Trong quá trình phát triển lịch sử Phật giáo Việt Nam, Phật giáo đời Trần đã thể hiện sức sống tự lực, tự cường, tính nhân bản, truyền thống, cốt cách, bản sắc với tinh thần độc lập của
Trang 1
ĐỖ THỊ THANH HƯƠNG
TƯ TƯỞNG THIỀN TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO THỜI ĐẠI NHÀ TRẦN – ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2014
Trang 2
ĐỖ THỊ THANH HƯƠNG
TƯ TƯỞNG THIỀN TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO THỜI ĐẠI NHÀ TRẦN – ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, được thực hiện dưới sự
hướng dẫn khoa học của PGS.TS TRỊNH DOÃN CHÍNH và chưa được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào Kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực Các tài liệu sử dụng trong luận văn có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng
Tác giả
Đỗ Thị Thanh Hương
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU……… ……… 1
Chương 1 CƠ SỞ XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG THIỀN TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO THỜI KỲ NHÀ TRẦN 10 1.1 Điều kiện lịch sử xã hội Việt Nam thế kỷ XIII hình thành tư tưởng Thiền trong triết học Phật giáo thời đại nhà Trần……… ………… 10
1.1.1 Khái quát điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội Việt Nam thời Trần thế kỷ
1.1.2 Văn hóa, pháp chế, giáo dục thi cử thời đại nhà Trần………28
1.2 Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng Thiền trong triết học Phật giáo thời đại nhà Trần……… ………34
1.2.1 Khái niệm Thiền và tư tưởng Thiền của Phật giáo Ấn Độ và Trung Hoa ảnh hưởng đến Việt Nam……… ……… 34 1.2.2 Tư tưởng Thiền thời kỳ nhà Lý - tiền đề lý luận trực tiếp của Thiền học thời đại nhà Trần……… ……… 45
Kết luận chương 1……… ……… 63 Chương 2 NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA TƯ TƯỞNG THIỀN TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO THỜI KỲ NHÀ
Trang 52.2.1 Đặc điểm cơ bản của tư tưởng Thiền trong triết học Phật giáo thời đại
nhà Trần……… ……… 141
2.2.2 Ý nghĩa lịch sử của tư tưởng Thiền trong triết học Phật giáo thời đại nhà Trần……….170
Kết luận chương 2……… ………179
PHẦN KẾT LUẬN……… …… 182
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 186
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhân loại đang bước vào thiên niên kỷ mới với một nền văn minh ngày càng rực
rỡ, khoa học hiện đại được xem như là chìa khóa phục vụ mọi nhu cầu sinh hoạt về vật chất của đời sống con người - xã hội Chúng ta đã chứng kiến những thành tựu thần kỳ, những đổi thay đến kinh ngạc của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật - công nghệ với
sự toàn cầu hóa đang phát triển một cách cao độ, nhanh chóng và mạnh mẽ, làm cho sản xuất vật chất và cuộc sống của nhân loại phát triển vượt bậc Những thuận lợi này
đã góp phần đưa đến sự giải phóng cho con người về nhiều phương diện
Nhưng cùng lúc xã hội con người cũng đang báo động sự xuống cấp tinh thần đạo đức của con người Thế giới đang kêu gọi con người hãy biết kiềm chế, dừng lại với chính mình Bên ngoài, dù phát triển kinh tế, nuôi dưỡng sự sống nhưng cũng phải biết làm thế nào để bảo vệ môi sinh, môi trường cho cuộc sống Đồng thời, bên ngoài có cuộc sống vật chất tốt rồi thì bên trong tinh thần con người cũng phải biết quay về tìm lại cội nguồn truyền thống văn hóa tổ tiên của mỗi dân tộc Nếp sống tốt đẹp của các thế hệ tiền nhân là luôn luôn tự nguyện gánh chịu gian nan,
hy sinh cho con cháu, xả thân vì đại nghĩa, vì an nguy của dân tộc và nhân loại Lịch sử nhân loại được viết nên bởi nhiều thế hệ nhân sinh Con người và lịch
sử luôn gắn liền với nhịp sống tâm linh của dân tộc, hằng chuyển theo thời gian và không gian Với hơn hai nghìn năm cho một quá trình hòa nhập, gắn bó với đất
nước và dân tộc Việt Nam, đến nay Phật giáo luôn với tinh thần “tùy duyên bất
biến” sống động và thích ứng Mỗi tiền nhân với thân “tứ đại” của một con người
rồi sẽ chìm khuất vào cát bụi, chỉ còn sự nghiệp, tiếng tốt để lại, chứng tính ấy được truyền tụng đến đời sau từ những sử liệu ghi chép để khiến họ sống mãi trong tâm tưởng với thời gian
Tổng bí thư Lê Khả Phiêu phát biểu: “…Nước ta có một nền văn hiến lâu đời
Xây dựng và bảo vệ nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc và không ngừng thu hút tinh hoa văn hóa nhân loại là một nhiệm vụ phải làm thường xuyên Đất nước đòi hỏi phải có những tác phẩm văn học, nghệ thuật làm lay động lòng người, ghi dấu không
Trang 7phai mờ những chặng đường hào hùng đã qua và hôm nay Qua đó các thế hệ Việt Nam soi mình, tự thức tỉnh để sống cao đẹp, xứng đáng với sự nghiệp mới của dân tộc Không gì thay thế được những tác phẩm ấy trong tương lai, cũng như không gì
có thể thay thế được Trống đồng, Bình Ngô đại cáo và Truyện Kiều khi nói về mấy ngàn năm văn hiến của đất nước Kiên quyết chống mọi xu hướng vọng ngoại, lai căng, làm mất bản sắc dân tộc, cũng chính là bảo vệ xây dựng Tổ quốc, bảo vệ và xây dựng con người Việt Nam, bản lĩnh và nhân cách Việt Nam…” [46; tr 27-28]
Cũng như thế, Phật giáo Việt Nam cùng với vận mệnh đất nước đã trải qua bao hưng suy thăng trầm của lịch sử Nếu như nước nhà thời nào cũng có anh hùng, thì Phật giáo giai đoạn nào cũng có danh tăng dựng Đạo giúp đời với tinh thần đại hùng, đại lực, đại từ bi, bản chất nhân đạo, hòa bình… Đó chính là những tấm gương sáng giá góp phần tạo nên lịch sử nước nhà
Thừa hưởng nền văn minh Văn Lang - Âu Lạc, con cháu Lạc Việt - 18 đời vua Hùng, các Thiền sư thời Lý - Trần đã sống, đã sáng tác bằng tinh thần phụng sự dân tộc, nhân sinh để tô đắp xây dựng con đường đạo đức tâm linh và đem đạo vào đời
để phụng sự quốc gia dân tộc
Xã hội Đại Việt từ cuối thế kỷ VII đến đầu thế kỷ XIII, từ sự sụp đổ của triều
Lý và sự thiết lập của triều Trần đã trải qua một thời kỳ đầy những biến động sâu sắc trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội Tuy nhiên cùng với khuynh hướng phát triển của lịch sử, trong những năm đầu thống trị, nhà Trần đã có nhiều chủ trương, chính sách tiến bộ phù hợp nhằm khôi phục lại nền kinh tế, ổn định tình hình chính trị, xã hội trong nước ở những năm tháng tiếp theo của nhà Trần, như một mốc son chói lọi trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam
Ở đời Trần, một mặt cả dân tộc phải đối diện với ba cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông xâm lược đầy cam go thử thách để bảo vệ toàn vẹn non sông bờ cõi, mặt khác là nhiệm vụ phục hồi kinh tế, khai khẩn đất đai ở những vùng đất mới, ổn định đời sống của nhân dân phát triển xã hội Đại Việt thế kỷ XIII - XIV Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã thể hiện những giá trị truyền thống cao đẹp như: lòng yêu nước, tinh thần bất khuất, lạc quan yêu đời, hiếu học, trọng đạo lý, cần cù, đoàn kết…Triều đại nhà Trần đã kế thừa và phát huy
Trang 8những giá trị đó lên một bước mới để xây dựng nước Đại Việt thịnh vượng, phú cường Trước xu thế đó mọi nguồn lực của dân tộc đều được huy động Phật giáo trong giai đoạn này đã đóng góp tích cực cho nền độc lập của nước nhà
Phải nói rằng, đạo Phật vào Việt Nam đã góp phần tạo nên đạo lý cho dân tộc bao đời và đến đời Trần đã tiếp thu giáo lý Thiền tông, coi đó là giáo lý chủ đạo hướng cho đời, cho người đi vào con đường đạo Phật Nhờ đó mà vua Trần Thái Tông, vua Trần Thánh Tông và đặc biệt là vua Trần Nhân Tông đã tu tập, rèn luyện nhân cách của mình Các vị vua ấy không sử dụng quyền thế để hưởng dục lạc, xem ngai vàng như chiếc áo khoác, mặc bỏ - bỏ mặc khi cần thiết vì các vị đã tu tập được tâm mình, làm chủ được mình và lúc ấy thì làm chủ xã hội không còn là điều khó, sự cảm hóa, quy tụ các tướng tài ba quanh mình là một thực tiễn lịch sử đã chứng minh Đồng hành với dân tộc, Phật giáo Việt Nam đã góp phần xây dựng truyền thống đạo đức - văn hóa của dân tộc Bởi vì văn hóa Phật giáo là một bộ phận quan trọng cấu thành nên văn hóa dân tộc Trong quá trình phát triển lịch sử Phật giáo Việt Nam, Phật giáo đời Trần đã thể hiện sức sống tự lực, tự cường, tính nhân bản, truyền thống, cốt cách, bản sắc với tinh thần độc lập của dân tộc, nó đi đúng đường lối tu hành của đạo Phật dung hợp với bản sắc văn hóa dân tộc để tạo thành một nét đặc thù cho nền Thiền học, văn học Việt Nam thời Trần Như thế, Thiền học Việt Nam thời Trần đã góp phần để lại cho đời sau nhiều giá trị và bài học lịch sử quý báu trong việc xây dựng đạo pháp và dân tộc
Đặc biệt trong thời đại đó Phật hoàng Trần Nhân Tông là một điển hình mà dân tộc ta đã ghi tạc ông như một vị vua Phật Một con người tuy nắm chắc quyền binh trong tay nhưng tâm đức thì từ hòa, hết lòng yêu mến nhân dân, tâm hồn thì luôn hòa trong thiên nhiên cùng thơ phú Vị sư tổ của Thiền phái Trúc Lâm đã thẳng thắn bộc
lộ về văn hóa không chỉ tiếp thu mà còn phát huy tột bậc các giá trị yêu nước, dân chủ, đoàn kết, tự tôn dân tộc…Đây cũng là thời kỳ khai mở nền văn học thành văn của nước nhà Đặc biệt là việc xác lập được chuẩn đạo trong giáo hóa con người, trong đó Thiền phái Trúc Lâm có vai trò trọng yếu Nếu coi văn hóa là tất cả những gì góp phần đem lại cho con người niềm vui và sự thanh thản thì ông chính là một trong những gương mặt đặc sắc của Đại Việt thế kỷ XIII
Trang 9Ngày nay, thế hệ chúng ta đang bước sang thế kỷ XXI Nền khoa học kỹ thuật nhằm cung ứng phương tiện vật chất phục vụ cuộc sống con người ngày càng phát triển cao độ Trong thời đại này, khi sự thành công hay thất bại của một người, một
xã hội, một quốc gia thường được đánh giá thông qua những gì mà họ sở hữu thì như một hệ quả tất yếu, truyền thống văn hóa đạo đức của từng dân tộc khi tham gia vào
“sân chơi chung” quốc tế sẽ bị xâm hại nghiêm trọng Vì vậy, “công nghiệp hóa, hiện
đại hóa để xây dựng chủ nghĩa xã hội thắng lợi và bảo vệ vững chắc Tổ quốc là một
sự nghiệp vĩ đại, sự nghiệp của muôn dân, sự nghiệp của đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết 54 dân tộc anh em trong cả nước Từ thời đại các vua Hùng đến thời đại Hồ Chí Minh, đặc điểm quý báu nhất của khối đại đoàn kết dân tộc của chúng ta là tỏa khắp non sông mà quy về một mối, dựa trên một nền, xoay quanh một trục Hễ là người Việt Nam, ai cũng có lòng yêu nước, đều là con cháu Lạc Hồng”[46; tr 27-28]
Do đó, để người Việt Nam, xã hội Việt Nam bảo tồn được những nét đẹp riêng
