1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Từ văn học đến điện ảnh trong phim của đặng nhật minh

163 83 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Từ văn học đến điện ảnh trong phim của Đặng Nhật Minh
Tác giả Nguyễn Thị Kim Yến
Người hướng dẫn PGS. TS. NGUT Phan Thị Bích Hà
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 163
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên thế giới từng có rất nhiều tác phẩm điện ảnh được chuyển thể thành công từ văn học như: phim Đèn lồng đỏ treo cao đoạt giải Sư tử Bạc tại LHP Venice năm 1991, được chuyển thể từ tác

Trang 1

NGUYỄN THỊ KIM YẾN

TỪ VĂN HỌC ĐẾN ĐIỆN ẢNH TRONG

PHIM CỦA ĐẶNG NHẬT MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2014

Trang 2

NGUYỄN THỊ KIM YẾN

TỪ VĂN HỌC ĐẾN ĐIỆN ẢNH TRONG PHIM

Trang 3

phim của Đặng Nhật Minh” Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, chưa từng được công bố ở một công trình khoa học khác

Nếu không trung thực, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

TP Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 04 năm 2014

Người thực hiện

Nguyễn Thị Kim Yến

Trang 4

Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chí Minh đã truyền đạt tri thức và tạo điều kiện tốt để tôi có thể hoàn thành luận văn này

Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin cảm ơn cô Phan Thị Bích Hà - người đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tôi trong những ngày tháng khó khăn nhất

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, tập thể hai lớp cao học Văn học Việt Nam đợt 1 và đợt 2 khóa 2011- 2013 Cảm ơn tất cả vì đã luôn bên cạnh cổ vũ và đồng hành cùng tôi trong suốt chặng đường học tập và nghiên cứu

TP Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 04 năm 2014

Nguyễn Thị Kim Yến

Trang 5

MỤC LỤC

Bảng danh mục các chữ viết tắt 1

MỞ ĐẦU 2

1 Lý do chọn đề tài 2

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

3 Lịch sử nghiên cứu đề tài 5

4 Phương pháp nghiên cứu 9

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 10

6 Kết cấu luận văn 11

CHƯƠNG 1 NHỮNG NÉT TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA HAI LOẠI HÌNH VĂN HỌC VÀ ĐIỆN ẢNH 12

1.1 Khái niệm về văn học và điện ảnh 12

1.1.1 Khái niệm về văn học 12

1.1.2 Khái niệm về điện ảnh 14

1.2 Những nét tương đồng giữa văn học và điện ảnh 17

1.2.1 Về tính chất của văn học và điện ảnh 17

1.2.2 Về chức năng của văn học và điện ảnh 20

1.2.3 Về phương pháp xây dựng nhân vật, cốt truyện trong văn học và điện ảnh 22

1.2.4 Về phương pháp thể hiện của văn học và điện ảnh 27

1.3 Nét khác biệt giữa văn học và điện ảnh 29

1.3.1 Về chất liệu thể hiện 29

1.3.1.1 Chất liệu của văn học 29

1.3.1.2 Chất liệu của điện ảnh 31

1.3.2 Quá trình hình thành tác phẩm văn học và điện ảnh 34

1.3.3 Quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học và điện ảnh 36

CHƯƠNG 2 ĐẠO DIỄN ĐẶNG NHẬT MINH VỚI VĂN HỌC VÀ ĐIỆN ẢNH 40

2.1 NSND Đặng Nhật Minh 40

2.2 Chuyển thể các tác phẩm văn học sang tác phẩm điện ảnh trong phim của đạo diễn Đặng Nhật Minh 45

2.2.1 Đặng Nhật Minh chuyển thể từ tác phẩm của chính mình 45

2.2.1.1 Từ truyện ngắn Thị xã trong tầm tay của Đặng Nhật Minh đến tác phẩm điện ảnh 45

Trang 6

thành phim 54

2.2.1.3 Truyện ngắn Cô gái trên sông được xây dựng thành phim 63

2.2.1.4 Từ truyện ngắn Trở về đến bộ phim cùng tên 73

2.2.1.5 Dàn dựng truyện ngắn Ngôi nhà xưa thành bộ phim Mùa ổi 83

2.2.2 Đạo diễn Đặng Nhật Minh chuyển thể từ tác phẩm của các tác giả khác 93

2.2.2.1 Thương nhớ đồng quê của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp và bộ phim cùng tên của đạo diễn Đặng Nhật Minh 93

2.2.2.2 Từ cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm đến bộ phim Đừng đốt của đạo diễn Đặng Nhật Minh 103

CHƯƠNG 3 TỪ TÁC PHẨM CỦA ĐẠO DIỄN ĐẶNG NHẬT MINH ĐI TÌM MỘT MÔ HÌNH MỚI CHO DÒNG PHIM NGHỆ THUẬT 116

3.1 Phong cách nghệ thuật của NSND Đặng Nhật Minh 116

3.1.1 Quan điểm nghệ thuật của nghệ sĩ Đặng Nhật Minh 116

3.1.2 Tác phẩm của đạo diễn Đặng Nhật Minh thể hiện tính dân tộc và tính hiện đại123 3.1.2.1 Tính dân tộc thể hiện trong phim của đạo diễn Đặng Nhật Minh 123

3.1.2.2 Tính hiện đại thể hiện trong phim của đạo diễn Đặng Nhật Minh 129

3.2 Thực tế điện ảnh Việt Nam hiện nay và một số ý kiến đóng góp 132

3.2.1 Thực tế điện ảnh Việt Nam hiện nay 132

3.2.2 Đi tìm một mô hình mới cho dòng phim nghệ thuật 136

KẾT LUẬN 146

Tài liệu tham khảo 150

Phụ lục phim ……….155

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn học và điện ảnh là hai loại hình nghệ thuật khác nhau về đặc trưng, chất liệu thể hiện cũng như quá trình hình thành và phát triển Tuy nhiên trong diễn trình phát triển, văn học và điện ảnh lại là những người bạn đồng hành thân thiết Trên thế giới từng có rất nhiều tác phẩm điện ảnh được chuyển thể thành công từ văn học

như: phim Đèn lồng đỏ treo cao (đoạt giải Sư tử Bạc tại LHP Venice năm 1991), được chuyển thể từ tác phẩm Thê thiếp thành quần; phim Cuốn theo chiều gió (nguyên văn Gone with the wind, đoạt giải Pulitzer), được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên; phim Chiến tranh và hòa bình (đoạt giải Oscar và nhiều giải thưởng

khác), được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên…

Điện ảnh Việt Nam cũng đã có nhiều tác phẩm chuyển thể thành công như:

bộ phim Mùa len trâu được chuyển thể từ truyện ngắn cùng tên (giải Đặc biệt

ở LHP Locarno (Thụy Sĩ), giải Đạo diễn xuất sắc nhất ở LHP Chicago (Hoa Kỳ),

giải Grand Prix ở LHP Amiens (Pháp)… ; bộ phim Làng Vũ Đại ngày ấy (diễn viên

Bùi Cường nhận Huy chương Vàng dành cho diễn viên chính xuất sắc nhất trong

LHP Việt Nam lần thứ 6) được chuyển thể từ ba truyện ngắn Lão Hạc, Chí Phèo và

Đời thừa; bộ phim Chị Dậu được chuyển thể từ tiểu thuyết Tắt đèn, (phim được

trao Huy chương Vàng tại LHP Nantes, Pháp), phim Chị Tư Hậu chuyển thể từ truyện ngắn Một chuyện chép ở bệnh viện của nhà văn Bùi Đức Ái (phim được trao

giải Bông sen Vàng tại LHP Việt Nam lần thứ 2, Huy chương Bạc cho nữ diễn viên

Trà Giang tại LHP Quốc tế Matxcơva)…

Như vậy, có thể khẳng định rằng văn học là nguồn đề tài vô tận để điện ảnh

có thể khai thác ý tưởng, cốt truyện cũng như nhân vật… Để chuyển thể thành công tác phẩm văn học lên màn ảnh, người nghệ sĩ cần phải hiểu rõ đặc trưng của hai loại hình nghệ thuật này, có như vậy tác phẩm điện ảnh được chuyển thể mới không là

“cái bóng phản chiếu của tác phẩm văn học” Chúng ta đã biết đến sự cộng tác hài

Trang 9

hòa, khăng khít giữa nhà văn và đạo diễn để tạo nên những tác phẩm thành công như: sự cộng tác giữa đạo diễn Nguyễn Hồng Sến và nhà văn Nguyễn Quang Sáng

ở bộ phim Cánh đồng hoang, sự cộng tác giữa đạo diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh

và nhà văn Sơn Nam khi thực hiện phim Mùa len trâu hay sự kết hợp của nhà văn

Nguyễn Huy Thiệp (vai trò nhà biên kịch) với đạo diễn Vương Đức khi thực hiện

phim Những người thợ xẻ… Ở luận văn này, chúng tôi muốn giới thiệu một trường

hợp tiêu biểu trong việc chuyển thể tác phẩm văn học sang điện ảnh: tác giả - đạo diễn Đặng Nhật Minh

Đạo diễn Đặng Nhật Minh làm phim nhiều và hầu hết các bộ phim của ông đều được đánh giá cao và nhận được những giải thưởng lớn Phim của ông được tôn vinh ở trong nước và quốc tế Ngoài vai trò đạo diễn, Đặng Nhật Minh còn là tác

giả đã xuất bản tập truyện ngắn Ngôi nhà xưa Một số truyện ngắn của ông đã được chuyển thể sang điện ảnh như: truyện ngắn Ngôi nhà xưa thành phim Mùa ổi, truyện ngắn Trở về chuyển thể sang bộ phim cùng tên…

Có nhiều con đường để sáng tạo nghệ thuật Trên con đường riêng của mình,

Đặng Nhật Minh xác định phương châm: “Làm phim, tôi quyết không làm giống

những phim của những người đi trước mặc dù những phim đó được cổ vũ, được hoan nghênh Tôi đến với điện ảnh bằng con đường riêng của mình Tôi muốn chứng minh: điện ảnh còn là như thế này nữa chứ không phải chỉ như thế kia” [13]

Bằng tài năng và sự nghiêm túc trong lao động nghệ thuật, Đặng Nhật Minh đã chứng minh một cách rõ nét nhất quan điểm nghệ thuật của mình và giành được những giải thưởng cao quý từ những bộ phim đã làm

Đặc trưng nổi bật trong các tác phẩm của đạo diễn Đặng Nhật Minh là tính hiện đại và tính dân tộc Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, nếu nghệ thuật của dân tộc không hướng tới sự hiện đại, tiên tiến thì sẽ bị tụt hậu Nhưng nếu thay đổi

mà để mất bản sắc dân tộc thì nghệ thuật của chúng ta lại rơi vào tình trạng vong bản Vậy làm thế nào để vừa phát triển theo hướng hiện đại vừa giữ được những

Trang 10

bản sắc dân tộc? Đó là vấn đề luôn được quan tâm trong những tác phẩm của đạo diễn Đặng Nhật Minh

Chọn nghệ sĩ Đặng Nhật Minh làm đại diện, chúng tôi xem như lựa chọn một

“nhân vật điển hình” cho vấn đề cần nghiên cứu Bên cạnh việc phân tích mối quan

hệ giữa tác phẩm văn học và tác phẩm điện ảnh trong quá trình sáng tác của đạo diễn Đặng Nhật Minh, chúng tôi đi vào tìm hiểu sự tương hỗ, giao hòa giữa văn học

và điện ảnh - để nhận diện những thành quả cũng như những điểm hạn chế Từ đó, chúng tôi đề xuất một số ý kiến trong việc đi vào khai thác kho tàng văn học quý báu cho việc sáng tạo các tác phẩm của điện ảnh Việt Nam

