Do hình thành từ lâu và được tiếp thu tinh hoa của các loại hình hí khúc trước đó, Kinh Kịch đã đạt tới mức hoàn chỉnh và trở thành cổ điển với một hệ thống hình thức biểu diễn nghiêm ng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Nguyễn Thiện Chí
TP HỒ CHÍ MINH 2008
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN DẪN LUẬN 1
PHẦN NỘI DUNG CHÍNH 6
CHƯƠNG I: TÌM HIỂU VỀ KINH KỊCH 6
1.1 Sự ra đời của Kinh Kịch 6
1.2 Quá trình phát triển của Kinh Kịch 8
1.3 Một số đặc điểm tiêu biểu của Kinh Kịch 12
CHƯƠNG II: NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH NHÂN VẬT TRONG KINH KỊCH .29
2.1 Nguồn gốc phân loại vai diễn 29
2.2 Nghệ thuật tạo hình nhân vật trong Kinh Kịch 32
PHẦN KẾT LUẬN 54
T À I L I Ệ U T H A M K H ả O 56
Tài liệu tiếng Việt: 56
Tài liệu tiếng nước ngoài: 56
Trang 3PHẦN DẪN LUẬN
I Lý do chọn đề tài:
Kinh kịch (京剧 ) là một trong những loại hình hí khúc (戏曲) Trung Quốc, ra đời từ thế kỉ 18 bằng sự tổng hợp nhiều hình thức ca hát địa phương Đến đầu thế kỉ 19, Kinh Kịch trở thành hình thức sân khấu cung đnh chính thống và phát triển mạnh mẽ, chiếm vị trí hàng đầu và tiêu biểu cho loại hình hí khúc Trung Quốc, vươn đến đỉnh cao của kịch hát Trung Quốc Với lịch sử gần
200 năm, Kinh Kịch đã hấp thu những tinh hoa của ca hát, múa, âm nhạc, hội họa, văn học Trung Quốc, từ dân gian đi vào cung đnh, từ vua chúa phổ biến đến dân chúng, nên Kinh Kịch được xem là “Quốc kịch” (国剧), là “quốc túy Trung Quốc” (中国国粹)
Thể loại kịch này giống với khởi điểm của nhã nhạc cung đình Huế, cũng bắt nguồn từ các loại hình nghệ thuật dân gian mà kết tinh thành Phần lớn các vở Kinh Kịch đều lấy cảm hứng từ các cốt truyện huyền thoại như cổ tích, truyền thuyết pha lẫn tính dã sử của tiểu thuyết Do hình thành từ lâu và được tiếp thu tinh hoa của các loại hình hí khúc trước đó, Kinh Kịch đã đạt tới mức hoàn chỉnh và trở thành cổ điển với một hệ thống hình thức biểu diễn nghiêm ngặt (tương tự như tuồng cổ Việt Nam) và có sức lôi cuốn đặc biệt, ảnh hưởng lớn đến các loại hình nghệ thuật khác
Là một loại hình nghệ thuật có ảnh hưởng nhất trong lịch sử cận đại Trung Quốc, cũng là một hệ thống biểu diễn độc đáo nhất trên thế giới, Kinh Kịch đã từng đ?ợc lưu diễn ở rất nhiều nước, được khán giả chú ý về tính độc đáo trong ngôn ngữ biểu diễn của diễn viên, tính ước lệ và nghệ thuật cách điệu, trong đó nghệ thuật tạo hình nhân vật là điểm đặc biệt nhất Bằng phong cách
đa dạng, mang ý nghĩa tưựong trưng sâu sắc, kết hợp hài hòa giữa tính thẩm mĩ
và tính xã hội, Kinh Kịch phân chia các nhân vật khác nhau về giới tính, tuổi
Trang 4tác, tính cách, nhân phẩm, thân phận… thành 4 nhóm vai diễn lớn là Sinh (生)
(vai nam), Đào (旦) (vai nữ), Tĩnh (净) (vai nam), Hài (丑) (vai nam nữ đều có), tùy theo mỗi nhóm vai diễn, mỗi một nhân vật khác nhau mà có những cách hóa trang khác nhau, phục trang khác nhau… Phong cách tạo hình nhân vật của Kinh Kịch luôn dựa trên những phong tục tập quán, văn hóa truyền thống của Trung Quốc mà thành, từ đó tạo nên nét gần gũi với người xem, giúp người xem dễ dàng nắm bắt nội dung vở kịch cũng như tâm lý nhân vật
Chính vì vậy, nghiên cứu về Kinh Kịch đặc biệt là nghiên cứu về nghệ thuật tạo hình nhân vật trong Kinh Kịch cũng chính là một cách tiếp cận với loại hình văn hóa nghệ thuật độc đáo nhất của Trung Quốc, qua đó giúp người viết tìm hiểu thêm về đời sống tinh thần của người Trung Quốc Từ lý do nêu
trên, người viết quyết định chọn “Tìm hiểu về Kinh Kịch và nghệ thuật tạo
hình nhân vật trong Kinh Kịch” làm đề tài để nghiên cứu Bên cạnh đó, đây
cũng là đề tài từ trước đến nay chưa được thực hiện trong khuôn khổ các đề tài nghiên cứu khoa học của Khoa Ngữ văn Trung Quốc nói riêng và của trường nói chung Mặt khác, đề tài này rất phù hợp với chuyên ngành ngữ văn Trung Quốc mà người viết đang theo học và đây cũng là một cơ hội để người viết có thể ôn tập lại những kiến thức đã tích lũy đựợc trong thời gian qua
II _Tình hình nghiên cứu đề tài:
Từ lâu nay, nền văn hóa có lịch sử lâu đời của Trung Quốc luôn là đề tài
vô tận để các nhà nghiên cứu tìm hiểu về các phương diện như chính trị, triết học, tôn giáo… Trong đó, Kinh Kịch là một trong những đề tài về văn hóa nghệ thuật có sức cuốn hút đặc biệt, được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm,
trong số đó có thể kể đến bộ sách “Tùng thư văn hóa nghệ thuật Trung
Quốc” (中国文化艺术丛书) của Hội đồng biên tập Bộ văn hóa nghệ thuật
Trung Quốc và tạp chí “Bàn về Kinh Kịch” (谈京剧)… Đề tài này mở ra một
Trang 5cách nhìn chân thực, toàn diện và thú vị về bản sắc văn hóa dân tộc độc đáo của người Trung Quốc