có của mình, chúng ta cần phát huy hơn nữa những giá trị triết lý nhân bản, đạo đức truyền thống, thực hiện xây dựng xã hội hiện đại nhưng không đánh mất dân tộc
tính Chúng ta phải “xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát
triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ, tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao…”[5; tr
75-76] Đó là cách để mỗi người chúng ta trau dồi nội lực và tự tin khi hội nhập
quốc tế Cũng vậy, “chúng ta tin tưởng rằng, trong thế kỷ XXI sắp tới thành tựu
phát triển của trí tuệ loài người sẽ còn kỳ diệu hơn nhiều Các dân tộc trên thế giới đều có chung lợi ích và nghĩa vụ đóng góp vào tiến trình phát triển vĩ đại này, cũng như đoàn kết hợp tác và đấu tranh để mọi thành tựu phát triển của nhân loại được
sử dụng vì mục đích hòa bình, vì hạnh phúc con người, vì sự nghiệp bảo vệ và phát triển bền vững môi trường sinh thái…”[86; tr 4] Cũng nên lưu tâm rằng, mỗi việc
Trang 10ta làm cho nền văn hóa của chúng ta hôm nay là chúng ta đóng góp cho kho tàng văn hóa của nhân loại ngày mai
Từ nhận thức trên, ý nghĩa của việc tìm hiểu về “Tư tưởng Thiền trong triết
học Phật giáo thời đại nhà Trần - đặc điểm và ý nghĩa lịch sử” có một bề dày sâu
xa, không chỉ là nội dung tôn giáo mà thực tiễn là vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc,
sức mạnh truyền đời của tổ tiên ta để lại cho bao thế hệ xưa nay Cho nên, “xây
dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một
bộ phận quan trọng của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa của nước ta…”[4; tr
83] Mong rằng trên bước đường vào thiên niên kỷ mới, thời đại kinh tế tri thức, con người ngày càng phải lặn lội với thương trường thì người Việt Nam chúng ta vẫn
“tu tâm”, “hành thiện” theo con đường đạo Phật, nối tiếp bước đi của tổ tiên
Đó là lý do tác giả chọn đề tài luận văn của mình là “Tư tưởng Thiền trong
triết học Phật giáo thời đại nhà Trần - đặc điểm và ý nghĩa lịch sử” để nghiên cứu
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam, thời Trần được coi là một trong những thời đại hùng mạnh nhất (ba lần chiến thắng quân Nguyên - Mông) đã ghi một dấu son vàng trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam Trong đó Phật giáo đời Trần được coi là đỉnh cao của Phật giáo Việt Nam Phật giáo đóng vai trò quan trọng trong nền văn hóa Đại Việt Đặc biệt tư tưởng Thiền trong triết học Phật giáo thời đại nhà Trần là một đóng góp to lớn về mặt tinh thần trong đời sống nhân dân lúc bấy giờ
Do vậy, thời đại nhà Trần nói chung, tư tưởng Thiền trong triết học Phật giáo thời đại nhà Trần nói riêng đã ghi đậm dấu ấn trong lịch sử phát triển lâu dài của dân tộc Việt nên có rất nhiều học giả trong nhiều lĩnh vực quan tâm, nghiên cứu ở các khía cạnh, các vấn đề khác nhau như ở lĩnh vực triết học, sử học, tôn giáo học, văn hóa học, quân
sự học, giáo dục học, đạo đức học,… Luận văn có kế thừa, tiếp thu những thành tựu của các công trình đã được công bố theo các cách tiếp cận sau:
Trình bày theo cách tiếp cận về góc độ lịch sử có một số tác phẩm: Lịch sử
Phật giáo Việt Nam của Nguyễn Tài Thư chủ biên, nhà xuất bản Khoa học xã hội
Hà Nội ấn hành, năm 1988; Lịch sử tư tưởng Việt Nam của Nguyễn Đăng Thục, tập
4, nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh, năm 1992; Phật giáo với dân tộc của Hòa
Trang 11thượng Thích Thanh Từ, nhà xuất bản thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh
ấn hành, năm 1992; Đạo Phật Việt Nam của Thích Đức Nghiệp, thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh ấn hành, năm 1995; Vua trẻ trong lịch sử Việt Nam của Vũ Ngọc Khánh, nhà xuất bản Thanh Niên, năm 1999; Việt sử cương tiết yếu của trung
tâm Khoa học xã hội và nhân văn, viện nghiên cứu Hán Nôm - Đặng Xuân Bảng
(chủ biên), nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 2000; Việt Nam Phật giáo sử luận I
- II - III của Nguyễn Lang, nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, năm 2000; Lịch sử tư tưởng Việt Nam văn tuyển, tập II - tư tưởng Việt Nam thời Trần Hồ, nhà xuất bản
Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2004; Việt Nam Phật giáo sử lược của Mật Thể, nhà xuất bản Tôn giáo, năm 2004; Lịch sử Phật giáo Việt Nam của Lê Mạnh Thát, tập 3, nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, năm 2006; Trần triều hiển
thánh của Phạm Minh Thảo, nhà xuất bản Văn hóa thông tin, năm 2007; Văn hóa Việt Nam dưới triều Trần của Nguyễn Bích Ngọc, nhà xuất bản Văn hóa thông tin,
năm 2008; Lịch sử đạo Phật của Nguyễn Duy Hinh, nhà xuất bản Từ điển Bách khoa, Hà Nội, năm 2009; Đạo Phật và dòng sử Việt của Đức Nhuận, nhà xuất bản Phương Đông, thành phố Hồ Chí Minh, năm 2009; Mấy vấn đề về Phật giáo trong
lịch sử Việt Nam của Nguyễn Đức Sự, Lê Tâm Đắc, nhà xuất bản Chính trị quốc gia,
Hà Nội, năm 2010; Toàn tập Trần Nhân Tông của Lê Mạnh Thát, nhà xuất bản Phương Đông, năm 2010; Lịch sử Việt Nam cổ trung đại của Huỳnh Công Bá, nhà xuất bản Thuận Hóa, năm 2011; Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, quyển V, nhà xuất
bản Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2012;…
Theo cách tiếp cận ở khía cạnh triết học có: Tư tưởng Triết học của Thiền
phái Trúc Lâm đời Trần của Trương Văn Chung, nhà xuất bản Chính trị quốc gia,
năm 1998; Tư tưởng Phật giáo Việt Nam của Nguyễn Duy Hinh, nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1999; Đại cương lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam của
Nguyễn Hùng Hậu (chủ biên), Doãn Chính, Vũ Văn Gầu, tập 1, nhà xuất bản Đại
học quốc gia, Hà Nội, năm 2002; Triết học Phật giáo Việt Nam của Nguyễn Duy Hinh, nhà xuất bản Văn hóa thông tin và viện Văn hóa, năm 2006; Tư tưởng Việt
Nam thời Lý Trần của Trương Văn Chung, Doãn Chính (đồng chủ biên), nhà xuất
bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2008; Tư tưởng triết học Trần Nhân Tông -
Trang 12đặc điểm và giá trị lịch sử của Bùi Huy Du, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội,
năm 2012;…
Theo cách tiếp cận ở góc độ văn học có: Thơ văn Lý - Trần tập II, quyển thượng
của Nguyễn Huệ Chi (chủ biên), nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1989;
Lược sử văn học Phật giáo thời Lý - Trần của Thích Thiện Trí, thành hội Phật giáo
thành phố Hồ chí Minh ấn hành, năm 1996; Bản sắc dân tộc trong văn học Thiền tông
thời Lý Trần của Nguyễn Công Lý, nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, năm 1997; Tổng tập văn học Phật giáo Việt Nam, tập 3 của Lê Mạnh Thát, nhà xuất bản thành phố Hồ
Chí Minh, năm 2002; Văn học Phật giáo thời Lý Trần - diện mạo và đặc điểm của
Nguyễn Công Lý, nhà xuất bản Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2003; …
Nghiên cứu về chủ đề Thiền học và Thiền Việt Nam có các tác phẩm: Thiền
học Việt Nam của Nguyễn Đăng Thục, nhà xuất bản Thuận Hóa, năm 1997; Trần Nhân Tông với Thiền phái Trúc Lâm, nhà xuất bản Tôn giáo, năm 2006; Thiền tông Phật giáo, tủ sách Bách khoa Phật giáo của Nguyễn Tuệ Chân biên dịch, nhà xuất
bản Tôn giáo, năm 2008; Thiền sư Việt Nam của Thích Thanh Từ, nhà xuất bản Tôn
giáo, năm 2010;…
Hầu hết các công trình trên đều khái quát triết học Phật giáo, lịch sử Phật giáo nói chung, lịch sử Việt Nam, lịch sử Phật giáo Việt Nam nói riêng qua các đời cũng như ít nhiều đề cập đến tiểu sử, đời sống tu tập, những việc làm phụng sự dân tộc và
sáng tác văn học của các Thiền sư Đáng chú ý là tác phẩm Việt Nam Phật giáo sử
luận của Nguyễn Lang ngoài việc trình bày về khởi nguyên của Phật giáo Việt Nam,
về niên đại Phật giáo du nhập, về các bước phát triển Phật giáo trong các thế kỷ đầu Tây lịch, còn có sự luận giải rộng thêm về tư tưởng triết học và hành động dấn thân vào đạo, nhập thế độ sanh của các Thiền sư nói chung đã gợi cho chúng ta nhớ lại
và tìm về những giá trị tư tưởng đích thực nơi các Ngài
Ngoài ra, ở góc độ lịch sử, triết học đã có một số công trình luận án, luận văn mới công bố viết về thời đại nhà Trần và đề cập ít nhiều đến tư tưởng Thiền trong triết học Phật giáo nói chung cũng như tư tưởng Thiền trong triết học Phật giáo thời đại nhà Trần nói riêng mà tác giả đã xem qua và tham khảo thêm Đó là công trình
nghiên cứu của Trần Thuận với đề tài: Tư tưởng Việt Nam thời Trần, luận án tiến sĩ
Trang 13lịch sử, thành phố Hồ Chí Minh, 2003; Bùi Huy Du với đề tài: Tư tưởng Triết học
của Trần Nhân Tông, luận văn thạc sĩ triết học, thành phố Hồ Chí Minh, 2009; Đỗ
Hương Giang với đề tài: Triết học Phật giáo thời Trần, luận án tiến sĩ triết học,
thành phố Hồ Chí Minh, năm 2010
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu đề tài
Mục đích của luận văn
Mục đích của luận văn là nhằm làm rõ nội dung cơ bản, đặc điểm tư tưởng Thiền trong triết học Phật giáo thời đại nhà Trần, từ đó thấy được ý nghĩa lịch sử của tư tưởng Thiền này Chứng tỏ tư tưởng Thiền trong triết học Phật giáo thời đại nhà Trần không chỉ để lại những dấu ấn đậm nét trong lịch sử Phật giáo Việt Nam
mà còn cả trong lĩnh vực chính trị xã hội và văn hóa Việt Nam
Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên, luận văn cần thực hiện một số nhiệm vụ cơ bản sau:
- Trình bày, phân tích cơ sở tôn giáo, cơ sở xã hội; phân tích những tiền đề tư tưởng dẫn đến hình thành tư tưởng Thiền trong triết học Phật giáo thời đại nhà Trần
- Trình bày nội dung cơ bản Tư tưởng Thiền trong triết học Phật giáo thời đại nhà Trần, phân tích một số đặc điểm và nêu ý nghĩa lịch sử của tư tưởng này để thấy được nét nổi bật, sự khác biệt và sáng tạo trong quan điểm, quan niệm về Thiền của một triều đại mang đậm dấu ấn dân tộc
Phạm vi nghiên cứu luận văn
Trên cơ sở tìm hiểu, kế thừa các công trình nghiên cứu của các giáo sư, tiến sĩ, các nhà lịch sử đi trước, tác giả trình bày luận văn nghiên cứu của mình trong phạm
vi đó là: Tư tưởng Thiền trong triết học Phật giáo thời đại nhà Trần, đặc điểm và ý nghĩa lịch sử của tư tưởng này
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ trên, tác giả dựa trên cơ sở thế giới quan
và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đồng thời, trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả còn sử dụng tổng hợp một số phương pháp nghiên cứu cụ thể khác như: phương pháp phân tích và tổng hợp, so sánh, đối chiếu, diễn dịch, quy nạp,…để nghiên cứu và trình bày luận văn của mình
