tộc đã thôi thúc
Hồ Chí Minh ra đi tìm tòi, học hỏi, tiếp thu tinh hoa đạo đức của nhân loại để làm giàu cho tư tưởng đạo đức của mình
Truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái mà đặc biệt là đoàn kết cộng đồng làng xã và đoàn kết quốc gia dân tộc được hình thành cùng với sự hình thành của dân tộc Việt và cũng là cội nguồn của sức mạnh dân tộc Việt, chính nhờ sự đoàn kết mà dân tộc Việt Nam đã gặt hái được những thành công vang dội trong Cách mạng Tháng Tám, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay
Truyền thống nhân văn, nhân ái quý trọng con người, hướng con người vào điều thiện, đồng thời xử lý tinh tế các mối quan hệ, gia đình, vợ chồng, anh
em, họ hàng và đề cao tình nghĩa, quy tắc ứng xử trong xã hội giúp người Việt sống tình cảm hơn, nhân nghĩa hơn, thủy chung hơn, đạo đức hơn Tất cả đều được Hồ Chí Minh kế thừa trong tư tưởng của mình trong lĩnh vực đạo đức mà đặc biệt là đạo đức cách mạng Đồng chí Trường Chinh đã nhận xét về Hồ Chí Minh là: “Người tiêu biểu nhất cho đạo đức cộng sản chủ nghĩa ở Việt Nam và kết tinh những đức tính tốt đẹp nhất của dân tộc ta” [14, 59]
Cùng với những truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, Hồ Chí Minh, còn tiếp thu có chọn lọc những giá trị đạo đức tiến bộ của nhân loại Hồ Chí Minh đã biết làm giàu những chuẩn mực đạo đức của mình bằng cách học hỏi, tiếp thu những tinh hoa đạo đức phương Đông và phương Tây
Với tư chất thông minh, vốn hiểu biết, Hán học vững vàng, Người học hỏi không ngừng khi bôn ba năm châu bốn biển, Người am tường văn hóa Đông, Tây, kim cổ Do đó, từ đạo đức phương Đông đến phương Tây, từ Nho giáo, Phật giáo đến Thiên Chúa giáo đều phảng phất trong tư tưởng đạo đức của Người Đó là sự nhân nghĩa của Khổng Tử, lòng nhân ái của Giêsu, lòng từ bi, bác ái, cứu khổ của đức Phật Người nói:
Trang 29“Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa” [54, 225]
Có lẽ Hồ Chí Minh là người cộng sản đầu tiên đã tìm thấy sự tương đồng giữa các học thuyết cách mạng và tôn giáo Người viết: “Học thuyết của Khổng
Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng cá nhân Tôn giáo của Chúa Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứng Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của
nó phù hợp với điều kiện nước ta Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng
có những ưu điểm chung sao? Họ đều muốn mưu hạnh phúc cho mọi người, mưu phúc lợi cho xã hội” [17, 325 - 326] Người tìm thấy điểm chung quý nhất của họ là muốn mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội Do vậy, Người muốn làm người học trò nhỏ của các vị ấy
Hồ Chí Minh đã có sự kế thừa, chắt lọc tài tình tinh túy của những giá trị đạo đức phương Đông, đặc biệt là Nho giáo và Phật giáo Đây là các hệ tư tưởng
lớn, chứa đựng những nhân tố vừa tích cực, vừa tiêu cực mà các giai cấp đều có thể kế thừa và khai thác Trong quá trình giao lưu, hội nhập, những tư tưởng này
để lại những ảnh hưởng sâu sắc trong tư tưởng, đạo đức, lối sống của con người Việt Nam, trong đó có Hồ Chí Minh
Vốn sinh ra trong gia đình khoa bảng, Hồ Chí Minh được tiếp cận sớm và chịu nhiều ảnh hưởng của Nho giáo Hồ Chí Minh đánh giá rất cao Khổng Tử và xem ông là bậc thầy vĩ đại của nhân loại, vì “Đạo đức của ông, học vấn của ông
