Dưới tác động của văn hóa phương Tây, văn học Nhật Bản phát triển thành nhiều trường phái, trong đó trường phái Tân cảm giác với sự quy tụ của các nhà văn nổi tiếng thời bấy giờ, đặc biệ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS NGUYỄN THỊ THANH XUÂN
Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2014
Trang 3Luận văn này đã được chỉnh sửa theo ý kiến của Hội đồng chấm luận văn Thạc sĩ
Chủ tịch Hội đồng Ý kiến của GVHD
Trang 4Tôi xin gửi lời tri ân đến quý Thầy Cô khoa Văn học và Ngôn ngữ đã trao cho tôi tri thức trong những năm học tập tại trường
Tôi xin cảm ơn phòng Sau đại học đã hỗ trợ trong thời gian tôi học Cao học tại trường
Cuối cùng, tôi xin tri ân đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn ở bên, động viên, khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 7 năm 2014
Trần Trương Mạnh Hoài
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình khoa học của tôi được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Nguyễn Thị Thanh Xuân Luận văn không có bất
cứ sự sao chép nào từ các nguồn tài liệu sẵn có Nếu có gì sai trái, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 7 năm 2014
Trần Trương Mạnh Hoài
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
1.1 Lý do khách quan 1
1.2 Lý do chủ quan 2
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3.1 Lịch sử nghiên cứu ở nước ngoài 2
3.2 Lịch sử nghiên cứu ở Việt Nam 4
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Những đóng góp của đề tài 8
6 Kết cấu của luận văn 8
CHƯƠNG 1: VĂN HỌC NHẬT BẢN ĐẦU THẾ KỶ XX VÀ TRƯỜNG PHÁI TÂN CẢM GIÁC 10
1.1 Những khuynh hướng và trường phái văn học ở Nhật Bản đầu thế kỷ XX…… 10
1.1.1 Khuynh hướng văn học vị nhân sinh 10
1.1.2 Khuynh hướng văn học vị nghệ thuật 15
1.2 Trường phái Tân cảm giác Nhật Bản: cội nguồn, lịch sử, thành tựu 17 1.2.1 Cội nguồn và lịch sử 17
1.2.1.1 Nội sinh 17
1.2.1.2 Ngoại nhập 20
1.2.1.3 Về chủ trương sáng tác 23
1.2.2. Thành tựu của trường phái Tân cảm giác Nhật Bản 25
Trang 71.2.2.1 Tác gia tiêu biểu 25
1.2.2.2 Đóng góp của trường phái Tân cảm giác trong đời sống văn học Nhật Bản……… 29
CHƯƠNG 2: TRƯỜNG PHÁI TÂN CẢM GIÁC NHẬT BẢN, NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 32
2.1 Cái tôi chủ quan và nhu cầu biểu hiện tự ngã 32
2.1.1 Khái niệm cái tôi và tự ngã trong văn học 32
2.1.2. Các phương diện của cái tôi và nhu cầu biểu hiện tự ngã trong văn học Tân cảm giác Nhật Bản 34
2.1.2.1 Quan niệm nghệ thuật về con người 34
2.1.2.2 Quan điểm nghệ thuật về thế giới 40
2.2 Nội tâm con người: thế giới của mâu thuẫn 46
2.2.1 Vấn đề nội tâm trong văn học 46
2.2.2. Vấn đề nội tâm trong văn học Tân cảm giác Nhật Bản 47
2.2.2.1 Mâu thuẫn trong cuộc sống con người 47
2.2.2.2 Mâu thuẫn giữa con người và thế giới 49
2.3 Vấn đề giá trị tồn sinh và quan hệ tồn sinh 52
2.3.1 Vấn đề tồn sinh trong văn học 52
2.3.2 Vấn đề giá trị tồn sinh 54
2.3.3 Vấn đề quan hệ tồn sinh 55
CHƯƠNG 3: TRƯỜNG PHÁI TÂN CẢM GIÁC NHẬT BẢN, NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT 61
3.1 Vấn đề thể loại và dung lượng 61
3.2 Các dạng kết cấu 65
3.3 Các kiểu nhân vật 70
Trang 83.4 Hệ thống thủ pháp 75
3.5 Ngôn ngữ nghệ thuật 84
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 PHỤ LỤC
Trang 9đã thu hút được sự quan tâm của cả thế giới, trong đó có Việt Nam
Văn học Nhật Bản thời gian gần đây được giới thiệu khá nhiều ở Việt Nam, đặc biệt là hiện tượng Murakami Haruki và thơ Haiku Theo đó, độc giả Việt Nam thường hình dung văn học Nhật Bản truyền thống như là một vẻ đẹp huyền vi, linh diệu, mang đậm cảm thức u tịch và văn học hiện đại xứ Phù Tang là những nổi loạn hoài nghi mạnh mẽ mang tinh thần hậu hiện đại Trong khi đó, việc nghiên cứu, tìm hiểu về các trào lưu, trường phái trong văn học Nhật Bản giai đoạn chuyển mình từ văn học truyền thống sang hiện đại vẫn chưa được chú ý đúng mức
Dưới tác động của văn hóa phương Tây, văn học Nhật Bản phát triển thành nhiều trường phái, trong đó trường phái Tân cảm giác với sự quy tụ của các nhà văn nổi tiếng thời bấy giờ, đặc biệt là nhà văn đạt giải Nobel văn học Kawabata Yasunari, đã gây nhiều tranh cãi trong giới sáng tác và phê bình văn học Nhật Bản Chỉ chính thức tồn tại trong một thời gian ngắn (1924 - 1927) nhưng với chủ trương
táo bạo và mới mẻ, cùng tài năng của các nhà văn, văn học Tân cảm giác đã có
những tác phẩm vượt thời gian Nghiên cứu về trường phái này là một nhu cầu cần thiết, không chỉ để hiểu văn học Nhật Bản mà còn để hiểu con đường hiện đại hóa của văn học Việt Nam
Trang 10mê và một phần nào bổ khuyết cho tình hình nghiên cứu lý luận văn học hiện đại Nhật Bản ở Việt Nam
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Như tên gọi, đối tượng của luận văn chúng tôi là trường phái Tân cảm giác ở
Nhật Bản đầu thế kỷ XX Theo đó, chúng tôi tập trung giới thiệu về cội nguồn, lịch
sử, thành tựu của trường phái này và đi sâu phân tích tác phẩm của hai đại biểu xuất
sắc của trường phái Tân cảm giác ở Nhật Bản đầu thế kỷ XX là Yokomitsu Riichi
và Kawabata Yasunari, nhằm rút ra những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của trường phái và của hai tác giả
Phạm vi nghiên cứu của luận văn sẽ là: (1) các tác phẩm của Yokomitsu
Riichi và Kawabata Yasunari; (2) những công trình viết về trường phái Tân cảm giác và về Yokomitsu Riichi và Kawabata Yasunari; (3) các tài liệu liên quan khác
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3.1 Lịch sử nghiên cứu ở nước ngoài
Với tài liệu tiếng Nhật, theo tìm hiểu còn hạn chế của chúng tôi, trường phái
này rất ít được nghiên cứu như một đề tài độc lập, phần lớn là những trang viết về
các tác giả được xem như trụ cột của trường phái Tân cảm giác như Kawabata
Yasunari, Yokomitsu Riichi, ở đó các nhà nghiên cứu thông qua sáng tác của nhà
văn để nói đôi chút về trường phái Tân cảm giác
Sau khi khảo sát nguồn tài liệu văn bản và nguồn tài liệu mạng, các tài liệu chúng tôi tìm được, có thể kể như sau:
Trang 11Tháng 11 năm 1924, nhà bình luận Chiba Kameo đăng trên tạp chí Thế kỷ bài Sự ra đời của phái Tân cảm giác, tuyên bố sự xuất hiện của trường phái này
trong bối cảnh văn học Nhật Bản đầu thế kỷ XX, đồng thời giới thiệu hai nhà văn
được xem là trụ cột của Tân cảm giác là Kawabata Yasunari và Yokomitsu Riichi
Được xem như tuyên ngôn nghệ thuật của trường phái Tân cảm giác là tiểu luận Luận giải về khuynh hướng mới của các nhà văn mới của Kawabata Yasunari được đăng trên tạp chí Văn nghệ thời đại vào năm 1925 Trong tác phẩm này, nhà
văn đã cụ thể hóa phương thức sáng tác của văn chương mới qua thực tiễn sáng tạo của chính ông, tiểu luận được chia làm bốn phần: (1) Sự tiến triển của dòng văn chương mới: trong phần này, Kawabata đã chỉ ra vai trò của sự nhận thức về “cái
mới” trong việc hình thành dòng văn học mới; (2) Tân cảm giác: là cái mới về mặt
cảm xúc, nội dung và hình thức thể hiện, ở phần này Kawabata nhấn mạnh vai trò của cảm xúc; (3) Nhận thức luận của chủ nghĩa biểu hiện: Kawabata nhấn mạnh đến
sự ảnh hưởng của chủ nghĩa Biểu hiện đến văn học Tân cảm giác; (4) Phương thức biểu hiện của chủ nghĩa Đa đa: tác giả cho rằng phương thức biểu hiện của Tân cảm giác chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Đa Đa [64]