Tuy Kinh Kịch là loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất, được thế giới yêu thích và ca ngợi, nhưng ở Việt Nam, theo sự hiểu biết còn hạn chế của người viết thì Kinh Kịch vẫn là đề tài còn khá xa lạ, chưa có một tác phẩm nào nghiên cứu hoàn chỉnh về vấn đề này, hoặc nếu có cũng chỉ là vài lời giới thiệu khái quát về bộ môn nghệ thuật này
III Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là sưu tầm từ sách báo, tạp chí, mạng internet…, tìm hiểu các tư liệu bàn về Kinh Kịch hoặc có liên quan đến Kinh Kịch, qua đó tiến hành khái quát, hệ thống và phân tích về quá trình hình thành
và phát triển của Kinh Kịch, các nguyên tắc và ý nghĩa trong việc tạo hình nhân vật trong vở kịch cùng với ảnh hưởng của Kinh Kịch đối với đời sống văn hóa người dân
IV Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
Cơ sở lý luận nghiên cứu của đề tài này là một loại hình văn hóa nghệ thuật truyền thống độc đáo mang đậm tính dân tộc
Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp tìm kiếm: tìm đọc, tham khảo các tư liệu tiếng Việt và tiếng Hoa có liên quan đồng thời kết hợp với tìm kiếm dữ liệu, hình ảnh trên mạng Internet Bên cạnh đó, tham khảo ý kiến của các thầy, cô trong Khoa và các thầy, cô thỉnh giảng
Phương pháp thống kê: người viết tiến hành tổng hợp, phân tích, sàn lọc lại và biên dịch những tư liệu đã thu thập được Sau đó, người viết tiến
Trang 6hành biên soạn tập trung vào phần nội dung chính của đề tài cần nghiên cứu
Phân tích, hệ thống hóa, biên dịch, rút ra kết luận về ý nghĩa của nghệ thuật tạo hình nhân vật trong Kinh Kịch
V Ý nghĩa của đề tài:
Gắn liền với kỹ thuật hát điêu luyện cũng như các động tác vũ đạo, múa
võ, kỹ xảo xiếc tài tình…, sự độc đáo của Kinh Kịch còn được thể hiện ở nghệ thuật hóa trang và vẻ đẹp hoàn mỹ trong phục trang dân tộc Do đó, thông qua
đề tài, người viết muốn làm rõ hơn vấn đề mà từ trước đến giờ chưa được đề cập hoặc chỉ được đề cập sơ sài về Kinh Kịch để từ đó chúng ta có cái nhìn tổng quát hơn và có những hiểu biết sâu sắc hơn về Kinh Kịch và nghệ thuật tạo hình nhân vật trong Kinh Kịch Đồng thời, đi sâu vào tìm hiểu về ý nghiã của các vai diễn, cách hóa trang và phục trang nhân vật sẽ cung cấp cho chúng
ta những kiến thức mới về loại hình nghệ thuật độc đáo của Trung Quốc, qua
đó hiểu thêm phần nào về tư tưởng và các quan niệm về văn hóa truyền thống của người Trung Quốc
Ngòai ra, người viết còn mong muốn đề tài này có thể cung cấp cho sinh viên Khoa Ngữ văn Trung Quốc và những người yêu thích, say mê tìm hiểu về Kinh Kịch có tài liệu để tham khảo, nghiên cứu cũng như góp phần bổ sung thêm nguồn tư liệu về đất nước, văn hóa nghệ thuật và con người Trung Quốc vốn còn rất hạn hẹp của Khoa chúng ta
VI Kết cấu của đề tài:
Đề tài nghiên cứu gồm có 4 phần:
Phần một : Dẫn luận
Trang 7Chương 1 : Tìm hiểu về Kinh Kịch
Chương 2 : Nghệ thuật tạo hình nhân vật trong Kinh Kịch
Trang 8PHẦN NỘI DUNG CHÍNH
CHƯƠNG I: TÌM HIỂU VỀ KINH KỊCH
1.1 Sự ra đời của Kinh Kịch
Kinh Kịch là loại hình hí khúc có ảnh hưởng lớn nhất đến Trung Quốc Kinh Kịch được bắt nguồn từ mấy loại tuồng cổ địa phương, đặc biệt là “Huy
Ban” (徽班) tức “đoàn tuồng An Huy” (安?J 的戏班子) lưu hành tại miền
Nam Trung Quốc hồi thế kỷ 18 Năm 1790, “đoàn tuồng An Huy” đầu tiên đến Bắc Kinh biểu diễn chúc mừng sinh nhật nhà vua Sau đó lại có nhiều “đoàn tuồng An Huy” đến Bắc Kinh biểu diễn Ban biểu diễn “tuồng Huy” vốn có tính lưu động mạnh, do hấp thụ nhiều phương pháp biểu diễn của các chủng loại tuồng khác nhau, Bắc Kinh là nơi tập trung nhiều chủng loại tuồng địa phương, điều này khiến nghệ thuật biểu diễn của “đoàn tuồng Huy” được nâng cao nhanh chóng, tên gọi Kinh Kịch cũng có từ đó Cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ
20, qua hội nhập trong suốt mấy chục năm, Kinh Kịch mới được hình thành, Kinh Kịch Trung Quốc được gọi là “Ca kịch phương Đông”, là quốc túy thuần túy Trung Quốc, gọi là Kinh Kịch bởi được hình thành tại Bắc Kinh
Hiện nay, khi nói về lịch sử của Kinh Kịch, mọi người vẫn tính từ lúc 4 đoàn tuồng An Huy lớn vào kinh thành năm 1790 (năm thứ 55 đời vua Càn Long) Năm đó, để khánh chúc sinh nhật lần thứ 80 của vị vua đời thứ 7 triều Thanh, tức là vua Càn Long, 4 đoàn tuồng An Huy lớn đã được thái giám tiến
cử vào cung để biểu diễn cho Càn Long xem Lúc đó trong làng sân khấu Bắc
Kinh tồn tại thế chân kiềng rất vững chắc giữa làn điệu Côn (昆腔), làn điệu Kinh (京?腔) và làn điệu Tần (秦腔) Sau khi đoàn tuồng An Huy vào Kinh, đã
phát huy truyền thống đặc sắc của các làn điệu này, tiếp thu rộng rãi phương pháp biểu diễn và tên các vở kịch của làn điệu Tần (bao gồm 1 phần làn điệu