và nhận thức của ông làm cho những người cùng thời và hậu thế phải cảm phục” [50, 452], đồng thời khuyên nhủ: “những người An Nam chúng ta hãy tự hoàn thiện mình, về mặt tinh thần bằng cách đọc các tác phẩm của Khổng Tử” [50, 454] Tuy nhiên, Người cũng đã nhận ra những khiếm khuyết của Khổng Tử và chỉ ra rằng: “Đạo đức của ông hoàn hảo, nhưng nó không thể dung hợp được các trào lưu tư tưởng hiện đại, giống như một cái nắp tròn làm thế nào có thể đậy kín được cái hộp vuông” [50, 453] Người đã phê phán những hạn chế, tiêu cực của
Trang 30Nho giáo: “Theo Khổng giáo các nước Nga, Pháp, Trung Quốc, Mỹ và các nước dân chủ là quốc gia ở đó thiếu quy tắc về đạo đức và những thần dân nổi dậy chống nhà vua đều là những tên phản loạn” [50, 453] Rõ ràng, hạn chế lớn nhất của Khổng Tử ở chỗ ông “là người phát ngôn bênh vực những người bị bóc lột chống lại những người bị áp bức” [50, 453] nhưng những tư tưởng đẳng cấp, quân tử, tiểu nhân, chính danh định phận, coi khinh phụ nữ, lao động chân tay, thuế nghiệp doanh lợi… thì hà khắc, phân biệt và xa cách
Hồ Chí Minh đã tiếp thu yếu tố tích cực, tiến bộ ở Nho giáo tư tưởng lấy dân làm gốc Trời sinh ra dân trước rồi đặt vua phục vụ dân Dân là con trời nên
ý dân là ý trời, được lòng dân là được nước Như vậy, Nho gia đề cao sức mạnh của dân và hạn chế quyền lực của vua: “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (Nhân dân là quan trọng nhất, thứ đến là quốc gia xã tắc, vua là thứ bậc xem nhẹ nhất - Mạnh Tử), từ đó đề cao tinh thần phục vụ nhân dân, coi quan là công bộc của dân, nước thịnh trị là công của dân, nhưng nước không thịnh trị là lỗi của vua
Những khái niệm trung, hiếu, nhân, nghĩa, dũng, trí, tín, cần, kiệm, liêm, chính… có trong Nho giáo được Hồ Chí Minh sử dụng nhưng ở góc độ khác,
hoàn toàn mới mẽ và hiện đại, đưa nó lên một tầm cao mới, phù hợp với đạo đức thời đại và đạo đức dân tộc Việt Nam Nếu Nho giáo chỉ hạn hẹp là “trung với vua, hiếu với cha mẹ” thì Người cho rằng phải là “trung với nước, hiếu với dân” Khái niệm trung của Người rất rộng: “Trung là trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với nhân dân, với cách mạng, với Đảng” [53, 480] Người nói: “Đạo đức, ngày trước chỉ trung với vua, hiếu với cha mẹ Ngày nay, thời đại mới, đạo đức cũng phải mới Phải trung với nước, phải hiếu với dân, với đồng bào” [48, 149],
vì “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ” [54, 515] Như vậy, quan điểm “trung với nước, hiếu với dân” là một cuộc cách mạng trong quan niệm về đạo đức, là chuẩn mực đạo đức có ý nghĩa quan trọng hàng đầu, bao trùm, xuyên suốt hệ thống tư tưởng đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh
Trang 31Hồ Chí Minh cũng thấy được những ưu điểm của Nho giáo ở tư tưởng đề
cao văn hóa, lễ nghĩa, coi trọng giáo dục, đạo đức Người nhận thấy việc coi đạo
đức là gốc của Nho giáo rất gần gũi với truyền thống đạo đức Việt Nam Nho giáo cho rằng “bậc quân tử chuyên chú vào việc gốc Cái gốc được vững tốt, tự nhiên đạo lý bắt từ đó mà sanh ra” (Quân tử vụ bổn; bổn lập nhi đạo sanh) [18, 4
- 5] Nho giáo cũng rất coi trọng vấn đề tu dưỡng đạo đức: từ thiên tử cho đến thứ dân đều phải lấy tu thân làm đầu, bởi có đạo đức mới gánh được nặng, đi được xa Muốn trị quốc, bình thiên hạ, trước hết người quân tử phải biết tu dưỡng đạo đức cá nhân đối với chính bản thân mình Đạo đức không phải là bản chất tiên thiên mà phải do tu dưỡng, rèn luyện bền bỉ mới đạt được Người cũng tiếp thu phương pháp giáo dục đạo đức của Nho giáo là nêu gương, “Vua mà có nhân thì không ai không có nhân Vua mà có nghĩa thì không ai không có nghĩa” (Mạnh Tử) Như vậy, nếu Nho giáo xây dựng hình tượng chỉn chu của “người quân tử” thì Hồ Chí Minh dày công xây đắp những chuẩn mực đạo đức của