Văn học Cách mạng và trường phái Tân cảm giác của Yokomitsu (1925) đã
chỉ ra sự tồn tại và cần thiết của dòng văn chương mới gắn liền với những sáng tác
của trường phái Tân cảm giác [61]
Bài viết Luận về Tân cảm giác của Yokomitsu Riichi (1925) đã lý giải sự
khác biệt giữa “cảm giác” và “tân cảm giác”, cảm giác hóa cuộc sống, văn học và cảm giác [62]
Bên cạnh đó, tiểu luận Tiểu thuyết thuần túy của Yokomitsu Riichi (1926) là những lập luận gắn với Tân cảm giác của nhà văn về cái được gọi là tiểu thuyết
thuần túy [63]
Về tài liệu tiếng Anh, có thể kể:
Với công trình Dawn to the West – Japanese Literature in the Modern Era Fiction (1984) (Holt, Rinehart and Winston, New York) của Donald Keene [59],
Trang 12cuộc đời và sự nghiệp của Kawabata Yasunari và Yokomitsu Riichi được giới thiệu
khá kỹ lưỡng, ở đó trường phái Tân cảm giác chỉ được nhắc qua khi nói về các trào
lưu ảnh hưởng đến quá trình sáng tác của các nhà văn và dấu ấn của trường phái này
trong tác phẩm của hai nhà văn trụ cột Tân cảm giác
Tuyển tập những truyện ngắn trong lòng bàn tay của Kawabata Yasunari,
gồm những truyện ngắn được viết vào thời kỳ Tân cảm giác và thời gian sau năm
1927 có bản tiếng Anh: Yasunari Kawabata (1988) (Translated from the Japanese
by Lane Dunlop and J Martin Holman), Palm of the Hand Stories, Charles E Tuttle
Company, Japan, đã được Nguyễn Nam Trân dịch ra tiếng Việt 15 truyện, trong đó
có 11 truyện được Kawabata sáng tác vào giai đoạn hình thành và phát triển của
trường phái Tân cảm giác (1924 – 1927) (gồm các truyện: Hướng nắng - 1923, Món
đồ dễ vỡ - 1924, Tóc - 1924, Đôi chim hoàng yến - 1924, Bến cảng - 1924, Cảm ơn
- 1925, Mẹ - 1926, Lập trường người con - 1926, Lũ cá vàng trên sân thượng -
1926, Móng tay buổi sáng – 1926, Hoa huệ - 1927) [70]
Bài viết Yokomitsu Riichi và cuộc duy tân Nhật Bản của Franziska Kasch (2007) là một tiểu luận giới thiệu khái quát về Yokomitsu và trường phái Tân cảm giác với các phần: Dẫn nhập, Yokomitsu Riichi và sự sáng tạo trường phái Tân cảm giác, Nước Nhật mới và những tiểu thuyết của Yokomitsu, Kết luận [57]
Nhìn chung, theo những tài liệu tiếng nước ngoài chúng tôi tiếp cận được
trên đây, Tân cảm giác được các nhà nghiên cứu xem là trường phái văn học có vị
trí quan trọng và tầm ảnh hưởng trong lịch sử văn học Nhật Bản đầu thế kỷ XX, thậm chí ảnh hưởng đến văn học Trung Quốc Tuy nhiên, việc nghiên cứu về trường
phái Tân cảm giác chỉ mới dừng lại ở mức khái quát, chưa được nghiên cứu sâu như
một hiện tượng văn học thật sự
3.2 Lịch sử nghiên cứu ở Việt Nam
Cũng như trên thế giới, ở Việt Nam, tình hình nghiên cứu trường phái Tân cảm giác trong văn học Nhật Bản đầu thế kỷ XX chưa được chú trọng đúng mức Việc tìm hiểu Tân cảm giác chỉ nằm ở mức độ giới thiệu tổng quan, mối quan tâm
Trang 13chủ yếu được tập trung ở những công trình nghiên cứu về Kawabata Yasunari, một
trong những trụ cột của trường phái Tân cảm giác
Về tài liệu tiếng Việt, năm 2011, Nguyễn Nam Trân xuất bản Tổng quan Lịch sử văn học Nhật Bản [51], ở đó trường phái Tân cảm giác được đề cập trong hai trang, với các nội dung sau: khái quát về đặc điểm trường phái Tân cảm giác và
giới thiệu những nét cơ bản về Yokomitsu Riichi và Kawabata Yasunari
Các tài liệu tiếng Việt viết về trường phái Tân cảm giác và về Yokomitsu
Riichi ở Việt Nam cũng rất khiêm tốn, các tác phẩm của ông không được phổ biến
rộng rãi, Từ điển văn học bộ mới xuất bản năm 2004 cũng không có mục từ Yokomitsu Riichi hay trường phái Tân cảm giác Yokomitsu Riichi chỉ có hai truyện ngắn thuộc giai đoạn của trường phái Tân cảm giác là Con ruồi và Mùa xuân
đi xe thổ mộ được giới thiệu trong tuyển tập Vườn cúc mùa thu do Nguyễn Nam
Trân chủ biên, được Nhà xuất bản Trẻ ấn hành vào năm 2007
Những năm gần đây, khoa Văn học và Ngôn ngữ trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân Văn Thành phố Hồ Chí Minh liên tục tổ chức các hội thảo quốc tế
về Nhật Bản, chính trong những hội thảo này, các vấn đề về văn học Nhật Bản lâu nay chưa tìm hiểu, nghiên cứu kỹ lưỡng được đưa ra bàn luận, trong đó có những
tham luận về trường phái Tân cảm giác Nhật Bản
Trong hội thảo quốc tế “Quá trình hiện đại hóa văn học Nhật Bản và các nước khu vực văn hóa chữ Hán: Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc” vào năm 2010,
Nhà nghiên cứu Nguyễn Lương Hải Khôi có tham luận Tư tưởng của Kawabata Yasunari về văn học Tân cảm giác: lý luận, thực tiễn sáng tạo và một số vấn đề về hiện đại hóa văn học [29], có thể nói đây là tài liệu nghiên cứu về Tân cảm giác
được xem là kỹ càng nhất từ trước tới nay ở Việt Nam, bài viết được chia làm bốn
mục: (1) Trường phái văn học Tân cảm giác trên văn đàn Nhật đầu thế kỷ XX: mục này tác giả giới thiệu khái quát về sự ra đời của trường phái Tân cảm giác ở Nhật
Bản; (2) Bài tiểu luận “Luận giải về khuynh hướng mới của các nhà văn mới” của Kawabata Yasunari: phần này tập trung đi sâu phân tích các luận điểm về trường
Trang 14phái Tân cảm giác của Kawabata trong bài viết Luận giải về khuynh hướng mới của các nhà văn mới; (3) Lý luận về văn học Tân cảm giác và thực tiễn sáng tác của Kawabata Yasunari: tác giả dùng những lý luận về Tân cảm giác soi chiếu các sáng
tác truyện ngắn trong lòng bàn tay của Kawabata; (4) “Nhật Bản hóa tính hiện đại”
ở truyện ngắn: từ lý luận đến thực tiễn sáng tác có tính “Tân cảm giác” của
Kawabata Yasunari: ở phần cuối cùng của tham luận, tác giả gắn trường phái Tân cảm giác vào quá trình hiện đại hóa văn học Nhật Bản Nhìn chung, trong tham luận, tác giả đã dựa vào việc phân tích bài tiểu luận Luận giải về khuynh hướng mới của các nhà văn mới của Kawabata Yasunari để đem đến cho người đọc những hiểu biết về trường phái Tân cảm giác
Cũng trong hội thảo này, tác giả Trần Thị Tố Loan có tham luận Kawabata trong quá trình hiện đại hóa văn học Nhật Bản [33], trong bài viết này, tác giả cũng dành một phần nói đến trường phái Tân cảm giác và xem xét sự ảnh hưởng của nó
đối với sáng tác Kawabata Yasunari Bài viết cũng là sự khái lược lại những luận
điểm trong tiểu luận Luận giải về khuynh hướng mới của các nhà văn mới của
Kawabata Yasunari
Năm 2012, bài viết Các tổ chức và trào lưu văn học Đông Á đầu thế kỷ XX
của tác giả Lưu Hồng Sơn [69] có một phần khái quát về quá trình hình thành và
giới thiệu tác giả tiêu biểu (Kawabata Yasunari) của trường phái Tân cảm giác
trong văn học Nhật Bản đầu thế kỷ XX, tuy nhiên những luận điểm này chỉ có tính chất gợi mở chứ chưa đi sâu vào phân tích kỹ càng
Ngoài ra còn một số tài liệu tiếng Trung Quốc viết về văn học Tân cảm giác như: Diệp Vị Cừ (1988), Tuyển tập văn học Tân cảm giác Nhật Bản; Thẩm Văn Phàm (2006), Ảnh hưởng của Trường phái Tân cảm giác đối với văn học Trung Quốc, Tạp chí Nhật Bản học luận đàm Tuy nhiên, rất lấy làm tiếc, do hạn chế về
ngoại ngữ nên chúng tôi chưa tiếp cận được với hai tác phẩm này nhưng qua những
gì chúng tôi được biết thì các công trình cũng chỉ ở mức độ giới thiệu các sáng tác
Trang 15của trường phái Tân cảm giác và chỉ ra những ảnh hưởng của Tân cảm giác Nhật
Bản đối với Trung Quốc
Theo tìm hiểu còn chưa đầy đủ của chúng tôi, tình hình nghiên cứu trong và
ngoài nước về trường phái Tân cảm giác chưa nhiều, nhưng cũng đã có được một số