Trang 9Kinh), đồng thời kế thừa hầu hết thể chế nghệ thuật trên sân khấu cũng như tên các vở kịch của làn điệu Côn, do đó đã có được sự tiến bộ nhanh chóng về nghệ thuật Bên cạnh đó còn chịu ảnh hưởng 1 cách ngấm ngầm của nền văn hóa bản địa như phong tục, ngôn ngữ Bắc Kinh, dần dần hình thành loại hình hí kịch mới – Kinh Kịch
Kinh Kịch chính thức hình thành vào khỏang sau năm 1840 (năm thứ 20 đời vua Đạo Quang), lúc đó các bản thảo lời hát của Kinh Kịch đã bước đầu đầy đủ, đặc điểm ngôn ngữ của Kinh Kịch cũng được hình thành, về phương diện phân vai diễn cũng đã xuất hiện sự đổi mới và có một danh sách các vở kịch mang đặc điểm Kinh Kịch, thế hệ diễn viên Kinh Kịch đầu tiên cũng xuất hiện : đó là Từ Thắng Tam (余胜三), Trư?ng Nhị Khuê (张二奎), Trình Trương Canh (程长庚), cả ba người được gọi là “Tam đỉnh giáp” (三鼎甲) vai lão sinh Trình Trương Canh chính là nhân vật tiêu biểu cho thời kì này, ông tiếp thu và cải tạo, nâng cao điệu Hán (汉调), điệu Huy (徽调) kết hợp với khúc nhạc Côn (昆曲), nỗ lực hơn hẳn các diễn viên Kinh Kịch khác vào thời
đó, có cống hiến rất lớn đối với sự hình thành nghệ thuật biểu diễn của Kinh Kịch, tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của Kinh Kịch đời sau
_
Đây là bức họa “Đồng Quang thập tam tuyệt” (同光?\三绝) của danh họa đời Thanh Thẩm Dung Phố (沈容圃) Tên gọi “Đồng Quang thập tam tuyệt” là ý
Trang 10chỉ 13 nhà nghệ thuật diễn xuất Kinh Kịch, Côn Khúc (昆曲) trong các năm
Đồng Trị (同治), Quang Tự (光绪) đời nhà Thanh
_
1.2 Quá trình phát triển của Kinh Kịch
Với lịch sử gần 200 năm, Kinh Kịch đã hấp thu những tinh hoa của ca hát, múa, âm nhạc, hội họa, văn học Trung Quốc, từ dân gian đi vào cung đình,
từ vua chúa phổ biến đến dân chúng,… Kinh Kịch trở thành hình thức sân khấu cung đình chính thống và phát triển mạnh mẽ, chiếm vị trí hàng đầu và tiêu biểu cho loại hình hí khúc Trung Quốc, vươn đến đỉnh cao của kịch hát Trung Quốc Nhìn chung, Kinh Kịch đã trải qua 3 giai đoạn phát triển :
1.2.1 Giai đoạn 1 (cuối thế kỷ18)
Đây là giai đoạn Kinh Kịch phát triển mạnh mẽ Vì các Hoàng gia quý tộc thích xem Kinh Kịch, điều kiện vật chất ưu việt trong cung đình đã mang đến sự giúp đỡ về mặt biểu diễn, quy chế về trang phục, hóa trang Mặt nạ, phông cảnh sân khấu… sân khấu kịch trong hoàng gia quý tộc và dân gian ảnh hưởng lẫn nhau khiến Kinh Kịch đã có sự phát triển nhanh chóng ngay sau khi được hình thành
Về mặt tên các vở kịch, từ tên các vở kịch truyền thống được kế thừa lại
từ kịch Huy, Hán, Côn trải qua thực tiễn diễn xuất đã không ngừng được thêm thắt, trui rèn, càng ngày càng tinh tế hơn Không ít kịch bản gốc đã bị cắt giảm dần và rút gọn lại còn một phân đoạn cho vở diễn như vở “Vũ trụ phong”
(宇宙锋) thông thường chỉ diễn 2 phân đọan là “Tu bản” (修本) và “Kim điện” (金殿) Trước và sau cách mạng Tân Hợi, trong sự cải cách chính trị xã hội còn
xuất hiện các kịch bản mới liên quan mật thiết đến hiện thực như “Khốc tổ
miếu” (哭祖庙), “Qua chủng lan ân” (瓜种兰因) của Uông Tiếu Nông (汪笑
Trang 11侬) Về mặt âm nhạc, các bản thảo và làn điệu đã tăng thêm, thanh vận và âm
tự càng được định hình, khiến cho làn điệu Kinh Kịch uyển chuyển, dễ nghe, đặc sắc hơn Về mặt nghệ thuật biểu diễn trên sân khấu cũng càng tinh tế và ngập tràn màu sắc
Từ năm thứ 9 đời vua Quang Tự, một lượng lớn các diễn viên Kinh Kịch
lĩnh một lượng gạo thóc và vàng bạc, thường thì diễn ở gánh hát, rồi được gọi vào cung biểu diễn không định kì, từ đó đã phá vỡ điều lệ cũ của vua Càn Long
là nuôi đoàn hát ở ngay trong cung đình Do được hoàng thân quý tộc yêu thích, được cung cấp các điều kiện vật chất tối ưu, lại có yêu cầu nghiêm khắc trên phương diện nghệ thuật, vì thế nên đã có nhiều kịch bản tương đối hoàn chỉnh, cùng lúc đặt nền tảng phát triển cho khuôn mẫu nghiêm khắc của nghệ thuật Kinh Kịch Nhưng việc diễn xuất trong cung đình cũng đã đem lại một số ảnh hưởng tiêu cực cho Kinh Kịch trong xu hướng của nội dung kịch bản
1.2.2 Giai đoạn 2 (những năm 40 của thế kỷ 20)
Đây là giai đoạn phát triển cao trào thứ 2 của Kinh Kịch, xu hướng phát triển của Kinh Kịch trong giai đoạn này là sản sinh rất nhiều trường phái khác nhau, nổi tiếng nhất là bốn trường phái lớn : Mai Lan Phương (梅兰芳 F) (1894 - 1961), Thượng Tiểu Vân (尚小云) (1990 - 1975), Trình Nghiên Thu (程砚秋) (1904 - 1958), Tuân Huệ Sinh (荀生) (1900 - 1968) Trong đó Mai Lan Phương là một trong những nhà nghệ thuật Kinh Kịch nổi tiếng nhất thế giới
Về mặt tên các vở kịch, các vở kịch truyền thống đã không ngừng được cải thiện, đổi mới, được sáng tác thêm Phạm vi đề tài được mở rộng, thể hiện chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân chủ Sự đặc sắc trong diễn xuất của diễn viên
và kịch bản được kết hợp càng chặt chẽ hơn, các kịch bản dành riêng cho từng