“người cách mạng” bởi Người nhìn thấy tầm quan trọng và sức mạnh to lớn của đạo đức đối với con người và xã hội, đặc biệt là đạo đức đối với người lãnh đạo Không chỉ Nho giáo, Hồ Chí Minh còn tiếp thu những giá trị tích cực của
tư tưởng đạo đức Phật giáo bởi thấy ở đó tính từ bi, vị tha và lương thiện, rất phù hợp với đạo đức truyền thống của dân tộc ta Người nói: “Tôn chỉ mục đích của đạo Phật nhằm xây dựng cuộc đời thuần mỹ, chí thiện, bình đẳng, yên vui và no ấm” [77, 39] Phật giáo đã từng là một tôn giáo chính thống chiếm vị thế độc tôn trên đất Việt và trở thành quốc giáo trong nhiều triều đại phong kiến Người tiếp thu ở Phật giáo tư tưởng vị tha, chân, thiện, từ bi, bác ái, cứu khổ, cứu nạn; coi trọng tinh thần bình đẳng, chống phân biệt đẳng cấp, thương người như thể thương thân, lối sống đạo đức, trong sạch giản dị, chăm làm điều thiện… Hồ Chí Minh đã thấy được tấm lòng từ bi cao cả của đức Phật, vì “Triết lý đạo đức nhân sinh của Phật giáo mang một tinh thần nhân văn sâu sắc” [15, 229] Phải chăng tinh thần cứu khổ, cứu nạn của đức Phật đã thấm sâu vào Hồ Chí Minh để suốt đời Người hi sinh quên mình vì nước vì dân
Trang 32Nếu phương Đông có Nho giáo, Phật giáo thì Thiên Chúa giáo là một tôn giáo gần như bao trùm lên toàn bộ đời sống tinh thần, tín ngưỡng của người dân phương Tây Gạt bỏ những hạn chế, khiếm khuyết, Hồ Chí Minh tìm thấy ở Thiên Chúa giáo lòng nhân ái bao la của Chúa Chúa Giêsu dạy con chiên của mình hãy sống cho trong sạch, thủy chung, không tham lam, dối trá, phải cứu giúp người hoạn nạn Hồ Chí Minh đã kế thừa những phẩm chất tốt đẹp ấy, đồng thời phân biệt rõ tinh thần nhân ái của các nhà sáng lập tôn giáo và khát vọng hướng thiện chân chính của nhân loại Người nói về đức Chúa: “Cả đời Người chỉ lo cứu thế độ dân, hi sinh cho tự do, bình đẳng” [52, 490] và khuyên nhủ mọi người Việt Nam: “Toàn thể đồng bào ta, không chia lương giáo, đoàn kết chặt chẽ, quyết lòng kháng chiến, để giữ gìn non sông Tổ quốc, và cũng để giữ gìn tôn giáo tự do” [52, 490], bởi suy cho cùng, mọi tôn giáo mà tiêu chí của nó là hướng đến điều thiện, đến hạnh phúc cho chúng sinh và đều phù hợp với lòng dân, với đạo đức của người Việt Nam
Hồ Chí Minh cũng chịu ảnh hưởng của những giá trị đạo đức tiến bộ trong nền văn hóa dân chủ và cách mạng trong suốt những năm hoạt động cách mạng của mình Trong thời kỳ hoạt động ở Trung Quốc, Người chứng kiến những thành tựu cũng như những hạn chế của cuộc cách mạng do Tôn Trung Sơn lãnh đạo Hồ Chí Minh tìm thấy ở chủ nghĩa Tam dân những điều thích hợp với điều kiện cách mạng Việt Nam, đó là dân tộc độc lập, dân quyền tự do và dân sinh hạnh phúc Người đặc biệt quan tâm đến lý tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do, đem lại ấm no hạnh phúc cho nhân dân của Tôn Trung Sơn bởi đó cũng là mục tiêu mà Người phấn đấu suốt đời để giành lại cho dân tộc Việt Nam
Hồ Chí Minh đã tiếp xúc, tìm hiểu, chắt lọc những giá trị tư tưởng đạo đức phương Tây trong suốt hành trình tìm đường cứu nước của mình Người làm quen với văn hóa Pháp, Người nói “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp Người Pháp đã nói thế Và từ thuở ấy, tôi rất