nền tảng nhất định Đặc biệt, công trình liên quan trực tiếp và nghiên cứu sâu về đề
tài TRƯỜNG PHÁI TÂN CẢM GIÁC TRONG VĂN HỌC NHẬT BẢN ĐẦU THẾ KỶ
XX hầu như chưa có
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện công trình này, chúng tôi đã tiến hành các bước chủ yếu sau:
- Phân tích, hệ thống hóa, so sánh
Phương pháp phân tích và tổng hợp: phân tích các tác phẩm cụ thể trong giai đoạn hình thành và phát triển của trường phái văn học để tìm hiểu về phương diện nội dung và nghệ thuật của nó
Trong công trình, chúng tôi cũng sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu với tình hình văn học Việt Nam và các nước khác để làm sáng rõ hơn về trường phái, giai đoạn văn học
Các phương pháp chuyên ngành:
Trang 16Phương pháp phê bình tiểu sử: dựa vào cuộc đời và sự nghiệp văn chương của tác giả để khảo sát phong cách sáng tác, dấu ấn cuộc đời của nhà văn trong việc hình thành phong cách nhà văn, định hình về mặt nội dung và nghệ thuật của trường phái
Phương pháp phê bình xã hội học: nhằm đánh giá những vấn đề mang tính xã hội, thời đại tác giả đề cập trong tác phẩm, các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành trường phái văn học
Phương pháp phê bình văn hóa - lịch sử: đặt trường phái văn học vào thời đại lịch sử nó ra đời để lý giải những sáng tạo, nội dung tư tưởng, phong tục, … làm nền tảng cho lý luận của trường phái
Các phương pháp nghiên cứu liên ngành: trong phạm vi đề tài, muốn hiểu rõ
về trường phái Tân cảm giác, chúng tôi phải nắm bắt được các kiến thức về văn
hóa, xã hội vì vậy cần phải sử dụng kiến thức của các ngành khác như: mỹ học, văn hóa học, triết học, lịch sử…
Trang 17Luận văn gồm có 98 trang chính văn Ngoài phần Mở đầu (9 trang), Kết luận (2 trang), Tài liệu tham khảo (tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Nhật, website tiếng Việt), Phụ lục (59 trang), luận văn được triển khai thành các chương sau:
Chương 1 - Văn học Nhật Bản đầu thế kỷ XX và trường phái Tân cảm
giác (22 trang): chương này, chúng tôi điểm qua tình hình văn học Nhật Bản đầu
thế kỷ XX, đồng thời giới thiệu về cội nguồn, lịch sử, đóng góp của trường phái Tân cảm giác Nhật Bản
Chương 2 - Trường phái Tân cảm giác Nhật Bản, nhìn từ phương diện nội dung (27 trang): chúng tôi khai thác nội dung của trường phái Tân cảm giác ở
bình diện cái tôi chủ quan và nhu cầu biểu hiện cái tự ngã, nội tâm nhân vật, vấn đề giá trị tồn sinh và quan hệ tồn sinh
Chương 3 - Trường phái Tân cảm giác Nhật Bản, nhìn từ phương diện nghệ thuật (29 trang): chúng tôi tiến hành tìm hiểu Tân cảm giác Nhật Bản trên
phương diện nghệ thuật, tập trung vào vấn đề thể loại và dung lượng tác phẩm, các dạng kết cấu, loại hình nhân vật, hệ thống thủ pháp và ngôn ngữ nghệ thuật
Trang 18CHƯƠNG 1 VĂN HỌC NHẬT BẢN ĐẦU THẾ KỶ XX VÀ
TRƯỜNG PHÁI TÂN CẢM GIÁC
Nhật Bản đầu thế kỷ XX có nhiều bất ổn về kinh tế, chính trị, bên cạnh đó dư chấn của trận động đất Kantô 1923 đã gieo vào lòng người dân xứ sở Phù Tang tư tưởng bi quan, chán nản trước hiện thực Văn học Nhật Bản đầu thế kỷ XX phân
hóa thành nhiều trào lưu, trường phái khác nhau, trong đó Tân cảm giác là trường
phái mang nhiều dấu ấn mới mẻ, tiếp thu những tư tưởng tiến bộ của phương Tây nên có được vị trí quan trọng trên văn đàn Nhật Bản
1.1 Những khuynh hướng và trường phái văn học ở Nhật Bản đầu thế kỷ XX
Nhật Bản là đất nước của động đất, người dân xứ sở hoa anh đào luôn trong tình trạng sẵn sàng đối phó với thiên tai Tuy nhiên, những năm cuối thời Taishô đầu thời Shôwa, người dân Nhật Bản gánh chịu khủng hoàng kinh tế cùng với nỗi đau dư chấn động đất làm cho họ không còn lạc quan, tin tưởng vào chủ nghĩa nhân đạo
Văn học Nhật Bản đầu thế kỷ XX hoạt động khá sôi nổi, tuy nhiên có thể khái quát thành hai khuynh hướng văn học lớn là khuynh hướng văn học vị nhân sinh và khuynh hướng văn học vị nghệ thuật Việc phân chia văn học thời kỳ này cũng chỉ mang tính chất tương đối bởi văn học là thứ nghệ thuật phải tổng hòa được nhiều yếu tố của cuộc sống bằng những bút pháp nghệ thuật độc đáo
1.1.1 Khuynh hướng văn học vị nhân sinh
Cuối thời Taishô, đầu thời Shôwa, khuynh hướng văn học vị nhân sinh Nhật
Bản phát triển mạnh mẽ với các trường phái văn học như trường phái Minh Tinh, trường phái Tự nhiên, trường phái Lý tưởng mới/ Bạch Hoa, trường phái Hậu chiến,
Trang 19phong trào văn học Dân chủ chủ nghĩa Văn học vị nhân sinh Nhật Bản đầu thế kỷ
XX coi trọng vai trò, vị trí của con người trong cuộc sống, nhấn mạnh chức năng phản ánh xã hội của văn học Văn học vị nhân sinh bao gồm nhiều trường phái văn học trên văn đàn văn học Phù Tang, vì vậy nó đóng vai trò quan trọng, là một bộ phận không thể thiếu trong sự phát triển của văn học Nhật Bản đầu thế kỷ XX
Trường phái Minh Tinh
Năm 1900, nhà thơ Yosano Hiroshi sáng lập Tân thi xã, nơi đây tập trung
nhiều nhà thơ của phong trào thơ Waka mới và phong trào thơ lãng mạn chủ nghĩa
cận đại, các tác giả này quy tụ thành trường phái Minh Tinh Phái Minh Tinh lấy tạp chí Minh Tinh làm cơ quan ngôn luận
Có thể xem Minh Tinh là trường phái thơ mới hình thành ở Nhật Bản đầu thế
kỷ XX, sự ra đời của trường phái này được đánh dấu bằng sự xuất hiện của bài thơ
phản chiến Em không thể chết! (1904) của tác giả Yosano Akiko (1878 – 1942) Cũng chính từ sự ra mắt ấn tượng này phái Minh Tinh đã qui tụ được nhiều tác giả
nổi tiếng như: Ishikawa Takuboku (1886 – 1912), Kitahara Hakushu (1885-1942), Mori Ogai (1862 – 1922)…
Tác giả tiêu biểu của trường phái Minh Tinh phải kể đến nhà văn, nhà phê
bình, dịch giả Mori Ogai Những năm tháng du học ở Đức, nhận thấy sự trì trệ của văn học Nhật Bản sau hơn hai trăm năm tỏa quốc, ông đã tiếp thu nền văn hóa phương Tây một cách tự nhiên, cởi mở để rồi khi trở về nước Mori Ogai mạnh dạn truyền bá, ra sức đưa văn học xứ Phù Tang bắt kịp với thế giới bằng cách giới thiệu các tác phẩm phương Tây, mở lối cho phê bình văn học mới, cách tân thơ ca
Tuy nhiên, sự xuất hiện của Chủ nghĩa Tự nhiên đã tác động rất lớn đến các tác giả phái Minh Tinh, sáng tác của phái này ngày càng đi xuống Năm 1907, một
số tác giả đã không còn quan hệ với chủ bút của tạp chí Minh Tinh Yosano Hiroshi, buộc lòng tạp chí phải đình bản một năm sau đó và hoạt động của phái Minh Tinh
cũng chấm dứt
Trường phái Tự nhiên
Trang 20Tự nhiên là trường phái văn học thu hút được nhiều cây bút xuất sắc trên văn
đàn văn học Nhật Bản, có thể kể đến những đại diện tiêu biểu như: Shimazaki Toson (1872 – 1943), Tayama Katai (1871 – 1930), Masamune Hakucho (1879 –
1962), Có lẽ cũng vì thế mà trường phái Tự nhiên được xem là một trong những
trường phái văn học tiêu biểu của Nhật Bản đầu thế kỷ XX
Trường phái Tự nhiên chủ trương sáng tác theo nguyên mẫu sự vật, trên
phương diện nghệ thuật họ “bài trừ kỹ xảo” Hiện thực đen tối đã làm cho các nhà văn bi quan, các tác giả cảm thấy thích thú khi bắt gặp tư tưởng lý luận văn học chủ
nghĩa tự nhiên của phương Tây Chủ nghĩa Tự nhiên Nhật Bản mở đầu chỉ là các
sáng tác mô phỏng theo lý luận văn học phương Tây, tuy nhiên các sáng tác sau này
như: Phá giới (Shimazaki Toson), Thầy giáo làng (Tayama Katai),… đều được
đánh giá cao