Trang 12trường phái bắt đầu ra đời Về mặt nghệ thuật sân khấu, các trường phái nghệ thuật phát triển vượt bậc Thuở ban đầu, khi sân khấu Kinh Kịch lấy vai Lão làm chủ đạo, trường phái vai Lão tương đối nổi bật Đến thời kì này, Mai Lan Phương, Thương Tiểu Vân, Trình Nghiên Thu, Tuân Huệ Sinh đồng lọat cách tân, tích cực diễn các vở kịch mới Mai Lan Phương trong các vở kịch cổ trang được biên soạn mới như “Hằng Nga bôn nguyệt” (嫦蛾奔月), “Bá Vương biệt Cơ? (霸 P 王别姬), “Tây Thi” (西施) … đã hấp thụ nghệ thuật vũ đạo cổ điển của truyền thống Trung Quốc vào trong Kinh Kịch Làn điệu, nhạc khí hợp tấu phong phú, phục trang và cách hóa trang cũng có rất nhiều sự đổi mới Thư?ng Tiểu Vân, Trình Nghiên Thu, Tuân Huệ Sinh cũng phát huy sức sáng tạo của mình, sáng tác các vở mới để có thể thể hiện được nét đặc sắc trong nghệ thuật diễn xuất của họ Sân khấu kịch xuất hiện “Tứ đại danh đán” (四大旦) tranh đua nhau, điều đó không chỉ giúp cho nghệ thuật vai đào đổi ánh hào quang trước giờ chưa từng có, mà còn thôi thúc các phân vai khác đấu tranh vươn lên, các trường phái phân chia rõ ràng Sân khấu Kinh Kịch đạt đến đỉnh cao nghệ thuật
_
“Tứ đại danh đán”
Trang 13(từ trái sang: Mai Lan Phương, Trình Nghiên Thu, Tuân Huệ Sinh, Thượng
Tiểu Vân)
1.2.3 Giai đoạn 3 (cuối thế kỷ 20)
Kể từ khi Trung Quốc tiến hành cải cách mở cửa, Kinh Kịch lại có sự phát triển mới Là tinh hoa nghệ thuật truyền thống của dân tộc, Kinh Kịch đã được chính phủ Trung Quốc nâng đỡ, trở thành chương trình bảo lưu trong giao lưu văn hóa giữa Trung Quốc với nước ngoài Thời kì này, sân khấu Kinh Kịch sản sinh ra nhiều nghệ sĩ nữ, có người đạt được thành tựu rất to lớn Từ khi hình thành, diễn viên Kinh Kịch, bất luận là vai Sinh (生), Đào (旦), Tĩnh (净), Hài (丑), đều do nam diễn viên đóng Đến khỏang năm 1862-1874 đời vua Đồng Trị (同治) ở Thương Hải bắt đầu có đoàn hát do nữ lập nên, sau cách mạng Tân Hợi thì ở Bắc Kinh và Thiên Tân cũng có đoàn hát nữ, có những diễn viên nữ còn rất nổi tiếng, nhưng do điều kiện xã hội lúc bấy giờ hạn chế nên đa phần đều chỉ như hoa quỳnh nở vội Về phương diện đào tạo nhân tài Kinh Kịch trong thời kì này cũng nhận được nhiều sự quan tâm, do đó đã có nhiều biện pháp được tiến hành và đã thu được kết qủa như ý
_
Sân khấu Kinh Kịch xưa (hình a) và nay (hình b)
Trang 141.3 Một số đặc điểm tiêu biểu của Kinh Kịch
1.3.1 Kịch bản Kinh Kịch
Loại hình hý khúc Trung Quốc ngay từ lâu đã tồn tại song song cả 2
hình thức ca hát và vũ đạo, từ đó hình thành cái gọi là “ca vũ kịch” (歌舞‘?¬戏)
những vở kịch này đa số đều phản ánh đời sống thường ngày của dân chúng, tình tiết không có nhiều xung đột nghiêm trọng, nên cũng không có các động tác quá quyết liệt trên sân khấu, lấy việc hát làm chủ đạo, còn gọi là “kịch văn”
(文戏) “Kịch võ” (武戏) lấy võ công làm nhân tố chính, từ võ thuật truyền
thống của Trung Quốc chuyển hóa thành các động tác có tính hình thức, kết hợp võ thuật và vũ đạo thành một khối thống nhất Sự xuất hiện của Kinh Kịch tại trung tâm chính trị Trung Quốc là Bắc Kinh và việc Kinh Kịch trực tiếp chịu ảnh hưởng của triều đình có liên quan đến sự ra đời của “kịch võ”, cộng với sự bất ổn của xã hội Trung Quốc thời cận đại, nhiều bối cảnh vĩ mô có liên quan đến vấn đề chiến tranh hay chính trị đã trở thành đề tài biểu diễn của Kinh Kịch, “kịch võ” cũng bắt đầu nổi lên từ đó
Các loại vai diễn Sinh, Đào, Tĩnh, Hài cũng được phân chia thành hai nhóm văn võ, thập niên 40 của thế kỉ 20, 2 nhóm vai diễn chủ yếu của Kinh Kịch là Lão Sinh và Thanh Y giữ vai trò chủ chốt, sự phân biệt giữa “kịch Lão
Sinh” (老 V 生戏) và “kịch Thanh Y” (青ˆ戏) cũng tương tự sự phân biệt của
“kịch võ” và “kịch văn” Các trường phái Lão Sinh khác nhau đều có kịch bản
tiêu biểu cho mình, như vai Lỗ Túc (鲁) trong vở “Quần Anh Hội” (群英会) là
kịch nổi tiếng của Phái Đàm (谭派)… Nhưng sau năm 1945, diễn viên nổi tiếng chuyên đóng vai Tiểu Sinh là Diệp Thịnh Lan (叶盛兰) thành lập Dục Hóa Xã (育化社), mở ra thời kì phát triển của vai Tiểu Sinh, liên tiếp xuất hiện
nhiều kịch bản xuất sắc của “kịch Tiểu Sinh” (小生戏), như các vở “Chu Du”
Trang 15(周), “Liễu Âm Ký” (柳荫), “Bạch xà truyện” (白蛇传), “Tây sương ký” (西
厢)… các vở kịch này đều hoàn hảo trên mọi phương diện hát, nói, động tác,
võ thuật, vũ đạo
Các kịch bản truyền thống của Kinh Kịch kế thừa các kịch bản của các thể loại kịch trước đó nên đề tài rất rộng, có khi là đề tài về lịch sử, có khi kịch
bản mượn từ Tạp Kịch (杂?剧) cổ điển, cũng có khi xuất phát từ truyền thuyết,
bút kí, tiểu thuyết… Xem Kinh Kịch chủ yếu là xem diễn và nghe hát, thưởng thức Kinh Kịch không nhất thiết phải làm rõ bối cảnh và nội dung trước, bởi lời hát và lời thoại của Kinh Kịch đều giống như văn nói, gần gũi dễ hiểu, không xem trọng tính văn chư?ng, khán giả chỉ cần theo dõi sẽ hiểu được nội dung vở kịch