Trang 33muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy” [49, 477] Hồ Chí Minh đã học được nhiều điều từ nền văn
minh đó và chịu ảnh hưởng sâu sắc về tư tưởng tự do, bình đẳng từ Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1791 của đại cách mạng Pháp Người tiếp thu
những tác phẩm về tư tưởng dân chủ và cách mạng của các nhà khai sáng: Vônte, Rútxô, Môngtétxkiơ Những tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái của cách mạng Pháp và tư tưởng nhân văn của các nhà khai sáng đã đi vào tác phẩm, bài báo của Người mà điển hình là các bài trong tờ báo Người cùng khổ, tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp
Người cũng tìm đến nước Mỹ để tìm hiểu về ý chí đấu tranh cho tự do, độc lập, cho quyền sống của các dân tộc Mỹ, tiếp thu giá trị về quyền sống,
quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của
Mỹ Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh cũng chỉ ra hạn chế của cách mạng Mỹ “là cách mệnh tư bản, mà cách mệnh tư bản là chưa phải cách mệnh đến nơi” [50, 270] và
vì vậy cách mạng tư sản không phải là lựa chọn của Người
Tất cả những tinh hoa đạo đức phương Đông và phương Tây, những tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái tiến bộ và những tư tưởng hướng thiện của các tôn giáo, tín ngưỡng đều được Người chắt lọc, mài giũa và vận dụng sáng tạo, tài tình trong quá trình hình thành tư tưởng đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh Chủ nghĩa yêu nước và giá trị đạo đức phương Đông, phương Tây là những tiền đề cơ bản và quan trọng để Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin Trong những năm tháng bôn ba tìm con đường cứu nước, Hồ Chí Minh trải qua quá trình hoạt động đầy bão táp, rất sôi nổi Người đã chứng kiến sự tàn bạo, vô đạo đức của chủ nghĩa thực dân trong việc nô dịch các dân tộc thuộc địa Người đã nhận ra: ở đâu bọn đế quốc thực dân cũng tàn ác và vô nhân đạo, ở đâu người lao động cũng bị bóc lột, áp bức nặng nề Người khẳng định: “Dù màu da
có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột” [49, 287], để rồi từ lập trường dân tộc, yêu nước, Hồ Chí Minh
đã chuyển sang lập trường giai cấp vô sản
Trang 34Chủ nghĩa Mác - Lênin không phải là học thuyết duy nhất mà Người đã tiếp cận, nhưng qua thực tế hoạt động cách mạng, cùng với việc nghiên cứu, so sánh, phân tích, đối chiếu nhiều học thuyết, Người khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất
là chủ nghĩa Lênin” [50, 268] Hồ Chí Minh cho rằng để đạt được mục tiêu cách
mạng phải dựa vào lý luận cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh mới thực sự có sự chuyển biến về chất, nâng lên một trình
độ mới: chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, từ một người yêu nước trở thành một chiến sỹ cộng sản lỗi lạc, tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, phù hợp cho cách mạng Việt Nam Từ đây, tư tưởng Hồ Chí Minh có bước ngoặt phát triển mới, định hướng rõ theo tư tưởng vô sản, mang tính chất cách mạng và khoa
học Dó đó, chủ nghĩa Mác - Lênin là yếu tố quan trọng nhất, là cơ sở, là cốt lõi,
quyết định việc hình thành tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
Thế giới quan và phương pháp luận mácxít đã giúp cho Hồ Chí Minh tổng kết kiến thức và kinh nghiệm của mình để phát hiện ra phương hướng tìm con đường cứu nước đúng đắn Người đã vui mừng đến phát khóc khi lần đầu tiên
đọc Luận cương của Lênin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa và tự hỏi với