Thị trường phim Việt Nam hiện đang bị “xâm chiếm” bởi những bộ phim nước ngoài trên màn ảnh lớn và nhỏ LHP không còn sức cuốn hút người xem như trước đây Những bộ phim mang tính nghệ thuật cũng dần vắng bóng trong danh mục tham dự LHP Xuất phát từ nhu cầu thực tế, chúng tôi thực hiện đề tài này với mong muốn giới thiệu, phân tích những bộ phim nổi tiếng được chuyển thể từ văn học của Đặng Nhật Minh, hi vọng luận văn sẽ mang tới cho người đọc những khám phá thú vị về những bộ phim xuất sắc của đạo diễn

Những tác phẩm điện ảnh của đạo diễn Đặng Nhật Minh thường phản ánh một cách chân thực và tinh tế đời sống cũng như tâm hồn của người dân Việt Bởi vậy, khi thực hiện đề tài này, chúng tôi còn mong muốn cung cấp cho người xem, nhất là những khán giả trẻ, một cái nhìn toàn diện về con người và hoàn cảnh của đất nước mình - thông qua những thước phim, những khuôn hình của tác phẩm điện ảnh

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Vấn đề chính mà luận văn tập trung nghiên cứu là sự chuyển dịch ký hiệu nghệ thuật từ thế giới trừu tượng của văn học sang thế giới hữu hình trong điện ảnh, thông qua các tác phẩm văn học được chuyển thể thành phim của đạo diễn Đặng Nhật Minh:

Trang 11

- Truyện ngắn Thị xã trong tầm tay chuyển thể thành bộ phim cùng tên

- Truyện ngắn Bao giờ cho đến tháng mười chuyển thể thành bộ phim cùng

tên

- Truyện ngắn Ngôi nhà xưa chuyển thể thành bộ phim Mùa ổi

- Truyện ngắn Cô gái trên sông chuyển thể thành bộ phim cùng tên

- Truyện ngắn Trở về chuyển thể thành bộ phim cùng tên

- Truyện ngắn Thương nhớ đồng quê chuyển thể thành bộ phim cùng tên

- Nhật ký Đặng Trùy Trâm chuyển thể thành tác phẩm điện ảnh Đừng đốt

3 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Phim của đạo diễn Đặng Nhật Minh nhận được nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu, phê bình điện ảnh

Công trình nghiên cứu về phim của Đặng Nhật Minh có bài viết của tác giả Trần Quốc Huấn Với bài “Từ ý đồ văn học tới nghệ thuật xử lý ngôn ngữ điện ảnh

trong Bao giờ cho đến tháng mười”, Trần Quốc Huấn đã phân tích sâu sắc và có những nhận xét xác đáng về bộ phim này Tác giả cho rằng yếu tố văn học là cốt truyện và chủ đề phim cùng với “sự kết hợp kỳ diệu giữa hình ảnh và âm nhạc, ánh

sáng và tiếng động…” [27, tr.105] đã tạo nên thành công của bộ phim

Nhận xét về nhân vật, tác giả Trần Quốc Huấn cho rằng: “Lê Vân, với diễn

xuất thanh thoát và tinh tế đã làm toát lên vẻ đẹp hết sức kín đáo, vừa nền nã màu sắc truyền thống vừa tự chủ, khỏe khoắn những dáng nét hiện đại” [27, tr.105] Tác giả

đánh giá cao từ những chi tiết nhỏ như một bến nước có gốc đa, ngôi miếu nhỏ rêu

phong… cho đến cách kể chuyện “chân thành, cởi mở nhưng không dễ dãi” [27, tr

106] của đạo diễn Đặc biệt, nhận xét về phiên chợ âm - dương, Trần Quốc Huấn cho

rằng: “Thủ pháp thực xen lẫn ảo này của Đặng Nhật Minh được đặt trong sự phát

triển tự nhiên của tâm lý nhân vật, trong sự dồn nén, xâu chỗi chặt chẽ của cốt truyện, vì thế chiếm được sự cảm thông của người xem Họ chấp nhận nó như một thứ tăng âm cho những tiếng nói thầm trong lòng nhân vật” [27, tr 108]

Tác giả Lương Xuân Thủy, với bài viết “Số phận người phụ nữ qua một số

phim truyện của Đặng Nhật Minh”, đã nói về ba bộ phim: Bao giờ cho đến tháng

Trang 12

mười, Thị xã trong tầm tay và Cô gái trên sông Sau khi phân tích hình ảnh người phụ

nữ trong ba bộ phim, tác giả bài viết đưa ra nhận xét:

Với các nhân vật Thanh (phim Thị xã trong tầm tay), Duyên (phim Bao giờ cho đến tháng mười), Nguyệt, Mai Liên (phim Cô gái trên sông), đạo diễn Đặng Nhật Minh với tấm lòng nhân hậu đã tạo được những gương mặt rất riêng của người phụ nữ Việt Nam với những số phận khác nhau và chính những gương mặt ấy đã góp phần tạo nên gương mặt tinh thần của riêng anh [48, tr.94]

Tác giả cũng khái quát nét chính của ba bộ phim là “giản dị, chân thật, đi vào

chiều sâu bên trong của nhân vật” [48, tr.94]

Trong cuốn sách Văn học nghệ thuật truyền thống với phim truyện Việt Nam

của tác giả Phan Bích Hà cũng có nghiên cứu một số bộ phim của đạo diễn Đặng Nhật Minh Tác giả đánh giá cao những yếu tố văn hóa truyền thống được sử dụng trong một số bộ phim của đạo diễn Khi nói đến tâm thức cộng đồng trong phim

truyện, tác giả nhắc đến nhân vật Nhâm “như chiếc mái chèo đối với đời sống tinh

thần” [24, tr.158] của chị dâu và cô gái hàng xóm xa quê trong bộ phim Thương nhớ đồng quê Nhân vật Nhâm cảm nhận được cái hồn của cộng đồng làng xã bao đời gắn

bó, trọng tình hơn là lý “Thương nhau chín bỏ làm mười”

Khi nói về âm nhạc của phim, tác giả Phan Bích Hà cho rằng đạo diễn đã thành công trong cách sử dụng âm nhạc Đặc biệt, trong trường đoạn Duyên mơ thấy chồng mình đang vượt qua khói bom chiến tranh, đạo diễn đã sử dụng tiếng đàn bầu

làm âm hưởng chủ đạo “gợi lên trong lòng người xem sự cộng cảm, niềm cảm thông

sâu sắc” [24, tr.208] Cũng về bộ phim này, tác giả đã phân tích sự đặc sắc trong trích

đoạn hát chèo, với tiết tấu và cách diễn độc đáo, đã đưa người xem trở về với không

gian văn hóa Bắc Bộ “với các nhạc cụ nhị, sáo, pha tiếng trống đế, trống cơm” [24,

tr.209] Ngoài ra, nhà nghiên cứu Phan Bích Hà cũng phân tích những hình ảnh ẩn dụ

và tính biểu trưng mà Đặng Nhật Minh sử dụng trong phim: Bao giờ cho đến tháng

mười, Thương nhớ đồng quê hay Trở về…

Trang 13

Tác giả Ngô Phương Lan, trong cuốn Tính hiện đại và tính dân tộc trong điện

ảnh Việt Nam, đã đề cập đến hai bộ phim của Đặng Nhật Minh là Bao giờ cho đến tháng mười và Thương nhớ đồng quê là hai bộ phim mang đậm tính dân tộc và tính

hiện đại Trong bộ phim Bao giờ cho đến tháng mười, tính dân tộc và tính hiện đại

được thể hiện:

…ở sự thiêng hóa lòng yêu nước, nói cách khác là khai thác lòng

yêu nước ở khía cạnh tâm linh […] mặt khác, đây là lần đầu tiên điện ảnh Việt Nam đưa khía cạnh tâm linh lên màn ảnh Xét hoàn cảnh xã hội Việt Nam sau chiến tranh trước thời kỳ đổi mới thì đây là một cách tư duy nghệ thuật mới mẻ, làm phong phú cuộc sống tinh thần của người xem, hướng đến một cách cảm thụ nghệ thuật đa diện mà sâu sắc [31, tr.136]

Với bộ phim Thương nhớ đồng quê, tác giả Ngô Phương Lan cho rằng tính dân

tộc và hiện đại được thể hiện qua việc xây dựng hai nhân vật nữ: Ngữ - người phụ nữ truyền thống và Quyên - người phụ nữ hiện đại, ở việc sử dụng ngôn ngữ điện ảnh làm cho mỗi chi tiết được phản ánh đều giản dị, tự nhiên Điều đó làm cho phim gần gũi với cuộc sống, nhưng đó cũng không phải là sự “sao chụp” cuộc sống Bên cạnh việc đề cập đến những cái hay, tác giả cũng đề cập đến những mặt hạn chế của bộ

phim Tác giả cho rằng trong phim có đôi chỗ “sự kết hợp tính dân tộc và hiện đại

chưa thực sự nhuần nhuyễn” như chi tiết phản cảm “anh giáo dẫm phải bãi phân trâu” hay hành động “Nhâm vê vê ngón tay tinh dịch của mình trong lần xuất tinh đầu tiên” khi chứng tỏ mình trở thành người lớn

Ngoài những điều đề cập trong cuốn sách trên, Ngô Phương Lan còn có bài

viết về bộ phim Trở về của Đặng Nhật Minh mang tên “Nét dung dị và hiện đại trong phim Trở về” Đi ngược lại với những nhận xét cho rằng bộ phim này thể hiện sự

“xuống tay” của đạo diễn, tác giả Ngô Phương Lan cho rằng tác phẩm thể hiện sự

“dung dị và hiện đại”, “đạt đến những chuẩn mực và hoàn thiện về nghề nghiệp Sự

hoàn thiện đó thể hiện trong cấu trúc, bối cảnh, thoại và hành động của nhân vật”

[31, tr.49] Tác giả đặc biệt đánh giá cao đoạn kết phim: “Phải nói đạo diễn Đặng

Trang 14

Nhật Minh xử lý khá đắt cảnh kết thúc phim nên tư tưởng chính của phim được bộc lộ vừa kín đáo, vừa tự nhiên” [31, tr.491]

Nhà phê bình điện ảnh Rudiger Tomczak đã có những nhận xét rất tinh tế khi

viết về những bộ phim của đạo diễn Đặng Nhật Minh Đề cập đến bộ phim Thương

nhớ đồng quê, tác giả cho rằng: “Tình yêu sâu sắc được bộc lộ trong suốt bộ phim đối với tất cả các sinh thể sống đã đẩy lùi những hình ảnh cố hữu trong ý thức của tôi về lịch sử bi tráng của Việt Nam” [36, tr.472] Nhìn xuyên suốt tác phẩm của đạo diễn

Đặng Nhật Minh, tác giả cho rằng, đạo diễn đã khắc họa nhân vật trong các phim của mình một cách rất trìu mến và chính điều này đã làm cho nhân vật của ông hiện lên chân thực và cuốn hút

Tác giả Việt Hoa - Hương Giang, trong cuốn Đường vào điện ảnh, đã nhắc đến

Đặng Nhật Minh như là một người “đầy nhiệt huyết và lòng đam mê nghề nghiệp”

hay tác giả Lê Đình Lương với bài “Mùa ổi - nhỏ nhắn mà tinh tế” đăng trên dulich.tuoitre.vn đã nhận xét: “Cần nhiều những bộ phim như Mùa ổi, nhỏ nhắn mà

tinh tế như hương ổi chín cứ thoang thoảng bay xa; những bộ phim không cần nhiều sức nặng tài chính mà cần tài năng và sự sáng tạo của đạo diễn’’[12]

Trong luận văn Thạc sĩ Vấn đề chuyển thể tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp sang

điện ảnh, tác giả Nguyễn Thị Ngọc Diễm đã chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt giữa

truyện ngắn Thương nhớ đồng quê của Nguyễn Huy Thiệp và bộ phim cùng tên của

Đặng Nhật Minh Theo tác giả, điểm tương đồng giữa truyện và phim là sự gặp gỡ

nhau ở nhận thức về đồng quê “Một là cánh đồng - không gian sống tự nhiên, chốn

bình yên nương náu Hai là cánh đồng - không gian trú ngụ của bóng tối” [11, tr.80]