Đại diện của trường phái Tự nhiên Shimazaki Toson được xem là một trong những người mở màn cho văn chương cận kim Nhật Bản, “ông đề xướng ra trong tiểu thuyết Nhật một khuynh hướng hiện thực phê phán bắt nguồn từ chủ nghĩa tự nhiên và những nhà viết chuyện đại chúng” [28, 13] Toson khởi đầu sự nghiệp của mình dưới vai trò là một nhà thơ theo phong cách lãng mạn và đã cho ra đời nhiều
tập thơ như: Wakana shu (Tuyển tập về những ngọn rau non, 1897), Natsukuka (Ngọn cỏ mùa hạ, 1898), Hito habune (Một tàu rau, 1898),… Sau đó Toson từ bỏ
thơ ca, ông dấn thân vào lĩnh vực tiểu thuyết và đạt được thành công bởi tác phẩm
Phá giới (1906), đây là cuốn tiểu thuyết được đánh giá cao không chỉ lúc bấy giờ
mà đến tận ngày nay nó vẫn được coi là cuốn tiểu thuyết ý vị nhất trong trào lưu Tự nhiên chủ nghĩa ở Nhật Bản
Quy tụ được nhiều nhà văn tên tuổi, trường phái Tự nhiên nhanh chóng trở thành chủ lưu của văn học Nhật Bản đầu thế kỷ XX Lý luận của văn học Tự nhiên
trở thành nền tảng lý luận của văn học Nhật Bản hiện đại với vai trò của các nhà lý luận, phê bình văn học như: Hogetsu Shimamura (1871 – 1918), Hasegawa Ryusei (1928 -), Tengen Katagami (1884 – 1928),… Tuy nhiên, vì tính chất phiến diện của
Trang 21nó, trường phái Tự nhiên ở Nhật Bản cũng chịu chung số phận với chủ nghĩa Tự nhiên trên thế giới, nó thoái trào sau khi đã lan rộng và làm mưa làm gió trên văn
đàn
Trường phái Lý tưởng mới/ Bạch hoa
Sau một thời gian, các nhà văn không còn thấy thích thú với cách miêu tả
máy móc, trần trụi của các tác giả Tự nhiên, một nhóm các nhà văn đề cao chủ
nghĩa lý tưởng đứng ra sáng lập trường phái văn học mới Các nhà văn này chủ
trương lấy chủ nghĩa lý tưởng mới làm tuyên ngôn nghệ thuật đã thành lập phái Lý tưởng mới vào năm 1910 với cơ quan ngôn luận là tờ văn nghệ Bạch hoa nên phái này còn được gọi là trường phái Bạch Hoa
Trường phái Bạch hoa quy tụ các họa sĩ và nhà văn tên tuổi như: Mushanokoji Saneatsu (1885 – 1976), Arishima Takeo (1878 – 1923),… Bạch hoa
không có tôn chỉ rõ ràng như các trường phái khác, các nhà văn chỉ quan tâm đến đạo đức xã hội, sáng tác dựa trên niềm lạc quan và tư tưởng nhân văn Các nhà văn tôn trọng ý chí của tự nhiên và nhân loại để từ đó tìm hiểu cuộc sống cá nhân
Đại địa chấn 1924 đã khiến cho tờ văn nghệ Bạch hoa phải đình bản, một mặt tư tưởng của trường phái Bạch hoa bị ảnh hưởng của các chủ nghĩa khác nên
các tác giả của trường phái này đã tách ra tìm hướng đi riêng Tuy chỉ tồn tại trong
khoảng thời gian ngắn nhưng các nhà văn của trường phái Bạch Hoa đã để lại
những dấu ấn khó phai cho văn học Nhật Bản sau này
Trường phái Hậu chiến
Nhật Bản trải qua hai cuộc chiến tranh thế giới với những vết thương lòng
khó liền sẹo, các nhà văn của phái Hậu chiến bước ra từ chiến tranh với ám ảnh
chiến trường, tù ngục, đàn áp,… Họ viết bằng chính những trải nghiệm của mình với tâm trạng bất mãn hiện thực
Văn học Hậu chiến Nhật Bản hình thành sau khi chiến tranh thế giới kết
thúc Trường phái này được chia thành hai nhóm: nhóm các nhà văn xuất hiện sau
Trang 22đại chiến thế giới lần thứ nhất (nhóm hậu chiến một) và nhóm các nhà văn xuất hiện sau đại chiến thế giới lần thứ hai (nhóm hậu chiến hai) Các đại diện tiêu biểu của phái này có thể kể đến các tên tuổi như: Noma Hiroshi (1915 – 1991), Shiina Rinzo (1911 – 1973), Umezaki Haruo (1915 – 1965), Sáng tác của họ chủ yếu đi sâu vào bức tranh u tối của chiến tranh với những dư chấn về tinh thần, các tác phẩm chính
là trải nghiệm của tác giả nên ám ảnh người đọc đến từng câu chữ Bức tranh u tối (1946) của Noma Hiroshi và Linh hồn (1946) của Haniya Yataka là những phẫn nộ
của con người về sinh mệnh bị chà đạp và tuổi trẻ bị vùi lấp bởi sự thống trị của
phát xít Đảo anh đào (1946) của Umezaki Haruo chính là sự chán ghét chiến tranh
của những binh sĩ hải quân
Các nhà văn thuộc nhóm hậu chiến một chịu ảnh hưởng tư tưởng của các nhà
bình luận văn học trên tờ Văn học cận đại, họ chú ý đến việc tôn trọng cá nhân,
nhấn mạnh việc miêu tả nội tâm nhân vật đồng thời sử dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật của phương Tây
Nhóm nhà văn hậu chiến hai kế thừa và phát huy nền móng của các nhà văn hậu chiến một cả về mặt thủ pháp nghệ thuật cũng như nội dung Tiếp tục đề tài chiến tranh, các nhà văn thời kỳ này đi sâu vào tâm trạng bất an, hoảng loạn của con người trong thời chiến đồng thời vạch trần âm mưu xâm lược của Trung Quốc cũng như tội ác của phát xít Nhật
Phong trào văn học Dân chủ chủ nghĩa
Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, văn học Nhật Bản được lãnh đạo bởi Đảng Cộng sản, họ chủ trương “phong trào văn học dân sinh chủ nghĩa” “Hội Văn học nước Nhật mới” được hình thành năm 1945 với vai trò của các nhà văn: Nakano Shigeharu (1902 – 1979), Tsuboi Shigeji (1897 – 1975), Akita Ujaku (1883 – 1962), Fuchimori Seikichi (1892 – 1977), Miyamoto Yuriko (1899 – 1951),
Tokunaga Sunao (1899 – 1958),… Năm 1946, tờ Văn học nước Nhật mới ra đời với
cương lĩnh hoạt động gồm năm điều:
1 Sáng tác và phổ biến văn học dân chủ chủ nghĩa;
Trang 232 Ra sức phát huy và kêu gọi sáng tác văn học có tính sáng tạo của nhân dân đại chúng;
3 Đấu tranh chống văn học và văn hóa phản động;
4 Tranh thủ sự tự do để hoạt động văn học;
5 Liên hiệp, hợp tác với phong trào văn học và văn hóa tiến bộ trong nước cũng như quốc tế
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 5 (1946) của đảng Cộng sản Nhật Bản nhất trí với cương lĩnh hoạt động của Hội, nhà phê bình văn học Nakajima Kenzo (1903 – 1979) làm chủ tịch “Hội Văn học nước Nhật mới”, tiểu thuyết gia Abe Tomoji (1903 – 1973) làm phó chủ tịch
Các tác phẩm của “Hội văn học nước Nhật mới” thời kỳ này được sáng tác
khá nhiều, tiêu biểu như tác phẩm Người phơi cỏ (1946), Bảng chỉ đường (1947 – 1950) của nhà văn Miyamoto Yuriko, Bản đồ Tokyo của tôi (1949) của Sata Ineko, Thiếu nữ (1947) của Tanaka Hidemitsu,…
Năm 1950, Đảng Cộng sản Nhật Bản phân hóa thành hai phái, vì vậy văn học cũng xuất hiện hiện nhiều quan điểm khác nhau Nhóm các nhà văn đảng viên như Fuchimori Seikichi, Noma Hiroshi chủ trương văn học phải là vũ khí của Đảng cộng sản, các nhà văn phải thâm nhập vào đời sống của nhân dân, phản ánh cuộc sống lao động và sản xuất trong nhà máy và nông thôn Mặt khác, nhóm các nhà phê bình từng chứng kiến và bị ảnh hưởng bởi bức tranh đen tối của chiến tranh như Honda Shugo (1908 – 2001), Hirano Ken (1907 – 1978), Ara Masahito (1913 – 1979),… chủ trương tôn trọng tính tự chủ của văn học
1.1.2 Khuynh hướng văn học vị nghệ thuật
Song song với khuynh hướng văn học vị nhân sinh, văn học Nhật Bản đầu thế kỷ XX còn tồn tại khuynh hướng văn học vị nghệ thuật với các trường phái như:
trường phái Tân cảm giác, trường phái Nghệ thuật mới, trường phái Duy mỹ Trong
Trang 24phần này chúng tôi xin không đề cập tới trường phái Tân cảm giác, trường phái này
sẽ được đề cập kỹ lưỡng hơn ở mục dưới
Trường phái Nghệ thuật mới
Nghệ thuật mới là trường phái văn học chịu ảnh hưởng của Tân cảm giác,
hình thành nhằm phản ứng lại phong trào văn học vô sản Năm 1929, trường phái
Nghệ thuật mới ra đời từ bài viết Ai là người giẫm lên hoa? của tổng biên tập tạp chí Sóng mới Nakamura Murao (1886 - 1949) Cũng bắt đầu từ bài viết này, các nhà văn quy tụ thành trường phái Nghệ thuật mới với các tên tuổi như: Nakamura