Kinh Kịch xem trọng diễn viên, thầy truyền thụ lại cho trò, lời thoại cũng vì vậy nên có sự khác nhau giữa các diễn viên, làm mất đi sự lưu truyền
và tính cố định của kịch bản, vì vậy mà số lương kịch bản thời đó còn được giữ lại rất ít Các vở Kinh Kịch từ lúc sơ khai đến nay có khỏang 1300 kịch bản, từ giữa thế kỉ 20 đến nay, các kịch bản đ?ợc chỉnh sửa và lưu hành rộng rãi gồm khoảng 100 kịch bản, về mặt tổng thể, có kịch văn, kịch võ, loại kịch chú trọng
cả 4 yếu tố hát, nói, động tác và võ thuật, có kịch dài, cũng có loại kịch với kịch bản là một trích đoạn của một câu chuyện nào đó Các kịch bản Kinh Kịch đều có kết cấu linh hoạt tự do, thủ pháp thể hiện trên sân khấu phong phú dễ hiểu Trong đó có nhiều kịch bản thuộc vào hàng kinh điển đ?ợc lưu truyền
rộng rãi, tiêu biểu như “Quý Phi say rượu” (贵妃酒), “Nhị tiến cung” (二进¬),
“Bá Vương biệt Cơ” (霸 P 王别姬), “Hồng Nương” (红娘), “Bạch Xà truyện” (白?蛇传), “Tứ Lang thăm mẹ” (四郎 Y 探母), “Đại náo thiên cung” (大闹天 宫) và các trích đoạn của “Tam Quốc Chí” (三国?志) : “Quần anh hội” (群英 p 会), “Không thành kế” (空城计)… “Quý phi say rượu” (贵妃酒) là một trong
Trang 16những kịch bản kinh điển của Phái Mai (梅派), Mai Lan Phương đóng vai Dương Ngọc Hoàn (杨玉环), ông đã có sự cách tân nhiều mặt trong cách diễn xuất truyền thống và tạo nên các động tác cũng như bộ pháp (步法) – cách bước đi trên sân khấu – hết sức phức tạp Vở kịch nói về một chuyện trong cuộc tình của Đường Huyền Tông (唐?玄宗) và Dương Quý Phi (杨贵妃) : có một ngày, Huyền Tông vốn có hẹn với Dương Quý Phi ngắm hoa tại Bách Hoa Đinh (百花) nhưng lại đi gặp vị phi khác, Dương Quý Phi chờ lâu không thấy Huyền Tông đến, buồn bã uống rượu một mình đến say rồi hậm hực về cung Mỗi động tác của Mai Lan Phương đều hưởng đến vẻ đẹp hoàn mỹ, biến vai diễn Dương Quý Phi thành hình tương vừa kiêu sa mỹ miều, lại khoan thai cao quý Nhiều lần ra nư?c ngoài, Mai Lan Phương đều chọn biểu diễn vở kịch này, đem đến cho khán giả trong và ngoài nước cái nhìn sâu sắc về vẻ đẹp của Kinh Kịch
“Bá Vương biệt Cơ” (霸王别姬) cũng là một trong những kịch bản kinh điển của Phái Mai, và cũng là một trong những vai diễn để đời của Mai Lan Phương với vai nàng Ngu Cơ (虞姬) Vở kịch nói về việc Sở Bá Vương (楚霸王) bại trận trong cuộc chiến Hán Sở tranh Tần và bị vây hãm, đại mỹ nhân Ngu Cơ ca múa để xua đi nỗi sầu muộn đó của người rồi vung kiếm tự tử, Bá Vương đau buồn tột độ, cũng tuốt kiếm tự tử theo
Mai Lan Phương trong vở “Quý Phi say rượu_”
Trang 17“Nhị tiến cung” (二?进?¬) vở kịch bất hủ này được cùng thể hiện bởi
các vai diễn : Lão Sinh (老 V 生), Đồng Chùy Hoa Mặt (铜锤花 Ơ 脸) và Thanh Y (青ˆ) Ba nhân vật, một ngư?i là Phi tử vừa mất chồng, một người là văn thần, một người là võ tướng, họ cùng bàn luận về vấn đề ai là trung thần, việc nước sẽ giao cho ai quản lý, chủ yếu dùng tiếng hát, động tác không nhiều
mà cũng không phức tạp Theo người phương Tây, vở kịch này gần như là loại
Ca Kịch (歌剧) điển hình vậy, còn nhiều người cho rằng, nếu ai lĩnh hội được
vẻ đẹp trong làn điệu của Kinh Kịch qua vở kịch này thì khả năng thưởng thức của người đó đã ở trình độ rất cao
“Hồng Nương” (红娘) được vay mượn từ kịch bản cổ điển nổi tiếng
“Tây sương ký” (西厢), nhưng vai chính lại là Hồng Nương (红娘), cô tiểu a
hoàn thông minh lanh lợi, hết lòng se tơ duyên cho cô chủ và người yêu Đây là
_
Tuân Huệ Sinh trong vở “Hồng Nương”
về một con bạch xà tu luyện ngàn năm xuống trần, kết thành phu phụ với Hứa Tiên (许仙), chủ tiệm thuốc trẻ tuổi ở Hàng Châu (杭州), gặp phải sự can ngăn
Trang 18bức hại của Thiền sư Pháp Hải (法海禅师), Bạch Xà vì bào vệ tình yêu của
ngọt ngào, khắc sâu vào lòng người Có thể nói nửa thế kỷ nay, vở “Bạch Xà
truyện” là tác phẩm Kinh Kịch bất hủ nổi tiếng trong và ngoài nước
_
Vở kịch “Bạch Xà truyện” xưa (hình a) và nay (hình b)
“Tứ Lang thăm mẹ” (四郎 Y 探母) là vở kịch lớn với trọng tâm gồm cả
vai Sinh và vai Đào Nội dung nói về cuộc chiến Tống (宋) Liêu (辽), Tướng quân nước Tống là Dương Diên Huy (杨?延?辉?) – Tứ Lang (四郎) rơi vào tay quân Liêu, phải mai danh ẩn tánh và kết hôn với công chúa Thiết Kính (铁公主) nước Liêu 15 năm sau, mẹ và em trai của Tứ Lang lãnh đại quân chiến đấu cùng quân Liêu, khơi dậy tình thân trong Tứ Lang, nhưng ở chiến trận, mẹ con
họ không thể gặp nhau, Thiết Kính công chúa hiểu rõ ý nguyện của tương công, lén trộm lệnh tiễn giúp Tứ Lang qua ải để thăm mẹ, mẫu tử huynh đệ nhà họ Dương vừa đoàn tụ lại phải chia ly
Trang 19“Quần anh hội” (群英 p 会) là trích đoạn tiêu biểu nhất được lấy từ tác phẩm kinh điển “Tam Quốc Chí” (三国志), được diễn bởi các vai chính là vai