Và gặp nhau ở thông điệp - thiên tính nữ được gửi vào trong tác phẩm Sự khác biệt giữa hai tác phẩm này là mối quan hệ tay ba giữa Ngữ, Nhâm và Quyên Tác giả cho

rằng từ mối quan hệ tay ba này, đạo diễn đã tạo nên một thế giới đậm tính nữ: “các

nhân vật nữ trong phim có dịp bộc lộ những khát khao bản năng thầm kín vốn bị hàng trăm thứ trách nhiệm và định kiến che lấp Và cũng nhờ mối quan hệ tay ba này, các nhân vật nữ cũng có cơ hội biểu hiện lòng vị tha, đức hy sinh, tình yêu thương, sự quan tâm, chăm sóc, che chở” [11, tr.83]

Trang 15

Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Diễm cũng chỉ ra đặc điểm nổi bật là âm thanh của

bộ phim: “Không chỉ là tiếng sáo, tiếng đàn bầu gợi những lay động sâu thẳm, trong

phim, cảnh Nhâm đi bắt ếch và cảnh ăn cơm nhà dì Lưu, cả không gian bao quanh đó mang vẻ bình yên đượm buồn vây bọc trong âm thanh của tiếng côn trùng kêu rỉ rả, tiếng ếch nhái uôm oam” [11, tr.78] Luận văn đã có những phát hiện mới Tuy nhiên,

vấn đề chính của luận văn là tác phẩm văn học của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp được

chuyển thể thành phim (trong đó có bộ phim Thương nhớ đồng quê) nên tác giả

không đi vào phân tích các phim khác được chuyển thể từ tác phẩm văn học của đạo diễn Đặng Nhật Minh

Những tác phẩm của đạo diễn Đặng Nhật Minh còn được nhắc đến trong các bài viết của các tác giả như: Trần Đắc với bài “Bốn thập kỷ điện ảnh Việt Nam thành

tựu và nỗi lo”; nhà nghiên cứu Irina Miaccôva (Vũ Quang Chính dịch) với bài viết

“Điện ảnh Việt Nam: những đặc điểm của chủ nghĩa hiện thực”; tác giả Trần Quốc Huấn với bài “Một số vấn đề về phim truyện”…

Đạo diễn Đặng Nhật Minh và những bộ phim của ông được nghiên cứu nhiều

ở ngoài nước và khu vực phía Bắc và Trung của nước ta Nhưng đối với khu vực phía Nam, những công trình nghiên cứu chỉ dừng lại ở những bài viết hoặc được nhắc đến trong những cuốn sách hay luận văn chứ chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện

tác phẩm của Đặng Nhật Minh Vì vậy, chọn đề tài “Từ văn học đến điện ảnh trong

phim của Đặng Nhật Minh”, chúng tôi hy vọng luận văn sẽ là một công trình

nghiên cứu tổng thể về các tác phẩm điện ảnh - được chuyển thể từ văn học - của đạo diễn Đặng Nhật Minh

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, chúng tôi tiếp cận tư liệu từ nhiều nguồn: sách, báo, tạp chí, internet và tác phẩm điện ảnh… Từ đó, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

Phương pháp hệ thống: Chúng tôi sử dụng phương pháp này để có cái nhìn

bao quát về toàn bộ các tác phẩm điện ảnh của đạo diễn Đặng Nhật Minh và những

ý kiến phê bình liên quan đến tác phẩm của ông

Trang 16

Phương pháp so sánh: Dùng phương pháp so sánh loại hình giữa văn học

và điện ảnh trong tác phẩm của đạo diễn Đặng Nhật Minh, đồng thời so sánh ông với những tác giả cùng thời, chúng tôi mong muốn tìm ra những nét riêng trong phong cách nghệ thuật của nghệ sĩ Đặng Nhật Minh

Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Trong luận văn, chúng tôi tìm hiểu

tác phẩm của Đặng Nhật Minh đặt trong mối quan hệ với văn hóa học, xã hội học

và dùng nó để lí giải một số hiện tượng trong phim ông Đây là một phương pháp đã

được áp dụng khá phổ biến trong nghiên cứu nghệ thuật điện ảnh, và đã có những

thành công nhất định

Phương pháp phân tích – tổng hợp: Sử dụng phương pháp này, công trình

nhằm làm rõ từng vấn đề được cấu thành trong các tác phẩm được chuyển thể của đạo diễn Đặng Nhật Minh Trên cơ sở đó, luận văn tổng hợp, đúc kết vấn đề để tìm

ra những đặc điểm khái quát chung về phong cách làm phim của đạo diễn

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Đặng Nhật Minh là một đạo diễn thành công, yêu nghề và tận tụy Những bộ phim của ông không cần một nguồn kinh phí lớn hay sự xuất hiện của những ngôi sao mà vẫn đậm chất điện ảnh và được đánh giá cao Nghiên cứu về việc chuyển thể

từ tác phẩm văn học sang điện ảnh của đạo diễn, luận văn kỳ vọng sẽ cung cấp cho

những người làm điện ảnh những ý tưởng mới về nội dung và cách thức thể hiện trong việc sáng tạo những bộ phim tương lai

Khán giả Việt Nam hiện nay đang thờ ơ với nền điện ảnh nước nhà, vì vậy, khi nghiên cứu những bộ phim của Đặng Nhật Minh, phát hiện ra những cái hay cũng là một cách để giới thiệu với công chúng những bộ phim xuất sắc được các LHP tôn vinh nhưng vẫn chưa được sự đón nhận nồng nhiệt của khán giả trong nước

Trang 17

6 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục phim, nội

dung chính của luận văn được triển khai thành ba chương:

Chương 1: Những nét tương đồng và khác biệt giữa loại hình văn học và điện ảnh

Trong chương này, chúng tôi trình bày sơ lược những nét khác biệt và tương đồng của hai loại hình nghệ thuật văn học và điện ảnh

Chương 2: NSND Đặng Nhật Minh với văn học và điện ảnh

Chúng tôi tập trung phân tích sự chuyển dịch ký hiệu nghệ thuật từ văn học sang điện ảnh, cụ thể qua các tác phẩm điện ảnh được đạo diễn Đặng Nhật Minh chuyển thể từ những truyện ngắn của mình và của các tác giả khác Qua việc so sánh những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai tác phẩm (một văn học một điện ảnh), chúng tôi rút ra quy luật khi chuyển thể, sự hạn chế hay sự sáng tạo của đạo diễn Đặng Nhật Minh

Chương 3: Từ tác phẩm của Đặng Nhật Minh đề xuất một số ý kiến khi chuyển thể từ văn học sang điện ảnh

Từ những phân tích ở chương hai, chúng tôi tổng hợp và khái quát quan điểm và phong cánh nghệ thuật của Đặng Nhật Minh Bên cạnh đó, chúng tôi đi vào tìm hiểu thị trường phim Việt Nam để tìm ra những thuận lợi cũng như khó khăn

Từ thực tế điện ảnh Việt Nam và từ các tác phẩm chuyển thể của đạo diễn Đặng Nhật Minh, chúng tôi đề xuất một số ý kiến khi chuyển thể tác phẩm văn học sang điện ảnh

Kết luận

Trang 18

CHƯƠNG 1

NHỮNG NÉT TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA HAI LOẠI HÌNH VĂN HỌC VÀ ĐIỆN ẢNH

1.1 Khái niệm về văn học và điện ảnh

1.1.1 Khái niệm về văn học

Hiện có rất nhiều khái niệm về văn học do các nhà nghiên cứu đưa ra Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Trung cho rằng cần phân biệt giữa văn học và văn chương:

Nên dùng chữ văn chương để chỉ định chính những tác phẩm do các nhà làm văn tạo thành: một cuốn tiểu thuyết, một bài thơ, một vở kịch là văn chương Nói cách khác, văn chương biểu lộ sinh hoạt làm văn trên bình diện sáng tác Văn chương là nội dung của ý hướng viết văn, là chỉ thực tại văn khác với thực tại suy luận về văn Suy luận về văn

là văn học Học là suy nghĩ, nghiên cứu về một cái gì Nhưng không phải nghiên cứu suy nghĩ lung tung mà có phương pháp, hệ thống mạch lạc,

có cơ sở suy nghĩ và mục đích suy luận Đó là một khoa theo nghĩa khoa học (science) Vậy văn học là một khoa suy nghĩ, nghiên cứu về văn, cũng như sử học là một khoa nghiên cứu về sử, chỉ đích thực tại đó là sử […] Văn học biểu lộ sinh hoạt làm văn trên bình diện nghiên cứu, phê bình, lý luận, giới thiệu văn chương [44, tr.8]

Như vậy, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Trung cho rằng văn chương khác với văn học: Văn chương là những sáng tác của các nhà văn còn văn học là công việc nghiên cứu, phê bình, lý luận, giới thiệu văn chương

Tác giả Nguyễn Đức Nam cũng đưa ra một quan điểm tương đồng, khi ông

đề nghị:

Trang 19

Về mặt thuật ngữ, nên phân biệt văn (hay văn chương) với văn học Văn chương là cái di sản tinh thần, bao gồm những tác phẩm văn, thơ, kịch đã được sáng tác ra trong những giai đoạn lịch sử khác nhau Văn học là khoa học về văn chương, khoa nghiên cứu văn chương, cũng như

ta nói về ngôn ngữ học, sử học, toán học, sinh học… Khoa văn học là chiếc chìa khóa để mở cái kho tàng nghệ thuật văn chương, nhằm lý giải

và thấu đạt thơ văn, cảm thụ một cách sâu sắc, đánh giá một cách đúng đắn, hướng tới những phẩm chất nhất định trong con người [44, tr.8]

Cách phân biệt văn chương và văn học như vậy sẽ giúp cho việc nhận biết nội hàm của văn học dễ dàng hơn Nhưng có những công trình bản thân nó là

nghiên cứu văn học nhưng lại mang đầy tính văn chương như: Nghệ thuật thi ca của Boileau hay Thơ bình phương, đời lập phương của Chế Lan Viên…

Hiện nay chúng ta vẫn dùng khái niệm văn học để chỉ những tác phẩm văn

học và khái niệm nghiên cứu văn học để chỉ công việc nghiên cứu tác phẩm văn học Còn văn chương là chỉ nghệ thuật diễn đạt trong tác phẩm văn học hay trong

những bài phê bình, nghiên cứu văn học Vậy văn học là “một loại hình sáng tạo

nghệ thuật, còn nghiên cứu văn học là một ngành khoa học nhân văn, một lĩnh vực tri thức” [44, tr.9] Như vậy, văn học là một loại hình sáng tạo nghệ thuật lấy chất

liệu là ngôn từ

Văn học Việt Nam “…hoài thai từ thưở phong kiến Trung Hoa còn đang

nắm quyền thống trị Đến thế kỷ X, khi thoát khỏi ách ngoại bang, chúng chính thức

ra đời” [41, tr.14] Như vậy tính đến nay, văn học Việt Nam đã có lịch sử hình

thành và phát triển gần 11 thế kỷ Trải qua nhiều thăng trầm, biến động, đến nay, văn học nước ta phát triển khá toàn diện về đề tài cũng như thể loại Các đề tài như chính trị, tâm lý, gia đình… đều được các nhà văn, nhà thơ khai thác Ngay cả lĩnh

vực nhạy cảm như tâm linh cũng có những tác phẩm rất thành công như: Đức Phật,

Nàng Savitri và Tôi; Mẫu thượng ngàn; Cơ hội của Chúa… Về thể loại, văn học

Trang 20

Việt Nam bao gồm những thể loại: thơ, tiểu thuyết, kịch, các thể kí văn học (kí sự, phóng sự, tùy bút, bút kí, nhật kí…)