Murao, Funahashi Seiichi (1904 – 1976), Rytanji Y (1901 – 1992), Ibuse Masuji (1897 – 1993), Abe Tomoji (1903 – 1973),…
Trường phái Nghệ thuật mới hình thành khi phong trào văn học vô sản phát triển mạnh mẽ, tuy không có tuyên ngôn nhưng Nghệ thuật mới chủ trương thống
nhất cổ xúy cho nghệ thuật chí thượng và chống lại văn học vô sản, bảo vệ quy luật
tự nhiên của nghệ thuật Có nhiều ý kiến cho rằng, Nghệ thuật mới là trường phái
văn học phản chủ nghĩa Marx vì dòng văn học này công khai phản đối “chủ nghĩa chính trị công lợi”, đồng thời chỉ trích “chính trị đã bóp chết tính nghệ thuật” Khoảng một năm sau đó, các nhà văn của trường phái này đã tách ra các hướng đi
riêng Tuy tồn tại chỉ trong khoảng thời gian ngắn ngủi một năm nhưng Nghệ thuật mới đã thu hút được hầu hết các nhà văn tên tuổi và có các sáng tác tiêu biểu như: Thời đại phóng đãng, Đàn bà với tôi trong nhà trọ (Rytanji Y),…
Kajii Matajirô là nhà văn chịu nhiều ảnh hưởng và thân thiết với Kawabata, ông cũng có những tác phẩm lấy bối cảnh ở vùng Izu thơ mộng Trước khi tiếp xúc với Kawabata, năm 1925 ông đã cùng với một số người cùng chí hướng thành lập
tạp chí Aosora (Trời Xanh) và có các tác phẩm đầu tay: Lemon (Quả chanh), Shiro
no aru machi nite (Ở khu phố có cái thành)
Trường phái Duy mỹ
Đầu thế kỷ XX, Nhật Bản rơi vào khủng hoảng tinh thần với những bất ổn trên các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, một bộ phận các nhà văn tìm cách tránh né
Trang 25hiện thực trong những trang viết u uẩn tìm đến cái đẹp trong thế giới nghệ thuật,
chìm đắm trong tình yêu và hưởng lạc cá nhân, đã thành lập nên trường phái Duy
mỹ Các nhà văn của phái này gồm: Nagai Kafu (1879 – 1959), Junichiro Tanizaki
(1886 – 1965), Kawabata Yasunari (1899 – 1972), Đặc điểm sáng tác của trường phái này là thường tìm đến những cách viết hoa mỹ, ngôn từ diễm lệ, có thái độ chơi đùa với cõi nhân sinh, trốn tránh hiện thực
Đại biểu của phái Duy mỹ phải kể đến tác giả Junichiro Tanizaki với hàng loạt tác phẩm như: Kẻ xăm mình (1910), Nỗi kinh hoàng (1913), Vàng bạc (1918), Chân của Fumiko (1919), Tình yêu của gã khờ (1924), Máy cắt cỏ (1932), Chìa khóa (1956), Nhật ký người điên (1961),… Junichiro sớm tiếp xúc với những tư
tưởng triết học bi quan và chủ nghĩa duy tâm từ những năm tháng học ở khoa Văn tại trường đại học ở Tokyo nên hình thành thái độ hưởng lạc, hư vô đối với cuộc
sống Ông bỏ học giữa chừng và sáng lập tạp chí văn học Tân tự trào vào năm
1910 Nhà văn rất am tường Hán học, từng có thời gian sang Nhật, Trung Quốc và trở về làm cố vấn giao lưu văn hóa Nhật – Trung
Thế kỷ XX với nhiều biến động trong đời sống, văn học Phù Tang có bước chuyển biến mạnh mẽ để theo kịp thời đại Các nhà văn luôn đề cao cái đẹp và giá trị nhân văn trong sáng tác, vì vậy họ luôn muốn tìm đến cách thể nghiệm mới cho
những trang văn Trường phái Tân cảm giác Nhật Bản đầu thế kỷ XX phát huy văn
học truyền thống và kế thừa, tiếp thu những tinh hoa văn hóa phương Tây để sáng tạo nên những trang văn độc đáo và mới mẻ
1.2 Trường phái Tân cảm giác Nhật Bản: cội nguồn, lịch sử,
thành tựu
1.2.1 Cội nguồn và lịch sử
1.2.1.1 Nội sinh
Trang 26Văn hóa Nhật Bản luôn thiên về tình cảm và cái đẹp, người Nhật vốn rất đề cao vai trò của cảm giác, họ nhạy cảm với những đổi thay của tự nhiên và xã hội Tuy nhiên, truyền thống là thứ quý giá họ muốn lưu giữ trong hành trình phát triển,
văn hào Hi Lạp Kazantzaki đã từng nhận xét: “Tâm hồn người Nhật chấp nhận tư tưởng ngoại lai rất dễ dàng; nó chấp nhận một cách không phải là nô lệ; nó lãnh hội tư tưởng, một khi tư tưởng được lãnh hội, nó tháp nhập tư tưởng một cách gắn
bó vào toàn thể truyền thống của nó và tất cả lại trở nên đồng nhất” [5, 6]
Đặc trưng của mỹ học Nhật Bản là sự tôn thờ cái đẹp, người dân Phù Tang xem cái đẹp là chuẩn mực, là nguyên tắc sống, vì vậy đối với họ cái đẹp chính là mục tiêu hướng đến trong bất cứ hoàn cảnh nào, ngay cả tự sát đối với họ cũng phải
là cái chết đẹp Văn học Nhật Bản là nền văn chương của cái đẹp và mang đậm dấu
ấn của Thiền (Zen)
Ở phương Đông, Phật giáo Thiền tông nhấn mạnh những năng lực cảm xúc
và cho rằng thông qua thiền, con người thức tỉnh và tập trung vào khoảnh khắc hiện tại Học hỏi và phát triển những tư tưởng về “cảm giác” và “tân cảm giác” phương Tây, cùng với sự kế thừa quan niệm “thế giới hữu linh” – vạn vật đều có linh hồn
của phương Đông và triết học của Phật giáo Thiền tông, văn học Tân cảm giác Nhật
Bản đầu thế kỷ XX đã có một bước đi táo bạo Thiền là một tông phái của Phật giáo, nó hướng đến sự giác ngộ trong chính đời sống xung quanh và trong bản thân con người, làm cho tâm hồn trở nên thanh tịnh để cảm nhận cái mới lạ, diệu kì của cuộc sống Trong văn học Nhật Bản, Thiền là một yếu tố không thể thiếu Cùng với cái đẹp, Thiền trở thành một đặc trưng của văn học truyền thống Phù Tang
Kế thừa và phát huy những tư tưởng truyền thống của văn học Nhật Bản, các
nhà văn trường phái Tân cảm giác tìm tới sự thể nghiệm mới lạ trong những trang
viết đầy chất thơ Các sáng tác được thể hiện dưới hình thức ngắn gọn làm người đọc liên tưởng đến sự nhỏ xinh đầy ý nghĩa của những bài Haiku, một thể thơ đặc trưng của văn học xứ sở hoa anh đào
Trang 27Văn học phản ánh cuộc sống, Nhật Bản vào đầu thế kỷ XX có nhiều biến động trên các mặt tự nhiên, xã hội, văn hóa nên đòi hỏi các nhà văn phải tìm hướng
đi mới để phản ánh sự bộn bề đó Dưới thời Taishô, phong trào dân chủ vươn lên mạnh mẽ, người dân có ý thức sâu sắc về vai trò của mình đối với lịch sử - xã hội Trình độ dân trí thời kỳ này được nâng cao rõ rệt, hầu như mọi người dân đều biết đọc, biết viết; các đầu báo và lượng ấn hành cũng tăng theo Tuy nhiên, phong trào dân chủ thời Taishô tồn tại không lâu do kinh tế Nhật Bản ngày một xấu đi Trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918), Nhật Bản đạt được sự thịnh vượng
do chiến tranh mang lại bằng việc xuất khẩu hàng hóa sang các nước châu Á, cung cấp hàng dệt cho Trung Quốc và bán cho Mỹ một số lượng lớn tơ sống Tuy nhiên, đến thời hậu chiến, các nước châu Âu dần phục hồi sản xuất và chiếm lại thị trường châu Á, hàng hóa Nhật Bản từ mức xuất siêu trong chiến tranh đã chuyển qua nhập siêu vào thời hậu chiến
Kinh tế trì trệ, khủng hoảng diễn ra, cộng với trận đại địa chấn Kantô vào năm 1923 đã đẩy Nhật Bản vào tình thế bi đát Cuộc sống người dân Phù Tang lâm vào tình trạng ngột ngạt, bế tắc, vì vậy họ mong ngóng một cuộc Duy tân thứ hai như thời Minh Trị
Khi xã hội Nhật Bản bước vào con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhiều nhà văn đã cảm thấy lo sợ trước sự đổi thay Họ nói lên những dự cảm về cái đẹp bị đánh mất như Yokomitsu đã từng viết:
Những niềm tin mà tôi đã từng ôm giữ liên quan đến cái đẹp đều bị tan tành bởi tai hoạ này, và tôi tiến vào cái người ta gọi là thời kì của những Tân cảm giác của tôi Nhìn cho đến tận mút con mắt, đại đô thị trải dài quanh tôi thành một bình nguyên mênh mông không thể nào tưởng tượng ra nổi, chỉ toàn là tro bụi Đó là cảnh tượng mà bên trong đó chiếc xe hơi, cái hiện hình quái thú của tốc độ, lần đầu tiên bắt đầu sục sạo giữa chúng tôi Thình lình máy thu thanh, thứ hậu duệ dị dạng của âm thanh xuất hiện Con chim nhân tạo được gọi là chiếc phi cơ lần đầu tiên bắt đầu bay trên những tầng trời như một vật hữu ích Tất cả những hiện thân cụ