Trang 145 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa khoa học của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ đặc điểm, nội dung cơ bản tư tưởng Thiền trong triết học Phật giáo thời đại nhà Trần qua một số tư tưởng chủ đạo giúp người đọc hiểu một cách sâu sắc hệ thống tư tưởng Thiền, Thiền học Phật giáo Việt Nam (đặc biệt là thời nhà Trần) - đặc điểm và ý nghĩa lịch sử Điều mà chúng ta hôm nay phải suy ngẫm, nghiên cứu để tiếp thu một cách có sáng tạo những gì có thể tiếp nhận được, những gì còn nguyên giá trị thực tiễn Từ đó xây dựng phương pháp luận giúp người đọc xác định vai trò, vị trí của tư tưởng Thiền này có giá trị đặc biệt tốt đẹp đối với nền văn hóa truyền thống của dân tộc và với đời sống tinh thần của mỗi cá nhân
Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần vào mạch chung là bảo tồn và phát huy truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam Điều này rất có giá trị đối với mỗi cá nhân, mỗi tổ chức, mỗi đoàn thể trong cuộc sống đầy biến động và thách thức của đời sống xã hội nước ta hiện nay, nhất là đối với các nhà lãnh đạo đất nước trong công cuộc xây dựng, phát triển, bảo vệ thành quả của dân tộc, của cha ông cũng như bảo vệ đất nước ngày càng phồn vinh, giàu đẹp, hùng cường và vững mạnh
Mặt khác, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho tất cả mọi đối tượng, những ai quan tâm đến thời đại nhà Trần, tư tưởng Phật giáo nói chung, tư tưởng Thiền trong giai đoạn này nói riêng
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu; phần nội dung của luận văn gồm hai chương, bốn tiết, chín mục; cuối cùng là phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo
Trang 151.1.1 Khái quát điều kiện chính trị - xã hội, kinh tế Việt Nam thời Trần thế kỷ XIII
Về mặt chính trị - xã hội
Khi nhà Lý không còn thế đứng trên vũ đài chính trị nữa, thì việc vua Trần Thái Tông lên ngôi báu, khai sáng ra triều đại nhà Trần là đáp ứng nhu cầu cấp thiết của đất nước thời bấy giờ Một là thu giang sơn về một mối, thống nhất từ trong ý chí thể hiện qua hành động Hai là trên dưới đồng lòng, cùng nhau xây dựng phát triển đất nước thịnh vượng và bảo vệ vững chắc các thành quả đạt được trước bất cứ thế lực nào cố tình xâm lược
Sách Lịch sử Việt Nam cổ trung đại của Huỳnh Công Bá có viết rằng: “Từ
giữa thế Kỷ XII, triều Lý trở nên thoái hóa và lao nhanh vào con đường suy vong Vua và quý tộc, quan lại chỉ lo vơ vét của dân ăn chơi sa đọa Nông dân bị quan lại đục khoét, phải đóng tô thuế nặng nề và quanh năm đi dao dịch vất vả Nhà nước không còn chăm lo bồi dưỡng đến sức dân, không có những chính sách bảo
vệ đê điều và phát triển kinh tế Hạn hán, lụt lội, mất mùa, đói kém xảy ra liên miên, đời sống nhân dân bị đe dọa nghiêm trọng Nhiều năm đói to Nông dân phải bỏ quê hương, xóm làng nhằm tránh tô thuế, lao dịch Khởi nghĩa chống triều đình kế tiếp nhau bùng nổ Thân Lợi nổi dậy ở Thái Nguyên Lê Vãn nổi lên ở Thanh Hóa Ngô Công Lý khởi nghĩa ở Diễn Châu (Nghệ An) Phí Lang xuất hiện
ở Hoa Lư (Ninh Bình) v.v…Các cuộc khởi nghĩa cuối cùng đều bị dập tắt, nhưng
nó đã làm lay chuyển toàn bộ nến thống trị của nhà Lý Vào năm 1209, nhân cuộc nổi loạn của Phạm Du, bọn Phạm Bỉnh Di và Quách Bốc đem quân đánh phá kinh thành Thăng Long Vua Lý Cao Tông cùng con cái phải bỏ cung điện chạy trốn
Trang 16Các thế lực phong kiến địa phương nhân cơ hội đó nổi dậy, bất phục tùng với chính quyền Trung ương Chúng lấy cớ ủng hộ vua này hay thái tử kia để đem quân đánh giết lẫn nhau
Trong khoảng 20 năm đầu thế kỷ XIII, đất nước bị lâm vào cảnh loạn lạc do những cuộc chiến tranh đẫm máu giữa các phe phái phong kiến gây ra Triều đình nhà Lý tỏ ra bất lực, hết dựa vào phe phái phong kiến này, lại dựa vào thế lực phong kiến khác để duy trì sự tồn tại leo lắt của mình Trong cuộc chiến tranh giữa các thế lực phong kiến đó, thế lực của dòng họ Trần dần dần phát triển và trở thành lực lượng mạnh nhất…”[9; tr 471]
Thực tế lịch sử diễn ra cuộc thay đổi triều đại, chuyển chính quyền từ dòng họ
Lý sang dòng họ Trần tiếp biến trong nội bộ hoàng cung và triều đình hầu như không có tác động gì làm xáo trộn xã hội, không một ảnh hưởng gì lan xa Tập đoàn quý tộc họ Trần mà trực tiếp là Trần Thủ Độ đã rất khôn khéo, chỉ đạo, điều hành công việc truyền ngôi của Lý Chiêu Hoàng cho Trần Cảnh
Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại: “Kỷ Nhà Trần - Thái Tông Hoàng Đế - Họ
Trần, tên húy là Cảnh, trước tên húy là Bồ, làm Chi hậu chính triều Lý, được Chiêu Hoàng nhường ngôi, ở ngôi 33 năm [1226 - 1258], nhường ngôi 19 năm, thọ 60 tuổi [1218 - 1258] băng ở cung Vạn Thọ, táng ở Chiêu Lăng Vua khoan nhân đại độ, có lượng đế vương, cho nên có thể sáng nghiệp truyền dòng, lập kỷ dựng cương, chế
độ nhà Trần thực to lớn vậy…
Trước kia, tổ tiên vua là người đất Mân (có người nói là người Quế Lâm), có người tên là Kinh đến ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường, sinh ra Hấp, Hấp sinh
ra Lý, Lý sinh ra Thừa, đời đời làm nghề đánh cá Vua là con thứ của Thừa, mẹ họ
Lê, sinh ngày 16 tháng 6 năm Mậu Dần, Kiến Gia thứ 8 triều Lý, vua mũi cao, mặt rộng giống như Hán Cao Tổ Khi mới 8 tuổi là Chi hậu chính chi ứng cục triều Lý
Vì có chú họ là Trần Thủ Độ làm Điện tiền chỉ huy sứ, nên vua được vào hầu trong cung Chiêu Hoàng thấy vua thì ưa Năm Ất Dậu [1225], mùa đông, tháng 12, ngày
12 Mậu Dần, nhận thiền vị của Chiêu Hoàng, lên ngôi hoàng đế, đổi niên hiệu là Kiến Trung Bính Tuất, [Kiến Trung] năm thứ 2 [1226], (Tống Bảo Khánh năm thứ 2), mùa xuân tháng giêng, sách phong Chiêu Hoàng làm hoàng hậu, đổi gọi là
Trang 17Chiêu Thánh Phong Trần Thủ Độ là Thái sư thống quốc hành quân vụ chinh thảo sư…”[6, tr 7-8]
Đọc đoạn sử ghi trên, ta thấy Trần Thái Tông lên ngôi lúc 8 tuổi do Lý Chiêu Hoàng 8 tuổi nhường ngôi, như vậy sự lãnh đạo triều đại ban đầu là do tập đoàn phong kiến nhà Trần điều hành, đứng đầu là Thái sư thống quốc hành quân vụ chinh thảo sự Trần Thủ Độ Trần Thủ Độ quán xuyến mọi công việc lớn nhỏ trong triều
đình, đặc biệt nắm tất cả các quyền chính trị, quân sự Sử chép lại: “Thủ Độ dầu
không có học vấn gì, nhưng có tài lược Thái Tông được thiên hạ là do mưu sức của Thủ Độ cả, cho nên Thủ Độ là một chỗ dựa vững chắc của nhà Trần, quyền bính lấn át cả vua…Thủ Độ dầu làm quan đến tể tướng, mà không việc gì là không để ý đến, vì thế mới giúp nhà Trần dựng lên cơ nghiệp đế vương, mà cũng giữ trọn được thân mình”[93; tr 472]
Ngay từ những năm tháng đầu tiên của triều đại mình, nhà Trần đã thực hiện những cải cách lớn về chính trị - xã hội, về kinh tế, văn hóa, giáo dục, Có thể nêu những lĩnh vực chính sau: Đó là sau khi đánh dẹp được các thế lực phong kiến cắt
cứ ở địa phương, nhà Trần đã xây dựng được bộ máy nhà nước Trung ương tập quyền vững mạnh, thống nhất từ triều đình cho đến tận làng xã Nhà Trần chia nước thành 12 lộ Mỗi lộ đặt chức chánh, phó An Phủ sứ và phàm những việc hộ khẩu, tiền thuế, ngục tụng, v.v… đều giữ hết quyền bính trong tay Dưới An phủ sứ, có các chức quan Đại tư xã, tiểu tư xã cùng với các chức xã quan khác Như vậy, đến cấp xã có quan do triều đình bổ nhiệm về cai trị Điểm cần lưu ý ở đây là, ngay từ đầu nhà Trần đã đặt ra sổ Trường tịch để ghi chép danh sách từ quan văn, quan võ, binh lính, hoàng nam, trung lão, người tàn tật, người ngụ cư,…để nắm chắc hộ khẩu người trong nước, tiện dùng trong nhiều việc, từ phát triển kinh tế trong thời bình đến huy động binh lính trong thời chiến
Về tổ chức bộ máy nhà nước Trung ương thì dưới triều Trần chế độ Trung ương tập quyền được tăng cường về mọi mặt Ở triều đình, nhà Trần bổ sung thêm các cơ quan và chức quan chuyên trách mới nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của bộ máy hành chính Đứng đầu triều đình vẫn là Hoàng đế nhưng khác với triều Lý, các vua Trần đặt lệ nhường ngôi sớm cho con và lui về xưng làm Thái Thượng Hoàng, phụ
Trang 18con trông coi việc nước Đó là cách tập dượt cho vua con làm quen dần với việc trị nước trong thời gian vua cha còn sống, khi vua cha qua đời thì cũng là lúc vua con có thể tự mình trông coi việc nước, có đầy đủ năng lực, kinh nghiệm, uy tín, bản lĩnh để cầm quyền và có đủ khả năng ngăn chặn, đẩy lùi những thế lực phản nghịch
Dưới vua, đứng đầu hàng ngũ quan lại là hai chức Tả - Hữu Tướng quốc Giúp việc cho Tướng quốc có các chức Hành khiển, gồm hành khiển Tả hữu ty ở cung Thánh từ (cung Thái Thượng Hoàng) và Hành khiển ty ở cung Quan triều (cung Hoàng đế), được gọi chung là Mật viện Các quan lại cao cấp trong triều vẫn là các chức Tam thái (Thái sư, Thái phó, Thái bảo), Tam thiếu (Thiếu sư, Thiếu phó, Thiếu bảo) và thêm 3 chức tư nữa là Tam tư (Tư đồ, Tư mã, Tư không) để phụ trách một số mảng công việc khác
Bên dưới, quan lại cũng được chia thành 2 ban văn - võ Bên văn có Thượng thư các bộ Giúp việc cho thượng thư có các chức Thị lang và Lang trung Giống nhà Lý, buổi đầu nhà Trần chưa đủ 6 bộ, đến thời Trần Minh Tông (1314 - 1323) trở đi cũng chỉ gồm 4 bộ (Lại bộ, Hộ bộ, Binh bộ, Hình bộ) Về bên võ, khi cần thì đặt chức Tiết chế tổng chỉ huy toàn quân, khi bình thường chỉ đặt chức Phiêu kỵ tướng quân Chức này giao cho Hoàng tử con vua Dưới nữa có các chức Đại tướng quân, Đô tướng quân, Đô thống chế, Tướng quân,…
Ở Kinh đô, nhà Trần cũng đặt ra các cơ quan chuyên trách như Ngự sử đài, Khu mật viện, Hàn lâm viện, Thẩm hình viện, Quốc sử viện, Thái y viện, Tam ty viện, Đăng văn viện, Quốc tử giám, Thái chức ty, Nội thư hỏa cục, Chi hậu cục,…Hàng ngũ tăng quan có chức Quốc sư, Tăng thống, Tăng lục, Tăng chính Ngoài ra, đặt thêm tổ chức Bình ty Bình bạc ty ở Thăng Long để trông coi về việc bình ổn giá cả thị trường; tổ chức Tông chính phủ (chức Đại tông chính đứng đầu) chuyên trông coi công việc của vua; đặt chức quan Hà đê sứ chuyên trông coi đê điều; Khuyến nông sứ chuyên lo việc khuyến khích sản xuất nông nghiệp; Đồn điền sứ lo việc tổ chức khai hoang, lập đồn điền Điều đặc biệt, các chức quan cao cấp ở thời Trần đều nằm trong tay giới quý tộc tôn thất nhà Trần
Để bảo vệ địa vị cai trị độc tôn dòng họ mình, nhà Trần quy định chỉ kết hôn trong hoàng tộc Trong lịch sử các nhà nước phong kiến Việt Nam, thật hiếm