1.1.2 Khái niệm về điện ảnh

Năm 1895, tại Lyon (Pháp), hai anh em Auguste và Louis Lumière đã phát minh ra cinématographe (máy chiếu phim), một thiết bị ba trong một bao gồm: máy quay, bộ phận in tráng và máy phóng hình Ngày 22/3/1895, anh em Lumière đã cho trình chiếu thử nghiệm lần đầu tiên trước công chúng, hầu hết là những hình ảnh đen trắng chuyển động Ngày 28/12/1895, tại quán cà phê Grand Café ở Paris, hai người

đã tổ chức buổi trình chiếu có bán vé đầu tiên Khán giả tham dự buổi chiếu được xem một chuỗi chừng 10 đoạn phim ngắn quay cảnh sinh hoạt thường ngày Buổi chiếu này, sau đó được xem là ngày khai sinh của điện ảnh, với tư cách một môn nghệ thuật

“Trong các chương trình chiếu phim của anh em nhà Lumier hồi đó chỉ là

những cảnh quay thực sự, những cảnh tượng ngộ nghĩnh hết sức ngắn ngủi” [49,

tr.15] Có thể kể một vài bộ phim là: Buổi tan tầm ở nhà máy (nội dung phim: Cánh

cổng nhà máy mở ra cho những người công nhân kẻ trước người sau đi thẳng về phía

máy quay phim), phim Người tưới vườn bị tưới (nội dung phim nói về một người làm

vườn đang dùng ống dẫn nước tưới cho các khóm cây và bồn hoa Bỗng có cậu bé nghịch ngợm ở phía sau giẫm chân lên vòi cao su làm tắc nước Người làm vườn ngạc nhiên đưa miệng vòi lên coi Cậu bé bèn thả chân khỏi vòi nước khiến nước chảy xối vào mặt người tưới vườn)

Khi mới ra đời, điện ảnh chỉ là những thước phim ngắn có hình ảnh chuyển động mà không có âm thanh Nhưng chỉ một thời gian sau, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, điện ảnh đã có âm thanh

Điện ảnh có âm thanh xuất hiện vào giao thời giữa thập niên 20 và 30 của thế

kỷ XX, gần như cùng một lúc ở Mỹ, Liên Xô và Đức Điện ảnh vừa có hình ảnh vừa có âm thanh khi dàn dựng rất khó, việc lồng tiếng còn khá xa lạ ở thời kỳ đầu Hơn nữa, khi có tiếng, nó cũng không phổ biến dễ dàng trên thế giới như trước

Trang 21

Nhưng thời gian lạ lẫm, dè chừng ban đầu diễn ra rất nhanh Sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã giúp cho điện ảnh “nói” được, bộ phim trở nên sâu sắc, cuốn hút hơn

Đề cập về khái niệm điện ảnh, theo Từ điển Tiếng Việt: điện ảnh là “nghệ thuật

phản ánh hiện thực bằng những hình ảnh hoạt động liên tục, được thu vào phim rồi chiếu lên màn ảnh, màn hình” [42, tr.405] Khái niệm trên còn thiếu một yếu tố quan

trọng của điện ảnh là âm thanh Vậy có thể hiểu điện ảnh là loại hình nghệ thuật phản

ánh hiện thực bằng hình ảnh và âm thanh hoạt động liên tục, được thu vào phim rồi chiếu trên màn ảnh Điện ảnh còn có tên gọi là “xi-nê”, “xi-nê-ma”, “phim”, những

cách gọi này bắt nguồn từ tiếng Anh, tiếng Pháp (film, ciné, cinema) Ngoài ra, ngành nghệ thuật này còn được gọi với những cái tên thơ mộng khác như: nghệ thuật thứ bảy, nàng thơ thứ Mười, nàng tiên út

Điện ảnh được phân ra với các thể loại như sau: Phim thời sự tài liệu, phim truyện điện ảnh, phim hoạt hình, phim khoa học và phim giáo khoa Trong đó, phim nhựa (phim truyện điện ảnh) là loại phim mang tính nghệ thuật cao, được làm từ các vật liệu cơ bản như polymer, gelatin, bromua bạc Nó có độ nhạy sáng và mịn hạt rất cao nên hiệu quả tạo hình và thẩm mỹ tốt, thường được sản xuất để chiếu ở rạp, thời lượng khoảng 90 phút

Để hiểu rõ hơn về điện ảnh cần tìm hiểu thuật ngữ “phim” Phim là sự vay

mượn từ tiếng Anh, tiếng Pháp Phim là vật liệu để ghi hình “Song từ “phim” còn

mang khái niệm là một tác phẩm nghệ thuật nữa Nhất là khi nó đi kèm với từ ghép

bộ phim [49, tr.88] Chúng ta thường hay gọi tắt là phim

Ngôn ngữ điện ảnh cũng là một khái nệm quan trọng cần nhắc đến khi tìm

hiểu về điện ảnh Ngôn ngữ điện ảnh là một khái niệm phức tạp Ở đây, chúng tôi

chỉ nêu những nét căn bản nhất: Ngôn ngữ điện ảnh là phương cách biểu đạt của

điện ảnh hoặc có thể là những ý ngầm bên trong hình ảnh - mà nhà điện ảnh đã gửi vào trong mỗi cảnh quay, hoặc cũng có thể là người xem “suy diễn ra” Ta có thể

tìm thấy ngôn ngữ điện ảnh qua diễn xuất của diễn viên, yếu tố ánh sáng, tính chất

Trang 22

của đạo cụ, trang phục, âm thanh… “Và do đã có lời riêng nên ngôn ngữ điện ảnh

chỉ hiện hình ở những nơi không có… ngôn ngữ, tức không có chữ viết, đối thoại, lời bình dẫn… Đó là đặc điểm - lẫn giá trị - lớn nhất của ngôn ngữ nghệ thuật” [34,

tr.226]

Ngôn ngữ điện ảnh rất quan trọng, nhưng đó chưa phải là tất cả Một bộ phim thành công gồm nhiều yếu tố cấu thành và ngôn ngữ điện ảnh chỉ là một trong những yếu tố đó

Nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật, điện ảnh ra đời Nhưng nó đã nhanh chóng phát triển và hoàn thiện, “tách” mình khỏi sự ràng buộc của những phương tiện kỹ thuật để tồn tại như một ngành nghệ thuật độc lập Điện ảnh đã kết tinh trong mình những tinh túy của các bộ môn nghệ thuật khác như văn học, điêu khắc,

âm nhạc, hội họa, sân khấu… và trở thành một nghệ thuật tổng hợp mang đặc thù riêng, có khả năng truyền cảm mạnh mẽ, cuốn hút

Điện ảnh đến Việt Nam khá sớm (1899) Chỉ 4 năm sau khi điện ảnh thế giới

ra đời thì ở Hà Nội, khán giả đã được xem buổi chiếu phim miễn phí đầu tiên Nhưng nếu nói đến sự ra đời của nền điện ảnh dân tộc thì phải tính từ ngày 15/3/1953, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh 147/CP thành lập Doanh nghiệp Quốc gia Chiếu bóng và Chụp ảnh Việt Nam Đến 1959, bộ phim truyện điện ảnh

cách mạng đầu tiên Chung một dòng sông ra đời, đánh dấu những bước đi đầu tiên

của nền điện ảnh dân tộc Ra đời trong hoàn cảnh khó khăn của đất nước, cũng như những ngành nghệ thuật khác lúc bấy giờ, điện ảnh đã hy sinh mình để cống hiến cho sự nghiệp đấu tranh của đất nước Điện ảnh Việt Nam đã từng bước trưởng thành, đào tạo được một thế hệ đạo diễn, diễn viên tài năng, sáng tạo nên nhiều bộ

phim xuất sắc như: Con chim vành khuyên, Cánh đồng hoang, Bao giờ cho đến

tháng mười…

Trang 23

1.2 Những nét tương đồng giữa văn học và điện ảnh

1.2.1 Về tính chất của văn học và điện ảnh

Nét tương đồng đầu tiên giữa văn học và điện ảnh là chúng cùng trong lĩnh vực nghệ thuật Nếu văn học được xem như “anh chị lớn” trong đại gia đình nghệ thuật thì điện ảnh được gọi là “cô em út”

Điều quan trọng hàng đầu của nghệ thuật là tính sáng tạo Tính sáng tạo là sức sống của nghệ thuật Nghệ thuật yêu cầu người nghệ sĩ phải sáng tạo từ nội dung đến hình thức thể hiện để tạo ra cái mới trong tác phẩm, cuốn hút công chúng Nghệ thuật phản ảnh cuộc sống nhưng nếu phản ánh như sao chép lại thì nó cũng không có gì hấp dẫn Nó phải mang trong mình sự sáng tạo Vì vậy, tác phẩm nghệ thuật vừa giống lại

vừa khác với hiện thực Hình ảnh chị Dậu trong tác phẩm Tắt đèn là hình ảnh tiêu

biểu của rất nhiều người phụ nữ Việt Nam trong hiện thực - khổ cực, tần tảo, hết lòng yêu chồng, thương con nhưng vẫn có những nét riêng “của một chị Dậu” của nhà văn Ngô Tất Tố - biết nói lý lẽ, biết phản kháng với quan trên

Sự sáng tạo không chỉ tạo nên sức hấp dẫn cho nghệ thuật mà nó còn làm nên tính độc đáo, tạo nên sự khác biệt Trong văn học, độc giả từng yêu mến vẻ thâm trầm

ảo não của nhà thơ Huy Cận và bị cuốn hút bởi sự cuồng nhiệt, rạo rực tình yêu cuộc sống của nhà thơ Xuân Diệu Điện ảnh cũng vậy, mặc dù được coi là ngành nghệ thuật gần với hiện thực nhất nhưng nó cũng không là chiếc gương phản chiếu cuộc sống Điện ảnh vừa có cái thật của cuộc sống lại vừa có sự sáng tạo Ví dụ như cảnh Duyên gặp người chồng đã mất của mình tại “phiên chợ âm phủ”, hay cảnh cô gặp

thần Thành Hoàng trong phim Bao giờ cho đến tháng mười Đây là hai cảnh đầy sáng

tạo của đạo diễn Hai cảnh này không thật nhưng nó lại phản ánh một điều rất thật: Trong tâm thức của người Việt Nam, người chết luôn tồn tại gần người sống Với sự sáng tạo trong cách thức thể hiện, đạo diễn Đặng Nhật Minh đã tạo nên sự độc đáo về một thế giới tâm linh trong bộ phim và điều đó đã lôi cuốn khán giả

Nghệ thuật luôn đề cao tính sáng tạo và độc đáo nhưng không phải cứ thỏa sức

sáng tạo, độc đáo bằng mọi giá mà nó chịu sự chi phối bởi các giá trị chân, thiện, mỹ

“Chân” ở đây chính là sự chân thực trong nội dung và hình thức, chân thực trong cảm

Trang 24

xúc tác giả Dù có muốn sáng tạo đến đâu thì nghệ thuật vẫn phải bắt nguồn từ thực

tế, vẫn phải phản ánh cuộc sống Kể cả một tác phẩm điện ảnh hay một tác phẩm văn học viễn tưởng cũng mang sự chân thực, thể hiện trong cảm xúc (ước mơ, khát khao được sáng tạo) của tác giả

Cái “thiện” trong nghệ thuật thể hiện ở nội dung tác phẩm hay ở giá trị mà tác phẩm hướng tới Một tác phẩm văn học nói đến sự lừa lọc, sự dã man, tàn nhẫn của quan tham thì cũng là hướng con người đến cái thiện, căm ghét cái xấu, làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn Nếu nghệ thuật không làm được điều ấy thì nó chỉ là sự tái hiện cuộc sống và sẽ nhanh chóng bị phủ định

Không chỉ hướng con người đến cái thiện mà cao hơn nữa, nghệ thuật còn hướng con người đến cái đẹp Cái đẹp trong tác phẩm nghệ thuật thể hiện ở cả nội dung và hình thức Câu thơ toàn thanh bằng “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” trong bài thơ Tây Tiến như một nét vẽ mềm mại vắt ngang bức tranh được xây dựng bằng

ngôn từ, tạo nên vẻ đẹp lãng mạn của núi rừng Tây Bắc Hay trong đoạn hội thoại

giữa hai nhân vật ông giáo và lão Hạc, trong tác phẩm Lão Hạc của nhà văn Nam Cao

dưới đây:

Tôi an ủi lão:

- Cụ cứ tưởng thế đấy chứ nó chả hiểu gì đâu! Vả lại ai nuôi chó mà chả

bán hay giết thịt! Ta giết nó chính là hóa kiếp cho nó đấy, hóa kiếp để cho

nó làm kiếp khác

Lão chua chát bảo:

- Ông giáo nói phải! Kiếp con chó là kiếp khổ thì ta hóa kiếp cho nó để

nó làm kiếp người, may ra có sung sướng hơn một chút… kiếp người như kiếp tôi chẳng hạn!