Trang 28thể của khoa học hiện đại lần đầu tiên mọc lên trong đất nước chúng ta ngay sau trận động đất Cảm tính của những người khi đó còn tuổi thiếu niên ─ lúc những thứ tiền phong của khoa học hiện đại hiện hình hết cái này đến cái khác trên bình nguyên bị thiêu rụi ─ đơn giản là phải thay đổi [57]
Với vai trò là một trường phái văn học trên văn đàn Nhật Bản đầu thế kỷ
XX, Tân cảm giác chủ trương lấy nhận thức luận cảm tính làm xuất phát điểm,
dùng cảm giác mới để tri nhận thế giới Sự khác biệt giữa cảm giác (sense) và tân cảm giác (new sense) được nhà nghiên cứu văn học Nhật Bản Donald Keene lý giải như sau:
Sự khác biệt giữa cảm giác và tân cảm giác là ở chỗ: tính khách quan của đối tượng bùng nổ trong cuộc sống không phải là khách quan đơn thuần,
mà đó là đại diện cho sự tri nhận cảm xúc đã bị phá hỏng bởi tính khách quan chủ thể, nó kết hợp cả về mặt diện mạo hình thức lẫn về sự tri nhận chung trong đó Và do đó, phương thức của trường phái Tân cảm giác có thể xuất hiện từ dạng thức tới nội dung một cách năng động hơn phương thức của trường phái Cảm giác… [59]
1.2.1.2 Ngoại nhập
Đầu thế kỷ XX, Nhật Bản có nhiều chuyển biến về mặt kinh tế, xã hội Đất nước mặt trời mọc bắt đầu tiến lên con đường chủ nghĩa tư bản Dưới những tác động của thời đại mới, tiếp xúc với tư tưởng phương Tây, văn học Nhật Bản đầu thế
kỷ XX hình thành nhiều trào lưu, trường phái khác nhau Trường phái Tân cảm giác
qui tụ nhiều nhà văn nổi tiếng có tư tưởng duy tân và được hấp thu nền văn hóa rộng mở của Tây phương nên nhanh chóng chiếm lĩnh văn đàn thời bấy giờ Nền
tảng của Tân cảm giác chính là chủ nghĩa Duy cảm của phương Tây
Ở phương Tây, thuyết Cảm giác được hình thành từ rất sớm và được biết đến với cái tên chủ nghĩa Duy cảm (Sensualism) Chủ nghĩa Duy cảm là một lý thuyết
triết học về nhận thức, các nhà duy cảm cho rằng xúc cảm và tri giác là hình thức cơ
bản và quan trọng nhất của quá trình nhận thức Chủ nghĩa Duy cảm được xem là
Trang 29đối lập với chủ nghĩa Trừu tượng Chủ nghĩa Duy cảm đề cao vai trò của cảm xúc
và khẳng định: “không có gì trong tâm trí mà chưa từng có trong cảm xúc” Các
nhà duy cảm xem cảm xúc là điều kiện đầu tiên và tiên quyết trong quá trình nhận thức
Con người là sự đa phức của các giác quan, ngoài năm giác quan mà chúng
ta thường nhắc tới theo quan niệm truyền thống: thị giác (nhìn), thính giác (nghe), xúc giác (tiếp xúc), vị giác (nếm), khứu giác (ngửi), các nhà duy cảm cho rằng cơ thể chúng ta tiềm ẩn và tồn tại những giác quan khác như: cảm thụ về nhiệt độ (thermoception), cảm thụ về bản thân (kinesthetic hoặc proprioception), cảm thụ về gia tốc (kinesthesioception), cảm thụ về sự cân bằng (equilibrioception) Văn học
Tân cảm giác là sự mở rộng các giác quan để nắm bắt những cảm xúc mới mẻ trong
cuộc sống bằng tâm hồn bén nhạy
Chủ nghĩa Duy cảm đề cao và nhấn mạnh cảm xúc tươi mới về hiện tại, chủ
trương chỉ có những vật thể có thực hoặc đang tồn tại mới là những đối tượng của các giác quan và cho rằng mọi nhận biết thuần duy lí đều được phái sinh từ các giác quan, không có cách nào để thiết lập sự quy chiếu về những quan niệm phái sinh từ kinh nghiệm tới những đối tượng không thuộc cảm quan
Chủ nghĩa Duy cảm là một chủ thuyết triết học về tri thức luận, theo đó các
xúc cảm và tri giác là hình thức cơ bản và quan trọng nhất của nhận thức đích thực
Duy cảm có nguồn gốc xa xưa từ thời cổ đại, trong triết học Hy Lạp cổ đại, Aristotle đã tán thành một chủ thuyết về chủ nghĩa Duy cảm và nhấn mạnh vai trò của các giác quan Đến thế kỷ XVII, chủ nghĩa Duy kinh nghiệm cũng nhấn mạnh
hơn vào vai trò của các giác quan và phản ứng lại sự đề cao lý trí của Descartes
Chủ nghĩa Duy cảm là chủ thuyết siêu hình tương hợp với chủ thuyết về tri thức luận của chủ nghĩa Duy kinh nghiệm, vốn chủ trương rằng mọi nhận biết thuần duy
lí đều được phái sinh từ các giác quan Không có cách nào để thiết lập sự quy chiếu
về những quan niệm phái sinh từ kinh nghiệm tới những đối tượng không thuộc cảm quan
Trang 30Thế kỷ XVIII, dưới ảnh hưởng của John Locke, triết học Pháp xuất hiện chủ
nghĩa Duy cảm cực đoan của Étienne Bonnot de Condillac (1714 – 1780), triết gia này cho rằng: “mọi khả năng của chúng ta đều tới từ những giác quan hoặc chính xác hơn là từ những cảm xúc … những cảm xúc của chúng ta không phải là những phẩm tính của ngay chính những đối tượng nhưng chỉ là những sự cải biến trong linh hồn chúng ta mà thôi”
Thế kỷ XX, khoa học kỹ thuật đạt được bước phát triển vượt bậc, con người
quay cuồng với cuộc sống, văn học hiện đại phương Tây tìm đến chủ nghĩa Duy cảm, hình thành nên những khuynh hướng, trường phái văn học đề cao vai trò trực
cảm của các giác quan, chú ý đến những cảm xúc mới mẻ của hiện tại Tuy không hình thành một trường phái riêng biệt nhưng dấu ấn của cảm giác được tìm thấy
trong những trang viết của các trào lưu như: văn học Lãng mạn, Ấn tượng, Tượng trưng
Dưới thời Edo, “văn chương phù thế” bị bó buộc cùng với chính sách
“sakoku” (tỏa quốc) của chính quyền Tokugawa, trong suốt hơn hai thế kỷ, văn học Nhật Bản đóng kín cửa và có phần lạc lõng so với văn chương thế giới Đến thời Minh Trị Duy Tân, với chủ trương thoát Á của Thiên hoàng Minh Trị, cùng sự mở cửa của đất nước, văn học Nhật Bản chịu ảnh hưởng của những luồng tư tưởng khác nhau Như cánh đồng cạn nước lâu ngày, văn học xứ sở Phù Tang đón nhận dòng nước phương Tây một cách đầy thích thú, có thể nói, làn sóng văn học phương Tây tràn vào Nhật Bản từ thế kỷ XIX đã cho ra đời nhiều trường phái văn học, các nhà văn tiếp thu và ảnh hưởng nhiều trào lưu, tư tưởng phương Tây như: chủ nghĩa
Tự nhiên, chủ nghĩa Duy lý, chủ nghĩa Lãng mạn , nhiều tác giả chuyển sang sáng
tác tiểu thuyết theo phong cách phương Tây Tất cả đã làm nên diện mạo phong phú của văn học Minh Trị Tiếp nối truyền thống văn học thời Minh Trị, kế thừa tư tưởng tiến bộ của các trí thức du học phương Tây, đầu thế kỷ XX, các nhà văn
trường phái Tân cảm giác bằng tài năng đã làm làm nên cuộc gặp gỡ đặc biệt, đó là
cuộc hạnh ngộ giữa văn học truyền thống Nhật Bản và những tư tưởng đổi mới của phương Tây
Trang 31Tân cảm giác xuất hiện vào những năm 20 của thế kỷ XX trong bối cảnh
nước Nhật đang đương đầu với khủng hoảng kinh tế, đồng thời, đại địa chấn kinh hoàng diễn ra năm 1923 đã đưa người Nhật đứng trên bờ khủng hoảng, tuyệt vọng
Cảm giác hư vô, sống vội xâm chiến tâm hồn quật cường của người Nhật
Các nhà văn Tân cảm giác thể nghiệm phong cách sáng tác mới bằng cái nhìn mới,
cảm giác mới
Sự xuất hiện của phái Tân cảm giác vào năm 1924 được đánh dấu bằng tiểu luận Sự ra đời của phái Tân cảm giác của nhà phê bình Chiba Kameo Trường phái Tân cảm giác quy tụ mười bốn nhà văn gồm: Yokomitsu Riichi, Kawabata
Yasunari, Nakaba Yoichi, Kon Toko, Funahasi Seiichi, Kobayashi Hideo, Kataoka Teppei, Sasaki Mosaku, Sasaki Mitsuzo, Suga Tadao, Ishihama Kinsaku, Juichiya
Gisaburo, Suwa Saburo, Kikuchi Hiroshi, có cơ quan ngôn luận là tạp chí Văn nghệ thời đại (Bungei Jidai) với sự hậu thuẫn của Văn nghệ xuân thu (Bungei Shunzui) Với cái tên Văn nghệ thời đại, phải chăng là các nhà văn muốn nhấn mạnh đến ý
thức về một thời đại của văn học và nghệ thuật?