mình: “Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây
là con đường giải phóng chúng ta!” [58, 127] Hiểu rõ bản chất của chủ nghĩa Mác - Lênin, Người coi đây là cẩm nang thần kỳ và quyết tâm theo đuổi Người tán thành Quốc tế thứ ba và hoàn toàn tin theo Lênin, đồng thời khẳng định muốn cứu nước, giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản Người không chỉ tìm thấy ở chủ nghĩa Mác - Lênin con đường cứu nước bằng con đường vô sản mà còn tìm thấy ở đây những tư tưởng đạo đức tích cực, tiến bộ của thời đại
Hồ Chí Minh đã tiếp thu sáng tạo những nguyên tắc của đạo đức mới trong tư tưởng đạo đức Mác - Lênin, đó là chủ nghĩa nhân đạo cộng sản, tinh thần quốc tế vô sản chân chính, chủ nghĩa tập thể và tinh thần lao động tự giác, sáng tạo Đây cũng là những nội dung Người đặc biệt quan tâm và theo đuổi
Trang 35trong suốt quá trình hoạt động cách mạng của mình Chủ nghĩa nhân đạo nói chung là xu hướng tư tưởng thể hiện sự tôn trọng phẩm giá, quyền tự do và sự phát triển toàn diện của nhân cách cá nhân trong quan hệ xã hội Người nhận ra chủ nghĩa nhân đạo cộng sản là lý tưởng nhân đạo triệt để, tạo điều kiện xóa bỏ tận gốc mọi hình thức áp bức, bóc lột và nô dịch người lao động, hướng đến xây dựng xã hội mới không còn đối kháng giai cấp và chế độ người bóc lột người,
mà ở trong đó “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển
tự do của tất cả mọi người” [74, 628] Mác và Ăngghen còn chỉ rõ sứ mệnh lịch
sử của giai cấp công nhân là kẻ đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản và là người sáng tạo ra một xã hội mới - xã hội cộng sản Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chỉ
có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất,việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc, nói tóm lại là nền cộng hòa chân chính” [49, 461]
Hồ Chí Minh nhận thấy tinh thần quốc tế vô sản chân chính của chủ nghĩa Mác - Lênin đã nêu cao ngọn cờ quốc tế chỉ đường cho tất cả những người cùng khổ trên thế giới và những người bị áp bức, bóc lột, vạch ra con đường và phương pháp đấu tranh để chống lại sự áp bức, bất công đó Theo Lênin đạo đức cộng sản là đạo đức nhằm “đoàn kết những người lao động chống mọi sự bóc lột, chống mọi chế độ tư nhỏ, vì chế độ tư nhỏ trao cho mọi cá nhân thành quả lao động do toàn thể xã hội sáng tạo ra” [66, 369] Để được điều đó, con người phải đấu tranh xóa bỏ triệt để cái cũ, những lỗi thời, lạc hậu, kiềm hãm sự phát triển của con người và xã hội loài người Đồng thời phải xây dựng những chuẩn mực đạo đức mới xã hội chủ nghĩa, phù hợp với quy luật vận động và sự phát triển của xã hội
Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa tập thể là sự đoàn kết và sự thống nhất tự giác giữa các cá nhân vì những lý tưởng cao quý của con người, theo đó mỗi cá nhân không chỉ hoạt động vì mình mà còn vì người khác Lênin nói: “Đối với một người cộng sản, tất cả đạo đức là nằm trong cái kỷ luật đoàn kết keo sơn
Trang 36đó và trong cuộc đấu tranh tự giác chống chủ nghĩa bóc lột” [72, 371] Do đó, chủ nghĩa tập thể đòi hỏi phải kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, “chống các tâm lý và tập quán khiến người ta nói rằng: tôi kiếm lợi nhuận của tôi, ngoài ra chẳng có cái gì đáng để cho tôi chú ý cả” [72, 371] Chủ nghĩa Mác chỉ ra bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội Chỉ có cải tạo lại toàn bộ xã hội mói có điều kiện để giải quyết mâu thuẫn lâu đời giữa cá nhân và xã hội Muốn thế phải thủ tiêu xã hội mà trong đó chế độ tư hữu và chủ nghĩa cá nhân thống trị, xây dựng xã hội mới theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh, con người sống tự do, hạnh phúc Do vậy, cần nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân
Kế thừa và phát huy chủ nghĩa tập thể, chống chủ nghĩa cá nhân, Hồ Chí Minh nói: “Phải hết lòng tôn trọng tập thể, phát huy dân chủ tiến bộ; tuyệt đối không được độc đoán cá nhân” [58, 311] Và Người nhắc nhở: “Con người chủ nghĩa xã hội là phải đi đến hoàn toàn không có chủ nghĩa cá nhân” [57, 448] Theo quan điểm Hồ Chí Minh, chủ nghĩa cá nhân là một trở lực trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, là đối lập với chủ nghĩa xã hội Vì vậy, thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân, nhưng chống chủ nghĩa cá nhân không có nghĩa là chà đạp lên lợi ích cá nhân chính đáng của mỗi con người
Hồ Chí Minh rất quan tâm đến tinh thần lao động tự giác, sáng tạo bởi đó
là điều quan trọng nhất, có giá trị nhất, là cội nguồn của đạo đức mới vì nó đem lại phương tiện sống và niềm hạnh phúc cao nhất cho con người Lênin viết:
“Chỉ khi cùng lao động với công nhân và nông dân, người ta mới trở nên một người cộng sản chân chính” [72, 376] Hồ Chí Minh thấy được những giá trị đạo đức cao đẹp nhất của những nhà cộng sản khoa học là: giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người Quan niệm của Mác về hạnh phúc là được đấu tranh vì hạnh phúc của người khác, còn với Lênin, đó là hiện thân của tình anh em bốn bể, là đời tư trong sáng, là nếp sống giản dị, là đạo đức vĩ đại và cao đẹp dành cho các dân tộc bị áp bức Còn với Hồ Chí Minh, Người không muốn
Trang 37những giá trị đạo đức cao đẹp đó của những nhà cộng sản khoa học chỉ trên lí thuyết, mà nó phải được hiện thực hóa cho cả dân tộc và nhân loại Người khẳng định: “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ” [58, 128] Chủ nghĩa Mác - Lênin là lí luận cách mạng tiên tiến nhất, nhân đạo nhất trong thời đại ngày nay Hồ Chí Minh là người đã biết kế thừa và phát triển nó, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi
Không thể có một hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh mà đặc biệt là tư tưởng đạo đức cách mạng nếu thiếu nhân tố chủ quan của bản thân con người Hồ Chí Minh, một anh hùng giải phóng dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới, một nhà thơ lớn, nhà báo vĩ đại, một nhà quân sự tài ba, một nhà tư tưởng lỗi lạc,…
Hồ Chí Minh có một tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo với sự phê phán tinh tường, sáng suốt trong việc tìm hiểu tinh hoa tư tưởng văn hóa cách mạng trong nước và trên thế giới Người biết gạn đục, khơi trong để xây dựng nên một hệ thống vĩ đại: tư tưởng Hồ Chí Minh Ở Người, ta thấy rõ tâm hồn và phẩm chất của một nhà yêu nước, một người chiến sỹ cộng sản nhiệt thành cách mạng, một trái tim yêu nước, thương dân, thương yêu những người cùng khổ, sẵn sàng chịu đựng những hy sinh vì độc lập của Tổ quốc, vì tự do, hạnh phúc của đồng bào
Phẩm chất và năng lực cá nhân Hồ Chí Minh không phải tự nhiên mà có,