Tôi bùi ngùi nhìn lão, bảo:

- Kiếp ai cũng thế thôi, cụ ạ! Cụ tưởng tôi sung sướng hơn chăng?

- Thế thì tôi không biết nếu kiếp người cũng khổ nốt thì ta nên làm kiếp gì

cho thật sướng?

Lão cười và ho sòng sọc Tôi nắm lấy cái vai gầy của lão ôn tồn bảo:

Trang 25

- Chẳng kiếp gì sung sướng cả, nhưng có cái này là sung sướng: bây giờ

cụ ngồi xuống phản này chơi, tôi đi luộc mấy củ khoai lang, nấu một ấm nước chè tươi thật đặc; ông con mình ăn khoai, uống nước chè, rồi hút thuốc lào… Thế là sướng [38, tr.211]

Trong đoạn hội thoại trên, tác giả sử dụng ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày nhưng người đọc vẫn thấy nó đẹp Cái đẹp toát ra từ tấm lòng của hai con người nghèo khó, từ sự kính trọng và chia sẻ với nhau Hai con người ở hai lứa tuổi và địa

vị xã hội khác nhau Lão Hạc đáng tuổi cha ông giáo nhưng vẫn kính trọng gọi bằng ông giáo Ông giáo tuy địa vị xã hội hơn lão Hạc nhưng về tuổi thì kém rất nhiều nên xưng con và gọi lão Hạc bằng cụ Sự khác biệt tuổi tác và địa vị xã hội không còn quan trọng ở đây, người đọc chỉ cảm thấy cái đẹp của tình người, của một nhân cách cao thượng giàu lòng thương, lòng tự trọng của lão Hạc Nhân cách ấy càng được hiện lên rõ ràng và đẹp hơn trong hoàn cảnh khó khăn

Trong điện ảnh cũng vậy, cái đẹp được tìm thấy trong cả hình thức lẫn nội dung Trong hình thức, nó thể hiện ở nét đẹp diễn xuất của diễn viên, của khung cảnh, của bố cục, của đạo cụ… Trong nội dung, cái đẹp thể hiện ở lời thoại và hành động

của nhân vật Trong phim Những người thợ xẻ, những hành động của vợ chồng cô

Thục (y tá) làm cho người xem thấy được cái đẹp của một nhân cách tốt, “lương y như từ mẫu” Trong cảnh chặt ngón chân hoại tử của Ngọc, vợ chồng cô đã thể hiện cái đẹp trong hành động cứu người của mình Người chồng cầm dao để vào chân Ngọc và nói Bường lấy gậy đập xuống cho đứt ngón chân đang bị hoại tử Nhưng khi con dao chưa khớp thì Bường đã đập một cái (có lẽ Bường muốn trả thù Ngọc) làm Ngọc đau điếng Người vợ thấy vậy hét lên chửi Bường, và chị cầm lấy cái gậy để làm thay Bường Đối với những con người xa lạ, không tiền bạc và cũng không có trách nhiệm phải chăm sóc, vậy mà vợ chồng người y tá rất tận tình cứu chữa mà không màng đến việc được trả ơn

Nghệ thuật thỏa mãn nhu cầu tinh thần cho con người Xã hội càng phát triển thì nhu cầu ấy lại càng được nâng cao, đòi hỏi người nghệ sĩ không ngừng sáng tạo

Trang 26

1.2.2 Về chức năng của văn học và điện ảnh

Về chức năng của văn học và điện ảnh nói riêng và của nghệ thuật nói chung

có rất nhiều ý kiến khác nhau Chúng tôi xin nêu lên những chức năng chính của văn

học và điện ảnh là: giải trí, nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ, giao tiếp và dự báo

Có thể nói rằng nghệ thuật ra đời xuất phát từ nhu cầu giải trí của con người Mục đích đầu tiên của người đọc, người xem tìm đến một tác phẩm văn học hay điện ảnh là giải trí, xua đi mệt mỏi sau những giờ làm việc, học tập căng thẳng Nghệ thuật

có nhiều chức năng, trong đó, chức năng giải trí là chức năng quan trọng hàng đầu Đây là con đường dễ dàng nhất để nghệ thuật có thể thực hiện các chức năng khác của mình

Nghệ thuật không chỉ mang lại cho con người niềm vui được giải trí mà nó còn mang lại sự hiểu biết Những biến động của lịch sử, những phong tục tập quán của các nước khác trên thế giới, chúng ta đều có thể biết được qua những tác phẩm văn học nghệ thuật Không chỉ hiểu biết về thế giới mà chúng ta còn hiểu biết về tâm lý con người hay chính bản thân mình Vì khám phá tâm hồn người khác cũng chính là cách để hiểu mình hơn

Bên cạnh việc cung cấp kiến thức, văn học nghệ thuật còn giáo dục con người

Ở đây, chúng tôi muốn nói đến những tác phẩm nghệ thuật đích thực Bởi chỉ có những tác phẩm nghệ thuật đích thực mới giáo dục cho con người tốt hơn Như ở trên

chúng tôi đã trình bày, nghệ thuật phản ánh cái chân và hướng tới cái thiện, vì vậy,

khi cung cấp kiến thức cho con người, nghệ thuật cũng hướng người ta đến cái thiện bằng cách giáo dục Người nghệ sĩ tài hoa là người rất giỏi thuyết phục người khác

Họ thuyết phục người khác bằng những lý lẽ và tài năng của mình Khi viết về Bá Kiến, nhà văn Nam Cao đã khéo léo chọn những chi tiết đắt giá để làm nổi bật lên

bản chất xấu xa, ranh ma của hắn: “nắm thằng có tóc không ai nắm kẻ trọc đầu”,

“ngấm ngầm đẩy nó xuống rồi lại cho nó vài hào để nó mang ơn mình” Từ những

dẫn chứng và lý lẽ đưa ra, tác giả đã thuyết phục được người đọc cùng ý kiến với mình Và một cách rất tự nhiên, người đọc nhận được những bài học từ đó Chính vì chức năng giáo dục mà nghệ thuật không chạy theo sở thích tức thời của công chúng

Trang 27

mà nó định hướng, đi trước con người, giống như lời của Karl Marx: “Đối tượng của

nghệ thuật tạo nên một công chúng hiểu nghệ thuật và có năng lực thưởng thức cái đẹp Bởi vậy người ta không những sản xuất đối tượng cho chủ thể mà còn sản xuất

cả chủ thể cho đối tượng nữa” [36, tr.790]

Nghệ thuật không những mang lại cho con người niềm vui trong nhận thức mà còn mang lại niềm vui trong sáng khi được chiêm ngưỡng cái đẹp Đó là cái đẹp từ những hình tượng anh hùng sẵn sàng hy sinh vì đất nước, những người mẹ cả đời hy sinh vì con… Cũng có khi đề tài của nghệ thuật là cái xấu, cái bi nhưng không phải nói đến để ca ngợi mà để hướng con người căm ghét cái xấu, hướng đến cái thiện, cái đẹp

Khi tìm hiểu một tác phẩm nghệ thuật cũng chính là lúc ta “giao tiếp” với tác giả Người nghệ sĩ sáng tác là muốn trải lòng mình với mọi người Họ vừa viết cho họ lại vừa viết cho công chúng Một tác phẩm nghệ thuật lớn luôn mang tiếng nói của tác giả, của dân tộc, nơi người nghệ sĩ sáng tác và tiếng nói chung của toàn nhân loại Vì vậy, tác phẩm nghệ thuật có giá trị giúp cho con người và những nền văn hóa “giao tiếp” với nhau

Ngoài những chức năng nói trên, nghệ thuật còn có chức năng dự báo, “Nghệ

thuật không nhằm trình bày cái “đã xảy ra”, mà chú trọng tới quy luật tất yếu sẽ phải xảy ra…” [30, tr.9] Tác phẩm nghệ thuật phản ánh cuộc sống một cách chân thực,

khái quát, nắm lấy cái bản chất bên trong để rút ra quy luật của sự phát triển Chính vì vậy mà nó dự báo được tương lai Văn học và điện ảnh có tính dự báo cao ở thể loại tác phẩm viễn tưởng

Nghệ thuật mang trong mình giá trị chân, thiện, mỹ nên nó giúp con người

thanh lọc tâm hồn và tăng sự hiểu biết Sự chân thực trong nội dung và hình thức của tác phẩm nghệ thuật giúp cho người tiếp nhận hiểu biết về thế giới xung quanh Với lợi thế về hình ảnh, điện ảnh nhanh chóng tái hiện cuộc sống trên khắp thế giới thông qua màn ảnh Với lợi thế ngôn từ, văn học đi vào “những ngõ ngách” sâu kín nhất trong tâm hồn con người Vì vậy, người đọc có thể tìm hiểu tâm tư người khác và tìm hiểu chính bản thân mình

Trang 28

Không phải tác phẩm văn học hay tác phẩm điện ảnh nào cũng có đầy đủ những chức năng nêu trên Có những tác phẩm chỉ mang tính giải trí như dòng phim thị trường Nhưng nếu nhìn vào lịch sử phát triển của văn học và điện ảnh, chúng ta

sẽ thấy những tác phẩm lớn, có giá trị, cuốn hút công chúng là những tác phẩm thực hiện được nhiều chức năng nghệ thuật của mình Sự phân định chức năng của nghệ thuật nói chung và của văn học, điện ảnh nói riêng chỉ mang tính chất tương đối Vì

sự tác động một tác phẩm nghệ thuật đến con người là sự tác động tổng hợp không phân biệt rạch ròi Và cũng còn tùy thuộc vào từng giai đoạn cụ thể mà chức năng này được đề cao hơn những chức năng khác

1.2.3 Về phương pháp xây dựng nhân vật, cốt truyện trong văn học và điện ảnh

Nhân vật và cốt truyện là hai yếu tố quan trọng của văn học và điện ảnh Trong văn học, nhân vật có nhiều dạng:

Đó có thể là những con người được miêu tả đầy đặn cả ngoại hình lẫn nội tâm, có tính cách […] Đó có thể là những con người thiếu hẳn những nét đó, nhưng lại có tiếng nói, giọng điệu, cái nhìn như nhân vật người trần thuật, hoặc chỉ có cảm xúc, nỗi niềm, ý nghĩ, cảm nhận như nhân vật trữ tình trong thơ trữ tình [33, tr 277]

Như vậy, nhân vật có thể đầy đủ các mặt như một con người hoặc chỉ có một vài nét của con người Trong văn học, nhân vật có thể là Chị Dậu, Chí Phèo hoặc

cũng có thể là cô gái “tựa cửa nhìn xa” trong bài thơ Đây mùa thu tới của nhà thơ Xuân Diệu Cũng có thể, nhân vật là con ếch trong truyện Ếch ngồi đáy giếng Trong điện ảnh, nhân vật có thể là Mai Liên trong phim Biệt động Sài Gòn, thần Thành Hoàng trong phim Bao giờ cho đến tháng mười, hay như nhân vật con chuột, con mèo trong phim Tom and Jerry…