Trường phái Tân cảm giác tiếng Nhật là Shin kankaku ha, trong tiếng Nhật,
“kankaku” vừa có nghĩa là cảm giác và cảm xúc, tuy nhiên đối với Kawabata
“kankaku” có nghĩa rộng hơn, đó chính là cảm quan, con mắt bén nhạy của người
nghệ sĩ khi phản ánh thế giới Kawabata Yasunari chủ trương Tân cảm giác là
trường phái văn học chú ý đến cảm quan mới bằng những cảm xúc mới
Vào thời hưng thịnh của mình, văn học Tân cảm giác đã có những tác phẩm
gây chú ý trên văn đàn bởi nó mở ra con đường sáng tác mới cho văn học Nhật Bản
Tháng 4 năm 1927, tờ Văn nghệ thời đại đình bản, hoạt động của phái Tân cảm giác cũng kết thúc, các nhà văn lần lượt chuyển hướng sáng tác Trường phái Tân cảm giác chỉ chính thức tồn tại trong thời gian ngắn từ 1924 – 1927, nhưng ảnh hưởng
của nó vẫn còn ghi dấu trong văn học Nhật Bản sau này
1.2.1.3 Về chủ trương sáng tác
Trang 32Các tác giả của phái Tân cảm giác cho rằng xã hội ngày càng hiện đại, con người phải nắm bắt thế giới bằng tất cả các giác quan Trường phái Tân cảm giác
chủ trương lấy nhận thức cảm tính làm điểm tựa, các tác giả dựa vào đó để phát
triển con đường nghệ thuật riêng của mình Các nhà văn Tân cảm giác theo đuổi
những cách thức nắm bắt thế giới đầy mới lạ và thể hiện chúng trong những trang
văn tinh tế, đẹp đẽ Bài tiểu luận Luận giải về khuynh hướng mới của các nhà văn mới, nền tảng lý luận của cách biểu đạt theo phong cách Tân cảm giác của
Kawabata Yasunari được xem như tuyên ngôn nghệ thuật của trường phái này
Kawabata cho rằng sự tiến triển của dòng văn chương mới phải bắt đầu từ cảm xúc mới Nhà văn phải nắm bắt hiện thực bằng những qui luật cảm xúc mới và thể hiện bằng cách viết mới
Trong tiểu luận của mình, Kawabata cũng nhấn mạnh đến cơ sở lý luận của cảm xúc mới chính là sự kết hợp giữa chủ nghĩa biểu hiện Đức và thuyết vạn vật
hữu linh của phương Đông Đồng thời, các tác phẩm Tân cảm giác hướng đến cách thức biểu đạt theo phương thức của chủ nghĩa Đa Đa, chú ý đến những thủ pháp kỳ
lạ, cổ súy cho sáng tạo mang tính hình thức chủ nghĩa, đề cao cái ngẫu nhiên
Trường phái Tân cảm giác cho rằng, cách thức nắm bắt thế giới là ở chính bên trong
thế giới nội tâm của con người chứ không phải ở hiện thực bên ngoài Vai trò chủ
quan và trực cảm được đề cao trong phương thức sáng tác của Tân cảm giác
Có thể khái quát chủ trương sáng tác của trường phái Tân cảm giác bằng các
đặc điểm sau:
(1) Đề cao giác quan, trong đó có trực giác và những ghi nhận cụ thể trực tiếp của ngũ quan
(2) Nhấn mạnh trải nghiệm cái hiện tại của nhà văn
(3) Nhạy bén với những thay đổi, vận động của đời sống bên ngoài và bên trong con người
(4) Chú ý các yếu tố ngẫu nhiên, rời rạc
Trang 33(5) Theo đuổi cái đẹp, cái mới cả về ý tưởng lẫn nghệ thuật
(6) Chống lại việc chính trị hóa nghệ thuật
1.2.2 Thành tựu của trường phái Tân cảm giác Nhật Bản
1.2.2.1 Tác gia tiêu biểu
Trường phái Tân cảm giác quy tụ nhiều nhà văn nổi tiếng trên văn đàn thời
bấy giờ, các tác giả và tác phẩm tiêu biểu có thể kể đến như Yokomitsu Riichi với
tác phẩm Đầu và bụng, Ruồi, một số truyện ngắn trong lòng bàn tay của Kawabata Yasunari (được sáng tác vào giai đoạn 1924 – 1927), Kon Toko với Cô dâu gầy, Sasaki Mosaku với Những người khốn khổ,… Tuy nhiên, trong giới hạn của luận
văn, chúng tôi xin đi sâu vào tìm hiểu hai tác gia Yokomitsu Riichi và Kawabata Yasunari cùng những tác phẩm được sáng tác trong thời kỳ 1924 – 1927 của họ
tác khá sớm lúc 19 tuổi và đã thành danh khi gia nhập trường phái Tân cảm giác, các sáng tác của ông thời kỳ này được đăng trên tạp chí Văn nghệ thời đại
Yokomitsu mất năm 1947 khi mới 49 tuổi nhưng tác phẩm của ông vẫn còn giá trị đến tận ngày nay
Yokomitsu Riichi chính thức được biết đến với tác phẩm Kanashimi no daika (Giá của nỗi buồn) sáng tác vào năm 1920, dù đến khi nhà văn qua đời tác
phẩm vẫn không được xuất bản Tác phẩm viết về một người vợ ngoại tình với bạn của chồng Đây là một chi tiết thật trong cuộc đời Yokomitsu Riichi, ông cũng lâm vào hoàn cảnh tương tự khi bắt gặp người yêu nằm trong vòng tay anh bạn thân Biến cố này được xem là bước ngoặc quan trọng trong cuộc đời nhà văn Năm
Trang 341924, khi đã gia nhập trường phái Tân cảm giác, Yokomitsu Riichi viết lại Kanashimi no daika với cách nhìn mới, tác phẩm có tên Maketa otto (Người chồng thua cuộc)
Hầu hết các sáng tác của Yokomitsu Riichi đều là những trải nghiệm của chính nhà văn, vì vậy những trang văn thường được miêu tả bằng những cảm xúc
chân thật và tự nhiên như vốn có Hai tác phẩm Nichirin (Vầng dương), Hae (Con ruồi) của Yokomitsu được đăng trên tạp chí vào năm 1923 chính là những nỗ lực
trong cách thể nghiệm mới của tác giả
Haru wa basha ni notte (Mùa xuân đi xe thổ mộ) được sáng tác vào năm
1924, là tác phẩm được nhiều người biết đến và gắn liền với tên tuổi của Yokomitsu Riichi Truyện ngắn cũng được lấy chất liệu từ chính cuộc đời thật của ông, đó là thời gian ông nuôi người vợ trẻ bị bệnh, với nỗ lực cứu sống vợ, ông đã cùng bà chuyển đến gần bờ biển Hayama với hy vọng không khí trong lành ở đây sẽ cứu sống được Kojima Kimiko Những thời gian cuối đời của người vợ trẻ, Yokomitsu Riichi đã cố gắng thỏa mãn những ý thích bất chợt của bà, tuy nhiên, Kimiko đã đầu hàng số phận khi ra đi ở tuổi đôi mươi, sự ra đi của bà là cú sốc quá sức đối với nhà văn
Năm 1928, Yokomitsu Riichi đến Thượng Hải, trong thời gian một tháng lưu lại nơi đây ông đã thu thập đủ tư liệu để viết nên cuốn tiểu thuyết duy nhất trong
cuộc đời mang tên Thượng Hải Tiểu thuyết viết về cuộc xung đột dẫn đến đình
công trong một nhà máy ở Trung Quốc Tác phẩm là những trang viết về sự hỗn loạn và ngột ngạt của thành phố Thượng Hải
Trong suốt cuộc đời sáng tác ngắn ngủi của mình, Yokomitsu luôn kết hợp nhuần nhuyễn những giá trị truyền thống Nhật Bản với tư tưởng, kỹ thuật viết của
phương Tây, ông nhiệt thành với kỹ thuật viết Tân cảm giác cho đến những trang văn cuối cùng, và chính Tân cảm giác đã đem đến cho nhà văn một vị trí vững vàng
trên văn đàn Nhật Bản Lối viết và quan điểm nghệ thuật của Yokomitsu Riichi rất
Trang 35gần gũi với Kawabata Yasunari Sau khi Văn nghệ thời đại đình bản, Yokomitsu Riichi là nhà văn duy nhất cố gắng lưu giữ phong cách sáng tác của Tân cảm giác
Kawabata Yasunari (1899 – 1972)
Kawabata Yasunari được biết đến như người đưa ra tuyên ngôn nghệ thuật
cho trường phái Tân cảm giác, cùng với Yokomitsu Riichi ông được xem là trụ cột của văn học Tân cảm giác đầu thế kỷ XX
Kawabata Yasunari sinh năm 1899 ở Osaka trong một gia đình có cha là y sĩ rất yêu thích văn chương nghệ thuật Sớm mồ côi cha mẹ, cuộc đời ông gặp nhiều biến cố và thăng trầm Tuổi thơ nhà văn là những tháng ngày sống cùng ông bà ngoại, tuy nhiên khi ông lên bảy thì bà ngoại qua đời, lúc lên chín thì mất chị gái và chỗ dựa cuối cùng là ông ngoại cũng bỏ nhà văn ra đi khi ông được mười bốn tuổi Thời niên thiếu bất hạnh đã làm cho tâm hồn Kawabata trở nên yếu đuối, ông chỉ biết tìm đến cái đẹp trong văn chương nghệ thuật như một sự cứu rỗi trong tâm hồn
Sự bất hạnh bám riết Kawabata Yasunari khi ông mất đi Chiyo - người con gái đã hứa hôn mà ông rất mực yêu thương Chiyo bất ngờ từ hôn không một lời giải thích càng làm cho vết thương lòng của nhà văn ngày một sâu và không thể liền sẹo Chính những đau khổ trong cuộc đời thực làm cho những trang văn của Kawabata sau này luôn có sức ám ảnh người đọc qua nhiều thế hệ
Tốt nghiệp ban quốc văn Đại học Đông Kinh, Kawabata Yasunari dấn thân vào con đường văn chương một cách tự nhiên, coi văn chương là bạn, là nơi để
khỏa lấp những ưu sầu trong tâm hồn Nhật ký tuổi mười sáu được viết trong những
ngày ông ngoại trên giường bệnh, chính là khởi đầu tốt đẹp cho thiên tài văn học Nhật Bản Kawabata Yasunari
Những năm tháng ở trường Đại học, Kawabata tham gia các hoạt động văn
nghệ sôi nổi, ông cùng một số bạn văn cho ra đời tạp chí Trào lưu mới (Sintio), cũng chính trên tạp chí này, truyện ngắn đầu tay Sokogai Ikai (Lễ chiêu hồn) của
ông được đăng
Trang 36Kawabata Yasunari rất yêu nước Nhật nhưng ông cũng không quên tìm hiểu những cái đẹp của thế giới Khi còn học đại học, nhà văn say mê tìm hiểu văn học Anh bên cạnh văn học Nhật Cũng chính vì thế mà lối viết của Kawabata mang đậm dấu ấn Á Đông nhưng không kém phần hiện đại