Trang 19thấy có triều đại nào lại xây dựng được bộ máy nhà nước phong kiến tập quyền thống nhất và mạnh đến như vậy
Nhà Trần đặc biệt đề cao tư tưởng Pháp trị mà nói theo ngôn ngữ chúng ta
ngày nay: “Sống và làm việc theo pháp luật” Chỉ sau 4 năm cầm quyền, nhà Trần
đã cho ra đời bộ luật trên cơ sở “khảo xét các luật lệ của triều trước, soạn thành
Quốc triều thông chế và sửa đổi hình luật lễ nghi, gồm 20 quyển…Chép công việc của quốc triều, làm bộ Quốc triều thường lễ, 10 quyển”[6; tr 11-12] Đó là bước
chuẩn bị cho bộ Hình luật của nhà Trần do Trương Hán Siêu và Nguyễn Trung Ngạn soạn sau này Vua tôi nhà Trần đã gương mẫu và khuyến khích thần dân thực hiện những luật lệ, quy định do chính mình đặt ra
Cùng với sự củng cố và lớn mạnh của nhà nước phong kiến, nhà Trần sớm nhận thức được rằng đất nước không thể tồn tại vững bền nếu như không có tầng lớp quan lại được học hành, đào tạo quy củ, chu đáo và lớp sĩ phu học rộng tài cao phụ giúp triều đình Chính vì vậy, nhà Trần rất chú trọng việc dùng thi cử để phát hiện người hiền tài ra giúp nước Vua Trần cho chuyển văn miếu thời Lý thành quốc học viện, cho phép các Nho sĩ trong cả nước đến giảng và học các sách kinh thư Nho giáo Chỉ 33 năm dưới triều Trần Thái Tông, bảy khoa thi đã được mở để chọn
người bổ sung cho bộ máy quan liêu Riêng khoa “Đinh Mùi, [Thiên Ứng Chính
Bình] năm thứ 16 [1247], (Tống Thuần Hựu năm thứ 7) Mùa xuân, tháng 12, mở khoa thi chọ kẻ sĩ Ban cho Nguyễn Hiền đỗ Trạng nguyên, Lê Văn Hưu đỗ Bảng nhãn, Đặng Ma La đỗ Thám hoa lang Cho 48 người đỗ Thái học sinh, xuất thân theo thứ bậc khác nhau”[6; tr 21] Khác các khóa thi trước, khóa này đã đặt ra và
chọn tam khôi là Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa Có những kỳ thi đặc biệt như kỳ thi năm 1304, được tổ chức thành 4 kỳ, từ dễ đến khó để tuyển chọn nhân tài Kỳ thi này lấy đỗ 48 thái học sinh, trong đó Mạc Đĩnh Chi đỗ Trạng Nguyên, Nguyễn Trung Ngạn đỗ Hoàng Giáp…Tầng lớp Nho sĩ có lý tưởng, có tiết tháo, có tài xuất hiện ngày càng nhiều và không ít người trong số họ đã làm rạng rỡ cho thời Trần, làm vẻ vang cho lịch sử dân tộc
Bản thân các vua Trần cũng tự học hỏi, trau dồi và trở thành những hiền giả
đương thời: Trần Thái Tông, vị hoàng đế đầu tiên của nhà Trần là tác giả của Thiền
Trang 20tông chỉ nam, Khóa hư lục, đi đầu trong việc khai mở con đường riêng cho Thiền
tông thời Trần; Trần Nhân Tông, tác giả của Thiền lâm thiết chúng ngữ lục, là đệ
nhất tổ của Trúc Lâm tam tổ, cùng đệ nhị Pháp Loa, đệ tam Huyền Quang, đặt cơ sở
lý thuyết cho Thiền phái Trúc Lâm…Một không khí học thuật, trước thuật không
“vọng ngoại” không lệ thuộc Tống Nho, những sáng tác văn học đã làm nên gương
mặt tinh thần của cả một thời đại, và vì vậy, phong phú, có giá trị lớn về văn học, văn hóa, tư tưởng mà cho tới ngày nay, chúng ta còn ngưỡng mộ
Điều mà chúng ta đặc biệt quan tâm ở đây là tất cả những cải cách toàn diện
kể trên đã được thực hiện dưới ánh sáng của tư tưởng “Thân dân”, tư tưởng “Chiêu
hiền đại sĩ” của các vua Trần Chính sách “Thân dân” thể hiện cụ thể đường lối
“khoan thư sức dân” của triều Trần Đường lối này xuyên suốt gần 2 thế kỷ tồn tại
của nhà Trần Trước giờ Trần Quốc Tuấn lâm chung, Trần Nhân Tông đã hỏi vị
tướng 2 lần chiến thắng giặc Nguyên Mông kế sách giữ nước: “Nếu có điều gì
chẳng may mà giặc phương Bắc lại sang xâm lược thì kế sách như thế nào?” Trần
Quốc Tuấn đã trả lời bằng chính điều đã góp phần làm nên mọi thắng lợi, mọi chiến
công của nhà Trần: Hãy “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng
sách giữ nước vậy”[6; tr 79] Tư tưởng đó của Trần Quốc Tuấn có tính chân lý cho
mọi thời đại
Điều đầu tiên trong chính sách “Thân dân” nói tới vào thời kỳ này đó là phong cách sống “cận dân tình” (gần gũi với dân tình) của vua quan nhà Trần Sách Đại
Việt sử ký toàn thư chép về cách sống của Trần Anh Tông không khác gì người
bình thường: “Vua thích vi hành, cứ đêm đến, lại lên kiệu, cùng với hơn chục thị vệ
đi khắp trong kinh kỳ, gà gáy mới trở về cung Có đêm ra đến quân phường, bị bọn
vô lại ném gạch trúng vào đầu vua Người theo hầu thét lên “Kiệu vua đấy!” Bọn chúng biết nhà vua mới tan chạy cả”[6; tr 78]
Và một khía cạnh khác, tại hội nghị Diên Hồng, việc các bậc kỳ lão trong nước được vua Trần hỏi ý kiến là nên hàng hay nên đánh, đã thể hiện sự đề cao, sự tôn trọng của triều đình trước ý chí của muôn dân Thực ra, vua quan và tướng sĩ nhà Trần đã quyết tâm kháng chiến từ lâu Năm 1258, Trần Thái Tông có Trần Thủ
Độ phò tá, đã đánh thắng quân Nguyên Đến năm 1282, ta lại đánh tan bọn Việt
Trang 21gian Trần Di Ái, phá tan mưu mô lập chính quyền bù nhìn Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải được cử làm bộ chỉ huy kháng chiến Như vậy, chủ trương kháng chiến
đã dứt khoát Kế hoạch kháng chiến đã sẵn sàng Các kế hoạch đánh, đàm, phòng bị, tiến công đều đã chuẩn bị chu đáo Nhưng nhà Trần vẫn chưa cho là đủ mà còn phải
hỏi ý dân “Hội nghị Diên Hồng” theo sử sách là triệu tập các vị phụ lão trong nước
Triều đình xem các cụ lúc này là đại biểu chân chính của nhân dân Có thể là do truyền thống trọng đạo Có thể là do vai trò quyết định của các vị cha anh Nhưng
dù xét ở góc độ nào thì ý nghĩa “Hội nghị Diên Hồng” vẫn rất quan trọng và độc
đáo trong lịch sử nước nhà Lúc này ở nông thôn, phần lớn là các trang ấp, do những người hoàng tộc cầm đầu Ở các làng, các huyện cũng có những quan chức coi sóc việc trị an Thế mà những người này không được triệu tập Rõ ràng nhà Trần rất biết dựa vào dân, thực sự cần nghe ý kiến của dân Kháng chiến thắng lợi là nhờ
ở tư tưởng “Nước lấy dân làm gốc” rất cụ thể và thiết thực đó
Một biểu hiện khác của chính sách thân dân của các vua nhà Trần là luôn luôn chú ý đến đời sống khổ cực của dân và để tâm tới việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của dân Sử cũ cho biết trong những vụ kiện tranh chấp quyền lợi giữa tầng lớp quý tộc và dân chúng, thường thường người đứng đầu vương triều Trần đều nghiêng về việc bảo vệ quyền lợi của dân Trong thời gian 175 năm tồn tại, nhà Trần thi hành
đường lối “Thân dân”, cho nên về mặt võ công, cũng như văn trị đạt được những
thành tựu đáng kể
Chính sách “Chiêu hiền đại sĩ” thể hiện ở thái độ trọng nhân tài, sử dụng
người có thực tài trong công cuộc dựng nước và giữ nước Nhà nước đã chú trọng đến việc sử dụng nhân tài bằng con đường thi cử, có thi văn và thi võ Chỉ những người đỗ đạt của các kỳ thi văn võ này mới được ra làm quan (cũng có những người
bổ làm quan không do khoa cử nhưng rất ít) Đó là trường hợp của Trần Thủ Độ, được vua Trần sử dụng cử giữ chức Quốc Thượng Phụ, trông coi việc thiên hạ, ông
là người tuy không có học vấn nhưng rất có tài thao lược, là người có nhiều thủ đoạn, ông rất thiết tha với công việc nhà Trần, là người thẳng thắn, quyết đoán, ông một lòng vì triều đại nhà Trần mà dốc hết sức mình làm cho nước vững, dân yên,
thắng được ngoại xâm Thái sư Trần Thủ Độ từng nói: “Đầu thần chưa rơi xuống
Trang 22đất, bệ hạ đừng lo gì khác”[6; tr 28] Năm 1282 vua và triều đình họp bàn cách
đánh giặc ở Bình Than (Chí Linh, Hải Hưng) và cho quân đi bố phòng các nơi hiểm yếu, đã phong Trần Khánh Dư làm Phó đô tướng quân, Trần Quang Khải làm Thượng tướng thái sư, Đình Củng Viên làm Hàn Lâm viện học sĩ phụng chỉ Vì Trần Quốc Tuấn là người có tài về quân sự nên năm 1283 vua Trần đã tổ chức một cuộc tập trận thủy bộ lớn để trao quyền Tiết chế (tổng chỉ huy) quân đội cho Trần Quốc Tuấn và các tướng có tài chỉ huy quân đội Năm 1286 nhà Trần lại chuẩn bị kháng chiến đã lệnh cho các vương hầu, tôn thất mộ quân, cử Trần Quốc Tuấn đứng đầu việc sửa soạn đánh giặc Trần Quốc Tuấn đã nói với các quan khi các quan xin
vua Trần tuyển quân thâm rằng: “Quân quý ở tinh nhuệ, không quý ở số đông”[6; tr
59], Quốc Tuấn là chủ soái của hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên năm 1285 Trần Quốc Tuấn là linh hồn và là người có công đầu trong sự nghiệp giữ nước của đời Trần Ông là nhà quân sự thiên tài, là nhà chính trị lão luyện, là người có hành động thận trọng, có tinh thần đoàn kết và bồi dưỡng lực lượng đánh giặc Ông còn
là người có tài trước tác, là người đã soạn các giáo trình nổi tiếng: Hịch tướng sĩ
văn, Binh gia diệu lý yếu luận và Vạn kiếp tông bí truyền thư Ông còn là người
chăm lo và có công đào tạo nhiều nhân tài văn võ cho triều đình như Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng, Trương Hán Siêu, Trần Thì Kiến, v.v…
Trong triều chính, vua Trần đã sử dụng Trần Quang Khải làm trụ cột của triều đình nhà Trần trong nhiều năm Trần Quang Khải là người giỏi tập hợp và tổ chức công việc triều chính cũng như nhân sự, ông còn là tướng cầm quân giỏi, lập được nhiều chiến công hiển hách Đặc biệt trong trận Chương Dương năm 1285 Ông còn
là một nhà thơ có nhiều bài để lại dấu ấn của lịch sử như: “Theo vua về kinh thành”
làm năm 1285…Năm 1332 sử dụng Nguyễn Trung Ngạn coi việc Thẩm hình Vì ông vốn công minh nên trong các việc xử phạt ông đều xử phạt đúng đắn, vừa phải, được nhiều người khen ngợi
Trần Nhật Duật (em trai của vua Trần Thánh Tông) được giao giữ các trọng trách của triều Trần suốt bốn đời vua Ông vốn là người thông thạo nhiều ngôn ngữ nước ngoài và các dân tộc thiểu số, lại là người văn võ song toàn, là người quảng giao độ lượng Khi đánh giặc ông là tướng trẻ đặc trách chặn giặc Nguyên ở hướng
Trang 23Tây Bắc, thường có mặt ở những trận đánh lớn từ Nghệ Tĩnh ra tới Hải Hưng (đặc biệt là trận Hàm Tử, trận Tây Kết) Là người giỏi ngoại giao, trong giao thiệp với người nước ngoài, ông thường thu phục được các dân tộc người thiểu số Ông còn là người giỏi thu xếp công việc của triều đình, hoàng tộc nên được nhiều người mến phục Năm 1302 vua Trần phong ông là Thái úy quốc công, giữ quyền tể tướng, Trần Nhật Duật còn nhận nuôi hoàng tử Trần Mạnh, chăm sóc như con đẻ
Đó là những người tôn thất, còn có những người không phải hàng tôn thất, nhưng có tài năng cũng được dùng như Lê Phụ Trần làm Thiếu sư kiêm chức Sư cung giáo thụ (thầy dạy của Thái tử) Hay Đỗ Khắc Chung: trong lúc vua Trần đang cần một người sang trại quân Nguyên vừa thương nghị, vừa dò la tình hình, quan lại nhà Trần lúc ấy rất đông, nhưng không ai dám đứng ra nhận nhiệm vụ thì Đỗ Khắc Chung đã khẳng khái xin đi và được nhà vua chấp thuận Cuộc tiếp xúc ngoại giao giữa Đỗ Khắc Chung và tướng Ô Mã Nhi đã diễn ra hết sức căng thẳng Đỗ Khắc Chung đã làm cho Ô Mã Nhi phải khâm phục cái tài của mình và có phần sợ hãi bèn