Ra đời sau văn học rất lâu, điện ảnh tiếp thu được thành quả rất lớn mà văn học phải mất một thời gian rất dài mới tạo lập được Trong việc xây dựng nhân vật cũng vậy, trong văn học cổ, nhân vật được xây dựng rất đơn giản, hoặc là ác, hoặc

là xấu Rồi dần dần theo sự phát triển của xã hội, nhân vật được xây dựng đầy đặn hơn, phong phú hơn Nhân vật trong điện ảnh không cần phải qua quá trình phát

Trang 29

triển lâu dài như vậy Cũng có giai đoạn nhân vật điện ảnh đơn giản Có thể lấy ví

dụ trong điện ảnh Việt Nam giai đoạn mới hình thành (thời kỳ chống Mỹ) Trong bộ

phim Nổi gió, phim Chung một dòng sông hay phim Mẹ vắng nhà… nhân vật được

xây dựng khá đơn giản Nhưng giai đoạn này đã kết thúc rất nhanh Để làm được điều này, điện ảnh không những “mượn” nhân vật trong tác phẩm văn học (khi chuyển thể) mà còn “mượn” cả phương pháp xây dựng nhân vật Đó là cách xây dựng nhân vật từ những chi tiết, những hành động Qua những chi tiết nhỏ hay những hành động của nhân vật, ta có thể đoán biết những chuyển biến tâm lý, tính cách của nhân vật Vì chất liệu của điện ảnh là hình ảnh và âm thanh nên điện ảnh không thể đi sâu vào phân tích tận cùng tâm lý nhân vật như trong văn học mà chủ yếu thể hiện thông qua hành động

Từ khi điện ảnh ra đời, văn học có nhiều đổi khác, nhất là trong văn xuôi Nhân vật hành động nhiều hơn là suy nghĩ Ta có thể lấy truyện ngắn của Nam Cao hay Nguyễn Công Hoan để chứng minh Nhà văn công nhận sự ảnh hưởng của điện ảnh tới phong cách của mình là Hồ Biểu Chánh Điện ảnh không những giúp cho ông có cảm hứng sáng tác mà còn thay đổi cả cách viết Nhân vật trong tác phẩm của nhà văn thường hành động trong khung cảnh và thời gian xác định Có thể lấy

một đoạn văn ngắn trong tác phẩm Cha con nghĩa nặng làm ví dụ:

Trần Văn Sửu dở mùng leo xuống đất rồi thủng thẳng đi ra Khi tới buồng, thấy dựa vách có hai cái lược, một cái dày một cái thưa, bèn lấy luôn hai cái ra ngồi dựa đèn xổ đầu tóc ra mà chải Anh ta gỡ lược thưa rồi chải lược dày, chải mỗi cái đều kê gần đèn bắt một vài con chí bỏ vô miệng mà cắn Trống bên nhà việc làng trở canh hai, anh ta mới chịu cất lược, sập cửa, tắt đèn, rồi nằm chung với hai đứa con lớn

mà ngủ [4, tr.12]

Những hành động được miêu tả tỉ mỉ trong đoạn văn trên đã giúp cho người đọc thấy được tính hiền lành, chân thật và mộc mạc của nhân vật Những trang văn chỉ có thoại và hành động có thể gặp rất nhiều trong tiểu thuyết của nhà văn Hồ

Trang 30

Biểu Chánh Như vậy, trong cách xây dựng nhân vật, điện ảnh tiếp thu từ văn học rất nhiều Và ngược lại, văn học cũng được tiếp nhận những cái mới mà điện ảnh mang đến

Tính cách nhân vật trong điện ảnh và văn học không được nói ngay từ đầu,

mà qua những hành động, xung đột, người xem dần khám phá ra tâm hồn nhân vật Tác giả muốn làm người xem yêu thích và nhớ nhân vật của mình thì phải xây dựng nên những nhân vật điển hình, vì nhìn vào đó, người cảm thụ thấy có những nét giống mình Điều này tạo nên sức hấp dẫn và sức khái quát của nhân vật Hình ảnh

chị Dậu (trong tiểu thuyết Tắt đèn) rách rưới, khúm núm trước cửa quan gây xúc động mọi người vì ta thấy hình ảnh đó chân thực Trong truyện ngắn Chí Phèo của

nhà văn Nam Cao, nhân vật Chí sinh động và cuốn hút vì nhà văn đã miêu tả được những nét điển hình của một kẻ “nát rượu”: bước đi ngật ngưỡng, giọng nói lè nhè

và lúc nào cũng muốn gây sự… Nhân vật điển hình vừa có những nét khái quát nhưng cũng có những nét riêng biệt không lặp lại Nét độc đáo của nhân vật Chí Phèo là sự trân trọng bát cháo của Thị Nở, là hành động đâm chết kẻ đã làm hại cuộc đời mình rồi tự tử

Điện ảnh đã tiếp nhận rất nhiều phương thức xây dựng nhân vật từ văn học

Đó là cách xây dựng nhân vật điển hình, để nhân vật bộc lộ tính cách qua từng sự kiện, tình tiết, chi tiết Và ngược lại, văn học cũng tiếp thu được rất nhiều từ điện ảnh như cho nhân vật hành động nhiều hơn là suy nghĩ, nhân vật xuất hiện trong không gian và thời gian cụ thể

Nếu văn học lấy ngôn từ làm “da thịt” của mình thì điện ảnh sử dụng hình ảnh và âm thanh đắp lên “bộ khung” là cốt truyện Không phải thể loại nào của văn học hay điện ảnh cũng cần có cốt truyện mà cốt truyện chỉ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong thể loại phim truyện của điện ảnh và truyện ngắn, truyện vừa hay tiểu thuyết của văn học

“Cốt truyện là hình thức tổ chức cơ bản nhất của truyện bao gồm các giai

đoạn phát triển chính, các sự kiện và hành động chính trong tác phẩm” [16, tr.102]

Trang 31

Cốt truyện thường có những phần chính sau: trình bày, thắt nút, phát triển, đỉnh điểm, mở nút Xây dựng tác phẩm có cốt truyện là đặc điểm mà điện ảnh từ sơ khai

đã tiếp thu từ văn học Những thước phim đầu tiên do anh em Auguste và Louis Lumière làm chỉ là những đoạn phim ngắn có hình ảnh chuyển động mà không có

âm thanh và cốt truyện Người xem thích thú vì lạ nhưng cũng dần chán vì nó không đọng lại được gì sau những lần xem Điện ảnh có âm thanh do khoa học kỹ thuật mang lại, thì “nàng tiên Út” lúc này khá hoàn chỉnh về dung mạo nhưng cũng chưa thể nói là hoàn thiện khi chưa có cốt truyện Cốt truyện đã làm cho phim lôi cuốn, hấp dẫn, làm cho những hình ảnh, tạo cho âm thanh hay ánh sáng, các góc máy và cho người diễn viên phát huy hết khả năng diễn xuất của mình Có thể lấy

cốt truyện trong bộ phim Đời cát của đạo diễn Thanh Vân làm minh chứng

Bộ phim Đời cát kể về một người đàn ông có hai người vợ Ông Cảnh xa gia

đình đi chiến đấu Đất nước chia cắt, ông không biết còn có cơ hội được trở về quê nhà nữa hay không Ở nơi chiến đấu, ông đã lập gia đình mới Hòa bình, đất nước thống nhất, ông trở về thăm quê, sau hai mươi năm xa cách Người vợ cả đã chờ đợi ông mà héo mòn cả tuổi thanh xuân Chị tôn thờ ông nên từ chối tình cảm của người khác dành cho mình Sau giây phút hạnh phúc ngập tràn được gặp lại chồng là nỗi đau thắt ruột khi chị Thoa biết chồng mình đã có một tổ ấm khác Người vợ thứ hai

và đứa con gái riêng của ông Cảnh cũng hiện diện ở đó làm cho mọi việc càng trở nên khó xử

Cốt truyện éo le đã làm cho những cảnh quay đời sống bình thường trở nên sâu sắc, như cảnh Tâm (do Hồng Ánh thủ vai) tắm dưới sông Chiếc máy quay “tế nhị” (theo cái nhìn của nhân vật Thoa) lướt qua hình ảnh Tâm vừa tắm dưới sông lên, quần áo dính vào người để lộ thân hình trẻ trung, tràn đầy sức sống Rồi máy quay chuyển (quay khách quan) sang gương mặt buồn, ánh mắt bối rối nhìn xuống người mình của chị Thoa Âm nhạc từng hồi thống thiết thể hiện những cảm xúc, nỗi đau dồn nén của người vợ cả Máy quay lại tiến ra xa, trên khuôn hình là tấm lưng trắng của Tâm, bóng đen (do mặc đồ tối màu) của chị Thoa, với dáng ngồi khắc, khổ đang quay mặt ra hướng khác Từ diễn biến của cốt truyện, qua các góc

Trang 32

máy, người xem cảm nhận rõ hơn nỗi đau, sự bất hạnh của nhân vật và sự trớ trêu của số phận

Cảnh trong phim Đời cát

Chị Thoa vất vả “canh gác” không cho chồng mình và người vợ hai gần nhau Điều này hoàn toàn có thể hiểu được, vì “Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai” Nhưng trong lúc đi “canh gác”, chị vô tình chứng kiến cảnh chồng mình chia tay người vợ hai đầy quyến luyến và tội nghiệp, chị đã đau đớn tột cùng mà quyết định để ông Cảnh đi theo người vợ trẻ Hành động cao thượng mua vé tàu cho chồng, qua diễn xuất chân thật và biểu cảm của Mai Hoa (trong vai Thoa) đã chinh phục được người xem Cốt truyện hay cộng với tài năng diễn xuất của diễn viên và

sự tinh tế của người quay phim… đã mang lại cho bộ phim những giải thưởng lớn, trở thành niềm tự hào của điện ảnh Việt Nam

Cùng với sự phát triển của kỹ thuật làm phim, cách thức thể hiện nội dung cũng có những thay đổi đáng kể Có những bộ phim hiện đã không còn theo những

quy luật phát triển của cốt truyện Chẳng hạn như bộ phim Đừng đốt của đạo diễn

Đặng Nhật Minh, trong phim, chúng ta sẽ không tìm thấy đâu là cao trào vì toàn bộ phim luôn ở vào những lúc đỉnh điểm, nhịp điệu của phim như căng ra với sự rà

soát của máy bay, của những đợt khẩn trương chạy càn

Trang 33

Tóm lại, cốt truyện đã làm cho tác phẩm điện ảnh hoàn thiện hơn, không dàn trải và sơ sài Không chỉ “vay mượn” cách thức xây dựng cốt truyện mà điện ảnh còn vay mượn từ văn học cả biện pháp thể hiện nội dung tác phẩm

1.2.4 Về phương pháp thể hiện của văn học và điện ảnh

Văn học và điện ảnh có cách thức thể hiện nội dung khác nhau Dù có nhiều nét khác biệt nhưng giữa chúng, vẫn có những điểm tương đồng như: sử dụng yếu

tố tự sự, ẩn dụ, hoán dụ, so sánh và tượng trưng

Biện pháp mà điện ảnh thường sử dụng nhiều và tương đồng với văn học là

tự sự Nếu văn học kể chuyện bằng ngôn từ thì điện ảnh kể chuyện bằng hình ảnh

và âm thanh Chính vì cùng sử dụng phương thức tự sự nên người nghệ sĩ có thể dễ dàng chuyển thể tác phẩm văn học sang tác phẩm điện ảnh

Điện ảnh phản ánh cuộc sống một cách chân thật nhất Nhưng nếu như chỉ đơn giản là những thước phim phản ảnh thực tại thì điện ảnh sẽ không để lại ấn tượng cho người xem Vì vậy, điện ảnh phải vay mượn những phương thức biểu đạt nội dung như: ẩn dụ, nhân hóa, tượng trưng… để tạo ra những tầng nghĩa cho tác phẩm, cuốn hút công chúng