Sinh, Tĩnh, Hài Đây là vở kịch về thời Tam Quốc, khi hai lực lượng của Tôn Quyền (孙¨) nhà Ngô (吴) và Tào Tháo (曹操) nhà Ngụy (魏) đối đầu nhau, Tôn Quyền đã liên minh với Lưu Bị (刘备) nhà Thục (蜀) để chống lại quân Tào Tháo và giành thắng lợi Trong vở kịch, thân phận, cá tính của các nhân vật mỗi người mỗi vẻ, vì lợi ích của bản thân mà đấu trí tranh hùng, tình tiết toàn câu chuyện chặt chẽ, lay động lòng người
_
Bìa kịch bản “Tế phong đài” (祭风台) của loại hình Hán khẩu Sở khúc (汉口 楚曲) cuối đ?i nhà Thanh, về sau đ?ợc chuyển thể thành kịch bản “Quần anh hội” trong Kinh Kịch
_
“Đại náo thiên cung” (大闹天宫) là một trích đoạn trong tác phẩm “Tây
du ký” (西游记) nổi tiếng, nói về việc Mỹ Hầu Vương Tôn Ngộ Không (美王
孙悟) túc trí đa mưu, không sợ cương quyền, dám làm dám chịu, lên trời xuống đất đại náo thiên đình, chống lại các thế lực thống trị chuyên quyền, là đại diện cho hình ảnh của người anh hùng lấy yếu chống mạnh Đây là vở kịch truyền
Trang 20thống của vai Võ Sinh, trong vở kịch có rất nhiều động tác, kỹ thuật đẹp mắt, tinh túy của các Võ Sinh, làm cho khán giả thích thú vô cùng
1.3.2 Nghệ thuật diễn xuất của Kinh Kịch
Phương pháp biểu diễn Kinh Kịch là tả ý Các diễn viên Kinh Kịch khi biểu diễn trên sân khấu luôn có sự tập trung tinh thần cao độ, diễn bằng lý trí của mình Nếu không tập trung sẽ không thể nhập vai, thậm chí là quên lời, quên động tác, làm hỏng tính tổng thể của vở kịch Tuy là nhập vai, nhưng diễn viên cũng không hoàn toàn quên đi bản thân, hơn nữa còn phải nghe được tiếng
vỗ tay reo hò của khán giả, phải có sự phối hợp chặt chẽ với ban nhạc, cố gắng thu hút người xem, khiến cho người xem bộc lộ cảm xúc yêu ghét các nhân vật trên sân khấu
Các nhân vật của Kinh Kịch truyền thống mỗi khi xuất hiện và rời khỏi sân khấu đều mang tính hình thức cao Lần đầu tiên nhân vật xuất hiện, thường
hát một câu dạo đầu, khi khán giả nghe thấy và vỗ tay, diễn viên mới vén màn bước ra; cũng có khi ban nhạc gõ một hồi chiêng trống, diễn viên đã diễn sẵn động tác trong cánh gà với mức độ càng lúc càng tăng rồi bước ra sân khấu Trong cánh gà luôn có một người đứng bên tấm màn, khi diễn viên bước ra sân khấu thì vén tấm màn lên, sau mỗi phân cảnh, người này lại kéo tấm màn ra che sân khấu để cho các diễn viên theo đó mà lui vào trong
Vấn đề cốt lõi trong nghệ thuật biểu diễn Kinh Kịch chính là nói phải hát, động tác phải có vũ đạo, ví dụ như bước chân của diễn viên trên sân khấu, tuy là động tác căn bản nhất nhưng khi đi cũng phải đạt được chuẩn mực vũ đạo nghiêm khắc, kết hợp với nhạc đệm của chiêng trống, mang đến cảm giác
có tiết tấu rõ ràng của bước chân Tinh thần như thế nào, điệu chiêng trống ra sao và hòa với bước chân dạng gì đều có sự sắp xếp thống nhất rất cẩn thận
Trang 21Xét về mặt tổng thể, nghệ thuật biểu diễn Kinh Kịch chủ yếu được khái quát
Hát (唱) : hệ thống thanh nhạc phương tây dựa trên âm vực của diễn viên và phư?ng pháp hát phân chia thành giọng nam/nữ cao (男/女高音), giọng nam/nữ trung (男/女中音), giọng nam/nữ trầm (男/女低), còn hệ thống thanh nhạc trong cách hát Kinh Kịch hoàn toàn khác, chủ yếu căn cứ vào giới tính, tuổi tác, thân phận, đ?a vị, tính cách của nhân vật cũng như âm sắc và phư?ng pháp hát Các vai diễn không giống nhau có sự khác nhau rất lớn trong cách hát,
ví dụ như vai Lão Đào chủ yếu hát bằng giọng thật, còn vai Thanh Y hát giọng giả Trong Kinh Kịch, chỉ cần diễn viên nắm rõ phong cách hát và yếu tố phát
âm của loại vai diễn nào thì có thể diễn vai diễn đó : một nữ diễn viên có thể dựa trên các yếu tố diễn hát của vai Hoa Mặt để diễn vai Hoa Mặt, một nam diễn viên cũng có thể dựa trên yếu tố diễn hát của vai Hoa Đào đễ diễn vai Đào
Nữ diễn viên có thể diễn tốt vai diễn nam, không diễn bằng giọng nữ, khiến khán giả cảm nhận rõ ràng đó là một nhân vật nam thực thụ và ngược lại Trừ các trường hợp đặc biệt như vai diễn đó là nhân vật nữ cải nam trang hay nam giả nữ, có thể thấy nghệ thuật hát trong Kinh Kịch chiếm vị trí vô cùng quan trọng
Nói (念) : chỉ việc đọc thoại, cũng chính là lời nói của nhân vật, chủ yếu
có tác dụng tự sự trong Kinh Kịch Kinh Kịch rất xem trọng việc đọc thoại, với quan niệm đọc thoại có ý vị còn khó hơn hát có ý vị, đòi hỏi diễn viên phải nghiền ngẫm và rèn luyện, qua sự áp đặt tính nghệ thuật, đọc thoại mang tính
âm nhạc nhiều hơn là những lời nói sinh hoạt thường ngày Đọc thoại đ?ợc chia thành “Kinh bạch” (京?白?) và “Vận bạch” (韵’) “Kinh bạch” là tiếng Bắc Kinh được gia công, có tiết tấu lúc nhanh lúc chậm, thanh điệu trầm bổng đậm tính khoa trương, vai Hoa Đào và vai Hài đều dùng “Kinh bạch” để đọc thoại
Trang 22_ Động tác (做) : là các động tác, tư thế, dáng vẻ của diễn viên được tạo
nên bằng tính hình thức và tính nghệ thuật cao Trong Kinh Kịch không có nhiều đạo cụ tả thực
, vì vậy mà diễn viên phải hoàn toàn vận dụng ngôn ngữ hình thể để biểu đạt tình cảnh, tâm lý nhân vật Không gian, thời gian trong Kinh Kịch rất tự do, nó không chịu ảnh hưởng bởi không thời gian trong cuộc sống thực