ra lệnh cho quân lính lùng bắt sứ giả, nhưng Đỗ Khắc Chung đã trốn thoát về nhà an
toàn Vua Trần lúc ấy mới nhận ra là trong đám ngựa tầm thường vẫn có “những
ngựa kỳ ngựa ký” (lời sử chép)
Năm 1299 vua Trần đã cử Đoàn Nhữ Hài giữ chức vụ sự trung tán, đến năm
1335 phong ông làm đốc tướng ở trận Nam Nhung (con Cuông - Nghệ Tĩnh), dùng Đinh Củng Viên làm Hàn Lâm viện học sĩ phụng chỉ, v.v…Hai người đều không phải tôn thất mà chính trong tầng lớp dân thường được triều đình sử dụng vào chức vụ cao Ngoài ra, nhà Trần còn tỏ ra có ý thức trong việc sắp xếp lực lượng, nắm chắc nguồn nhân tài để khi cần sử dụng vào việc phục vụ đất nước Những nhân tài này không nhất thiết phải trong dòng họ hoặc phải qua con đường khoa cử, trường ốc,
có bằng cấp Đó là trường hợp Phùng Tá Chu, Phạm Kính Ân, Trần Thì Kiến, Đoàn Nhữ Hài, Mạc Đĩnh Chi, nguyễn Dữ, Nguyễn Trung Ngạn, Lê Quát, Phạm Sư Mạnh, Trương Hán Siêu, Phạm Ngũ Lão, Bùi Mộc Đạc, Chu Văn An…Nếu không
có lớp sĩ phu có thực tài hết lòng phò vua giúp nước đông đảo này thì không chắc nhà Trần đã gây dựng nổi cơ đồ của vương triều mình
Trang 24Nhận xét về điều này, Phan Huy Chú từng viết: “Triều Trần dùng người thật
là công bằng Tuy đã đặt khoa mục mà trong việc kén dùng thì chỉ cốt tài là được, cho nên những Nho sĩ có chí thường thường được trổ tài của mình, không đến nỗi bị
bó buộc hạn chế vì tư cách,…chỉ cần dùng người được, chứ không câu nệ ở đường xuất thân Nhân tài và văn học được thịnh, cũng vì thế chăng”[17; tr 639] Và Lê
Quý Đôn cũng có ý kiến tương tự: “Nhà Trần đãi ngộ sĩ phu rộng rãi mà không bó
buộc, hòa nhã mà có lễ độ, cho nên nhân vật trong một thời có chí khí tự lập, hào hiệp cao siêu, vững vàng vượt qua ngoài thói thường, làm rạng rỡ trong sử sách, trên không hổ với trời, dưới không thẹn với đất Ôi như thế! Người đời sau còn có thể theo kịp thế nào được!”[94; tr 299-300]
Chính nhờ “Thân dân” và “Chiêu hiền đại sĩ” mà thời Trần là một trong
những thời đại tiêu biểu cho tinh thần đoàn kết, hòa hợp dân tộc Nói như Trần
Quốc Tuấn, đó là thời đại “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước góp
sức…”, đã giúp cho nhà Trần đạt tới những đỉnh cao, cả về võ công và văn trị, tạo
nên cái hào khí Đông A của nước Đại Việt trong gần hai thế kỷ Và điều đó mới cắt nghĩa được vì sao, một Đế quốc Nguyên - Mông hung hãn đến như vậy, tung hoành
từ Âu sang Á, chưa bao giờ nếm mùi chiến bại, lại 3 lần chịu thất bại cay đắng trước vua tôi nhà Trần
Cái mà các sử gia xưa kia gọi là hào khí Đông A (đây là một cách Chiết tự chữ
“Trần bao gồm chữ Đông và chữ A”) tức hào khí của đời Trần, không những thể
hiện trong chiến đấu mà cả trong xây dựng Những anh hùng nhà Trần kiểu Trần Nhân Tông, Trần Tung, Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải…khi ở nơi chiến trường, họ làm nên các chiến công hiển hách Lúc giặc tan, trời yên biển lặng, trên văn đàn hay chốn học thuật, họ lại có những đóng góp lớn lao
Sách Lịch sử Việt Nam cổ trung đại của Huỳnh Công có nhận định: “Kế tục
triều Lý, triều Trần đã đưa đất nước tiến thêm một bước lớn mạnh vững chắc và toàn diện, đủ sức để đánh bại các cuộc viễn chinh xâm lược của đội quân hùng mạnh và khét tiếng tàn bạo là đế quốc Mông - Nguyên đang tung hoành trên hai lục địa Á - Âu hồi thế kỷ XIII, đồng thời đã góp phần cùng với triều Lý đưa văn minh Đại Việt bước lên đỉnh cao thứ nhất trong thời kỳ phong kiến độc lập tự chủ…”[9; tr 470]
Trang 25Về mặt kinh tế
Song song với những cải cách chính trị - xã hội kể trên, nhà Trần còn tập trung phát triển kinh tế, trong đó đặc biệt chú ý đến chính sách trọng nông Ngay từ những năm đầu triều Trần, công việc trị thủy và thủy lợi đã được quan tâm: Năm Tân Mão (1231), đào vét các kênh Trầm và kênh Hào từ phủ Thanh Hóa đến địa giới phía nam Diễn Châu Năm Mậu Thân (1248) đắp các lộ đê, thường gọi là đê Đỉnh Nhĩ, từ các đầu nguồn đến bờ biển đề phòng lụt lội…Nhà nước lại đặt chức
Hà đê chánh, phó sử chuyên trông coi việc đắp đê Từ đó hàng năm việc đắp đê mới,
tu bổ đê cũ được thường xuyên thực hiện
Một số cải cách quan trọng và sáng suốt đã được thực hiện: Nhà nước phong kiến bán ruộng công cho dân làm ruộng tư và giam thuế ruộng; thu thuế và trả lương bổng cho quan lại bằng tiền thay vì bằng hiện vật; chỉ đánh thuế đinh đối với những người có ruộng vườn, trang ấp mà miễn thuế cho những người không có ruộng…nhà Trần, khác với những triều đại trước và sau đó, vừa chú trọng phát triển nông nghiệp, vừa rất quan tâm khuyến khích phát triển những nghề thủ công truyền thống trong nhân gian Nhờ những chính sách kể trên, nhà Trần đã sớm khắc phục tình trạng loạn ly, phiêu tán, đói kém, suy thoái kinh tế của nhà Lý trước đó, đưa nền kinh tế phát triển vững mạnh, có tác dụng an dân trong thời bình và vì vậy tạo tiềm lực cần thiết trong thời chiến
Phát triển một nền kinh tế “Đa sở hữu” nguyên nhân chủ yếu khiến xã hội
Trần cởi mở Nhà Trần đã có sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu khác nhau Đương nhiên dưới chế độ quân chủ, mà vương triều Trần không phải là trường hợp
ngoại lệ, nghĩa là “Khắp dưới gầm trời này, đâu đâu chẳng phải đất của nhà vua”
(Phổ thiên chi hạ mạc phi vương thổ…) - (Kinh Thi) Nhưng đây là xét góc độ lý thuyết, dưới góc độ sở hữu tối cao Còn trên thực tế, bộ phận ruộng đất do nhà nước Trung ương triều Trần trực tiếp quản lý không phải là lớn lắm Trừ bộ phận ruộng đất công, làng xã tuy thuộc sở hữu nhà nước nhưng do làng xã quản lý thì nhà nước Trung ương chỉ quản lý mấy loại ruộng sau: ruộng sơn lăng, ruộng tịch điền và ruộng đồn điền Ngoài sở hữu nhà nước nói trên, còn sở hữu tư nhân về ruộng đất
Trang 26với 4 hình thức phổ biến: sở hữu nhỏ của nhân dân lao động, sở hữu lớn của địa chủ,
sở hữu điền trang và sở hữu của nhà chùa
Đối với các thân vương, quý tộc Trần bằng con đường phong cấp hoặc khai hoang, họ còn có những thái ấp hoặc trang trại như của Trần Thủ Độ ở Quắc Hương (Nam Định ngày nay), Trần Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp (Hải Dương ngày nay), thái ấp của
An Sinh Vương Trần Liễu (Quảng Ninh ngày nay), Trần Quốc Khang ở Diễn Châu… Nhà Trần cũng ban cấp ấp thang mộc cho các công chúa hay các tước vương hầu Năm 1226 Trần Thái Tông ban Lạng Châu cho Thiên Cực công chúa làm thang mộc ấp Sau đó Trần Liễu được cấp đất thang mộc gồm các xã Yên Phụ, Yên Dương, Yên Hưng, Yên Bang Đến năm 1289 Nguyễn Khoái cũng được cấp một quận làm ấp thang mộc gọi là Khoái Lộ Thái ấp cũng như ấp thang mộc không phải là hình thức
sở hữu hay chiếm hữu ruộng đất mà chỉ là loại chiếm hữu địa tô [47; tr 35-37] Người được phong cấp có quyền thu thuế sưu dịch của dân vùng đất ấy để hưởng lợi Ngoài quý tộc họ Trần các vị cao tăng cũng được hưởng chế độ ban cấp ruộng đất Sự hậu đãi ấy đã dẫn đến việc hình thành những tu viện lớn Chẳng hạn Pháp Loa (tổ thứ 2 của dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử) được vua Trần Anh Tông ban cấp nhiều lần, tổng cộng là 1.035 mẫu
Dưới nhà Trần, chế độ sở hữu nhỏ về ruộng đất của nông dân lao động đã chiếm một địa vị quan trọng trong nền kinh tế Việc khẩn hoang mở rộng diện tích canh tác hay tạo lập những làng mới, tạo điều kiện phát triển chế độ sở hữu nhỏ này Năm 1254, nhà Trần bán ruộng công cho nhân dân mua làm ruộng tư với giá rẻ, không ít gia đình nông dân có nghề thủ công, thuê mướn đã mua được ruộng đất
Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Mùa Đông tháng 10 năm 1226, xuống chiếu cho
vương hầu, công chúa, phò mã, cung tần chiêu tập dân phiêu tán không có sản nghiệp làm nô tỳ để khai khẩn ruộng bỏ hoang, lập thành điền trang Vương hầu có trang thực bắt đầu từ đấy”[6; tr 36] Như vậy, nếu thái ấp hoàn toàn là sự ban tặng
của nhà nước thì điền trang là kết quả của quá trình tổ chức khẩn hoang Hai bộ phận đất đai này hình thành 2 con đường khác nhau, nhưng đều là một chủ, đó là quý tộc họ Trần Các nhà sử học vẫn thường coi điền trang thái ấp là một trong những nét độc đáo của nền kinh tế thời Trần
Trang 27Chế độ sở hữu nhỏ là cơ sở quan trọng cho sự phát triển của chế độ sở hữu lớn
về ruộng đất vào thời kỳ cuối Trần Cho đến nửa sau thế kỷ XIV bộ phận ruộng đất thuộc sở hữu địa chủ này đã khá lớn và nhà Trần đã từng dựa vào đây để lấy thóc
gạo chẩn cấp cho dân đói Sử cũ cho biết: “Tháng 8, năm Nhâm Dần (1362), đói to
Xuống chiếu cho các nhà giàu dâng thóc để phát chẩn cho dân nghèo, ban tước theo thứ bậc khác nhau”[6; tr 143]
Nền kinh tế địa chủ, nhất là kinh tế điền trang, thái ấp của các vương hầu, quý tộc tạo điều kiện thuận lợi hình thành những tài năng cao, nhân cách lớn kiểu Trần
Quốc Tuấn, Trần Nhật Duật, Chu Văn An, Trần Nguyên Đán Sách Đại Việt sử ký
toàn thư cho biết, để có một tài năng lớn như Trần Quốc Tuấn chẳng hạn là do “Yên Sinh Vương (Trần Liễu) trước đây vốn có hiềm khích với Chiêu Lăng (tức Trần Thái Tông) mang lòng hậm hực, tìm khắp những người tài nghệ để dạy Quốc Tuấn Lúc sắp mất, Yên Sinh cầm tay Quốc Tuấn giối giăng rằng: Con mà không vì cha lấy được thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được Quốc Tuấn ghi điều đó trong lòng, nhưng không cho là phải”[6; 79-80] Tất nhiên, muốn
có thể tìm khắp những người tài nghệ để dạy Quốc Tuấn thì phải có một tiềm lực kinh tế lớn như thế nào
Điền trang ở nước ta thời Trần không giống như mô hình điền trang thái ấp thường thấy ở Trung Hoa với những chế độ đặc quyền đặc lợi Điền trang ở nước ta không phải là đất cát cứ, không phải là đất được phong cấp vĩnh viễn Người chủ điền trang thái ấp không có địa vị như những lãnh chúa tổ chức mới của cơ sở xã hội Khác với cơ cấu nông thôn nó vẫn nằm trong công xã cổ truyền và vẫn không theo làng xã Công xã nông thôn từ trước đã được hình thành có gốc rễ bền vững và
có những mối tương quan gắn bó với nhau, tạo nên một sự thống nhất nhất định: sự
thống nhất của nhiều đơn vị tiểu nông để thành ra một “nước” Từ bộ tộc xa xưa,