Nghệ thuật cần có sự súc tích, điện ảnh cũng vậy Phim truyền hình nhiều tập, tuy dài nhưng vẫn cần phải súc tích, nếu không sẽ làm cho người xem nhàm chán Phim nhựa lại càng phải súc tích hơn vì nó chỉ gói gọn trong khoảng 90 phút

Vì vậy mà những biện pháp tu từ của văn học được sử dụng để tạo sự độc đáo cho

phim, thể hiện được ý đồ của đạo diễn Ví dụ, ngay vào đầu phim Con chim vành

khuyên có cảnh quay sử dụng biện pháp ẩn dụ: cảnh quay bố con bé Nga, xen vào

đó là cảnh con gà trống đang chăn con Hình ảnh con gà trống với đàn con là hình ảnh ẩn dụ để nói đến hoàn cảnh của bố bé Nga một mình nuôi con

Hầu như trong các bộ phim, biện pháp so sánh thường được sử dụng Ví dụ

như trong phim Đời cát, đặt hai người vợ trong cùng một ngôi nhà, đạo diễn đã gợi

ra sự so sánh cho người xem: nếu như vợ hai của ông Cảnh trẻ, tràn đầy sức sống

Trang 34

thì người vợ cả lại gầy còm, héo mòn, khắc khổ Sự khác biệt này làm cho bi kịch của ba người càng nặng nề hơn

Điện ảnh không chỉ sử dụng biện pháp so sánh ngầm (ẩn dụ) hay thay thế (hoán dụ) mà còn sử dụng hình ảnh tượng trưng làm cho tác phẩm trở nên sâu sắc, tác phẩm “nói” được nhiều hơn Điện ảnh sử dụng ngôn ngữ nhưng phải hạn chế, nếu quá nhiều thì sẽ thành “nghe” phim chứ không phải là xem phim Văn học cũng vậy, có lợi thế về ngôn từ nhưng nếu tác phẩm văn học cái gì cũng nói rõ ràng thì chẳng có gì để người đọc khám phá Nhất là đối với truyền thống dân tộc ta vốn

kiệm lời, “Nói ít hiểu nhiều”, “Ý tại ngôn ngoại” hay “Nói một hiểu mười”

Trong phim Bao giờ cho đến tháng mười, hình ảnh cánh diều là một hình ảnh

tượng trưng Khi chồng Duyên đi bộ đội, anh đốt cánh diều Lúc ấy, cánh diều tượng trưng cho tuổi thơ của anh, cho những ngày tháng bình yên ở quê nhà phải khép lại để nhập ngũ Khi thần Thành Hoàng gửi lại cánh diều cho Duyên, cánh

diều gợi nhắc cho chị bao kỉ niệm về người chồng, những gì còn lại “vĩnh viễn là

cái không nhìn thấy được” Nó xuất hiện lần thứ ba, khi hai mẹ con thả diều trên đê

Cánh diều đó do thầy giáo Khang làm từ trang giấy ghi bài thơ của anh Lúc đó, cánh diều tượng trưng cho hòa bình, hạnh phúc Nó là tấm lòng, mong ước của thầy giáo Khang - muốn chị Duyên được hạnh phúc, là khát khao của đứa con nhỏ, là hạnh phúc được hồi sinh của chị Duyên Và đó cũng là mong ước của người chồng

đã hy sinh: “Anh chỉ muốn những người sống được hạnh phúc”

Tóm lại, cùng trong “gia đình nghệ thuật”, cũng giống như những loại hình nghệ thuật khác, văn học và điện ảnh có những điểm tương đồng về tính chất, chức năng Ngoài ra, chúng còn có những điểm giống nhau khác như ở cách thức xây dựng nhân vật hay cốt truyện, biện pháp thể hiện Có lẽ chính vì những điểm tương đồng này nên nhiều tác phẩm văn học đã được chuyển thể sang tác phẩm điện ảnh rất thành công Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, còn có nhiều thách thức đối với các nhà điện ảnh khi chuyển thể từ tác phẩm văn học sang phim, đó là việc khắc phục những điểm khác nhau giữa hai loại hình này

Trang 35

1.3 Nét khác biệt giữa văn học và điện ảnh

Mỗi loại hình nghệ thuật đều có những điểm khác biệt Chẳng hạn như điện ảnh và sân khấu mang nhiều nét đặc trưng gần gũi nhau nhưng giữa hai loại hình này vẫn tồn tại những đặc thù riêng So sánh hai loại hình văn học và điện ảnh, có thể thấy sự khác biệt ở chất liệu thể hiện, quá trình sáng tác và ở cả quá trình tiếp nhận tác phẩm

1.3.1 Về chất liệu thể hiện

Nét khác biệt lớn nhất giữa các ngành nghệ thuật là ở chất liệu thể hiện Nếu chất liệu của mỹ thuật là màu sắc, hình khối, đường nét thì chất liệu của văn học chính là ngôn từ, chất liệu của điện ảnh là hình ảnh và âm thanh

1.3.1.1 Chất liệu của văn học

Chất liệu của văn học là ngôn từ Theo nhà nghiên cứu Phương Lựu:

Ngôn từ là lời nói viết mà người ta dùng làm chất liệu để sáng tác văn học Nếu ngôn ngữ là tổng thể tất cả các đơn vị, phương tiện, các kết hợp mà lời nói sử dụng (ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, các phương thức tu từ), lời nói là hình thức tồn tại thực tế của ngôn ngữ vốn phong phú, sinh động, đa dạng thì ngôn từ là lời nói được sử dụng với tất cả phẩm chất thẩm mỹ và khả năng nghệ thuật của nó [33, tr.183]

Vậy theo Phương Lựu, ngôn từ chính là lời nói, với “tất cả phẩm chất thẩm

mỹ” và “khả năng nghệ thuật”, được các nhà văn, nhà thơ dùng để sáng tác văn học

Vì chất liệu là ngôn từ nên văn học có những đặc trưng và khả năng riêng mà không

có một ngành nghệ thuật nào có được

Đặc trưng thứ nhất của ngôn từ là tính phi vật thể Chính đặc trưng này đã tạo nên tính phi vật thể của hình tượng văn học Mỗi loại hình nghệ thuật đều có hình tượng của nó Hình tượng của điêu khắc là những hình khối hiện diện rõ ràng trước mắt chúng ta Hình tượng của mỹ thuật là những nét vẽ và chúng ta có thể chiêm ngưỡng bằng mắt Nhưng hình tượng của văn học thì phi vật chất, nó được gợi lên từ

Trang 36

con chữ và nằm ở trong trí tưởng tượng của mỗi người Tính phi vật chất của ngôn từ không cho con người được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của hình tượng nhưng lại đem đến cho người đọc cái thú được tưởng tượng Cùng đọc một tác phẩm văn học, nhưng mỗi người lại có một cách tưởng tượng khác nhau Vì vậy, khi tiếp nhận tác phẩm, người đọc như tham gia vào quá trình sáng tác và xây dựng hình tượng văn học

Đặc trưng thứ hai của ngôn từ là tính hình tượng Tính hình tượng thuộc vào bản chất của ngôn từ Màu sắc để riêng không tạo nên hình tượng nghệ thuật Chúng chỉ tạo hình khi được người họa sĩ vẽ lên Nhưng nếu để riêng những ngôn ngữ rời rạc, chúng ta vẫn thấy tính tạo hình của nó, chẳng hạn như: rung rinh, chênh vênh, thoăn thoắt, đi, ngồi, đứng…

Tính hình tượng tạo điều kiện dễ dàng cho người đọc xây dựng hình tượng văn học trong suy nghĩ của mình Và nó cũng tạo điều kiện cho nhà điện ảnh, họa sĩ, nhà biên kịch có thể chuyển thể tác phẩm văn học sang một loại hình khác

Đặc trưng thứ ba của ngôn từ là tính biểu cảm Ngôn từ có thể miêu tả chính xác các trạng thái tâm lý của con người mà không một ngành nghệ thuật nào có thể sánh được Tính biểu cảm trong ngôn từ nghệ thuật là nét đặc trưng nhất để phân biệt với ngôn từ trong các loại văn bản hành chính Nó thể hiện ở cách kể chuyện, giọng điệu, sử dụng từ loại, các biện pháp tu từ, dấu câu, thanh điệu, nhịp điệu, cú pháp, cấu trúc, cách xuống dòng… mà tác giả sử dụng Tính biểu cảm thể hiện nhiều nhất ở các nhà văn, nhà thơ lãng mạn Trong tác phẩm của những nhà văn hiện thực, ngôn từ vẫn

có tính biểu cảm, mặc dù tác giả muốn giấu kín: “Cái tinh tế ở đây là chất biểu cảm

bộc lộ trong ngôn từ nghệ thuật một cách tự nhiên, như một thuộc tính, ngay cả khi nhà văn không cố ý, thậm chí tìm cách giấu kín đi” [44, tr.139]

Đặc điểm thứ tư của ngôn từ là tính đa nghĩa Tính đa nghĩa là bản chất của tác phẩm nghệ thuật chứ không riêng gì tác phẩm văn học Bao nhiêu người nhìn bức tranh của Picaso thì có bấy nhiêu ý nghĩa Nhưng so với các ngành nghệ thuật khác thì tính đa nghĩa của tác phẩm văn học vẫn là nổi trội Bởi trong tác phẩm văn học, chất liệu mang tính đa nghĩa từ từng yếu tố nhỏ nhất Mỗi từ lại mang một khái niệm,

Trang 37

một hàm nghĩa, và có từ còn có nhiều nghĩa Không những thế, nó còn có nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa chính, nghĩa phụ, nghĩa hẹp, nghĩa rộng, nghĩa gốc, nghĩa chuyển Mỗi từ kết hợp với từ khác, hay xuất hiện trong những ngữ cảnh khác nhau lại có những ngữ nghĩa khác nhau Hay như cách đặt dấu câu trong một tác phẩm văn học cũng bao hàm ý nghĩa Thậm chí, cách ngắt nhịp khác nhau trong một bài thơ cũng tạo nên những nét nghĩa khác nhau Tính đa nghĩa của ngôn từ làm cho văn học thu hút được độc giả Người đọc luôn cảm thấy mới mỗi khi đọc lại tác phẩm Nhưng nó cũng gây khó khăn cho tác giả, để lựa chọn một từ cho nghĩa chính xác và “đắt” trong một “biển từ” là việc không phải dễ dàng Nó gần như là phụ thuộc vào trực giác và tài năng của người nghệ sĩ

Từ những đặc trưng nổi bật của văn học có thể thấy rằng chất liệu của văn học

có thể diễn tả mọi lĩnh vực trong cuộc sống và mọi cung bậc cảm xúc trong tâm hồn con người Đây là đặc trưng trội nhất của văn học so với các ngành nghệ thuật khác Khả năng của ngôn từ là vô hạn Nó không chỉ miêu tả tâm trạng con người một cách chính xác mà nó có thể phản ánh thời gian, không gian mênh mông, ở mọi nơi, mọi lúc Điện ảnh, hội họa hay điêu khắc… không thể làm được việc này Nếu điện ảnh muốn diễn tả quá khứ thì phải có hình ảnh, nếu không tìm được cảnh quay thì chỉ có thể diễn tả bằng lời nói của diễn viên Mà diễn tả bằng lời nói thì chính là mượn chất liệu của văn học Hội họa và điêu khắc lại càng hạn chế hơn vì chỉ có thể miêu tả được một khoảnh khắc hay một không gian nhất định