Trang 23
Sân khấu Kinh Kịch với đạo cụ đơn giản, động tác có tính thẩm mỹ ca
tế mà được xác định bởi các hoạt động của diễn viên trên sân khấu Ví dụ như một nhân vật bước ra sân khấu, dựa trên tạo hình, cách đi đứng, nói chuyện …
có thể biết được nhân vật đó đang ở thư phòng dù trên sân khấu chỉ có một cái bàn và hai chiếc ghế, nhưng khi nhân vật này rời khỏi sân khấu thì thư phòng cũng cùng lúc không còn tồn tại, tiếp đó là một nhân vật khác bước ra, qua tư thế của diễn viên, có thể thấy sân khấu đã trở thành một đường núi trắc trở, lúc này thì bàn và ghế lại được xem như các chướng ngại vật trên đường đi của nhân vật; hay như khi nhân vật nhận được một tin bất ngờ, cảm thấy kinh hãi, tuy chỉ là phản ứng tâm lý tức thời, nhưng để khắc họa nhân vật, có thể dùng một khỏang thời gian dài để hát, thể hiện tâm lý lúc đó; ngược lại, viết, xem thư, uống rượu, vốn cần một khoảng thời gian nhất định, nhưng để giản lược, chỉ biểu diễn một vài động tác thì kết thúc
Trang 24Việc biểu hiện tâm trạng, quan trọng nhất là ở đôi mắt, hình trên là 48 trạng
thái tình cảm mà Mai Lan Phương làm mẫu
Múa võ (打) : tức là các động tác đánh võ hay võ thuật được chuyển hóa thành các động tác múa mang tính nghệ thuật rất cao Kinh Kịch có rất nhiều
vở kịch thuộc thể loại võ thuật, múa võ dùng để thể hiện các trận chiến đấu khác nhau trên sân khấu, các nhân vật của thể loại này là các vai Võ, có thể là các tương lĩnh hay những anh hùng giỏi võ nghệ, khi đánh dùng tay không, hoặc cũng có thể dùng các đạo cụ là vũ khí, mặc áo giáp, ủng đế dày, kết hợp với các động tác võ thuật đầy tính nghệ thuật và tư thế oai phong dũng mãnh của nhân vật, bên cạnh tiếng chiêng trống dồn dập, các trận đánh đẹp mắt luôn khiến người xem vô cùng thích thú
_
Trang 25Các trận đánh trên sân khấu Kinh Kịch làm say mê lòng người bởi động tác võ
thuật mang đậm tính nghệ thuật và luôn hướng đến cái đẹp
1.3.3 Các trường phái tiêu biểu của Kinh Kịch
Việc hình thành các trường phái trong nghệ thuật là điều tự nhiên, như phái hiện thực, phái trừu tượng… Kinh Kịch là loại hình nghệ thuật lấy diễn viên làm trung tâm, kỹ năng biểu diễn của diễn viên được tôi luyện qua một quá trình học tập chăm chỉ và kế thừa các bậc tiền bối, kết hợp với sự hiểu biết, tình cảm và tính cách của diễn viên, hình thành những cách nhìn khác nhau về nghệ thuật, từ đó sáng tạo nên các phương pháp biểu diễn độc đáo đặc sắc, được khán giả đón nhận và hoan nghênh qua thực tế diễn xuất, chính vì vậy nên sân khấu Kinh Kịch đã xuất hiện rất nhiều trào lưu nghệ thuật mang cá tính riêng của diễn viên được sáng tạo ra, hình thành các trường phái khác nhau và thường được đặt tên theo tên của diễn viên thuộc trường phái Kinh Kịch đó, các loại vai diễn khác nhau lại được chia thành các trường phái khác nhau, như trường phái Lão Sinh (老流派) chia thành Phái Đàm (谭派), Phái Mã (马), Phái Dương (杨?派)…, trường phái vai Đào (旦行流派) chia thành Phái Tuân (荀), Phái Trình (程派), Phái Mai (梅派)… Các trường phái khác nhau đều có đặc trưng riêng của mình, như Phái Dư (余) đơn giản nhanh gọn, Phái Cao (高派) kiêu ngạo đĩnh đạc, Phái Mã (马?) khoáng đạt tự nhiên, Phái Mai (梅派) trang trọng sâu sắc, Phái Trình (程派) thâm thúy hàm súc… và còn rất nhiều trư?ng phái khác
Phái Mai (梅派) là trường phái vai Đào dựa trên đại diện xuất sắc của vai Đào là Mai Lan Phương, coi trọng nét đẹp cổ điển, thanh cao tự nhiên, lại
Trang 26có sự sáng tạo độc đáo Mai Lan Phương đã sáng tạo nên nhiều động tác vũ đạo mới có tính nghệ thuật cao, như điệu múa kiếm (剑舞‘) trong vở “Bá Vương biệt Cơ”, múa lông vũ (羽舞‘) trong vở “Tây Thi” (西施) hay múa mâm (盘舞‘) trong “Thái Chân ngoại truyện” (太真外传) Đồng thời, Mai Lan Phương cũng dung hợp hình thức biểu diễn của vai Thanh Y và Hoa Đào, hình thành một loại vai diễn riêng được gọi là Hoa Sam (花) Các vở kịch tiêu biểu là “Quý Phi say rượu”, “Bá Vương biệt Cơ”,“Tây Thi” …
Phái Trình (程派) là trường phái vai Đào do Trình Nghiên Thu (程砚秋) đại diện Phái Trình chú trọng cách cắn chữ, phát âm đặc thù và kỹ thuật luyến
âm, tô điểm cho làn điệu, khéo dùng giọng rung, từ đó tạo nên các làn điệu khúc chiết uyển chuyển, là ưu thế của việc xây dựng hình tượng nhân vật nữ có
số phận bi thảm, ngoài mềm trong cứng Các vở kịch tiêu biểu của Phái Trình
là “Thanh sương kiếm” (青‘剑), “Hoang sơn lệ” (荒山泪)
Phái Đàm (谭派) là trư?ng phái Lão Sinh có ảnh hưởng lớn nhất đến Kinh Kịch, nhân vật tiêu biểu của Phái Đàm là Đàm Tân Bồi (谭鑫培) trương phái này xem trọng tính phức tạp uyển chuyển của làn điệu, khi hát âm cao thấp nhuần nhuyễn, biến hóa khéo léo, tràn nay sức thể hiện Vở kịch tiêu biểu