đến một dân tộc dần có ý thức sâu sắc hơn về một cộng đồng lớn có quyền lợi chung, có trách nhiệm chung về sự tồn tại của nòi giống và đất nước, nguyên nhân của sự đoàn kết toàn dân để tạo nên các thắng lợi của vua Hùng, bà Trưng, Lý Bôn, v.v… cho đến Ngô Quyền, chính là do sự trưởng thành ý thức ấy, mặc dù chưa thể gọi đó là ý thức trọn vẹn về một quốc gia Các vua nhà Trần tỏ ra là đã mặc nhiên
Trang 28cảm nhận được ý thức này và đã có biện pháp để “kết dính” các công xã nông thôn
này thêm bền chặt Họ đã tận dụng mối quan hệ thân thuộc, quan hệ dòng họ để củng cố cơ cấu dòng họ, đồng thời để thống nhất, độc tôn uy lực của vương triều mình Các con cháu anh em tôn thất của nhà Trần được chia điền trang thái ấp mà không được thành chế độ cát cứ phân phong là do đó Các điền trang không phá vỡ làng Văn hóa làng xã cổ truyền vẫn không ngừng tiếp nối truyền thống, không gặp trở ngại Các chủ điền trang thái ấp đều tự giác ý thức trách nhiệm đối với vương triều, tức là đối với nhà nước mới khi nhà nước cần kêu gọi Bằng chứng hùng hồn nhất của sự “khuôn” theo làng xã, tôn trọng văn hóa công xã này là hội nghị Diên Hồng nổi tiếng trong lịch sử nước ta Không phải các vương hầu được gọi về thủ đô
để quan gia tham khảo ý kiến mà phải là các bô lão
Nếu chỉ xét trong nội bộ hoàng tộc Trần thì chế độ ruộng đất sở hữu đã làm mềm đi các mối quan hệ Thường thường dưới thời quân chủ, quyền lực, địa vị dễ khiến con người bị tha hóa về nhân cách Nhiều khi cuộc đấu tranh giành giật quyền lực các phe phái trong triều đình, thậm chí giữa anh em ruột trong hoàng tộc là quyên nhân cơ bản làm cho vương triều đó trượt dài trên con đường suy thoái, sụp
đổ Dường như dưới thời Trần đã tránh khỏi được vết xe đổ nói trên Ở đây cần nhìn nhận tới phong cách sống nghệ sĩ, chan hòa của các vương hầu, khanh tướng triều Trần Hầu hết trong số họ, không mấy ai quá chú trọng quyền bính tại triều đình mà
có được điều ấy, nguyên nhân chủ yếu là bởi nền kinh tế thái ấp với việc lập phủ đệ
nơi hương ấp của mình: “theo quy chế nhà Trần, các vương hầu đều ở phủ đệ, khi
chầu hầu thì đến kinh đô, xong việc lại về phủ đệ Như Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp, Thủ
Độ ở Quắc Hương, Quốc Chẩn ở Chí Linh đều thế cả Đến khi vào triều làm tể tướng, mới thống lãnh việc nước Nhưng cũng chỉ nắm đại cương thôi, cầm quyền thì thuộc về hành khiển Người khinh lại thành trọng, người trọng lại thành khinh
mà không phải lo thêm một tầng công việc, cũng là có ý bảo toàn vậy…”[6; tr 32]
Còn đối với vua Trần Thánh Tông thì nơi triều đình, chốn cung điện cũng chẳng
khác gì phủ đệ, thái ấp của các thân vương khác Đại Việt sử ký ghi lại một sự kiện khá sinh động biểu tượng cho tinh thần cởi mở của hoàng tộc nhà Trần: “Tháng
giêng năm Thiệu Long thứ 11 (1268) xuống chiếu cho các vương hầu tôn thất, khi
Trang 29bãi triều thì vào trong điện và lan đình Vua (Trần Thánh Tông) cùng ăn uống với
họ Hôm nào trời tối không về được thì xếp gối dài, trải chăn rộng, kê giường liền
cùng ngủ với nhau” giữa anh em, họ hàng nhà Trần tưởng chừng như đơn giản,
nhưng vào các triều đại sau này như triều Lê, triều Nguyễn thì tuyệt nhiên không bao giờ xảy ra nữa
Nhà Trần còn chú ý đào sông, đào kênh mương đồng thời quan tâm việc đắp
đê phòng thủy tai Năm Mậu Thân (1248) vua Trần Thái Tông đã ban chiếu đắp đê Đỉnh Nhĩ và đê các sông lớn, đê sông Ninh Giang thông từ của Hoàng Giang qua xã Chân Ninh, đê sông Đáy, sông Thiên Mạc cũng được nhiều lần đắp hay bồi bổ Triều đình quan tâm đặc biệt trong việc đắp đê, nếu phạm vào ruộng đất của dân thì được trả lại tiền theo giá trị đương thời Lại đặt chức quan coi đê là Hà đê chánh
phó sứ để giao trách nhiệm bảo vệ, tu bổ đê vào “Ất Mão, [Nguyên Phong], năm thứ
5 [1255] Mùa hạ, tháng 4, chọn tản quan làm Hà đê chánh phó sứ các lộ Khi việc làm ruộng nhàn rỗi thì đốc thúc quân lính đắp đê đập, đào mương ngòi đề phòng lụt, hạn”[6; tr 25] Chăm sóc đê điều là một pháp lệnh của nhà nước và là trách
nhiệm quan trọng của mọi tầng lớp xã hội Đê Cơ Xá (tức đê sông Hồng) đắp từ thời Lý được tu bổ và đắp thêm đê phụ, gọi là đê quai vạc (đỉnh nhĩ đê) Nhiều kênh ngòi được nạo vét và sửa sang, vừa thuận lợi giao thông, vừa thuận lợi tưới tiêu khi hạn hán hoặc lụt lội Đại Việt sử ký toàn thư chép: mùa xuân năm Tân Mão (1231) đào vét kênh Trầm và kênh Hào từ Thanh Hóa đến địa giới phía nam Diễn Châu (Nghệ An) Năm 1256 và năm 1284 vét sông Tô Lịch Năm 1357 khơi các kênh ngòi cũ ở Nghệ An và Thanh Hóa Năm 1382 đào kênh ở Hải Tây Năm 1390 khơi
sâu thêm sông Thiên Đức (tức sông Đuống) Nhà Trần đẩy mạnh chính sách “ngụ
binh ư nông” nghĩa là “quân không có sổ bộ nhất định, chọn những dân tráng kiện sung vào, 5 người làm một ngũ, 10 ngũ làm một đô; lại lựa hai người lanh lẹ và có tài cho coi việc giảng tập vũ nghệ Đòi nhập ngũ thì ra, lúc rảnh cho về làm ruộng”[51; tr 243] tức là, khi triều đình có lệnh đòi nhập ngũ thì họ ra làm lính, còn
khi rảnh rỗi thì họ được cho về làm ruộng và chính sách này đã có tác dụng không nhỏ trong việc thúc đẩy kinh tế nông nghiệp đi lên
Trang 30Chế độ ruộng đất “đa sở hữu” chẳng những khiến cho xã hội Trần cởi mở hơn
mà còn giúp cho nội bộ hoàng tộc, nội bộ triều đình tránh được những vụ tranh chấp, khuynh loát tiêu diệt lẫn nhau cực kỳ đẫm máu giữa bạn bè chiến hữu, giữa anh em ruột thịt, thậm chí cả giữa cha và con dưới thời quân chủ khó thoát khỏi
Việc sản xuất lương thực là khâu then chốt, nên vua Trần thường xuống chiếu miễn trừ thuế ruộng đất một năm để động viên sản xuất cho dân Ngoài việc sản xuất bình thường tại các thái ấp, vua Trần đã hạ chiếu cho các vương hầu được phép chiêu mộ những người phiêu tán làm nô tỳ để khai khẩn ruộng hoang Chủ trương trên của triều đình đã thu hút được lực lượng lao động, diện tích canh tác nhờ đó được mở rộng Huệ Nhân Vương Khánh Dư đã tổ chức khai hoang ở ven sông Đáy thuộc huyện Vọng Doanh Lúc đầu chỉ có 10 hộ theo ông đi khai hoang, dần dần tới hàng trăm hộ nên ông lập thành ba trại là An Trung, Tịch Nhi và Đông Khê (nay thuộc Yên Nhân, Yên Đồng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Hà)
Công cuộc khai hoang thành công, mỗi trại ấp có hàng trăm mẫu điền địa, riêng trại Đông Khê có 250 người Sau khi cuộc sống ổn định, Trần Khánh Dư trở lại Dưỡng Hòa và ông về tu tại chùa làng Nha Xá thuộc huyện Cổ Giả Nam Hà Tại đây ông đã giúp dân nghề trồng dâu nuôi tằm, mở mang nghề dệt tơ lụa, nghề vớt cá bột trên sông và nuôi cá Nhờ đó mà nhân dân Nha Xá Nam Hà có cuộc sống no ấm Nền nông nghiệp ở thời Trần đã đạt tới trình độ thâm canh, tăng vụ khá cao Trần Phu, sứ giả của nhà Nguyên đến nước ta vào năm 1293 đã tận mắt chứng kiến trên vùng đồng bằng Bắc Bộ một năm có 4 lần lúa chín, kể cả vào mùa đông mà lúa vẫn xanh tươi mườn mượt Như thế, ngoài vụ chiêm và vụ mùa, nhân dân thời Trần
đã biết tận dụng những điều kiện đất đai để trồng thêm vụ sớm và vụ muộn Ngoài việc trồng lúa, nhân dân còn canh tác nhiều loại hoa màu khác, trồng dâu nuôi tằm, trồng cây ăn trái…
Thủ công nghiệp thời Trần về căn bản vẫn còn gắn liền với nông nghiệp, tồn tại như một nghề phụ của nông dân Nhờ sự phát triển của nông nghiệp, thủ công nghiệp có một số tiến bộ Một số làng thủ công chuyên nghiệp đã xuất hiện, tuy chưa nhiều, chẳng hạn như làng Ma Lôi (thuộc tỉnh Hải Dương ngày nay) chuyên nghề làm nón Bấy giờ, Thăng Long đã trở thành một trung tâm kinh tế khá phồn
Trang 31thịnh Nếu kể cả khu vực cư trú của nhân dân, Thăng Long có 61 phường, thợ thủ công tập trung ở đó rất đông Phát đạt nhất là nghề gốm, nghề dệt (vải, lụa), nhuộm vải, nghề đúc chuông, đúc tiền (đúc đồng) và tạc tượng (điêu khắc), nghề làm hàng thủ công mỹ nghệ, nghề làm giấy, nghề sản xuất vật liệu xây dựng, kiến trúc, khai
mỏ, v.v…Nghề gốm (tráng men) đã làm được nhiều mặt hàng mới, tinh xảo Nghề dệt đã dệt được nhiều loại gấm, phối màu có hình hoa văn rất đẹp Nghề khai mỏ phát triển trở thành một nghề thủ công độc lập Do nhu cầu in kinh Phật, nghề khắc bản in (vốn có từ thời Lý) càng phát triển hơn Các quan xưởng của nhà nước cũng được mở rộng và đẩy mạnh sản xuất, làm được nhiều mặt hàng tinh xảo, đóng được thuyền lớn đi biển (cuối thế kỷ XIV những người thợ đã đóng được những chiếc thuyền lớn, nhiều tầng gọi là thuyền cổ lâu), chế tạo được súng (súng thần cơ) để phục vụ cho nhu cầu quốc phòng…
Sự phát triển mạnh mẽ của thủ công nghiệp đời Trần đã cho ra đời nhiều công trình kiến trúc đạt trình độ mỹ thuật đẹp Thành tựu đáng kể là công trình tháp Phổ Minh, được xây dựng vào năm 1305 gồm 14 tầng, cao 21 mét, chân tháp có 2 bút đá to; công trình thành Tây Đô ra đời vào cuối đời Trần được hình thành bởi những khối đá lớn được đưa lên cao, xếp chồng rất chắc chắn, những khối đá đầu lớn, đầu nhỏ được xếp cong tạo thành những của vòm khá kiên cố Ngoài ra, cung điện và các chùa tháp đều được lợp ngói nung, lát gạch lớn có vẽ trang trí rồng, hoa văn rất thẩm mỹ…
Về mặt công thương nghiệp nhà Trần cũng có nhiều phát đạt Những mặt hàng
mà Uông Đại Uyên đời Nguyên ghi trong Đảo Di chí lược như: the lĩnh các màu,
lụa vải thanh bố…lưu thông sử dụng tiền đồng Nhà Trần ban hành một số quy định
nhằm thống nhất các đơn vị tiền tệ và đo lường Theo Khâm định Việt sử thông
giám cương mục, năm 1226 nhà Trần quy định thể lệ tiền tệ: “Dân gian nộp tiền thượng cung, thì cứ mỗi một tiền là 70 đồng, còn như tiền dân gian tiêu dùng, thì mỗi tiền là 69 đồng, gọi là tiền “tỉnh mạch” (mỗi tiền bớt đi một đồng)”[93; tr 426]
Về đơn vị đo lường, sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi rằng: “Canh Thìn, [Thiệu
Bảo], năm thứ 2 [1280] Mùa xuân, tháng giêng, ban thước gỗ, thước lụa cùng một kiểu”[6; tr 45] Những quy định này vừa phản ánh trình độ phát triển của lưu thông
và buôn bán, vừa là nhân tố có tác dụng kích thích lưu thông và buôn bán phát triển
Trang 32mạnh hơn Lúc này, hoạt động buôn bán diễn ra tấp nập Nhiều thương nhân đã đem muối sắt lên miền núi để trao đổi Một số thương nhân làm nghề buôn chuyến bằng thuyền đã xuất hiện Kinh thành Thăng Long giờ đây đã được mở rộng và trở thành một trung tâm thương nghiệp lớn
Giao thông cũng có những chuyển biến rất đáng khích lệ Giao thông đường
bộ và đường thủy lúc này được sửa sang và mở rộng thêm Các phương tiện vận chuyển được cải tiến Những thuyền lớn, tốc độ di chuyển khá nhanh, có từ 30 đến