đó là kết quả của sự khổ công học tập, mày mò nghiên cứu và hoạt động thực tiễn cách mạng để chiếm lĩnh được vốn tri thức của thời đại, cùng với kinh nghiệm đấu tranh của phong trào dân tộc, phong trào công nhân quốc tế đã làm cho Người có hiểu biết sâu sắc về dân tộc và thời đại, qua đó có thể tiếp cận được chủ nghĩa Mác - Lênin một cách khoa học Không dừng lại ở đó, Người còn xem xét, đánh giá và bổ sung cơ sở triết lý đạo đức phương Đông cho học thuyết Mác - Lênin một cách hoàn hảo, phù hợp với đạo đức cách mạng Việt Nam Cuộc đời cách mạng trải qua không ít thăng trầm, sóng gió, đặc biệt là thời
kỳ bôn ba khắp thế giới để học tập, nghiên cứu và hoạt động đã tôi luyện, hun đúc ở Hồ Chí Minh một chí khí cách mạng kiên cường, một nhà yêu nước chân
Trang 38chính Cuộc đời cách mạng ấy đã cho ra đời một hệ tư tưởng đạo đức lớn: đạo đức cách mạng Đạo đức ấy đã làm nên một Hồ Chí Minh, biểu tượng vĩ đại và cao đẹp về đạo đức của dân tộc Việt Nam
Hồ Chí Minh, với trí tuệ anh minh và tư duy biện chứng, kiến thức uyên thâm và tinh thần tự chủ, sáng tạo, sự khổ công học tập và rèn luyện không biết mệt mỏi đã xây dựng và thể hiện tư tưởng đạo đức của mình một cách khoa học
và cao đẹp Hồ Chí Minh với nếp sống giản dị, khiêm tốn, tác phong làm việc vô
tư, khoa học, tấm lòng nhân ái, bao dung, lòng yêu nước nồng nàn và thương yêu con người sâu sắc của Người Nhà thơ Nga C.M.Simônốp đã nhận xét về Hồ Chí Minh: “Trong phong thái của Người không hề có dáng dấp một trí thức đạo mạo, mặc dù Người hiểu biết sâu và có một kho tàn triết học trong khí óc Người giống một lão nông Việt Nam có tuổi, giống một người lao động, giống tất cả mọi người, có điều đó là người thông minh nhất, quyết tâm nhất, kiên cường nhất” [8, 1203] Cuộc đời và sự nghiệp của Người là minh chứng vô giá cho tư tưởng đạo đức cao cả của mình Ở Hồ Chí Minh, ta như thấy cả một tâm hồn dân tộc, lương tâm thời đại và tinh hoa của loài người, Hồ Chí Minh - bình thường
mà cao thượng, giản dị mà vĩ đại, một nhà đạo đức cách mạng hiện thực của cả dân tộc Việt Nam và nhân loại
Như vậy, nếu truyền thống đạo đức dân tộc, tinh hoa đạo đức phương Đông và phương Tây là điều kiện, là cơ sở quan trọng thì đạo đức cộng sản của chủ nghĩa Mác - Lênin và nhân tố chủ quan Hồ Chí Minh là cội nguồn căn bản, quyết định sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về phẩm chất đạo đức của người lãnh đạo Tất cả hội tụ trong tư tưởng và mục đích tối cao của Người là: mưu cầu độc lập, tự do, hạnh phúc cho dân tộc và cả nhân loại Tiếp thu những giá trị đạo đức đó, Hồ Chí Minh không sao chép máy móc mà thổi vào đó một luồng gió mới, một cái hồn tinh tế, sáng tạo, cách mạng hóa nó thành một hệ tư tưởng đặc thù độc đáo, đạo đức mới - đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh
Có thể nói, Hồ Chí Minh đã “thực hiện một công việc kế thừa có chọn lọc, những giá trị đạo đức của quá khứ, đề xuất những tư tưởng đạo đức mới, phù
Trang 39hợp với yều cầu cách mạng Việt Nam trong thời đại mới” [41, 336] Cái đặc sắc của Hồ Chí Minh là “đã sử dụng những khái niệm, những phạm trù đạo đức đã từng quen thuộc với dân tộc Việt Nam từ lâu đời, đưa vào đó những nội dung mới, đồng thời bổ sung những khái niệm, những phạm trù đạo đức của thời đại mới Chính vì vậy mà những giá trị đạo đức mới hòa nhập với những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, làm cho mỗi người Việt Nam đều cảm thấy gần gũi Hơn nữa, những giá trị truyền thống lại được nâng lên tầm cao mới, làm cho Người thực hiện được việc kết hợp truyền thống với hiện đại” [41, 335] Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng là sản phẩm hoạt động tinh thần của