Trang 27Trung Quốc có hơn 200 loại hình hý khúc, sự khác biệt cơ bản nhất của các loại hình hý khúc này là ở làn điệu, âm luật của lời hát, có nghĩa là hý khúc
ở các vùng khác nhau sẽ mang đặc điểm giọng nói của vùng đó Kinh Kịch không dùng giọng Bắc Kinh thuần túy để hát mà trong đó còn mang âm hưởng của giọng vùng Hồ Bắc (湖北), đây là một trong những điểm đặc biệt của Kinh Kịch được hình thành qua quá trình phát triển lâu dài
Một đặc trưng quan trọng khác của Kinh Kịch so với các loại hình hý khúc còn lại là vai diễn Vai diễn của Kinh Kịch là sự chắc lọc và quy ước được tạo nên qua thời gian, làm nổi bật tính cách nội tâm của nhân vật qua hình thức bề ngoài Với vai Tĩnh và vai Hài, việc dùng màu sắc tô vẽ Mặt nạ (脸) có hình thù khác nhau nhằm thể hiện tính cách, phẩm chất, vận mệnh của nhân vật,
có liên quan đến nội dung vở kịch cũng là một đặc điểm lớn Nhìn chung, Mặt
nạ màu đỏ chỉ người trung nghĩa, màu đen chỉ người mưu trí dũng mãnh, màu trắng và vàng chỉ người gian ác… Có một số nhân vật như Tào Tháo, Trương Phi, Quan Vũ trong kịch Tam Quốc, đã trở nên quen thuộc với dân chúng, những người này bước ra sân khấu, không cần giới thiệu thì khán giả cũng có thể biết người đó là ai Đây là nét khác biệt dễ thấy nhất của Kinh Kịch so với
Kịch Nói (话剧)
Các diễn viên Kinh Kịch đang tự vẽ Mặt nạ chi mình
Khán giả thường thấy nhiều diễn viên tuổi đã già vẫn đóng các vai a hoàn, thư đồng, thư sinh, tiểu thư… những người không biết sẽ cảm thấy rất
Trang 28ngạc nhiên, kỳ thực rất dễ hiểu : đây là thói quen được lưu truyền qua thời gian của Kinh Kịch, các diễn viên có độ tuổi tương đồng, khi diễn với nhau sẽ dễ thông cảm với nhau nên dễ diễn hơn; ngoài ra, độ chín về nghệ thuật của họ cũng gần giống nhau nên hiểu nhau và diễn ăn ý hơn Đây là điều cần thiết vì
có thể giúp cho người xem cảm thấy thoải mái, còn khi các diễn viên có độ chín khác nhau diễn chung, thường sẽ tạo cảm giác gượng gạo, thậm chí có thể làm vở diễn trở nên tẻ nhạt
Sự ăn ý trong diễn xuất của các diễn viên cùng trang lứa là nhân tố quan trọng trong biểu diễn Kinh Kịch
So với Côn Kịch (昆剧), Việt Kịch (越剧) hay Kịch Hoàng Mai (黄梅 戏)… , thời kì Kinh Kịch phát triển nở rộ cũng là thời điểm mà Côn Kịch – một
trong những loại hình kịch truyền thống cổ nhất của Trung Quốc – rơi vào thoái trào; lúc Kinh Kịch ra đời, ngoài việc kế thừa kịch bản, làn điệu, cách biểu diễn của các loại hình hý kịch khác, còn nhận được sự hậu thuẫn vô cùng lớn từ bậc vua chúa cũng như sự yêu thích của dân chúng, vì vậy nên đã nhanh chóng tỏ rõ sự lớn mạnh cuả mình Về cơ bản, Việt Kịch, Kịch Hoàng Mai đều
có nền tảng văn hóa đại chúng, lời nói và làn điệu đều thông tục bình dị, dễ đi vào lòng người, nhưng cũng vì vậy nên tính nghệ thuật đơn giản hơn so với Kinh Kịch và mức độ phát triển của các loại hình hý kịch này cũng không thể
Trang 29bằng Kinh Kịch Qua suốt thời kì phát triển mạnh mẽ của mình, Kinh Kịch được mọi người nhìn nhận là nghệ thuật thượng lưu, tính thượng lưu ở đây chủ yếu chỉ trình độ cao thâm của sự tinh xảo trong nghệ thuật biểu diễn và ca hát, tập trung thể hiện tính quy phạm của nét đẹp cổ điển và tính thẩm mỹ của hý khúc Trung Quốc, chính vì vậy mà mặc dù làn điệu hay lời hát khó nghe khó hiểu, Kinh Kịch vẫn đi vào lòng người như loại hình hý kịch xuất sắc nhất
Về điểm khác biệt giữa ca kịch phương Tây và Kinh Kịch, có lẽ mọi người đều thấy rõ : Kinh Kịch không giống với múa ba lê, chỉ múa mà không nói; cũng không giống kịch nói hay tấu hài, chỉ nói mà không hát, càng không giống nhạc thính phòng phương tây, chỉ hát mà không múa Với khái niệm “có động tác phải là múa, có âm thanh phải là hát”, Kinh Kịch không giống ca kịch,
vũ kịch, kịch nói, nó đã tổ hợp các loại hình ca múa dân gian, dung hòa hát, múa, thi, họa để đạt đến kết quả hài hòa thống nhất, đây cũng là đặc trưng khiến cho Kinh Kịch trở nên nổi bật hơn các loại hình hý kịch trong và ngoài nước khác Bên cạnh đó, có thể thấy rõ cách đào tạo diễn viên của Kinh Kịch cũng hoàn toàn không giống với hệ thống giáo dục của phương Tây Điểm chủ yếu nhất của Kinh Kịch là cách dạy truyền miệng, thầy mặt đối mặt chỉ bảo riêng cho học trò kinh nghiệm của riêng mình chứ không dùng bất cứ sách vở giáo khoa nào cả; hơn nữa, tùy vào tình hình bản thân của học trò mà người thầy thay đổi cách thức và phương hướng dạy học, giúp cho học trò nhanh chóng bước vào con đường rèn luyện thích hợp và từ đó phát triển lên Vì vậy
mà có thể thấy rằng, ca kịch phương Tây không có cùng hệ thống với Kinh Kịch Trung Quốc, ca kịch cổ điển phương Tây được xem là “nghệ thuật cao nhã”, còn Kinh Kịch ở Trung Quốc là loại “nghệ thuật đại chúng”, là hình thức biểu diễn mà người giàu hèn, già trẻ, nam nữ đều có thể thưởng thức