100 người chèo xuất hiện ngày càng nhiều Các trục lộ được sửa sang, hệ thống các trạm dịch khá tươm tất Dưới thời Trần đã có khá nhiều thương thuyền ngoại quốc (Trung Hoa, Java, Xiêm,…) cập bến Đại Việt Vân Đồn là một trấn riêng, nơi tiếp nhận thường xuyên ngoại quốc thường hơn cả Tại đó, nhà Trần cho đặt đồn binh để trấn giữ và kiểm soát Ngoài cảng Vân Đồn, thuyền buôn nước ngoài còn cập bến tại một số nơi dọc vùng bờ biển của nước ta để buôn bán như Diễn Châu, Cửa Cờn, Cửa Vạn,…Những bước phát triển mới về kinh tế ở thời Trần không chỉ góp phần củng cố thêm những cơ sở vật chất của quốc gia phong kiến Đại Việt lúc bấy giờ,
mà còn có tác dụng quan trọng trong việc nâng cao đời sống của nhân dân và tăng thêm sức mạnh quốc phòng của đất nước
Ngoài ra, nhà Trần còn rất quan tâm việc cải cách chế độ hành chính Năm
1242 công việc cải cách hành chính địa phương được thực hiện, chia nước làm 12 lộ, đặt chức Chánh phó An phủ hoặc Trấn thủ để trông coi, nắm các xã, đặt chức Đại tư
xã (hàm ngũ phẩm trở lên) và Tiểu tư xã (hàm lục phẩm trở xuống) cùng các xã chính, xã sử, xã giám trông coi, gọi là xã quan Năm 1244 nhà Trần lại tăng cường việc quản lý hành chính kinh tế ở các lộ bằng cách cử các quan văn đi giữ thêm các chức Thông phán (ở Lộ), Tri phủ (ở Phủ), Tào vận sứ (ở Châu), để lo việc vận tải Năm 1325 nhà Trần cải cách tổ chức triều đình: tách hành chính khiển ty (trước cùng với Nội thư hỏa cục, nằm trong Nội mật viện) thành môn hạ sảnh Đến năm
1397 nhà Trần đổi tên ở nhiều địa phương, bãi chức Đại tiểu tư xã, chỉ để chức quản giáp ở cơ sở Quy định lại các đơn vị hành chính địa phương gồm 4 cấp: Lệ, Phủ, Châu, Huyện: bổ dụng cho một loạt chức tước và nhân sự để trông coi các địa phương, những trường hợp này phần lớn là do các đại thần ở triều đình kiêm nhiệm
Trang 33Nhà Trần còn đặt chức giáo thụ ở các Phủ, Châu để trông coi việc học, lấy từ 10 đến
15 mẫu ruộng ở mỗi Phủ, Châu để thu hoa lợi dùng vào việc học
Mặt khác, nhà Trần cũng rất chú ý đến việc đảm bảo các chế độ đẳng cấp trong đội ngũ quan lại của mình Những quan lại nào xuất thân từ quý tộc họ Trần thì được hưởng đủ mọi đặc quyền đặc lợi, nhưng những quan lại khác (xuất thân từ thi cử chẳng hạn) thì chỉ được hưởng một vài chế độ đãi ngộ mà thôi
Khác với thời Lý, tất cả quan lại thời Trần đều có lương Lương bổng của quan lại thời Trần gồm có hai khoản chính: tiền bạc và đất đai Nhà Trần thực hiện chế độ ban cấp ruộng đất với quy mô lớn cho quý tộc và quan lại Chế độ này dẫn đến sự mở rộng điền trang thái ấp một cách nhanh chóng Năm 1236, vua Trần định
lệ cấp bổng cho các quan văn, quan võ bằng cách dùng tiền thuế thu được để cấp bổng Năm 1244 định ngạch lương bổng cho tất cả các loại quan chức Trước đây, lấy vào tiền thuế mà cấp phát Năm 1246 định lệ khảo duyệt (khảo công, nghĩa là xét công đức của quan lại theo niên hạn để quyết định việc thăng hay giáng chức tước) đối với các quan văn, quan võ Trần Thái Tông định lệ cứ 15 năm khảo công một lần Nếu làm việc dưới 15 năm thì thăng chức một bậc, làm việc 10 năm thì thăng chức một cấp và khen thưởng đối với những người có công Nếu có chức nào khuyết thì cho người ở chức trên được kiêm nhiệm hoặc cho người ở chức dưới gần
nhất được quyến nhiếp Khâm định Việt sử thông giám cương mục nhận xét: “Định
niên hạn quá lâu, như thế không khỏi làm cho người ta phàn nàn về việc phải chìm đắm mãi ở chức dưới”[93; tr 449] Tuy nhiên, so với triều Lý, đó là một bước tiến
đáng kể Năm 1289 nhà Trần xét khen thưởng cho những người có công trạng trong việc đánh dẹp giặc Nguyên, Trần Quốc Tuấn được tiến phong Hưng Đạo Đại Vương Còn đối với những người có công lớn thì được chép sự tích vào tập Trung Hưng Thực Lục và được vẽ tượng Nhưng lại trị tội những kẻ theo giặc
1.1.2 Văn hóa, pháp chế, giáo dục thi cử thời đại nhà Trần
Vào đầu thế kỷ XV, khi viết bản “Thiên cổ hùng văn: Bình Ngô đại cáo”, Nguyễn Trãi khẳng định: “Như nước Đại Việt ta, vốn xưng nền văn hiến đã lâu”
(Duy ngã Đại Việt chi quốc; Thực vi văn hiến chi bang) thì đó là một nhận xét có
Trang 34căn cứ Văn hóa Đại Việt, trên thực tế đã được phục hưng từ thời Lý (1010-1225), nhưng phải đến thời đại Trần mới có thể nói đến độ phát triển
Theo quan điểm của người xưa, nói đến văn hiến, trước hết là phải nói đến nhân tài Bởi nhân tài là nguyên khí của quốc gia (nhân tài, quốc gia chi nguyên khí) nguyên khí mạnh mẽ, dồi dào thì quốc gia thịnh vượng, ngược lại nguyên khí yếu ớt, thưa thớt thì quốc gia suy bại Dưới thời Trần ngay từ thế kỷ XIII, tình hình đã khác với thời Lý, tầng lớp Nho sĩ ngày càng đông đảo Họ là những người trí thức phần lớn xuất thân từ địa chủ thứ dân Một số ngày càng nhiều lại xuất thân từ nông dân
và thợ thủ công Là những người tương đối gần với các tầng lớp nhân dân hơn là quý tộc, họ tiếp thu được nhiều hơn tư tưởng của nhân dân về những vấn đề được đặt ra cho dân tộc ta lúc bấy giờ
Phải nói rằng con người đời Trần không chỉ có tinh thần thượng võ mà còn thể hiện tinh thần yêu nước thương nhà và cùng với nó là tinh thần tương thân, tương ái, cộng đồng làng xóm, tình nhà nghĩa nước đã chi phối mạnh mẽ con người thời Trần
Sứ nhà Nguyên là Trần Phu đến Đại Việt hồi thế kỷ XIII đã nhìn thấy trai tráng ở đây
đều cởi trần, trên bụng thích 8 chữ: “ “Nghĩa dĩ quyên sinh, hình vu báo quốc” (vì
nghĩa sẵng sàng hy sinh, hình dung ở chỗ đền nợ nước” Những người lãnh đạo nhà
nước thời ấy đã thấm nhuần sâu sắc tinh thần dân tộc, ý thức tự cường quốc gia Bàn
về khí tiết của kẻ sĩ đời Trần, Lê Quý Đôn trong sách Kiến Văn Tiểu Lục đã viết: “Đấy
là những người trong trẻo, cứng rắn, cao thượng, thanh liêm, có phong độ như sĩ quân đời Tây Hán, thật không phải người tầm thường có thể theo kịp được”[94; tr 258]
Cùng với tinh thần yêu nước, trọng võ, chuộng nghĩa khí, người thời Trần còn
ra sức bảo tồn các phong tục tập quán cổ xưa của cha ông như xăm mình, ăn trầu cau, giữ gìn các tín ngưỡng cổ truyền của dân tộc như việc thờ cúng tổ tiên, sùng bái các hiện tượng tự nhiên liên quan đến đời sống nông nghiệp v.v…Cũng như dưới thời Lý, Phật giáo đời Trần cũng được vua quan lẫn dân chúng tôn sùng Chùa chiền tiếp tục mọc lên ở khắp mọi nơi Tại các làng xã, ngôi chùa trở thành nơi hội họp, vui chơi giả trí của nhân dân Đặc biệt dưới thời Trần, giai cấp lãnh đạo quốc gia đã tiến một bước dài trong việc dân tộc hóa và phong kiến hóa Phật giáo Do đó,
đã đem lại cho giáo lý nhà Phật một luồng sinh khí mới gắn liền đạo với đời và
Trang 35Thiền tông rất được phát triển Thời Trần 3 Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường được các nhà Thiền học lớn là Thần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ với Phật hoàng Trần Nhân Tông kế thừa, tiếp thu, sáng tạo và hội nhập lại thành một dòng Thiền chung mang đậm nét Việt Nam - Thiền phái Trúc Lâm Phật hoàng Trần Nhân Tông là người sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm - Yên Tử Thời Trần, Thiền Trúc Lâm - Yên Tử được truyền nối từ Trúc Lâm đầu đà (Trần Nhân Tông) đến Pháp Loa (đệ nhị tổ) và kế tiếp là Huyền Quang (đệ tam tổ)
Thời Trần còn duy trì một hiện tượng khác nữa là “Tam giáo đồng nguyên”,
hiện tượng này được đứng vững trong gần một thế kỷ Dù không có được uy thế như Phật giáo và Nho giáo, nhưng Đạo giáo lúc này cũng được coi trọng Năm 1247, vua Trần Thái Tông tổ chức kỳ thi Tam giáo Nhà nước cấp tiền để trùng tu xây dựng các đạo quán Bên cạnh hệ thống tăng quan cũng có hệ thống đạo quan Các nhà sư cũng thường quan tâm tìm hiểu thêm về hệ tư tưởng của Đạo gia và dùng pháp thuật của Đạo giáo để truyền bá Phật giáo Các nhà Nho bất lực trước các hiện tượng xã hội nên đã tìm thấy ở tư tưởng Lão Trang một chỗ dựa tinh thần cho hành động phản kháng tiêu cực của mình khi lui về ở ẩn chốn hương thôn (ví dụ Chu Văn An) Trong dân gian Đạo giáo phát triển dưới hình thức tiên thánh cho xăm, đoán
mộng, phát thuốc, cầu đảo, phù phép, lên đồng,…Vì vậy, tinh thần “Tam giáo đồng
nguyên” hay “Tam giáo đồng quy” là một đặc điểm sinh hoạt tư tưởng thời Trần
Về pháp chế (luật pháp) nhà Trần cũng rất chú trọng Năm 1230 vua Trần Thái Tông cho khảo định lại luật lệ các đời trước, soạn thành bộ Quốc triều thông chế gồm
20 quyển Các vua về sau tiếp tục bổ sung thêm Năm 1250 nhà Trần cải cách lại pháp chế, đổi Đô vệ phủ thành Tam Ty viện (gồm các viện Phụng Tuyên Thanh Túc, Hiến chính) giao cho Lê Phụ Trần trông coi chuyên việc xét xử kiện tụng Quy định
về hình thức thúc phẩm: án kiện xử xong đưa ra Viện Thâm hình để trị tội
Năm 1341, trên cơ sở tham chước và san định lại Bộ Hình thư thời Lý, kết hợp với hệ thống hóa và chỉnh lý các điều luật do các vua đầu triều ban hành, vua Trần
Dụ Tông giao cho Trương Hán Siêu và Nguyễn Trung Ngạn cùng biên soạn và phổ biến bộ Hình luật thư mới gồm một quyển cho triều đại mình Đây là một sự kiện quan trọng, đánh dấu bước phát triển lớn của lịch sử pháp quyền Đại Việt Ngoài ra,
Trang 36trong những trường hợp cần thiết, các vua Trần còn cho ban hành thêm những điều luật lẻ tẻ để bổ sung vào các quy định của nhà nước
Hình thư thời Trần ra sức bảo vệ quyền lợi và địa vị của chính quyền tập trung chuyên chế, đề cao uy quyền của nhà vua, bảo vệ tuyệt đối địa vị thống trị của dòng
họ nhà vua thông qua việc bảo vệ lợi ích của quý tộc họ Trần nhằm mục tiêu bảo vệ ngai vàng một cách triệt để Vì mục đích này, hình thư đời Trần đề thập ác (mười tội không thể tha mạng sống được) mà đứng đầu là tội mưu phản
Để bảo vệ và củng cố chế độ tư hữu, bảo vệ trật tự xã hội trên cơ sở đề cao phụ quyền Nhà Trần xử rất nặng những tội vô cớ giết người, những kẻ trộm cắp, những con nợ, những kẻ gian dâm, những kẻ dám lăng mạ quan lại và đặt điều vu khống,…
Trong An Nam Chí Lược, Lê Tắc cho biết rằng: “Theo phép kẻ mưu phản bị giết cả
thân tộc, kẻ giết người phải thường mạng Bắt được gian phu, được tự chuyên giết chết Đời gần đây (gần thời Lê Tắc) mới ra lệnh cho gian phu được lấy 300 quan tiền
để chuộc tội chết Dâm phụ, xử trả về cho người chồng làm tỳ thiếp và người chồng được phép muốn cầm bán cho ai tự ý Giết kẻ có quan tước, tùy theo phẩm hàm cao thấp, thường tiền chuộc tội, nhưng phải bị đánh đòn 80 trượng, tội nặng đánh 60 trượng Giết chết đồng lệ với tội gian dâm Lỵ mạ (mắng rủa), kẻ có quan tước, tùy việc khinh trọng, khiến phạm nhân đem tiền và trầu rượu tạ lỗi, số trượng bị đánh cũng như tội trên Hai người đánh nhau đều có thương tích, thì kẻ đánh trước bị tội