cá nhân, do Người sáng tạo trên cơ sở những nhân tố khách quan Do đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức phụ thuộc rất lớn vào yếu tố nhân cách, phẩm chất và năng lực tư duy của chính người sáng tạo ra nó Điều vĩ đại nhất ở Hồ Chí Minh là không chỉ đưa ra những giá trị, chuẩn mực đạo đức phù hợp với thời đại, với cách mạng Việt Nam mà bản thân Người còn là một tấm gương, một nhân cách, một minh chứng sống cho những phẩm chất đạo đức vô cùng tốt đẹp ấy 1.2 NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN VỀ PHẨM CHẤT ĐẠO ĐỨC CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
1.2.1 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về phẩm chất đạo đức của người lãnh đạo
Trước khi tìm hiểu về nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về phẩm chất đạo đức của người lãnh đạo, chúng ta cần làm rõ các khái niệm:
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy
tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin
cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội [40, 8]
Lãnh đạo là một từ Hán Việt, “lãnh”có nghĩa là thống trị, còn “đạo” là
đưa đường chỉ lối Sự lãnh đạo là đề ra chủ trương, đường lối và tổ chức thực hiện chúng Có thể định nghĩa người lãnh đạo: đó là những người giữ cương vị
chủ chốt ở các cấp bậc khác nhau trong hệ thống các cơ quan Đảng, Nhà nước,
Trang 40tổ chức chính trị - xã hội, có chức năng nhiệm vụ đề ra đường lối, chính sách, chủ trương và tổ chức thực hiện chúng theo phạm vi lãnh đạo của mình; đồng thời là người lãnh đạo, quản lý toàn diện tổ chức mà họ phụ trách, đảm bảo cho tổ
chức đó hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ chính trị được phân công [91, 90 - 91]
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phẩm chất đạo đức người lãnh đạo là hệ thống
tư tưởng, quan điểm của Hồ Chí Minh về những đức tính cần có của một người lãnh đạo
Người lãnh đạo là người phát huy ảnh hưởng lớn đối với quần chúng Phẩm chất đạo đức vừa là một phương diện quan trọng quyết định giá trị bản thân người lãnh đạo vừa là nguồn gốc chủ yếu sinh ra những ảnh hưởng mang tính tự nhiên đối với người khác Người cán bộ lãnh đạo một tổ chức có nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của các thành viên hay không, trên một mức độ rất lớn được quyết định bởi sự tu dưỡng phẩm cách đạo đức của người đó Chỉ có phẩm cách tốt mới có thể khiến cho quần chúng thừa nhận, từ đó mà giao cho quyền lực tương ứng, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm vấn đề đạo đức cách mạng, suốt đời Người đã không ngừng nêu ra sự cần thiết phải giáo dục cán bộ, đảng viên về đạo đức Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không
có nguồn thì cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì héo Người cách mạng phải
có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [53, 252 - 253]
“Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang” [57, 283] Đạo đức cách mạng là một nhân tố có tính chất quyết định, mọi việc thành hay bại là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng hay không Theo tinh thần của tư tưởng Hồ Chí Minh, sau đây là một số nội dung cơ bản về rèn luyện đạo đức cách mạng đối với người cán bộ lãnh đạo
Một là, trung với nước, hiếu với dân
Từ xưa đến nay ở Việt Nam trong quan hệ văn hóa - đạo đức thì mối quan
hệ giữa dân với nước, giữa nhân dân với Tổ quốc là mối quan hệ lớn nhất, có vai