Giai đoạn sáng tác đầu tiên của Kawabata gắn liền với trường phái Tân cảm giác Kiệt tác Izu no odoriko (Vũ nữ xứ Izu) ra mắt năm 1926 chính là kỷ niệm trong
trẻo của nhà văn với cô bé vũ nữ niền Izu, nơi ông thường lui tới từ lúc học dự bị Đại học Những trang văn tươi mát, nhẹ nhàng của tuổi trẻ sôi nổi thấm đẫm bút
pháp của trường phái Tân cảm giác gieo vào lòng người đọc những cảm xúc ý vị
Tập truyện ngắn trong lòng bàn tay của Kawabata Yasunari chính là những
thể nghiệm của nhà văn đối với lối viết của trường phái Tân cảm giác Trong khuôn
khổ của luận văn chúng tôi chỉ tìm hiểu những truyện ngắn trong thời kỳ hưng thịnh
của trường phái Tân cảm giác từ năm 1923 đến 1927, các truyện ngắn có thể kể đến như: Hinata (Hướng nắng, 1923), Yowaki utsuwa (Bình dễ vỡ, 1924), Kami (Tóc, 1924), Minato (Bến cảng, 1924), Suruga no reijo (Cô tiểu thư ở Suruga, 1927),…
Thành công với nhiều thể loại nhưng tiểu thuyết mới chính là đỉnh cao của Kawabata Yasunari khi đem đến vinh quang Nobel văn học 1968 cho văn chương
Nhật Bản Bộ ba tiểu thuyết Xứ tuyết (1947), Ngàn cánh hạc (1951) và Cố đô
(1961) được xem như kiệt tác của văn chương Nhật Bản trong mọi thời đại Với bút pháp tân kỳ nhưng luôn lưu giữ truyền thống văn học, văn hóa Nhật Bản, Kawabata Yasunari đã chinh phục được viện Hàn lâm Thụy Điển khi đưa nước Nhật lên bục
vinh quang của Nobel văn chương: “Ông là người tôn vinh cái đẹp hư ảo và hình ảnh u uẩn của hiện hữu trong đời sống thiên nhiên và trong định mệnh con người”
(diễn văn của tiến sĩ Anders Usterling trong lễ trao giải Nobel 1968)
Bên cạnh vai trò là một nhà văn luôn hướng tới cái đẹp, Kawabata Yasunari còn giữ cương vị chủ tịch Hội văn bút Nhật Bản trong nhiều năm Với vị trí ấy, nhà văn đã có công lớn trong việc thúc đẩy dịch các tác phẩm văn học Nhật ra tiếng nước ngoài để giới thiệu với bạn bè thế giới
Trang 37Cuộc đời sáng tác của Kawabata để lại một gia tài đồ sộ với nhiều tác phẩm
có giá trị Kawabata được mệnh danh là nhà văn của cái đẹp, ông đau đáu đi tìm cái đẹp trong chính tâm hồn Nhật Bản, đẹp và buồn chính là những trang viết ám ảnh của nhà văn Ông đắm chìm trong văn chương nhưng rồi cũng không thoát khỏi cái buồn, Kawabata Yasunari tự giải thoát khỏi những bất hạnh bằng cách tự kết liễu cuộc đời mà không để lại di chúc, dù trước đây ông đã từng chỉ trích Akutagawa và
Dazai Osamu: “Dù thế giới này có xa lạ bao nhiêu, thì tự sát cũng không dẫn đến giải thoát Người tự sát dù có cao thượng bao nhiêu, anh ta vẫn còn lâu mới là người thông tuệ Không phải Akutagawa, không cả Dadai Osamu (1909 – 1948), người tự sát sau chiến tranh, không một người tự sát bất kỳ nào khác có thể gợi lên trong tôi cả sự thấu hiểu lẫn thông cảm” [26, 967]
1.2.2.2 Đóng góp của trường phái Tân cảm giác trong đời sống văn
học Nhật Bản
Tuy chỉ chính thức tồn tại trong ba năm nhưng trường phái Tân Cảm giác
đóng vị trí và vai trò quan trọng trong đời sống văn học Nhật Bản đầu thế kỷ XX và
cả giai đoạn sau này, thậm chí ảnh hưởng đến văn học Trung Quốc
Với mục đích phản đối văn học Vô sản, trường phái Nghệ thuật mới rất gần
và chịu ảnh hưởng của trường phái Tân cảm giác Nghệ thuật mới quy tụ các nhà
văn trẻ như Ibuse Masuji (1898 – 1993), Makino Shin-ichi (1896 – 1936), Kajii Matajirô (1901 – 1932) … là các tác giả giàu cá tính và nhiệt huyết, luôn có tư tưởng tìm tòi đổi mới trong sáng tác Được tiếp xúc với Kawabata Yasunari nên ít nhiều Kajii Matajirô cũng bị hấp dẫn bởi những tư tưởng mới mẻ của trường phái
Tân cảm giác Các sáng tác giai đoạn trước của Kajii không được chú ý và ít có giá
trị, sau này khi thân thiết với Kawabata, những trang viết của ông trở nên tươi mới, chứa đựng nhiều cảm xúc mới mẻ hơn tuy nhiên nó cũng không được biết cho đến
khi ông mất Các tác phẩm ít nhiều có ảnh hưởng trường phái Tân cảm giác của Kajii Matajirô có thể kể đến như Fuy no Hae (Con ruồi mùa đông, 1928), Sakura
Trang 38no ki no shita ni wa (Dưới gốc cây anh đào, 1928), Nonki no kanja (Người bệnh không biết lo, 1932)
Các khuynh hướng văn học Nhật Bản sau này tuy không trực tiếp bị ảnh
hưởng bởi Tân cảm giác nhưng dấu ấn của trường phái này không thể nào phai mờ
trên văn đàn Nhật Bản Kawabata Yasunari và Yokomitsu Riichi vẫn còn được nhắc nhớ cho đến ngày nay Những truyện ngắn trong lòng bàn tay của Kawabata được xem là khuôn mẫu cho thể loại truyện cực ngắn Không trực tiếp nói ra nhưng văn
học Hậu hiện đại Nhật Bản rất gần với tôn chỉ của Tân cảm giác, các trang văn luôn mang trong mình sự tươi mới đầy cảm giác Các nhà văn Hậu hiện đại chủ trương
nắm bắt thế giới bằng cảm xúc bén nhạy, xem hiện thực là đối tượng để tri giác và dùng những kỹ thuật viết hiện đại để xây dựng tác phẩm
Ảnh hưởng của Tân cảm giác Nhật Bản, cuối năm 1928 ở Trung Quốc cũng xuất hiện trường phái văn học Tân cảm giác với vai trò chủ lực của Lưu Nạp Âu,
Mục Thời Anh và Tri Trập Tồn Các nhà văn này chủ trương nắm bắt thế giới bằng cảm giác và ấn tượng đối với hiện thực cuộc sống, phát triển thành thục trong các sáng tác của mình
Nhìn chung, những đóng góp của trường phái văn học Tân cảm giác có thể
được khái quát như sau:
(1) Kế thừa và phát triển cảm thức thẩm mỹ Nhật Bản
(2) Góp phần hiện đại hóa văn học Nhật Bản về cả quan niệm lẫn thủ pháp nghệ thuật
(3) Hình thành một trào lưu mới: Tân cảm giác Nhật Bản
(4) Tạo nên sức lan tỏa trong văn học Nhật Bản nói riêng và văn học Đông Á nói chung
(5) Để lại những tác phẩm có giá trị với những tác gia lớn
(6) Đưa chất thơ vào văn xuôi
Trang 39Văn học Tân cảm giác Nhật Bản ra đời phản ứng lại dòng văn học tự nhiên
và chịu nhiều ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện đại phương Tây Trường phái Tân cảm giác chủ trương văn chương mới phải bắt đầu bằng cảm xúc mới, nhà văn nắm bắt
hiện thực bằng những qui luật cảm xúc mới để đem đến những nội dung mới trong cách biểu hiện mới
Kawabata Yasunari và Yokomitsu Riichi là những đại diện tiêu biểu cho
trường phái Tân cảm giác trong văn học Nhật Bản đầu thế kỷ XX Nobel văn học
1968 được xem là người đưa ra tuyên ngôn nghệ thuật cho văn học Tân cảm giác
Nhật Bản, còn người bạn đồng hành Yokomitsu chính là nhà văn duy nhất cố lưu
giữ phong cách sáng tác của Tân cảm giác trong suốt văn nghiệp của mình
Tân cảm giác đóng vai trò quan trọng trong văn học Nhật Bản đầu thế kỷ
XX, nó ảnh hưởng nhiều đến đời sống văn học Phù Tang cho đến tận ngày nay trên
cả phương diện nội dung và nghệ thuật
Trang 40CHƯƠNG 2 TRƯỜNG PHÁI TÂN CẢM GIÁC NHẬT BẢN,
NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG
Qua quá trình tập trung khảo sát các tác phẩm tiêu biểu thuộc trường phái
Tân cảm giác của hai tác giả Kawabata Yasunari và Yokomitsu Riichi, chúng tôi
nhận thấy những nội dung chủ yếu như sau: (1) Cái tôi chủ quan và nhu cầu biểu hiện tự ngã; (2) Nội tâm: thế giới của mâu thuẫn; (3) Vấn đề giá trị tồn sinh và quan
hệ tồn sinh Thực ra ranh giới giữa ba nội dung trên khá mong manh, bởi bản thân
các tác phẩm được viết theo tinh thần Tân cảm giác thường duy trì tính chất mơ hồ,
chống lại sự rạch ròi, duy lý, tôn trọng cái tự nhiên phi logic của đời sống và tâm
trạng là tinh thần của bút pháp Tân cảm giác
2.1 Cái tôi chủ quan và nhu cầu biểu hiện tự ngã
2.1.1 Khái niệm cái tôi và tự ngã trong văn học
Cái tôi được hiểu là cá tính, bản chất vốn có của mỗi con người, cái tôi được hình thành từ khi con người mới sinh ra và dần phát triển trong quá trình tiếp xúc với xã hội Trong văn học, cái tôi chính là năng lực sáng tạo của nhà văn, là cá tính của người cầm bút Đồng thời, trong tác phẩm, nhân vật mang cái tôi được hiểu là hình ảnh mang cá tính riêng, vượt thoát khỏi hình mẫu nhân vật “đám đông”, thoát khỏi cái “ta”
Trong văn học Trung đại, nhân vật trung tâm thường mang cái “ta”, là hình ảnh của đám đông, cá nhân bị lu mờ Đến thời hiện đại, vai trò cá nhân được đề cao,
và cái tôi trở thành trung tâm của văn học, nó là tiền đề của cách tân và cốt lõi của
sự sáng tạo Cái tôi chính là tiếng nói của nhà văn, là năng lực sáng tạo của người nghệ sĩ