Kẻ ngụy tạo những đồ phi pháp bị thích tội danh lên mặt, đánh đòn (trượng) và đày
đi xa Cường đạo bị xử trảm Thiết đạo mới sơ phạm, bị đánh 80 trượng, thích lên mặt hai chữ “phạm đạo”, đổ lấy một thường ra chín, nếu không thường nổi, bắt vợ con mà trừ; phạm tội lần thứ hai, chặt tay chân, lần thứ ba, giết chết Kẻ vu cáo trở lại bị tội (nghĩa là bị tội mà mình đã vu cáo cho người)”[51; tr 242]
Nhằm tăng cường tính chất pháp chế và cụ thể hóa các thủ tục tố tụng nhà Trần chăm lo đến công tác sản xuất trong đời sống nhân dân, tăng cường trách nhiệm của các quan lại làm nhiệm vụ trông coi đê điều, tiếp tục bảo vệ chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất và tài sản, cụ thể hóa hơn nữa về thủ tục mua bán ruộng đất…
Hình phạt ghi trong Hình thư thời Trần cũng rất nặng nề Sự phân biệt đối xử
giữa quý tộc với thường dân cũng rất rõ Trong An Nam Chí Lược, Lê Tắc viết:
Trang 37“Công điền phải hàng năm nạp lúa Dân hàng năm phải nạp tiền thân dịch và tháng
giêng, tháng bảy đi mừng quan, mùa nào trái nấy, cá, gạo,…Kẻ nông thương, khỏi
bị trưng thâu lương thuế (đất hẹp người đông, người đời đặt ra phép này để bớt gánh nặng cho dân) Quan lại nào liêm minh, có tài xử đoán việc thưa kiện, đều được xét công thăng chức Đồ đo lường, cân, tái cân thảy đều giống Trung Quốc, chỉ có vàng bạc, sô đoạn, tơ gai, vị thuốc, các thứ ấy đều tự tính mà thôi Mua bán giao dịch dùng tiền thời Đường, Tống, 70 chữ (văn) làm một tiền, 700 chữ làm một cụm quan Thiếu nợ có thể bị giam cầm, trả hết vốn lãi mới được thả ra Cùng dân không thể tự nuôi sống, có thể tự cầm bán mình cho người khác”[51; tr 242-243]
Như trên cho thấy hình thư đời Trần đã thừa nhận sự tồn tại của chế độ nô tỳ trong xã hội, việc mua bán người làm nô tỳ Xử tội nhân làm nô tỳ là hiện tượng khá phổ biến và được coi là hợp pháp Sử cũ cũng cho biết đại lược về hệ thống cơ quan tư pháp, thủ tục xét xử và việc thu lệ phí xét xử Bấy giờ, trừ các tội thập ác ra, người phạm các tội khác có thể dùng tiền để chuộc
Vì vậy, cho thấy hình thư thời Trần đã góp phần tăng cường sức mạnh của bộ máy Nhà nước lúc bấy giờ Phan Huy Chú đã nhận xét về pháp luật triều Trần là:
“lỗi ở sự nghiêm khắc”, trong khi pháp luật của triều Lý lại là “lỗi ở sự khoan rộng”
Tính chất nghiêm khắc này xuất phát từ chủ trương bảo vệ tuyệt đối quyền thống trị của dòng họ nhà Trần Tuy nhiên, nhà Trần vẫn là triều đại Phật giáo hưng thịnh Mặc dù tinh thần Pháp trị ngày một đề cao, nhưng cái gốc của đạo trị nước là Từ bi (Phật giáo) và nhân đức (Nho giáo) cũng vẫn được chú trọng và phát huy tạo thành bản sắc độc đáo của pháp luật nhà Trần
Tựu chung, nhà Trần đã tiến một bước dài trong việc cố gắng thống trị đất nước theo quy chế và tạo ra một nhà nước mang tính chính quy Tất cả những cách thức tổ chức của nhà nước và quyền hạn của quan lại đều được xác định một cách
rõ ràng trong Quốc triều thống chế
Về học hành, thi cử nhà Trần cũng rất coi trọng Dưới thời Trần, tuy giáo dục Phật học tiếp tục có những đóng góp quan trọng, nhưng giữ vị trí đặc biệt hơn cả là giáo dục Nho học Để đáp ứng nhu cầu phát triển của bộ máy Nhà nước, triều Trần
đã không ngừng mở rộng hệ thống giáo dục và thi cử Nho học Tầng lớp Nho sĩ
Trang 38xuất hiện trong xã hội ngày càng nhiều Năm 1232 nhà Trần đặt ra học vị Thái học sinh (sang thời Lê 1442 học vị này được đổi gọi là tiến sĩ) Năm 1247 nhà Trần đặt
ra Tam khôi, tức là học vị của 3 người đỗ cao nhất, gồm Trạng nguyên, Bảng nhãn
và Thám hoa Năm 1253, nhà vua đã cho lập Quốc học viện, tô tượng Khổng Tử, Chu Công, Mạnh Tử…Lập giảng võ đường, mở rộng đối tượng giáo dục của Quốc
tử viện (lập vào năm 1236, dành cho con cái nhà quan), cho phép các Nho sĩ trong
cả nước đến giảng, học các sách kinh thư Nho giáo…Năm 1261, tổ chức thi viết, tính toán và thi nghiệp vụ cho những người làm việc ở các cơ quan văn phòng, y
dược và tế lễ…Năm 1247 thi Thái học sinh, lấy được 48 người đỗ “xuất thân” (làm
quan) và (Tam khôi) là Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám Hoa Năm 1267 bắt đầu chọn những Nho sinh có tài vào giữ những chức vụ cao ở các cơ quan trong cung đình (trước kia chỉ có hoạn quan được làm) Năm 1290 nhà Trần chủ trương chọn quan văn để cử đi cai trị các lộ Năm 1275 nhà vua tiếp tục cho mở khoa thi Thái học sinh, trong khoa này lấy đỗ được 27 người cho làm quan: vẫn chọn Tam khôi, nhưng lại hợp kinh trại nguyên làm một Đặc biệt kỳ thi năm 1304, kỳ thi này được
tổ chức thi làm 4 kỳ, từ dễ đến khó để tuyển chọn nhân tài, lấy đỗ được 44 Thái học sinh, trong đó có Mạc Đĩnh Chi đỗ Trạng nguyên, Nguyễn Trung Ngạn đỗ Hoàng Giáp Năm 1393 lấy đỗ được 30 người Năm 1396 nhà Trần quy định về thể lệ thi
cử nhân, dùng thể văn 4 kỳ gồm Đệ nhất: kinh nghĩa; Đệ nhị: Thơ phú; Đệ tam: chiếu, chế, biểu; Đệ tứ: Văn sách, quy định năm trước thi Hương, năm sau thi Hội Người đỗ ở trường Hương được cấp bằng Hương cống hay Cống sĩ (từ năm 1829 học vị này đổi gọi là cử nhân)
Cũng dưới thời Trần, hệ thống giáo dục võ nghiệp phát triển khá mạnh mẽ Bên cạnh hàng loạt những trường dạy võ của tư nhân và của các địa phương, Nhà nước cũng có trường dạy võ tức Giảng võ đường Lúc này triều đình cũng tổ chức các khoa thi võ, nhưng bằng cấp chưa được quy định rõ rệt như các triều đại sau này
Trong một số trường hợp đặc biệt, triều Trần còn tổ chức các khoa thi để chọn nhân tài phù hợp với công việc mà Nhà nước cần Ví dụ: khoa Tam giáo: chọn những người thông hiểu cả Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo; khoa Văn nghệ: chọn
Trang 39những người có kỹ năng đặc biệt về một việc nào đó (viết chữ, trang trí…) để bổ dụng vào làm việc ở những cơ quan nào xét thấy cần
Việc thi cử để chọn nhân tài được nhà vua đặc biệt lưu ý nên đã tuyển chọn được nhiều nhân tài trẻ tuổi và xuất hiện càng nhiều như: Nguyễn Hiền (13 tuổi) đỗ Trạng nguyên, Lê Văn Hưu (18 tuổi) đỗ Bảng nhãn, Đặng Ma La (14 tuổi) đỗ Thám Hoa, Nguyễn Trung Ngạn (16 tuổi) đỗ Hoàng Giáp…Năm 1265 vua Trần đổi Ty Bình Bạc
là cơ quan quản lý kinh đô thành An phủ sứ và chọn người hiền tài rất kỹ để phụ trách, tiêu chuẩn phải là người đã từng là người trông coi các lộ, sau đó qua khảo duyệt để được trông coi phủ Thiên Trường, rồi lại qua khảo duyệt lần nữa, mới được về làm An Phủ sứ ở Kinh Sư Như vậy, để chọn người làm quan, các vua Trần đã rất chú trọng vào khâu thi cử và khảo hạch, có lẽ đây là những phương pháp có hiệu quả để phát hiện những nhân tài bổ sung vào các chức vụ quan trọng của triều đình
1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG THIỀN TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO THỜI ĐẠI NHÀ TRẦN
1.2.1 Khái niệm Thiền và tư tưởng Thiền của Phật giáo Ấn Độ và Trung Hoa ảnh hưởng đến Việt Nam
Khái niệm Thiền Phật giáo
Khái niệm Thiền theo Phật học từ điển, quyển III của Đoàn Trung Còn viết:
Thiền là tiếng Phạn, kêu trọn chữ: Thiền na (Dhyana) Cũng kêu theo nghĩa: Thiền định, tham thiền, tư duy… Thiền là sự suy xét, thẩm nghĩ về đạo lý…Thiền là một cõi đạo nói không cùng, biên ra không xiết Ấy là môn giải thoát Những nhà học đạo, giữ giới cần phải Thiền định Nhờ Thiền định mới đắc trí huệ, giải thoát khỏi các sự phiền não: tham, sân, si…Thiền là một nền hạnh trong sáu nền hạnh (Lục độ) mà một nhà tu trì thi hành từ đời này đến đời kia để đắc quả Phật, Như Lai…[21; tr 455-456]
Thiền trong Thiền luận, quyển thượng của Daisetz Teitaro Suzuku viết: Thiền,
cốt yếu nhất, là nghệ thuật kiến chiếu vào thể tánh của chúng ta; nó chỉ con đường
từ triền phược đến giải thoát Đưa ta đến uyên nguyên của cuộc sống uống ngụm nước đầu nguồn, Thiền cởi bỏ tất cả những gì ràng buộc chúng ta, những sinh linh hữu hạn, luôn luôn quằn dưới ách khổ lụy trong thế gian này Ta có thể nói Thiền
Trang 40khai phóng tất cả năng lực nội tại và tự nhiên tích tập trong mỗi người chúng ta, nguồn năng lực ấy, và vặn tréo đi, đến không vùng thoát đâu được…[2, tr 9]
Hay là: “Nói Thiền (hoặc Zen theo người Nhật) là nói tắt, nói đủ chữ là: Thiền
na, phiên âm theo Ấn ngữ Dhyana hoặc Jhana; nguồn gốc ấy đủ chứng tỏ Thiền có nhiều liên quan đến phương pháp tu luyện cổ truyền ấy có từ thuở ban sơ của Phật giáo, hơn nữa, có lẽ từ khởi nguyên của văn hóa Ấn Độ, Dhyana thường được dịch
là tịch lự, và đại khái có nghĩa là trầm tư về một chân lý, triết hoặc đạo, đến chỗ triệt ngộ và in sâu trong nội thức Tu Thiền cần tìm đến chỗ thanh vắng, xa cảnh náo nhiệt và loán động của thế gian…[2; tr 122]
Còn trong Khóa hư lục của Trần Thái Tông, Đào Duy Anh (phiên dịch và chú
giải), nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1974 có ghi: Thiền là thiền na nói tắt, phiên âm chữ Phạn Dyana, chỉ một phương pháp tu hành của đạo Phật, chủ lặng
lẽ tuyệt đối mà dứt hết mọi niềm lo nghĩ…Theo ý kiến được lưu hành phổ biến thì
Thiền tôn chịu sự tâm truyền trực tiếp của Thích Ca Truyền thuyết nói rằng: “Khi
Phật Thích Ca ở hội Linh Sơn, Đại Phạm Thiên Vương dâng hoa sen sắc vàng xin Phật thuyết pháp Phật chỉ nắm hoa dơ lên có ý nghĩa khai thị cho công chúng, chúng đều im lặng, chỉ mình Ma-ha-ca-diếp lộ vẻ mỉm cười Phật liền nói rằng:
“Ta có chính pháp nhãn tạng, niết bàn diệu âm nay phó chúc cho ngươi” Ấy là Phật lấy tâm truyền tâm cho Ca Diếp, phép ấy từ Ca Diếp truyền xuống trải qua 28 đời đến Bồ Đề Đạt Ma, vị đại sư này sang Trung Quốc ở chùa Thiếu Lâm, sáng lập phái Thiền tôn”[65; tr 15]
Thiền trong Từ điển Phật học Huệ Quang viết như sau: “Thiền, theo tiếng
Sanskrit (Phạn) là Dhyana, tiếng Pali là Jhana, còn gọi là Thiền na, Đà-diễn-na, a-na hay là Tĩnh lự, tư duy tu tập, khí ác, công đức tùng lâm Trạng thái định huệ đồng đều, tâm chuyên trú vào một đối tượng nào đó, vắng lặng tư duy… A-hàm và Phật giáo Bộ phái y cứ vào sự hữu, vô của Tầm, Tứ, Hỉ, Xả mà chia Thiền thành 4 loại: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền và Tứ thiền…Thiền là pháp tu của Bồ tát để chứng được thật trí Bát nhã hoặc thần thông…(xem thêm trong từ điển) [14; tr
Trì-5507-5508] Hay, Thiền nghĩa là “chú tâm ở một chỗ một, minh tưởng lấy diệu lý
của nó”[33; tr 59]