1.3.1.2 Chất liệu của điện ảnh

Chất liệu của điện ảnh chính là hình ảnh và âm thanh Điện ảnh là ngành nghệ thuật tích hợp được rất nhiều chất liệu của các loại hình khác như hình ảnh của hội họa, âm thanh của âm nhạc, ngôn ngữ của văn học… Sự hòa quyện đó đã tạo lên một ngành nghệ thuật tuyệt vời và hoàn hảo là điện ảnh Từ chất liệu là hình ảnh

và âm thanh, điện ảnh có đặc trưng nổi bật là: tính tổng hợp, tính kỹ thuật, tính chân thực, tính quần chúng

Trang 38

Tính tổng hợp của điện ảnh thể hiện ngay từ khâu hình thành tác phẩm (điều này sẽ được trình bày ở phần sau của luận văn) Ở mục này, chúng tôi chỉ nói đến tính tổng hợp trong chất liệu của điện ảnh Điện ảnh có thể dung nạp tất cả các ngành nghệ thuật khác vào trong chỉnh thể tác phẩm của mình Trong một tác phẩm điện ảnh, có thể bắt gặp một bức tranh, một bài thơ, một đoạn kịch hay một bài hát… Nhưng khi đi vào điện ảnh, mỗi ngành nghệ thuật không còn giữ y nguyên đặc trưng của riêng nó mà chịu sự chi phối của ngôn ngữ điện ảnh Người xem không được ngắm một bức tranh với tỉ lệ thực, mà phải phụ thuộc vào máy quay

“cho gì xem ấy” Khán giả cũng không được nhìn thấy những nghệ sĩ bằng xương bằng thịt trên sân khấu mà phải xem hành động diễn ra trên màn ảnh Nhất là âm nhạc, khi đưa vào trong phim, thường là những đoạn nhạc để “nói thêm” cho nội dung bộ phim, chứ ít khi là những bản nhạc hoàn chỉnh

Nếu khoa học kỹ thuật không phát triển thì sẽ không có điện ảnh Ở buổi ban đầu, khi điện ảnh mới chỉ là những hình ảnh chuyển động, không có âm thanh, người ta cho đó là “trò chơi của kỹ thuật” Nhưng nhờ vào sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật, điện ảnh đã dần trưởng thành và ngày càng hoàn thiện Kỹ thuật có quan hệ hữu cơ với quá trình hình thành, chất lượng và quá trình tiếp nhận tác phẩm điện ảnh Khi thực hiện một bộ phim, nếu máy quay không tốt hay không có nhiều máy để kết hợp quay nhiều góc máy cùng một lúc sẽ rất khó thực hiện ý đồ của đạo diễn Khi chiếu phim mà không có máy chiếu tốt, không có

âm thanh hay thì người xem sẽ không tiếp thu được trọn vẹn bộ phim Ngay cả trong việc bảo quản và phổ biến phim cũng rất cần vai trò của khoa học kỹ thuật

Nhờ vào khoa học kỹ thuật mà điện ảnh tạo ra những tác phẩm nghệ thuật thật như cuộc sống Sân khấu chỉ bó hẹp trong một không gian nhất định nên thường sử dụng biện pháp ước lệ, và không thể cho một đàn ngựa, một con sông hay một cảnh cháy rừng lên sân khấu Còn điện ảnh thì có thể làm được Chỉ cần vài con ngựa, nhờ vào kỹ xảo, điện ảnh có thể cho người xem thấy một đàn ngựa đông đúc đang chạy Không chỉ là con sông, mà ngay đại dương bao la hay thậm chí là cả dưới đáy đại dương điện ảnh cũng có thể đưa lên màn hình cho người xem thưởng

Trang 39

thức Văn học có thể phản ánh mọi mặt của cuộc sống phức tạp nhưng hình ảnh mà văn học mang lại phải đi qua con đường tưởng tượng của người đọc, vì vậy, nó phụ thuộc vào sự cảm thụ của mỗi cá thể Còn điện ảnh thì khác, tất cả đều được hiển thị

rõ ràng, cụ thể hóa, hình ảnh hóa trên màn ảnh và khán giả chỉ cần xem và cảm nhận

Từ việc xây dựng những hình tượng nghệ thuật cụ thể, điện ảnh trở thành loại hình nghệ thuật mang tính quần chúng cao Tính quần chúng cũng làm cho điện

ảnh trở thành ngành nghệ thuật quan trọng nhất trong các ngành nghệ thuật “Điện

ảnh mang tính chất trực quan, phổ cập và dễ hiểu Người ta hiểu một bộ phim dễ dàng hơn một cuốn sách hay một tác phẩm hội họa, dễ dàng như nghe một bài hát đại chúng hay xem một điệu múa dân gian” [57, tr.10] Người xem không trải qua

những năm tháng chiến tranh vẫn có thể hiểu và cảm nhận được sự nguy hiểm của những chiếc máy bay đang quần thảo trên túp lều của nhân vật Ba Đô, trong bộ

phim Cánh đồng hoang Người xem chưa từng biết đến mùa nước nổi ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ, nhưng khi xem bộ phim Mùa len trâu thì khán giả cũng có

những hình dung cụ thể về cuộc sống của con người và thiên nhiên vùng sông nước

Từ những đặc trưng trên cho ta thấy, điện ảnh là một ngành nghệ thuật mang tính tổng hợp và tính quần chúng cao Nó phụ thuộc một cách chặt chẽ vào kỹ thuật

và công nghệ Với sự phát triển không ngừng của công nghệ, công chúng hy vọng

sẽ còn có những đổi mới trong ngành nghệ thuật trẻ trung và năng động này

Trang 40

Cảnh trong phim Mùa len trâu

1.3.2 Quá trình hình thành tác phẩm văn học và điện ảnh

Một tác giả muốn sáng tác một tác phẩm văn học có thể chỉ cần dụng cụ là một cây bút và một tập giấy Nhưng muốn sáng tạo một tác phẩm điện ảnh thì không đơn giản như vậy mà nó đòi hỏi rất nhiều yếu tố kết hợp như: kịch bản, diễn viên, quay phim, đạo cụ, âm thanh, ánh sáng… thiếu một trong những thành tố đó

bộ phim khó có thể thành công

Quá trình hình thành tác phẩm văn học bắt đầu từ khi tác giả xuất hiện ý tưởng trong đầu mình Ý tưởng ấy có khi được “thai nghén” rất lâu nhưng cũng có khi chỉ hình thành trong vài phút trước khi viết Khi có ý tưởng trong đầu, người viết đi tìm những kiến thức liên quan và bắt đầu viết Người đạo diễn cũng bắt đầu làm bộ phim của mình từ ý tưởng và cũng “thai nghén” nó Nhưng để tác phẩm điện ảnh hoàn thành cần có một đội ngũ đông đảo thực hiện

Có thể hình dung một bộ phim điện ảnh sẽ bắt đầu từ việc hình thành ý tưởng đối với người viết kịch bản Khi có ý tưởng và kiến thức đủ cho một bộ phim đang hình thành, người viết kịch bản bắt tay vào viết Khi viết xong, người viết kịch bản gặp đạo diễn và hợp tác cùng làm việc Họ bắt đầu chọn diễn viên, bối cảnh, người quay phim, người viết nhạc, đạo cụ, chuyên viên âm thanh, ánh sáng Khi đã chuẩn

bị đầy đủ, họ tiến hành quay phim Cảnh quay thường không theo thứ tự trong kịch

Ngày đăng: 04/05/2021, 23:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Duy Cẩn (1983), “Người xem của chúng ta với điện ảnh”, Nghiên cứu Nghệ thuật, (1), 3-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người xem của chúng ta với điện ảnh”, "Nghiên cứu Nghệ thuật
Tác giả: Nguyễn Duy Cẩn
Năm: 1983
2. Cục Điện ảnh (1981), Nghệ thuật điện ảnh (Tài liệu học tập, bồi dưỡng nghiệp vụ), Cục Điện ảnh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật điện ảnh (Tài liệu học tập, bồi dưỡng nghiệp vụ
Tác giả: Cục Điện ảnh
Năm: 1981
3. Cục Điện ảnh (1983), Hiện thực thứ hai (Tài liệu tham khảo nước ngoài), Cục Điện ảnh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện thực thứ hai (Tài liệu tham khảo nước ngoài)
Tác giả: Cục Điện ảnh
Năm: 1983
4. Hồ Biểu Chánh (2005), Cha con nghĩa nặng, Nxb Văn hóa Sài Gòn, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cha con nghĩa nặng
Tác giả: Hồ Biểu Chánh
Nhà XB: Nxb Văn hóa Sài Gòn
Năm: 2005
5. Nguyễn Nam Châu (1959), “Sự đóng góp và phá hoại của điện ảnh”, Quê hương, (5), 68-80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự đóng góp và phá hoại của điện ảnh”, "Quê hương
Tác giả: Nguyễn Nam Châu
Năm: 1959
6. Lê Châu (1976), “Về cái gọi là “tính văn học” trong điện ảnh”, Nghiên cứu Nghệ thuật, (1), 71-81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về cái gọi là “tính văn học” trong điện ảnh”, "Nghiên cứu Nghệ thuật
Tác giả: Lê Châu
Năm: 1976
7. Vũ Quang Chính (1986), “Tính cách điện ảnh và điện ảnh tính cách” Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật, (2), 59-68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính cách điện ảnh và điện ảnh tính cách” "Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật
Tác giả: Vũ Quang Chính
Năm: 1986
8. Trần Chính (1996), “Văn hóa dân gian trong tác phẩm điện ảnh”, Văn hóa dân gian, (54), 99-102 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian trong tác phẩm điện ảnh”, "Văn hóa dân gian
Tác giả: Trần Chính
Năm: 1996
9. Lê Dân (2000), Đường vào điện ảnh, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường vào điện ảnh
Tác giả: Lê Dân
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2000
10. Nguyễn Văn Dân (2004), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2004
11. Nguyễn Thị Ngọc Diễm (2012), Vấn đề chuyển thể tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp sang điện ảnh, Luận văn Thạc sĩ, Tp. Hồ Chính Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề chuyển thể tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp sang điện ảnh
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Diễm
Năm: 2012
12. Hạ Diễn, Mao Thuẫn, Dương Thiên Hi, Bàn về cải biên tiểu thuyết thành phim, Nxb Văn hóa - Nghệ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về cải biên tiểu thuyết thành phim
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Nghệ thuật
13. Trương Đăng Dung (1998), Từ văn học đến tác phẩm văn học, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ văn học đến tác phẩm văn học
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1998
14. Trương Đăng Dung (2004), Tác phẩm văn học như là một quá trình, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học như là một quá trình
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2004
15. Phạm Vũ Dũng (2000), Điện ảnh Việt Nam ấn tượng và suy ngẫm, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điện ảnh Việt Nam ấn tượng và suy ngẫm
Tác giả: Phạm Vũ Dũng
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2000
16. Lê Tiến Dũng (2005), Lý luận văn học (Phần tác phẩm văn học), Nxb Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Lê Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2005
17. Trần Trọng Đăng Đàn (2002), Văn hóa văn nghệ chào thế kỷ mới, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa văn nghệ chào thế kỷ mới
Tác giả: Trần Trọng Đăng Đàn
Nhà XB: Nxb Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2002
18. Trần Trọng Đăng Đàn (2011), Phim truyện Việt Nam thưởng thức - bình luận, Nxb Văn hóa - Văn nghệ, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phim truyện Việt Nam thưởng thức - bình luận
Tác giả: Trần Trọng Đăng Đàn
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Văn nghệ
Năm: 2011
19. Phạm Viết Đào (1991), “Thử tìm nét đặc thù của kịch bản phim truyện”, Tạp chí Văn học, (249), 14-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử tìm nét đặc thù của kịch bản phim truyện”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Phạm Viết Đào
Năm: 1991
20. Trần Đắc (1993), “Bốn thập kỷ điện ảnh Việt Nam thành tựu và nỗi lo”, Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật, (112), 95-98 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bốn thập kỷ điện ảnh Việt Nam thành tựu và nỗi lo”," Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật
Tác giả: Trần Đắc
Năm: 1993

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w